BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NÔNG THỊ BIỂN
ĐỀ TÀI
CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NÔNG THỊ BIỂN
ĐỀ TÀI
CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Dân sự và Luật tố tụng dân sự
Mã số: 60380103
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Thu Hà
Hà Nội – 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng
tôi.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công
trình nào khác. Số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng,
được trích dẫn đúng theo quy định.
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn
này.
Tác giả luận văn
Nông Thị Biển
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, giúp đ qu báu của các thầy cô giáo, bạn b và gia đình. Với
lòng kính trọng và biết ơn sâu s c tôi xin được bày t l i cảm ơn chân thành
tới:
Ban giám hiệu Trư ng Đại học Luật Hà Nội , Khoa đào tạo sau đại học - Đại
học Luật Hà Nội đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đ tôi trong quá trình học
tập và hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo đang công tác và giảng
dạy tại Đại học Luật Hà Nội đã giảng dạy và ch bảo tôi nh ng kiến thức qu
báu trong quá trình học tập, giúp tôi trang bị đầy đủ kiến thức để nghiên cứu và
hoàn thành đề tài nghiên cứu.
Đ c biệt, với lòng biết ơn sâu s c, tôi xin cảm ơn TS. Nguy n Thị Thu
Hà đã tận tình hướng dẫn, động viên tinh thần và giúp đ tôi hoàn thành Luận
văn này.
Qua đây, tôi c ng xin được cảm ơn gia đình c ng bạn b đã luôn giúp
đ , động viên và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập c ng như
hoàn thành luận văn Thạc sĩ của mình.
Hà Nội, tháng 8 năm 2017
Tác giả
Nông Thị Biển
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BLDS 2015
: Bộ luật Dân sự năm 2015
BLTTDS
: Bộ luật Tố tụng dân sự
BLTTDS 2011
: Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004 sửa đổi, bổ sung
năm 2011
BLTTDS 2015
: BLTTDS năm 2015
CBXXSTVADS
: Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
LTCVKSND
: Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân
LTCTAND
: Luật tổ chức Tòa án nhân dân
HĐTP
: Hội đồng thẩm phán
Nghị
quyết
số : Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP ngày 13/01/2017
01/2017/NQ-HĐTP
của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Ban
hành một số biểu mẫu trong tố tụng dân sự
Nghị
quyết
số : Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/05/2017
04/2017/NQ-HĐTP
của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
hướng dẫn thi hành một số quy định tại khoản 1 và
khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 về trả
lại đơn khởi kiện, quyền nộp khởi kiện lại vụ án.
TAND
: Tòa án nhân dân
TTDS
: Tố tụng dân sự
VADS
: Vụ án dân sự
VKS
: Viện kiểm sát
PLTTGQCVADS
: Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự
PLTTGQCVAKT
: Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế
PLTTGQCTCLĐ
: Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động
MỤC LỤC
Trang
Trang bìa phụ
L i cam đoan
Danh mục các ch viết t t
Mục lục
PHẦN MỞ ĐẦU
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHUẨN BỊ XÉT XỬ
SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ
1.1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án
dân sự
1.1.1. Khái niệm chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
1.1.2. Đ c điểm của chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
1.1.3. Ý nghĩa của chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
1.2. Cơ sở của việc quy định chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự trong
pháp luật tố tụng dân sự
1.2.1. Bảo đảm quyền con ngư i, quyền công dân trong hoạt động tố tụng
1.2.2. Bảo đảm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự
trong tố tụng dân sự
1.2.3. Đảm bảo cho hoạt động xét xử của Tòa án được chính xác, khách
quan và đúng pháp luật
1.2.4. Xuất phát từ yêu cầu của thực ti n hoạt động tố tụng dân sự
1.3. Nội dung các hoạt động chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
1.4. Các yếu tố chi phối hiệu quả thực hiện hoạt động chuẩn bị xét xử sơ thẩm
vụ án dân sự
1
7
7
7
14
18
19
19
20
20
20
21
29
1.4.1. Các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về chuẩn bị xét xử sơ
thẩm vụ án dân sự
1.4.2. Năng lực, trình độ và đạo đức nghề nghiệp của Thẩm phán
29
1.4.3. Trình độ hiểu biết pháp luật của ngư i tham gia tố tụng trong vụ án
1.4.4. Sự phối hợp và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức h u quan
1.4.5. Cơ chế kiểm sát hoạt động chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
của Viện kiểm sát
30
30
30
1.5. Sơ lƣợc sự phát triển các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam
về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
31
29
1.5.1. Giai đoạn 1945 – 1989
31
1.5.2. Giai đoạn 1990 – 2004
1.5.3. Giai đoạn 2005 – 2014
32
33
1.5.4. Giai đoạn 2015 đến nay
34
35
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1
Chƣơng 2: NỘI DUNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN
SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN
SỰ
2.1. Thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
2.2. Những công việc tiến hành sau khi thụ lý
2.2.1. Phân công và xem xét việc thay đổi ngư i tiến hành tố tụng xét xử
sơ thẩm vụ án dân sự
2.2.2. Thông báo việc thụ l vụ án dân sự
2.2.3. Lập và hoàn thiện hồ sơ vụ án
37
40
40
43
45
2.2.4. Nghiên cứu hồ sơ
2.2.5. Phiên họp kiểm tra việc giao, nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và
hòa giải
49
53
2.3. Các quyết định của Thẩm phán trong chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án
dân sự
57
2.3.1. Quyết định công nhận sự th a thuận của các đương sự
2.3.2. Tạm đình ch giải quyết vụ án dân sự
57
58
2.3.3. Đình ch giải quyết vụ án dân sự
2.3.4. Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm
64
69
70
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2
Chƣơng 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ
TỤNG DÂN SỰ VỀ CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ VÀ
KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
71
3.1. Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về
chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
3.1.1. Nh ng kết quả đạt được
71
3.1.2. Nh ng hạn chế, tồn tại trong việc thực hiện pháp luật tố tụng dân
72
sự Việt Nam về chuẩn bi xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
3.1.3. Nguyên nhân của nh ng hạn chế, tồn tại
3.2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về
chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
3.2.1 Hoàn thiện quy định của pháp luật về th i hạn chuẩn bị xét xử sơ
thẩm vụ án dân sự, phân công và xem xét việc thay đổi ngư i tiến hành tố tụng.
71
79
82
83
3.2.2 Hoàn thiện quy định của pháp luật về thông báo thụ l vụ án
83
3.2.3 Hoàn thiện quy định của pháp luật về lập và nghiên cứu hồ sơ vụ án
3.2.4 Hoàn thiện quy định của pháp luật về phiên họp kiểm tra việc giao
84
85
nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải
3.2.5 Hoàn thiện quy định của pháp luật về tạm đình ch , đình ch giải
quyết vụ án dân sự
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3
KẾT LUẬN
88
89
90
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Sự ra đ i của Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức Tòa án nhân dân (LTCTAND)
năm 2014, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (LTCVKSND) năm 2014 làm cho
nhiều quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 được sửa đổi bổ sung năm
2011 (BLTTDS 2011) không còn ph hợp. C ng với đó quá trình thi hành trên thực
tế bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động tố tụng và ảnh
hưởng đến việc bảo vệ quyền con ngư i, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ
quan, tổ chức trong tố tụng dân sự (TTDS).
Vì vậy, việc sửa đổi toàn diện các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự
(BLTTDS) là một nhu cầu cấp bách trên cả phương diện l luận và thực ti n ở Việt
Nam. Nhằm thể chế hoá chủ trương, đư ng lối của Đảng về cải cách tư pháp trong
Nghị quyết số 48- NQ/TW của Bộ chính trị ngày 24/5/2005, Nghị quyết 49-NQ/TW
của Bộ chính trị ngày 02/6/2005, Kết luận 92-KL/TW của Bộ chính trị ngày
12/3/2014, Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 (BLTTDS 2015) đã được Quốc hội
thông qua với nhiều điều luật được sửa đổi, bổ sung mang tính đột phá khi quy định
về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự (CBXXSTVADS) thể hiện sự kết hợp gi a
mô hình tranh tụng với mô hình thẩm xét ở nước ta như phiên họp kiểm tra việc giao
nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, căn cứ tạm đình ch , đình ch giải quyết vụ án dân
sự (VADS)....
Tuy nhiên, khi triển khai thi hành các quy định về Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ
án dân sự trong Bộ luật này cho thấy có nhiều nội dung mới được quy định trong Bộ
luật vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau, một số vấn đề quy định chưa đầy đủ, thiếu
rõ ràng dẫn đến việc áp dụng tại các Tòa án không thống nhất; có nh ng quy định
chưa ph hợp với thực tế, không bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
Việc nghiên cứu các quy định mới về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự trong Bộ
luật tố tụng dân sự năm 2015 là một hoạt động nghiên cứu luật rất có ích giúp cho
các nhà xây dựng pháp luật, áp dụng pháp luật đ c biệt là đối với ngư i làm công tác
xét xử có quyết định đúng đ n để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, công
dân và xã hội. Vì vậy, nghiên cứu các quy định về chuẩn bị xét xử sơ thẩm là hết sức
cần thiết để làm rõ nh ng vấn đề l luận, nội dung các quy định của pháp luật tố tụng
dân sự hiện hành và thực ti n thực hiện chúng tại các Tòa án để phát hiện nh ng bất
cập, mâu thuẫn, tìm ra các giải pháp hoàn thiện và thực hiện chúng. Với nh ng lý do
đó, tôi đã chọn đề tài: “CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN DÂN SỰ” làm đề
tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ Luật học của mình.
2
2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự là một hoạt động tố tụng của Tòa án cấp
sơ thẩm chuẩn bị nh ng điều kiện cần thiết cho việc mở phiên tòa sơ thẩm. Đây là
một chế định đã được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự 2004, sửa đổi, bổ sung
năm 2011 do vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu về chuẩn bị xét xử sơ thẩm như:
- Về các bài viết trên các báo, tạp chí khoa học pháp l gồm có: “Chế định biện
pháp khẩn cấp tạm thời” của tác giả Trần Phương Thảo đăng trên Đ c san về Bộ luật
tố tụng dân sự, Tạp chí Luật học năm 2005; “Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự” của
tác giả Nguy n Triều Dương, đăng trên Đ c san về Bộ luật tố tụng dân sự, Tạp chí
luật học năm 2005; “Vấn đề khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự” của tác giả Lê Thị
Bích Lan đăng trên Đ c san về Bộ luật tố tụng dân sự, Tạp chí luật học năm 2005,
…Các công trình trên đã nghiên cứu một số quy định trong chế định chuẩn bị xét xử
sơ thẩm vụ án dân sự mà chưa đề cập một cách đầy đủ và hệ thống các vấn đề liên
quan đến chế định chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.
- Về các khóa luận, luận văn cao học như: Khóa luận tốt nghiệp “Thụ l vụ án
dân sự - một số vấn đề l luận và thực ti n” của tác giả Li u Thị Hạnh năm 2009;
Khóa luận tốt nghiệp “Khởi kiện và thụ l vụ án dân sự một số vấn đề l luận và thực
ti n” của tác giả Đào Thị Hải Yến năm 2010; Khóa luận tốt nghiệp “Tạm đình ch
giải quyết vụ án dân sự” của tác giả Nông Thị Mới năm 2011; Khóa luận tốt nghiệp
“Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự” của tác giả Lê Thị Lan năm 2011; Khóa luận
tốt nghiệp “Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự” của tác giả Phan Thị Thu Hiền
năm 2012; Luận văn thạc sĩ Luật học “Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự” của tác
giả Bùi Thị Thu Hiền năm 2013…. Có thể thấy rằng các công trình nghiên cứu trước
khi Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 có hiệu lực pháp luật đã nghiên cứu chuẩn bị
xét xử sơ thẩm dưới nhiều góc độ, trình bày được các vấn đề l luận, các quy định
của pháp luật tố tụng dân sự c ng như thực ti n thực hiện tại các Tòa án. Tuy nhiên,
so với Bộ luật tố tụng dân sự năm 2011 thì Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 có nhiều
quy định mới về chuẩn bị xét xử sơ thẩm.
Sau khi Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành đã có nhiều công
trình nghiên cứu về chuẩn bị xét xử sơ thẩm như “Quy định về tạm đình chỉ giải
quyết vụ án dân sự trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cần được hướng dẫn cụ
thể hơn” của tác giả Bùi Thị Huyền đăng trên Tạp chí Dân chủ và pháp luật năm
2016; “Quy định về hòa giải vụ án dân sự trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và
những nội dung cần làm rõ” của tác giả Bùi Thị Huyền đăng trên Tạp chí luật học
năm 2015; “Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục sơ thẩm” của tác giả
Nguy n Xuân Bình đăng trên Tạp chí Kiểm sát năm 2017; “Biện pháp khẩn cấp tạm
thời theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015” của tác giả Trần Phương
3
Thảo đăng trên Tạp chí Luật học năm 2017; “Bàn về phiên họp kiểm tra giao nộp,
tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải vụ án dân sự” của tác giả Đ ng Thị Thanh
Hoa đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân năm 2017; “Bình luận Bộ luật tố tụng dân
sự 2015” của tác giả B i Thị Huyền chủ biên năm 2016; “Bình luận khoa học Bộ
luật tố tụng dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2015” của
tác giả Trần Anh Tuấn chủ biên năm 2017…Nhìn chung, các công trình này đã đề
cập và phân tích nh ng điểm mới trong quy định về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án
dân sự của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 so với Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004,
sửa đổi bổ sung năm 2011. Tuy nhiên các bài viết trên ch nghiên cứu và đề xuất tháo
g một số vấn đề bất cập riêng lẻ của chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, nhiều
vấn đề mới có nghĩa quan trọng của chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự vẫn chưa
nghiên cứu.
Vì vậy, có thể thấy từ sau khi Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 có hiệu lực chưa
có công trình nào nghiên cứu một cách tổng quát các vấn đề l luận, quy định của
pháp luật về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự c ng như thực ti n thực hiện tại
các Tòa án.
3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là làm rõ nh ng vấn đề l luận về chuẩn bị
xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, thực ti n áp dụng các quy định của pháp luật về chuẩn
bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, đánh giá thực trạng pháp luật hiện hành về vấn đề
này từ đó phát hiện được nh ng hạn chế, bất cập trong các quy định pháp luật về
chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự, nh ng tồn tại trong việc thực hiện chúng tại
các Tòa án và tìm ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự về
chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự trên thực tế. Để thực hiện được mục đích nêu
trên, việc nghiên cứu đề tài luận văn có nh ng nhiệm vụ chính sau:
- Nghiên cứu làm rõ nh ng vấn đề l luận cơ bản về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ
án dân sự như khái niệm, đ c điểm và nghĩa của chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân
sự; khái niệm, đ c điểm và nghĩa của chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự; Cơ sở
của việc quy định chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự trong pháp luật tố tụng dân
sự; Nội dung các hoạt động chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự; Các yếu tố chi
phối hiệu quả thực hiện hoạt động chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự;
- Phân tích, đánh giá các quy định pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về chuẩn
bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự;
- Khảo sát thực ti n thực hiện các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm
2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự của
các Tòa án trong nh ng năm gần đây.
- Đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự về
4
chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.
4. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Đối tượng nghiên cứu là nh ng vấn đề l luận về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án
dân sự, các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về chuẩn bị xét xử sơ thẩm
vụ án dân sự và thực ti n thi hành các quy định này tại các Tòa án sơ thẩm ở Việt
Nam.
Chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự là một vấn đề nghiên cứu tương đối lớn,
có phạm vi nghiên cứu rộng nên có thể được nghiên cứu dưới nhiều phương diện
khác nhau và với nhiều nội dung khác nhau. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn,
luận văn tập trung nghiên cứu vào nh ng nội dung cơ bản như sau:
- Luận văn tập trung nghiên cứu về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự được
giải quyết theo thủ tục thông thường, không nghiên cứu hoạt động chuẩn bị xét xử sơ
thẩm vụ án dân sự được giải quyết theo thủ tục rút gọn và chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ
án dân sự có yếu tố nước ngoài.
- Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu hoạt động chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án
dân sự của Tòa án, không nghiên cứu hoạt động chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân
sự của các chủ thể khác như đương sự, ngư i đại diện hợp pháp của đương sự, ngư i
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và Viện kiểm sát (VKS).
- Trong phần nghiên cứu về khái niệm chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự,
m c dù luận văn có nghiên cứu dưới nhiều phương diện cụ thể khác nhau nhưng luận
văn có tập trung nghiên cứu sâu hơn về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự dưới
phương diện là một chế định pháp luật. Nghiên cứu vấn đề chuẩn bị xét xử sơ thẩm
vụ án dân sự dưới góc độ chế định pháp luật có góc độ nghiên cứu rộng nhất, có khả
năng bao quát được các nội dung cơ bản của chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
dưới các góc độ khác.
- Khi nghiên cứu, phân tích về các quyết định đưa ra trong giai đoạn chuẩn bị
xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thì luận văn c ng ch đề cập đến quyết định tạm đình
ch , quyết định đình ch giải quyết vụ án dân sự, quyết định công nhận sự th a thuận
của đương sự và quyết định đưa vụ án ra xét xử; Không nghiên cứu về quyết định áp
dụng biện pháp khẩn cấp tạm th i.
5. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
Luận văn sử dụng một số phương pháp như: phương pháp luận, phân
tích, so sánh, tổng hợp, di n giải, phương pháp lịch sử. Lấy l luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam làm
phương pháp luận trong quá trình nghiên cứu đề tài.
Phương pháp lịch sử: Áp dụng phương pháp này khi nghiên cứu đề tài nhằm
làm rõ sự phát triển có tính kế thừa của pháp luật khi quy định về chuẩn bị xét xử sơ
5
thẩm vụ án dân sự.
Phương pháp phân tích: Các vấn đề mà đề tài đ t ra sẽ được phân tích
về m t l luận để thấy rõ tính khoa học của các hoạt động chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ
án dân sự.
Phương pháp so sánh: so sánh nội dung các quy định pháp luật hiện hành
với nh ng vấn đề l luận pháp luật nhằm rút ra nh ng điểm đã và chưa ph
hợp trong quy định của pháp luật so với l luận và thực ti n áp dụng pháp luật.
Phương pháp tổng hợp: áp dụng phương pháp này nhằm rút ra nh ng vấn đề cơ
bản về m t l luận, từ đó tìm ra nh ng ưu điểm và hạn chế trong việc quy định về nội
dung quy phạm pháp luật điều ch nh các nội dung trong chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ
án dân sự.
6. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN VĂN
Đây là công trình nghiên cứu khoa học pháp l có tính hệ thống, nghiên cứu các
quy định về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự trong một thể thống nhất và có mối
liên hệ với các quy định khác trong Bộ luật tố tụng dân sự giúp độc giả, nh ng ngư i
đang làm công tác thực ti n hiểu biết sâu s c hơn các quy định về chuẩn bị xét xử sơ
thẩm vụ án dân sự. Ý nghĩa khoa học và thực ti n của luận văn được thể hiện ở các
điểm cơ bản sau:
- Trình bày nhiều quan điểm của nhiều tác giả về các nội dung có liên quan đến
chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự giúp cho việc hiểu nội hàm của khái niệm, đ c
điểm và nghĩa của chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự được hiểu một cách sâu
s c hơn.
- Làm rõ nội dung các quy định của pháp luật Việt Nam về chuẩn bị xét xử sơ
thẩm vụ án dân sự, đ c biệt là nh ng quy định mới của Bộ luật tố tụng dân sự năm
2015 về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.
- Đánh giá đúng các hạn chế trong các quy định của pháp luật c ng như việc áp
dụng các quy định về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự trên thực ti n từ đó đề
xuất các kiến nghị giúp cho việc áp dụng pháp luật một cách thống nhất trên thực tế.
7. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận
văn gồm có 03 chương:
Chương 1: Nh ng vấn đề l luận cơ bản về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân
sự.
Chương 2: Thực trạng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện
hành về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.
Chương 3: Thực ti n áp dụng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt
Nam hiện hành về chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự và một số kiến nghị.
6
7
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHUẨN BỊ XÉT XỬ SƠ THẨM
VỤ ÁN DÂN SỰ
1.1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân
sự
1.1.1. Khái niệm chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
1.1.1.1. Khái niệm sơ thẩm vụ án dân sự
Để làm rõ về khái niệm sơ thẩm VADS cần thiết phải làm rõ khái niệm VADS.
Trước khi BLTTDS năm 2004 ra đ i, trong Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án
dân sự (PLTTGQCVADS), Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế
(PLTTGQCVAKT) và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động
(PLTTGQCTCLĐ) tồn tại ba khái niệm, trong đó có khái niệm VADS. VADS bao
gồm nh ng tranh chấp và nh ng việc không có tranh chấp về dân sự và hôn nhân và
gia đình như tranh chấp về quyền sở h u tài sản, tranh chấp bồi thư ng thiệt hại…
Năm 2004, BLTTDS ra đ i khái niệm VADS được khái quát hơn và có sự phân biệt
với việc dân sự, theo đó các VADS ch bao gồm các tranh chấp dân sự.
Dưới góc độ ngôn ng học, theo Đại từ điển Tiếng việt thì vụ án là “vụ việc
phải đưa ra xét xử ở Tòa án”, dân sự là “việc liên quan đến dân nói chung. Những
việc liên quan đến dân gồm những quan hệ nhân thân, tài sản, những vấn đề về hôn
nhân gia đình, kinh tế và lao động”1. Theo cách giải thích này thì VADS là nh ng vụ
việc phát sinh từ quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và
lao động được Tòa án giải quyết.
Trong lĩnh vực khoa học pháp l , về khái niệm VADS c ng có nhiều kiến
khác nhau.
Quan điểm thứ nhất: “VADS là tranh chấp giữa các cá nhân, cơ quan, tổ chức
về quyền và nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân gia đình, kinh
tế, lao động được đưa ra Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật TTDS”2.
Quan điểm thứ hai: “VADS là việc có tranh chấp về quyền và nghĩa vụ dân sự,
hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại và lao động được quy định thuộc thẩm
quyền của Tòa án theo thủ tục TTDS do các cá nhân, cơ quan, tổ chức hoặc các chủ
thể khác theo quy định của pháp luật yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích của
mình, của người khác, lợi ích công cộng, lợi ích nhà nước”3.
Quan điểm thứ nhất đã thể hiện được bản chất của VADS nhưng lại chưa nói rõ
1
Nguy n Như Ý (1998), Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội, tr 520
Li u Thị Hạnh (2009), Thụ lý vụ án dân sự - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn Thạc sĩ Luật học,
Trư ng Đại học Luật Hà Nội, tr 8.
3
Nguy n Công Bình (chủ biên, 2011), Giáo trình Luật Tố tụng dân sự, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr 11.
2
8
chủ thể nào đưa ra yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục TTDS. Quan điểm thứ hai
đầy đủ hơn thể hiện được các chủ thể trong VADS, mục đích tham gia VADS. Tuy
nhiên khái niệm lại gây ra sự khó hiểu bởi định nghĩa VADS là việc có tranh chấp.
Có thể thấy, về bản chất VADS là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ gi a chủ thể
trong quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại và lao
động. Các tranh chấp dân sự (theo nghĩa rộng) này được các cá nhân, cơ quan, tổ
chức yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục TTDS nhằm bảo vệ lợi ích Nhà nước, lợi
ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, cơ quan, tổ chức.
Do đó, có thể hiểu VADS là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể
trong quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao
động do cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết theo thủ
tục TTDS để bảo vệ lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp
của cá nhân, cơ quan, tổ chức.
Như vậy, trong lĩnh vực dân sự, khi tranh chấp dân sự phát sinh thì để bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của mình các chủ thể có thể tự bảo vệ ho c yêu cầu nhà
nước bảo vệ. Việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể được nhà nước
thực hiện thông qua nhiều phương thức khác nhau trong đó có hoạt động xét xử của
Tòa án. Hoạt động xét xử của Tòa án là hoạt động nhân danh quyền lực nhà nước
nhằm xem xét, đánh giá và ra phán quyết về tính hợp pháp và tính đúng đ n của hành
vi vi phạm pháp luật hay ra phán quyết giải quyết tranh chấp và mâu thuẫn gi a các
bên có lợi ích khác nhau. Để đảm bảo tính thận trọng, chính xác, khách quan, đúng
pháp luật của bản án, quyết định thì việc xét xử của Tòa án được thực hiện theo
nguyên t c hai cấp xét xử là sơ thẩm và phúc thẩm.
“Sơ thẩm”, theo Đại từ điển Tiếng Việt là “xét xử lần đầu một vụ việc ở Tòa án
cấp thấp”4. Với tính chất các vụ việc khác nhau thì có sơ thẩm dân sự, sơ thẩm hình
sự và sơ thẩm hành chính. Vậy, với cách giải thích này thì sơ thẩm VADS là việc xét
xử lần đầu VADS tại Tòa án theo thủ tục TTDS.
Dưới góc độ khoa học pháp l thì khái niệm sơ thẩm VADS c ng được hiểu
dưới nhiều góc độ khác nhau là “giai đoạn sơ thẩm VADS”, “chế định sơ thẩm
VADS”, “thủ tục xét xử sơ thẩm VADS” và “cấp xét xử sơ thẩm VADS”.
Dưới góc độ là giai đoạn thì sơ thẩm VADS là giai đoạn của quá trình TTDS,
trong đó Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lần đầu VADS khi có việc khởi kiện của các cơ
quan, tổ chức, cá nhân và ra bản án, quyết định giải quyết nội dung VADS để bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp cúa cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng và lợi ích
Nhà nước.
4
Nguy n Như Ý (1998), Đại từ điển Tiếng Việt, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 1998, tr. 1460.
9
Dưới góc độ là chế định pháp luật thì sơ thẩm VADS được hiểu là một hệ thống
nh ng qui t c xử sự do Nhà nước ban hành để điều ch nh các quan hệ phát sinh trong
quá trình xét xử lần đầu VADS khi có việc khởi kiện của các cơ quan, tổ chức, cá
nhân để bảo đảm việc giải quyết VADS đúng đ n, chính xác, bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng và lợi ích Nhà nước.
Dưới góc độ là thủ tục xét xử thì sơ thẩm VADS được hiểu là thủ tục xét xử do
Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành nhằm xét xử lần đầu VADS khi có việc khởi kiện của
các cơ quan, tổ chức, cá nhân và ra bản án, quyết định giải quyết về nội dung VADS
để bảo đảm việc giải quyết VADS đúng đ n, chính xác, bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp cúa cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng và lợi ích Nhà nước.
Dưới góc độ là một cấp xét xử, Sơ thẩm VADS là cấp xét xử thứ nhất, theo đó
Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lần đầu VADS khi có việc khởi kiện của các cơ quan, tổ
chức, cá nhân và ra bản án, quyết định giải quyết về nội dung VADS để bảo đảm
việc giải quyết VADS đúng đ n, chính xác, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cúa cá
nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng và lợi ích Nhà nước.
Như vậy, sơ thẩm VADS được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau, phạm vi
khác nhau song tất cả đều coi sơ thẩm VADS là việc Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lần
đầu VADS và ra bản án, quyết định giải quyết về nội dung VADS. Do đó, sơ thẩm
VADS có đ c điểm cơ bản sau:
- Tính chất của sơ thẩm là việc xét xử lần đầu VADS trên cơ sở khởi kiện của
các cơ quan, tổ chức, cá nhân.
- Căn cứ phát sinh sơ thẩm VADS dựa trên việc khởi kiện của cơ quan, tổ chức,
cá nhân.
- Đối tượng của sơ thẩm VADS là VADS chưa được giải quyết trừ trư ng hợp
pháp luật có quy định khác.
- Thẩm quyền xét xử sơ thẩm VADS là Tòa án cấp sơ thẩm (Tòa án nhân dân
cấp huyện và Tòa án nhân dân cấp t nh)
- Phạm vi xét xử sơ thẩm VADS phải trong phạm vi đơn khởi kiện trừ trư ng
hợp pháp luật có quy định khác. Như vậy, trong một số trư ng hợp các đương sự
không có yêu cầu Tòa án giải quyết thì Tòa án vẫn có thể xét xử như trư ng hợp
đương sự yêu cầu tòa án hủy hợp đồng vô hiệu, nhưng khi giải quyết vụ án thì tòa án
vẫn phải giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu m c d các đương sự không yêu
cầu….
- Nhiệm vụ của sơ thẩm VADS là ra bản án, quyết định hợp pháp và có căn cứ.
- Sơ thẩm VADS bao gồm các hoạt động khởi kiện, thụ l , chuẩn bị xét xử, hòa
giải và mở phiên tòa xét xử sơ thẩm VADS. Trong đó, khởi kiện là hành vi đầu tiên
của cá nhân, cơ quan, tổ chức tham gia vào quan hệ pháp luật TTDS, là cơ sở pháp l
10
làm phát sinh quan hệ pháp luật TTDS. Quyền khởi kiện của các chủ thể ch làm
phát sinh nghĩa vụ thụ l của Tòa án khi việc khởi kiện tuân thủ đúng và đủ các điều
kiện về nội dung, hình thức và nộp tạm ứng án phí. Việc xem xét, thụ l yêu cầu khởi
kiện chính là sự bảo đảm của nhà nước đối với việc thực hiện các quyền dân sự của
các chủ thể đã được pháp luật ghi nhận. Như vậy, khởi kiện và thụ l VADS là
nh ng hoạt động tố tụng đầu tiên và là tiền đề của CBXXSTVADS. Để đảm bảo cho
việc giải quyết vụ án có căn cứ và chính xác thì trong CBXXSTVADS Tòa án phải
làm sáng t yêu cầu của các đương sự và nh ng tình tiết khác có nghĩa cho việc
giải quyết vụ án thông qua các chứng cứ, do các đương sự cung cấp ho c thông qua
hoạt động thu thập chứng cứ của Tòa án. Tòa án còn có trách nhiệm hòa giải để giúp
đ các đương sự th a thuận với nhau giải quyết tranh chấp, trừ các trư ng hợp không
hòa giải được ho c không được hòa giải. Bên cạnh đó, Tòa án còn có thể ra các
quyết định đình ch , tạm đình ch giải quyết vụ án; quyết định áp dụng biện pháp
khẩn cấp tạm th i; quyết định công nhận sự th a thuận và quyết định đưa vụ án ra
xét xử. Trên cơ sở quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án sẽ mở phiên tòa để ra phán
quyết về vụ án. Mở phiên tòa dân sự là khâu cuối c ng của sơ thẩm dân sự và tại đó,
Tòa án sẽ xét xử để ra phán quyết về VADS.
1.1.1.2. Khái niệm chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
CBXXSTVADS là một hoạt động tố tụng trong sơ thẩm VADS. Kể từ th i
điểm Tòa án cấp sơ thẩm thụ l VADS, sẽ phát sinh quyền và nghĩa vụ của các chủ
thể tham gia vào quá trình giải quyết lần đầu VADS và b t đầu giai đoạn
CBXXSTVADS.
Để giải quyết VADS thì nh ng ngư i tiến hành tố tụng và nh ng ngư i tham
gia tố tụng phải xác định được đầy đủ các chứng cứ, tài liệu, căn cứ pháp l và l lẽ,
lập luận. Do đó, trong giai đoạn CBXXSTVADS, các bên đương sự có nghĩa vụ
cung cấp chứng cứ, thu thập chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình. Tuy
nhiên, tùy theo pháp luật của mỗi nước về vai trò của Tòa án trong TTDS mà việc hỗ
trợ của Tòa án đối với việc thu thập chứng cứ của đương sự được quy định ở mức độ
khác nhau5.
Đối với nh ng nước theo truyền thống tố tụng tranh tụng điển hình như Vương
quốc Anh, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ thì vai trò của các bên đương sự được đề cao. Vì
vậy, việc thu thập chứng cứ do chính các bên đương sự ho c luật sư của họ thực hiện
với sự trợ giúp của Tòa án, thông qua việc buộc bên kia phải trả l i, tuyên thệ, đối
chất, đưa ra các tài liệu để làm sáng t nội dung vụ việc. Cộng hòa Pháp là nước điển
hình theo truyền thống tố tụng xét h i, vai trò của thẩm phán trong việc thu thập
5
Bùi Thị Huyền (2011), Phiên tòa sơ thẩm dân sự - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Chính trị quốc
gia, tr. 12.
11
chứng cứ được đề cao nên thẩm phán có quyền tự mình quyết định áp dụng mọi biện
pháp thẩm cứu mà pháp luật cho phép. Các bên đương sự có nghĩa vụ giúp thẩm
phán thực hiện các biện pháp thẩm cứu và phải chịu mọi hậu quả trong trư ng hợp
không giúp đ ho c từ chối giúp đ . Đối với Nhật Bản việc thu thập chứng cứ và
kiểm tra ngư i làm chứng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử do các bên đương sự tự
thực hiện, Tòa án ch hỗ trợ trong nh ng trư ng hợp đ c biệt6.
Việt Nam, là nước theo mô hình tố tụng xét h i, tuy nhiên do điều kiện về m t
trình độ dân trí, văn hóa pháp l mà vai trò của Tòa án đối với việc thu thập chứng
cứ vụ án có nh ng sự khác biệt. Pháp luật TTDS Việt Nam quy định việc thu thập
chứng cứ của vụ án trước hết thuộc về nh ng ngư i đưa ra yêu cầu. Theo đó, ngư i
khởi kiện khi nộp đơn khởi kiện phải cung cấp các tài liệu, chứng cứ để chứng minh
cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Đối với bị đơn, ngư i có quyền lợi,
nghĩa vụ liên quan khi đưa ra yêu cầu độc lập của mình về nguyên t c phải cung cấp
các chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình và phản đối yêu cầu của ngư i khác.
Khi các đương sự không thể thu thập được chứng cứ thì có thể yêu cầu Tòa án hỗ trợ
việc thu thập chứng cứ. Bên cạnh vai trò của các đương sự thì Thẩm phán trực tiếp
giải quyết vụ án c ng được pháp luật quy định các biện pháp thu thập chứng cứ để có
thể chủ động trong việc chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc mở phiên tòa sơ
thẩm dân sự.
Với nh ng quy định khác nhau trong pháp luật TTDS của các quốc gia về
CBXXSTVADS như vậy thì về m t lí luận, khái niệm CBXXSTVADS được hiểu
như thế nào?
Về m t thuật ng , theo Từ điển tiếng Việt thì “Chuẩn bị” là “làm cho có sẵn để
làm việc gì”7, còn “xét xử” là “xem xét và xử các vụ án”8. Như vậy, theo nghĩa
chung nhất thì CBXXSTVADS được hiểu là làm sẵn nh ng điều kiện cần thiết để
đưa VADS ra xét xử sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trong lĩnh vực khoa học pháp lí, CBXXSTVADS được nhìn nhận dưới nhiều
góc độ khác nhau. Đó là, CBXXSTVADS là một giai đoạn của quá trình tố tụng,
CBXXSTVADS là một chế định pháp luật, CBXXSTVADS là một thủ tục tố tụng,
CBXXSTVADS là một hoạt động tố tụng.
Dưới góc độ là một giai đoạn TTDS: Giai đoạn tố tụng là các khâu, các phần
việc khác nhau của quá trình tố tụng9. Như vậy, có thể thấy quá trình TTDS được
6
Bùi Thị Huyền (2011), tldđ chú thích 5, tr. 12, 13.
Trung tâm từ điển học (1994), Từ điển tiếng việt, NXB Giáo dục, , tr 175.
8
Trung tâm từ điển học (1994), Từ điển tiếng việt, NXB Giáo dục, tr 1108
9
Viện Khoa học pháp l - Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển Bách Khoa và Nxb Tư pháp, Hà
Nội, tr. 286.
7
12
phân chia thành các giai đoạn khác nhau là giai đoạn khởi kiện và thụ l VADS, giai
đoạn chuẩn bị xét xử, giai đoạn xét xử sơ thẩm. Mỗi giai đoạn có tính độc lập tương
đối và có mối liên hệ ch t chẽ với nhau. Khi nghiên cứu CBXXSTVADS dưới góc
độ này, ta cần thấy các dấu hiệu đ c trưng để phân biệt với các giai đoạn tố tụng khác
về nhiệm vụ, chủ thể tiến hành tố tụng và ngư i tham gia tố tụng và các quyết định
đ c trưng.
- Nhiệm vụ của giai đoạn CBXXSTVADS là chuẩn bị các điều kiện cần thiết
đảm bảo cho việc xét xử lần đầu nội dung VADS theo trình tự sơ thẩm. Nhiệm vụ
của giai đoạn CBXXSTVADS khác với nhiệm vụ của các giai đoạn khác như khác
với giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm VADS là chuẩn bị nh ng điều kiện cần thiết
đảm bảo cho việc xét xử lại VADS theo trình tự phúc thẩm ho c khác với giai đoạn
xét xử sơ thẩm là giải quyết lần đầu yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu phản
tố của bị đơn và yêu cầu độc lập của ngư i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
- Giai đoạn CBXXSTVADS có sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau.
Trong đó cơ quan tiến hành tố tụng có Tòa án cấp sơ thẩm, VKS, ngư i tham gia tố
tụng có nguyên đơn, bị đơn, ngư i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, ngư i bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự… Khác với giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc
thẩm có Tòa án cấp phúc thẩm, nh ng ngư i có quyền kháng cáo, kháng nghị ho c
liên quan đến kháng cáo, kháng nghị mới được tham gia trong giai đoạn chuẩn bị xét
xử phúc thẩm.
- Các quyết định được đưa ra trong giai đoạn CBXXSTVADS có thể là quyết
định đưa vụ án ra xét xử, tạm đình ch , đình ch giải quyết vụ án, quyết định công
nhận sự th a thuận của các đương sự… Các quyết định ở giai đoạn CBXXSTVADS
c ng khác với các giai đoạn khác. Ở giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm VADS,
Tòa án ra một trong các quyết định như quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm,
quyết định tạm đình ch , quyết định đình ch xét xử phúc thẩm. Ở giai đoạn xét xử sơ
thẩm thì Tòa án ra bản án, quyết định sơ thẩm. Ở giai đoạn xét xử phúc thẩm thì Tòa
án ra bản án, quyết định phúc thẩm. Ở giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm Tòa án ra
quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm.
Vậy, dưới góc độ là giai đoạn tố tụng, CBXXSTVADS là giai đoạn của quá
trình TTDS, trong đó Tòa án cấp sơ thẩm chuẩn bị các điều kiện cần thiết để lần đầu
đưa VADS ra xét xử tại phiên tòa sơ thẩm được khách quan, công bằng và đúng
pháp luật.
Dưới góc độ hoạt động TTDS: quá trình TTDS bao gồm rất nhiều các hoạt
động TTDS khác nhau của Tòa án, VKS, đương sự và nh ng ngư i tham gia tố tụng.
Trong đó, CBXXSTVADS là một trong các hoạt động của TTDS nhằm chuẩn bị các
điều kiện cần thiết để đưa VADS ra xét xử lần đầu theo thủ tục sơ thẩm. Theo đó,
13
Tòa án cấp sơ thẩm sau khi thụ l vụ án phải thực hiện một chuỗi nh ng công việc
có liên quan mật thiết với nhau như nghiên cứu hồ sơ, tiến hành phiên họp kiểm tra
việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, yêu cầu đương sự ho c Tòa
án tự mình bổ sung các chứng cứ cần thiết, ra quyết định đình ch ho c tạm đình ch
(nếu có căn cứ) ho c quyết định đưa vụ án ra xét xử… Các hoạt động này phải thực
hiện theo đúng trình tự và thủ tục mà pháp luật quy định. Từ nh ng phân tích trên, có
thể đưa ra định nghĩa về CBXXSTVADS như sau:
CBXXSTVADS là hoạt động tố tụng do Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành nhằm
chuẩn bị những điều kiện cần thiết để lần đầu đưa VADS ra xét xử tại phiên tòa sơ
thẩm được khách quan, công bằng và đúng pháp luật.
Dưới góc độ là một thủ tục TTDS: Nếu như thủ tục thụ lí sơ thẩm VADS là
thủ tục nhằm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cá nhân, cơ quan, tổ chức để xét xử
lần đầu VADS thì CBXXSTVADS là thủ tục tiếp theo trong trình tự giải quyết
VADS tại Tòa án cấp sơ thẩm được thực hiện sau khi Tòa án cấp sơ thẩm thụ lí vụ
án.
Thủ tục CBXXSTVADS là tiền đề, cơ sở cho việc Tòa án cấp sơ thẩm tiến
hành thủ tục xét xử tại phiên tòa. Nếu không có thủ tục CBXXSTVADS thì Tòa án
cấp sơ thẩm không thể tiến hành thủ tục xét xử tại phiên tòa sơ thẩm.
Hoạt động CBXXSTVADS và pháp luật TTDS là hai m t không thể tách r i
của quá trình TTDS. Pháp luật TTDS là cơ sở pháp lí cho hoạt động
CBXXSTVADS, do đó thủ tục CBXXSTVADS phải được pháp luật TTDS quy
định. Hơn n a, như đã phân tích hoạt động CBXXSTVADS gồm một chuỗi nh ng
công việc có liên quan mật thiết với nhau nên thủ tục CBXXSTVADS c ng bao gồm
nhiều thủ tục khác nhau được thực hiện nhằm chuẩn bị các điều kiện cho việc xét xử
tại phiên tòa sơ thẩm.
Vậy, dưới góc độ là một thủ tục TTDS, thủ tục CBXXSTVADS là cách thức,
trình tự Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành các hoạt động chuẩn bị các điều kiện cần thiết
để đưa VADS ra xét xử tại phiên tòa sơ thẩm được khách quan, công bằng và đúng
pháp luật.
Dưới góc độ chế định của pháp luật TTDS thì CBXXSTVADS là tổng hợp
các quy phạm pháp luật điều ch nh các quan hệ phát sinh trong quá trình Tòa án thực
hiện các hoạt động tố tụng để mở phiên tòa xét xử VADS theo thủ tục sơ thẩm.
Khi các cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện và Tòa án cấp sơ thẩm thụ l
VADS thì các quan hệ phát sinh trong quá trình Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết
VADS b t đầu hình thành. Trong đó, các quan hệ phát sinh trong giai đoạn
CBXXSTVADS bao gồm các quan hệ gi a Tòa án, VKS, đương sự và nh ng ngư i
tham gia tố tụng khác. Các chủ thể tham gia vào các quan hệ này có nhiệm vụ, quyền
14
hạn và địa vị pháp l khác nhau nhưng đều được điều ch nh bằng các quy phạm pháp
luật cụ thể. Trong chế định CBXXSTVADS không ch bao gồm các quy định về các
hoạt động tố tụng của Tòa án chuẩn bị nh ng điều kiện cần thiết để đưa VADS ra xét
xử tại phiên tòa sơ thẩm như: Lập và hoàn thiện hồ sơ vụ án, nghiên cứu hồ sơ, tiến
hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ....mà còn nhiều
hoạt động tố tụng độc lập khác không chuẩn bị nh ng điều kiện cần thiết cho việc xét
xử VADS tại phiên tòa như quyết định tạm đình ch giải quyết VADS, quyết định
đình ch giải quyết VADS, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm th i....Có thể
thấy rằng đây là một cách nhìn rộng hơn của chế định CBXXSTVADS so với các
cách nhìn khác. Theo đó nội dung của chế định CBXXSTVADS quy định về các vấn
đề pháp l liên quan đến việc CBXXSTVADS như th i hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm,
các công việc để chuẩn bị cho việc mở phiên tòa sơ thẩm, các quyết định tố tụng
trong th i hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm. Dấu hiệu về nội dung này là một trong nh ng
dấu hiệu để phân biệt chế định CBXXSTVADS với các chế định khác trong pháp
luật TTDS.
Vậy, chế định CBXXSTVADS có thể được hiểu như sau: Chế định
CBXXSTVADS là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh
trong quá trình Tòa án cấp sơ thẩm chuẩn bị các điều kiện cần thiết để đưa VADS ra
xét xử tại phiên tòa sơ thẩm và ra các quyết định khi có căn cứ pháp lý theo quy định
của pháp luật.
Trong phạm vi của luận văn tác giả nghiên cứu CBXXSTVADS chủ yếu dưới
góc độ là chế định pháp luật. Bởi vì, cho d CBXXSTVADS có được nhìn nhận dưới
góc độ nào thì pháp luật về CBXXSTVADS vẫn được coi là cơ sở cho mọi sự nhìn
nhận, đánh giá. Nghiên cứu vấn đề CBXXSTVADS dưới góc độ pháp luật là nghiên
cứu rộng nhất, bao quát được các nội dung cơ bản của CBXXSTVADS dưới các góc
độ khác.
1.1.2. Đặc điểm của chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự
- Hoạt động CBXXSTVADS được bắt đầu từ sau khi Tòa án thụ lý vụ án cho
đến khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm.
Là một hoạt động tố tụng cho nên hoạt động CBXXSTVADS c ng phải thực
hiện trong một khoảng th i gian hợp l . Về th i điểm b t đầu hoạt động
CBXXSTVADS có ý kiến cho rằng hoạt động CBXXSTVADS b t đầu kể từ khi Tòa
án thụ l VADS. Theo tác giả B i Thị Huyền “CBXXVADS là giai đoạn tố tụng
được thực hiện sau khi Tòa án thụ lý vụ án, ....”10 và tác giả đồng tình với quan điểm
này. Bởi vì, thụ l vụ án là việc Tòa án nhận đơn khởi kiện của ngư i khởi kiện và
10
Nguy n Công Bình chủ nhiệm đề tài (2002), Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện một số chế định
cơ bản của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trư ng, Hà Nội, tr 109.
15
vào sổ thụ l vụ án dân sự để giải quyết11. Việc vào sổ thụ l vụ án có
nghĩa quan
trọng trong việc xác định Tòa án đã nhận trách nhiệm giải quyết vụ án. Trên cơ sở
hoạt động thụ l vụ án thì Tòa án mới có thẩm quyền thực hiện các hoạt động tố tụng
tiếp theo theo quy định của pháp luật tố tụng. Vì vậy, sau khi thụ l vụ án Tòa án sẽ
có cơ sở pháp l để thực hiện các công việc CBXXSTVADS. Về quan điểm cho rằng
hoạt động CBXXSTVADS b t đầu từ khi Tòa án thụ l vụ án không hợp l bởi hiểu
như vậy sẽ gây khó khăn trong việc xác định ranh giới các công việc trong giai đoạn
thụ l vụ án và giai đoạn CBXXSTVADS.
Về th i điểm kết thúc việc CBXXSTVADS thì c ng còn nh ng cách hiểu khác
nhau. Có ý kiến cho rằng, hoạt động CBXXSTVADS kết thúc khi Tòa án ra quyết
định đưa vụ án ra xét xử. Ý kiến khác lại cho rằng, th i điểm hoạt động
CBXXSTVADS kết thúc trước ngày Tòa án mở phiên tòa và quan điểm này lập luận
rằng sau khi Tòa án ra quyết định mở phiên tòa sơ thẩm vẫn phải thực hiện một số
hoạt động như chuẩn bị cơ sở vật chất, chuyển hồ sơ cho VKS c ng cấp nghiên
cứu…nh ng hoạt động này c ng là nh ng hoạt động chuẩn bị nh ng điều kiện cần
thiết cho việc mở phiên tòa.
Theo quan điểm của tác giả thì th i điểm kết thúc của CBXXSTVADS là khi
tòa án cấp sơ thẩm ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử. Bởi lẽ, các hoạt động
CBXXSTVADS được thực hiện cho việc mở phiên tòa tức là trước khi có quyết định
đưa vụ án ra xét xử, còn sau khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử thì nh ng
hoạt động sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử ch là nh ng hoạt động hành
chính tư pháp tại Tòa án. Cụ thể các hoạt động chuẩn bị các điều kiện cần thiết về
hội trư ng xét xử, cơ sở vật chất khác tại hội trư ng được thực hiện thư ng xuyên và
đã được Tòa án đảm bảo cho việc xét xử. Hơn n a, sau khi Tòa án ra quyết định đưa
vụ án ra xét xử đến ngày mở phiên tòa, Tòa án không được ra bất kỳ một quyết định
nào như hoãn phiên tòa, công nhận sự th a thuận của các đương sự hay đình ch , tạm
đình ch việc giải quyết vụ án. Nếu như có các vấn đề trên phát sinh Tòa án đều phải
đợi đến ngày mở phiên tòa. Việc thụ l vụ án là việc xác nhận thẩm quyền giải quyết
vụ án của Tòa án đối với đơn khởi kiện của đương sự. Trong thụ l vụ án, Tòa án
phải thực hiện việc phân công thẩm phán giải quyết vụ án, vào sổ thụ l và thông báo
thụ l gửi đến các đương sự trong vụ án. Sau khi thụ l , thẩm phán được phân công
trên cơ sở đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ mà ngư i khởi kiện nộp sẽ tiến
hành lập và nghiên cứu hồ sơ vụ án, xác định đầy đủ ngư i tham gia tố tụng, yêu cầu
các đương sự tiến hành cung cấp chứng cứ và tiến hành thu thập chứng cứ khi cần
thiết, tiến hành hòa giải… Trong quá trình thực hiện các tố tụng trên nếu có căn cứ
11
Trư ng đại học Luật Hà Nội (2005), Giáo trình luật tố tụng dân sự Việt Nam, NXB Tư pháp, Hà Nội, tr239.
16
tạm đình ch ho c đình ch giải quyết VADS thì thẩm phán ra quyết định tạm đình
ch ho c đình ch giải quyết vụ án; nếu thấy hồ sơ vụ án đã đầy đủ và các tình tiết của
vụ án đã được làm sáng t thì Thẩm phán ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Việc ban
hành quyết định đưa vụ án ra xét xử là căn cứ chấm dứt các hoạt động
CBXXSTVADS.
- CBXXSTVADS là chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc xét xử sơ thẩm
VADS
Theo nguyên t c hai cấp xét xử, phiên tòa sơ thẩm là phiên xét xử lần đầu
VADS. Do đó hoạt động CBXXSTVADS có bản chất là chuẩn bị các điều kiện cần
thiết cho việc giải quyết vụ án chính xác và đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của
các bên như lập và nghiên cứu hồ sơ, xác định ngư i tham gia tố tụng, thu thập
chứng cứ, ra các quyết định tố tụng... Đây là điểm khác biệt đối với chuẩn bị xét xử
phúc thẩm vụ án. Do tính chất của phúc thẩm là "xét xử lại vụ án" nên trong chuẩn bị
xét xử phúc thẩm VADS Tòa án không xây dựng lại hồ sơ vụ án để xét xử mà căn cứ
vào hồ sơ do Tòa án cấp sơ thẩm đã xây dựng sẵn. Các hoạt động lấy l i khai, thu
thập chứng cứ ch được tiến hành khi cần thiết và tập trung vào phần bản án, quyết
định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị và nh ng phần liên quan đến kháng cáo,
kháng nghị.
- Hoạt động CBXXSTVADS có mối liên hệ chặt chẽ với các hoạt động tố tụng
khác.
Hoạt động CBXXSTVADS là một trong các hoạt động tố tụng được thực hiện
trong quá trình xét xử lần đầu VADS, theo đó Tòa án chuẩn bị các điều kiện cần thiết
cho việc mở phiên tòa sơ thẩm. Hoạt động CBXXSTVADS có mối liên hệ mật thiết
với các hoạt động tố tụng khác. Chẳng hạn, hoạt động thụ l vụ án là tiền đề cho hoạt
động CBXXSTVADS. Đơn khởi kiện và các tài liệu k m theo chứng minh cho yêu
cầu khởi kiện có căn cứ là nh ng tài liệu, chứng cứ đầu tiên trong hồ sơ vụ án, có
nghĩa cho hoạt động CBXXSTVADS trong việc xác định yêu cầu khởi kiện, xác
định nh ng ngư i tham gia tố tụng, trên cơ sở đó tiến hành các hoạt động thu thập
chứng cứ ho c ra quyết định tạm đình ch , quyết định đình ch ho c quyết định đưa
vụ án ra xét xử. Trong mối liên hệ với phiên tòa sơ thẩm thì hoạt động
CBXXSTVADS tạo ra sự chủ động cho thẩm phán trong việc điều khiển phiên tòa
và giúp cho Hội đồng xét xử ra được phán quyết chính xác và bảo đảm được quyền
và lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ án. Với tính chất là cấp xét xử thứ hai,
phúc thẩm ch giải quyết nh ng nội dung trong bản án, quyết định bị kháng cáo,
kháng nghị ho c có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị do vậy, nh ng chứng cứ, tài
liệu trong CBXXSTVADS đã thu thập tiếp tục được sử dụng để đánh giá về tính hợp
pháp và có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm. Tương tự đó, các hoạt động
17
CBXXSTVADS c ng có mối liên hệ ch t chẽ với tái thẩm và giám đốc thẩm trong
việc xem xét khiếu nại của đương sự có căn cứ hay không.
- Có rất nhiều chủ thể tham gia vào hoạt động CBXXSTVADS với vai trò khác
nhau
Trong hoạt động CBXXSTVADS có sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau.
Sau khi thụ l vụ án, các đương sự tiến hành hoạt động chuẩn bị cho việc tranh tụng
tại phiên tòa c ng như bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình như tham gia tích
cực vào việc cung cấp các chứng cứ, tài liệu để chứng minh cho yêu cầu của mình,
phản đối yêu cầu của đối phương. Các đương sự có thể tự mình yêu cầu các cơ quan,
tổ chức n m gi tài liệu cung cấp các tài liệu để cung cấp cho Tòa án, trong trư ng
hợp không thu thập được có thể yêu cầu Tòa án thu thập. Ngoài ra, ngư i bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự c ng có thể tham gia vào hoạt động
CBXXSTVADS như tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ. VKS với tư cách là cơ
quan tiến hành TTDS có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án và
nh ng ngư i tham gia tố tụng trong CBXXSTVADS, VKS tiến hành hoạt động kiểm
sát việc thụ l vụ án, nghiên cứu hồ sơ vụ án, yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập
chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án, tiến hành một số hoạt động hoạt động thu
thập, chứng cứ bảo đảm cho việc kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm… Bên cạnh
hoạt động của nh ng ngư i tham gia tố tụng, VKS thì hoạt động của Tòa án đ c biệt
là các thẩm phán có nghĩa tích cực, nhất là mô hình tố tụng của Việt Nam về cơ
bản vẫn là mô hình thẩm xét với việc đ t vai trò thu thập chứng cứ của thẩm phán rất
cao. Hơn n a, Tòa án có trách nhiệm giải quyết VADS nên để ra phán quyết công
bằng, chính xác và đúng pháp luật thì Tòa án cần chuẩn bị thật kỹ các hoạt động
CBXXSTVADS. Như vậy, chủ thể tham gia hoạt động CBXXSTVADS rất rộng và
có nh ng vai trò khác nhau. Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu đề tài của luận văn
chỉ nghiên cứu về hoạt động CBXXSTVADS của Tòa án.
- CBXXSTVADS bao gồm nhiều hoạt động do Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành
trên cơ sở các quy định pháp luật TTDS.
Nội dung của hoạt động CBXXSTVADS bao gồm các công việc có mối liên hệ
mật thiết với nhau do Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành theo quy định của pháp luật
TTDS. Hoạt động CBXXSTVADS đầu tiên mà Tòa án cấp sơ thẩm phải thực hiện
việc thông báo về việc thụ lí vụ án. Để có thể giải quyết vụ án dân sự thì Tòa án cấp
sơ thẩm phải phân công Thẩm phán trực tiếp tiến hành việc giải quyết vụ án tại cấp
sơ thẩm; giải quyết các trư ng hợp từ chối, thay đổi ngư i tiến hành tố tụng; lập và
nghiên cứu hồ sơ VADS trong đó tiến hành thu thập chứng cứ, mở phiên họp xem
xét, công khai chứng cứ và hòa giải theo trình tự, thủ tục do pháp luật TTDS quy
định… Trong quá trình thực hiện các hoạt động CBXXSTVADS Tòa án cấp sơ thẩm