BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LÂM TRƯỜNG SƠN
NGHIÊN CỨU ĐẶC TÍNH SINH HỌC VÀ SĂN MỒI
CỦA BỌ XÍT BẮT MỒI Rhynocoris fuscipes Fabricius
(Hemiptera: Reduviidae)
TRONG PHÒNG THÍ NGHIỆM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 11/2011
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LÂM TRƯỜNG SƠN
NGHIÊN CỨU ĐẶC TÍNH SINH HỌC VÀ SĂN MỒI
CỦA BỌ XÍT BẮT MỒI Rhynocoris fuscipes Fabricius
(Hemiptera: Reduviidae)
TRONG PHÒNG THÍ NGHIỆM
Chuyên ngành: Bảo Vệ Thực Vật
Mã số: 60.62.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Hướng dẫn khoa học: TS. TRẦN TẤN VIỆT
Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 11/2011
NGHIÊN CỨU ĐẶC TÍNH SINH HỌC VÀ SĂN MỒI
CỦA BỌ XÍT BẮT MỒI Rhynocoris fuscipes Fabricius
(Hemiptera: Reduviidae)
TRONG PHÒNG THÍ NGHIỆM
LÂM TRƯỜNG SƠN
Hội đồng chấm luận văn:
1. Chủ tịch:
PGS. TS. NGUYỄN VĂN HUỲNH
Đại học Cần Thơ
2. Thư kí:
TS. VÕ THỊ THU OANH
Đại học Nông lâm Tp. Hồ Chí Minh
3. Phản biện 1:
TS. TRÁC KHƯƠNG LAI
Công ty Việt Hóa Nông
4. Phản biện 2:
PGS. TS. NGUYỄN THỊ CHẮT
Hội BVTV
5. Ủy viên:
PGS. TS. TRẦN VĂN HAI
Đại học Cần Thơ
ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP. HỒ CHÍ MINH
HIỆU TRƯỞNG
i
LÝ LỊCH CÁ NHÂN
Tôi tên Lâm Trường Sơn sinh ngày 01 tháng 09 năm 1984 tại quận 1, Thành
phố Hồ Chí Minh. Con ông Lâm Tiến Triển và bà Đặng Kim Khanh.
Tốt nghiệp PTTH tại trường Trung học phổ thông Phan Đăng Lưu, quận Phú
Nhuận, Tp Hồ Chí Minh năm 2002.
Tốt nghiệp Đại học ngành Nông học hệ chính quy tại Trường Đại học Nông
Lâm Tp.Hồ Chí Minh, Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh năm 2006.
Ra trường làm việc tại Trung tâm Chuyển giao Tiến bộ Kỹ thuật Nông nghiệp –
Viện Khoa Học Kỹ Thuật Nông Nghiệp Miền Nam từ tháng 12 năm 2006 đến tháng
04 năm 2008.
Tháng 09 năm 2008 theo học Cao học ngành Bảo Vệ Thực Vật tại trường Đại
học Nông Lâm Tp.Hồ Chí Minh, Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tháng 12 năm 2010 đến nay công tác tại công ty TNHH Hóa Nông Hợp Trí
Tình trạng gia đình: độc thân
Địa chỉ liên lạc: 103/17 Bùi Đình Túy phường 12 quận Bình Thạnh – Thành
phố Hồ Chí Minh.
Điện thoại: 090.879.8684
ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi
Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng
được ai công bố trong bất kì công trình nào khác.
Tp. Hồ Chí Minh tháng 11 năm 2011
Ký tên
Lâm Trường Sơn
iii
LỜI CẢM TẠ
Xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến TS. Trần Tấn Việt, người đã cung cấp
cho tôi nền tảng kiến thức trong việc nghiên cứu cũng như đã định hướng và góp ý cho
tôi rất nhiều trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Đồng thời cũng xin gửi lời cảm ơn đến:
Ban Giám Hiệu trường Đại học Nông Lâm Tp. Hồ Chí Minh, phòng Đào tạo
Sau Đại Học, Chủ nhiệm khoa Nông Học, Bộ môn Bảo Vệ Thực Vật đã tạo điều kiện
thuận lợi cho tôi học tập và nghiên cứu trong suốt quá trình theo học tại trường
Quý thầy cô cùng tham gia giảng dạy trong thời gian qua đã cho tôi những kiến
thức và kinh nghiệm quý báu trong nghiên cứu và trong công việc.
Thầy Đặng Hồng Hải và BGĐ Công ty TNHH Hóa Nông Hợp Trí đã tạo nhiều
điều kiện thuận lợi để tôi có thể hoàn thành luận văn.
Bạn bè, anh chị cùng lớp đã hỗ trợ, động viên và chia sẻ trong suốt quá trình
học và nghiên cứu tại trường
Cuối cùng xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình đã tạo mọi điều kiện
cũng như luôn hỗ trợ về vật chất và tinh thần trong suốt quá trình học tập và nghiên
cứu để có thể hoàn thành luận văn.
iv
TÓM TẮT
Đề tài “Nghiên cứu một số đặc tính sinh học và săn mồi của bọ xít bắt mồi
Rhynocoris fuscipes Fabricius (Hemiptera: Reduviidae) trong phòng thí nghiệm” thực
hiện tại phòng thí nghiệm bộ môn Bảo vệ thực vật, Khoa Nông học, trường Đại học
Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 03 năm 2010 đến tháng 04 năm 2011.
1.
Thành trùng bọ xít R. fuscipes có màu đỏ với những đường sọc đen. Kích
thước trung bình của thành trùng đực là 13,37 + 0,50 mm, kích thước trung bình thành
trùng cái là 14,73 + 0,31mm. Cánh màu đen, gốc cánh có màu đỏ. Trứng có màu nâu
đỏ, hình bầu dục. Trứng có chiều dài trung bình 1,53 + 0,05mm và chiều rộng trung
bình 0,62 + 0,02mm. Vòng đời của bọ xít khi nuôi cá thể là 62,92 + 4,91 ngày. Trung
bình một cá thể cái có thể đẻ 970,21 + 219,72 trứng trong suốt thời gian sống.
2.
Thời gian phát triển của bọ xít khi nuôi trong điều kiện tập trung lần lượt
là 35,40 + 0,40 ngày, 39,20 + 1,66 ngày và 42,13 + 2,63 ngày ứng với các mật độ 25,
50 và 75 cá thể. Điều kiện nuôi nhốt tập trung giúp bọ xít rút ngắn thời gian sinh
trưởng và phát triển so với khi nuôi riêng lẻ. Mật số càng cao thì thời gian phát triển
càng kéo dài. Ở tất cả các giai đoạn đều ghi nhận tình trạng bọ xít tấn công và ăn thịt
lẫn nhau. Trong 3 mật độ nuôi nhốt tập trung, số lượng thành trùng thu được cao nhất
ở mật độ 50 cá thể. Ở tất cả các mật độ nuôi, số lượng cá thể cái thu được luôn cao hơn
cá thể đực.
3.
Phản ứng chức năng của bọ xít được tiến hành trên đối tượng sâu khoang
tuổi 2 nhằm xác định khả năng ăn mồi. Khả năng ăn mồi cao nhất ở tỉ lệ bọ xít : sâu
khoang là 1 : 9. Phản ứng chức năng của bọ xít R. fuscipes trên đối tượng Spodoptera
litura tuổi 2 có dạng 2 của phương trình Holling.
4.
Kết quả trữ lạnh trứng, ấu trùng và thành trùng loài bọ xít R. fuscipes ở
các mức nhiệt độ 50C, 100C, 150C trong thời gian 5, 10, 15 ngày cho thấy tỉ lệ sống
cao nhất ghi nhận được ở mức 150 trong 5 và 10 ngày. Không có nhiệt độ nào phù hợp
cho việc tồn trữ trứng.
v
ABSTRACT
The thesis “Study on biological characteristics and hunting behavior of reduviid
predator Rhynocoris fuscipes Fabricius (Hemiptera: Reduviidae) in laboratory
condition” was carried out in the Insect Science Laboratory, Agronomy Faculty, at
Agricuture and Forestry University, Thu Duc District, Ho Chi Minh City from March,
2010 to April, 2011.
1. The nymphs and the adults of R. fuscipes Fabricius (Hemiptera: Reduviidae)
existed in special morphs with black and red banded connexivum. The male dimension
was about 13,37 + 0,50 mm, and the female dimension was about 14,73 + 0,31mm.
The wings were black, the outer edge of the corium was reddish. The individual egg
was 1,53 + 0,05mm long and 0,62 + 0,02mm wide. The life cycle of R. fuscipes when
reared on C. cephalonica was 62,92 + 4,91 days. A single female laid 970,21 + 219,72
eggs on during her life.
2. R. fuscipes were reared at three different densities 25, 50, 75 on C.
cephalonica larvae. The total developmental period was 35,40 + 0,40 days, 39,20 +
1,66 days and 42,13 + 2,63 days of 25, 50 and 75 density in respectively. The results
showed that rearing in groups decreased the total nymphal period as compared with
solidarity condition and the higher density spent much more time for development than
the lower. The nymphal mortality increased as the density increased. Cannibalistic
behaviour was observed in all stages of R. fuscipes. The highest adult population was
collected in 50 density. The female biased sex ratio was observed in all categories.
3. The funtional response were conducted to determine the influence of S. litura
larva density on the predation of R. fuscipes. The highest attack ratio were obtained at
1 predator : 9 prey density. The reduviid R. fuscipes exhibited type II Holling's
curvilinear functional response to army worm S. litura.
4. The adults, nymphs and egg of the R. fuscipes was storaged at 50C, 100C,
150C for 5, 10, 15 days. The cold storage’s result showed that the highest survial rates
was at 150C for 5 and 10 days. None of temperatures in this experiment proved to be
suitable for egg cold storaged.
vi
MỤC LỤC
MỤC LỤC .....................................................................................................................vii
DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT ..................................................................................... x
DANH SÁCH CÁC BẢNG ........................................................................................... xi
DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ......................................................................................xii
DANH SÁCH CÁC HÌNH .......................................................................................... xiii
Chương 1 MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
1.1 Đặt vấn đề .................................................................................................................. 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu ................................................................................................... 2
1.2.1 Mục tiêu .................................................................................................................. 2
1.2.2 Yêu cầu ................................................................................................................... 2
1.3 Phạm vi đề tài ............................................................................................................ 2
Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU .............................................................................. 3
2.1 Khái niệm chung về thiên địch .................................................................................. 3
2.1.1 Vai trò thiên địch ................................................................................................... 3
2.1.2 Phân loại thiên địch ................................................................................................ 3
2.2 Tình hình phát triển hệ thống nhà lưới ở Việt nam ................................................... 4
2.3 Các loại dịch hại trong nhà lưới ................................................................................ 4
2.4 Vai trò của bọ xít săn mồi trong IPM và đấu tranh sinh học ..................................... 6
2.5 Giới thiệu chung về bọ xít Rhynocoris fuscipes ........................................................ 7
2.5.1 Vị trí trong hệ thống phân loại ............................................................................... 7
2.5.2 Các nghiên cứu trên thế giới về bọ xít Rhynocoris ................................................ 8
2.6 Giới thiệu chung về ngài gạo Corcyra cephalonica Stainton .................................11
2.6.1 Giới thiệu về ngài gạo Corcyra cephalonica Stainton .........................................11
2.6.2 Một số nghiên cứu dùng ngài gạo làm vật liệu thí nghiệm ..................................12
2.7 Giới thiệu chung về sâu khoang Spodoptera litura Fabricius .................................14
2.7.1 Giới thiệu về sâu khoang Spodoptera litura Fabricius.........................................14
vii
2.7.2 Một số thí nghiệm sử dụng sâu khoang Spodoptera litura làm vật liệu nghiên cứu
.......................................................................................................................................14
2.8 Tồn trữ thiên địch ....................................................................................................17
2.8.1 Bảo quản và trữ lạnh thiên địch ............................................................................17
2.8.2 Một số nghiên cứu về trữ lạnh thiên địch .............................................................17
Chương 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ...................................19
3.1 Nội dung nghiên cứu ...............................................................................................19
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu ...........................................................................19
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu ............................................................................................ 19
3.2.2 Thời gian nghiên cứu ............................................................................................19
3.2.3 Điều kiện nghiên cứu ........................................................................................... 19
3.3 Vật liệu và dụng cụ nghiên cứu ...............................................................................19
3.4 Phương pháp nghiên cứu .........................................................................................20
3.4.1. Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái, sinh học và khả năng nuôi tập trung của
bọ xít R. fuscipes ........................................................................................................... 20
3.4.1.1 Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái, sinh học bọ xít R. fuscipes ..................21
3.4.1.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ nuôi đến khả năng phát triển của bọ xít
....................................................................................................................................... 22
3.4.2 Nghiên cứu khả năng săn mồi của bọ xít trong điều kiện phòng thí nghiệm thông
qua phản ứng chức năng với ấu trùng sâu khoang tuổi 2 ................................... 23
3.4.3 Khảo sát mức độ trữ lạnh đến khả năng nở của trứng, khả năng sống của ấu trùng
và thành trùng ..................................................................................................... 25
Chương 4 KẾT QUẢ THẢO LUẬN ........................................................................... 27
4.1.1 Đặc điểm hình thái của bọ xít R. fuscipes ............................................................ 27
4.1.2 Đặc điểm sinh học bọ xít R. fuscipes....................................................................32
4.1.2.1 Thời gian phát triển và vòng đời bọ xít R. fuscipes..........................................32
4.1.2.2 Tuổi thọ và khả năng sinh sản của bọ xít R. fuscipes ........................................34
4.1.3 Ảnh hưởng của mật độ đến khả năng phát triển của bọ xít R. fuscipes ...............35
4.1.3.1 Thời gian phát triển của bọ xít R. fuscipes ........................................................35
4.1.3.3 Ảnh hưởng của mật độ nuôi đến tỷ lệ sống của bọ xít ......................................38
4.1.3.4 Ảnh hưởng của mật độ đến tỉ lệ đực cái của bọ xít ...........................................39
viii
4.2 Khả năng săn mồi của bọ xít trong điều kiện phòng thí nghiệm thông qua phản ứng
chức năng với ấu trùng sâu khoang tuổi 2 ............................................................41
4.2.1 Khả năng săn mồi của bọ xít ở từng pha phát dục……………………………...41
4.2.2 Tương quan giữa mật độ sâu hại và khả năng săn mồi của bọ xít .......................42
4.3 Tác động của nhiệt độ thấp đến khả năng nở của trứng, khả năng sống của ấu trùng
và thành trùng bọ xít R. fuscipes .......................................................................... 44
Chương 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ .........................................................................46
5.1 Kết luận....................................................................................................................46
5.2 Đề nghị ....................................................................................................................46
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................................... 47
PHỤ LỤC .....................................................................................................................59
ix
DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT
AT:
Ấu trùng
n:
Số lượng quan sát/số lần lặp lại
SD:
Độ lệch tiêu chuẩn
TT:
Thành trùng
TB:
Trung bình
TLLX tb/n: Tỉ lệ lột xác trung bình mỗi ngày
x
DANH SÁCH CÁC BẢNG
BẢNG
TRANG
Bảng 3.1: Bảng bố trí thí nghiệm khả năng săn mồi của bọ xít ....................................24
Bảng 4.1: Kích thước các pha phát dục bọ xít R. fuscipes ............................................27
Bảng 4.2: Thời gian phát triển và vòng đời của bọ xít R. fuscipes. .............................32
Bảng 4.3: Tuổi thọ và khả năng sinh sản của bọ xít R. fuscipes ..................................34
Bảng 4.4: Ảnh hưởng của mật độ đến thời gian phát triển của bọ xít (ngày) ...............36
Bảng 4.5: Tỷ lệ lột xác trung bình/ngày của bọ xít (%) ................................................37
Bảng 4.6: Tỷ lệ sống của bọ xít qua từng pha phát dục (%) .........................................38
Bảng 4.7: Ảnh hưởng của mật độ đến tỉ lệ đực cái của bọ xít ......................................40
Bảng 4.8: Khả năng săn mồi của bọ xít ở từng pha phát dục (con/ngày) ....................41
Bảng 4.9: Tương quan giữa mật số sâu hại và khả năng săn mồi của bọ xít ................42
Bảng 4.10: Khả năng sống sau trữ lạnh của bọ xít ở các giai đoạn sinh trưởng (%) ...44
xi
DANH SÁCH CÁC BIỂU ĐỒ
ĐỒ THỊ
TRANG
Đồ thị 4.1: Khả năng săn mồi ấu trùng bọ xít tuổi 4 trên ấu trùng sâu khoang tuổi 2 ..43
Đồ thị 4.2: Khả năng săn mồi ấu trùng bọ xít tuổi 5 trên ấu trùng sâu khoang tuổi 2 ..43
Đồ thị 4.3: Khả năng săn mồi thành trùng đực trên ấu trùng sâu khoang tuổi 2...........43
Đồ thị 4.4: Khả năng săn mồi thành trùng cái trên ấu trùng sâu khoang tuổi 2 ............43
Đồ thị 4.5: Khả năng săn mồi thành trùng cái sau bắt cặp trên ấu trùng sâu khoang tuổi
2..................................................................................................................43
xii
DANH SÁCH CÁC HÌNH
HÌNH
TRANG
Hình 3.1: Nuôi ấu trùng sâu gạo làm thức ăn nuôi bọ xít .............................................20
Hình 3.2: Chuẩn bị thức ăn cho bọ xít...........................................................................20
Hình 3.3: Nuôi ấu trùng trong điều kiện cá thể .............................................................23
Hình 3.4: Nuôi ấu trùng trong điều kiện tập thể ............................................................23
Hình 3.5: Bố trí thí nghiệm phản ứng chức năng với ấu trùng sâu khoang tuổi 2 ........25
Hình 3.6: Thí nghiệm trữ lạnh trứng, ấu trùng và thành trùng ......................................26
Hình 4.1: Ấu trùng và kích thước ấu trùng bọ xít R. fuscipes ......................................29
Hình 4.2: Thành trùng bọ xít R. fuscipes ......................................................................31
Hình 4.3: Vòng đời bọ xít R. fuscipes ...........................................................................33
xiii
Chương 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Hiện nay, tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật ở nhiều nước châu Á nói
chung và Việt Nam nói riêng đang ở mức báo động. Một số loại thuốc trừ sâu đang sử
dụng ở các quốc gia châu Á đã bị cấm ở nhiều khu vực khác trên thế giới. Một số kết
quả điều tra cho thấy ở Việt Nam có trên 300 loại thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng.
Theo đó, 30% số mẫu đất có dư lượng thuốc vượt qua tiêu chuẩn 2-40 lần và 55% mẫu
không khí có nồng độ thuốc vượt quá tiêu chuẩn 2-10 lần. Những vấn đề trên đã thúc
đẩy nhiều quốc gia tìm kiếm giải pháp loại bỏ dần các loại thuốc bảo vệ thực vật độc
hại để thay bằng các phương thức không hóa học. Do đó việc sử dụng thiên địch được
xem là giải pháp mang tính chiến lược và sự chọn lựa ở hầu hết các quốc gia có nền
nông nghiệp tiên tiến.
Vai trò của thiên địch trong hệ thống đấu tranh sinh học đã được biết đến và
được thực hiện rộng rãi trong nông nghiệp từ rất lâu và đã được đưa vào nghiên cứu
cách đây gần 200 năm tại Ấn Độ (Whitcomb, 1987). Ý nghĩa của nó là sử dụng các
nhóm virus, vi khuẩn, nấm, côn trùng kí sinh, bắt mồi và một số sinh vật khác để ngăn
chặn dịch hại, làm giảm mật số và qua đó làm giảm đến mức tối thiểu những thiệt hại
mà chúng gây ra. Qua đó, việc mở rộng nghiên cứu và nhân nuôi thiên địch được xem
là cần thiết và đã được mở rộng nghiên cứu từ đầu thế kỉ 20. Trong đó khâu quan trọng
nhất trong việc áp dụng trong thực tiễn là đảm bảo sinh khối cần thiết trong việc kiểm
soát sâu hại (Beirne, 1974).
Rhynocoris là một giống bọ xít bắt mồi, được tìm thấy trên rất nhiều phổ cây
trồng như bông vải, đậu đỗ, thuốc lá… và được xem là một đối tượng có nhiều tiềm
năng trong việc kiểm soát sâu hại (Sahayara, 2003; Vennison và Ambrose, 1988).
1
Việt Nam là quốc gia có nền nông nghiệp lâu đời và phong phú về thành phần
cây trồng và côn trùng. Việc nhân nuôi và sử dụng thiên địch vào mục đích kiểm soát
sâu hại trong hệ thống nhà lưới ở Việt Nam những năm gần đây đã bắt đầu được chú
trọng. Do đó việc nghiên cứu về giống bọ xít này sẽ làm phong phú thêm cho quỹ
thiên địch trong nước, tạo cơ sở cho việc ứng dụng phương pháp phòng trừ sinh học
trên hệ thống cây trồng nông nghiệp
Để hiểu rõ hơn về đối tượng thiên địch này, chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên
cứu một số đặc tính sinh học và săn mồi của bọ xít bắt mồi Rhynocoris fuscipes
Fabricius (Hemiptera: Reduviidae) trong phòng thí nghiệm”
1.2 Mục tiêu và yêu cầu
1.2.1 Mục tiêu
Tìm hiểu một số đặc điểm sinh học và khả năng ăn mồi của bọ xít thiên địch để
làm cơ sở cho ứng dụng vào đấu tranh sinh học trong hệ thống nhà lưới.
Bước đầu tìm hiểu khả năng tồn trữ của bọ xít trong điều kiện nhiệt độ thấp.
1.2.2 Yêu cầu
Xác định một số đặc điểm hình thái, sinh học và khả năng nuôi tập trung của bọ
xít.
Xác định khả năng săn mồi của bọ xít trong điều kiện phòng thí nghiệm.
Xác định tác động của nhiệt độ thấp đến khả năng nở của trứng, khả năng sống
của ấu trùng và thành trùng.
1.3 Phạm vi đề tài
Thời gian thực hiện từ tháng 3 năm 2010 đến tháng 4 năm 2011 trong điều kiện
phòng thí nghiệm
Đề tài nghiên cứu chỉ đánh giá một số đặc tính sinh học của bọ xít R. fuscipes
khi được nuôi bằng ấu trùng sâu gạo Corcyra cephalonica
2
Chương 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Khái niệm chung về thiên địch
2.1.1 Vai trò thiên địch
Các loài thiên địch nói chung và côn trùng thiên địch nói riêng có tầm quan
trọng rât lớn trong hệ sinh thái học côn trùng:
Có vai trò như một mắt xích trong sự chuyển hóa năng lượng trong cộng đồng
sinh vật của hệ sinh thái
Là tác nhân điều chỉnh mật số sâu hại ở mức quân bình, không cho bộc phát
thành dịch. Do đó vai trò của biện pháp sinh học rất quan trọng trong quá trình kiểm
soát và phòng trừ sâu hại.
Tác động đến việc duy trì khả năng thích ứng để tồn sinh của con mồi. Cá thể
nào yếu hoặc không có khả năng tự vệ sẽ bị loại thải bởi thiên địch theo quy luật chọn
lọc tự nhiên.
Có vai trò trong việc thúc đẩy sự tiến hóa của các loài sâu hại. Thông qua các
hoạt động săn mồi của thiên địch, sâu hại bắt buộc phải phát triển những khả năng tự
vệ trước sự tấn công của thiên địch để bảo tồn cá thể trong loài, từ đó hình thành
những dòng hoặc loài sâu hại mới có khả năng thích ứng cao hơn. Điều này cũng giúp
tạo sự cân bằng giữa các loài (Nguyễn Văn Huỳnh, 2002).
2.1.2 Phân loại thiên địch
Nhìn chung thiên địch có thể được chia làm 2 nhóm, loại bắt mồi và loại kí
sinh.
a. Loại bắt mồi (predator): một cá thể có thể giết và ăn nhiều con mồi trong 1 lần
săn, một ngày hay trong một vòng đời của nó. Do đó nó phải to, khỏe và nhanh nhẹn
hơn con mồi. Đây là loài đa thực hay còn gọi là ăn thịt tổng quát (generalists)
b. Loại kí sinh (parasitoids): một cá thể chỉ cần 1 kí chủ để sống trong suốt vòng
đời của nó. Do đó nó thường nhỏ và yếu hơn con mồi nhưng bù lại nó có khả năng đặc
3
biệt để có thể tấn công con mồi. Ở đây thành trùng của loài kí sinh đẻ một trứng bên
trên hay bên trong một côn trùng kí chủ, ấu trùng sẽ nở ra và kí sinh trong kí chủ đến
khi trưởng thành. Thành trùng lại ra sống tự do bên ngoài kí chủ rồi lại tìm đẻ trứng trở
lại trên nhiều kí chủ khác. Tuy một thành trùng có thể giết chết nhiều con mồi nhưng
mỗi cá thể chỉ lớn lên trên một kí chủ. Chúng thường là loài ăn thịt chuyên biệt
(specialists) (Nguyễn Văn Huỳnh, 2002).
2.2 Tình hình phát triển hệ thống nhà lưới ở Việt nam
Nhà lưới, nhà kính chủ yếu được bao phủ bằng những tấm kính, tấm lưới. sợi
kính hoặc nhựa để hấp thu nhiệt và giữ nhiệt tối đa. Chúng được sử dụng để mở rộng
vụ mùa trồng rau, trồng hoa, bảo vệ cây trồng khỏi những điều kiện bất lợi của môi
trường (nhiệt độ, gió…), che chắn cây trồng tránh khỏi dịch hại và bệnh cây (Hanan và
cộng sự, 1978)
Nhà lưới tại Việt Nam chủ yếu làm bằng vật liệu lưới trắng. Ở khu vực thành
phố Hồ Chí Minh, trong 10 năm diện tích canh tác rau trong nhà lưới đã phát triển đến
gần 200ha. Mặc dù chưa hoàn thiện nhưng đã nói lên xu thế phát triển của nhà lưới.
Tại tỉnh Lâm Đồng, chỉ riêng thành phố Đà Lạt cũng đã phát triển hàng ngàn ha rau
trong nhà lưới. Định hướng phát triển trong năm tới là 3.000ha. Tỉnh Bình Dương là
tỉnh có tốc độ công nghiệp hóa cao cũng đang phát triển 100ha rau trong nhà lưới (Báo
cáo liên kết sản xuất và tiêu thụ rau an toàn 12 tỉnh, 2010). Việc phát triển nhà lưới
trồng rau là xu thế tất yếu trong việc sản xuất sản phẩm an toàn và sản xuất giống chất
lượng cao trong điều kiện biến đổi khí hậu và đô thị hóa các vùng sản xuất nông
nghiệp. Tuy nhiên, dạng nhà lưới hiện nay chủ yếu vẫn là nhà lưới hở do không được
đầu tư và phục hồi đúng mức.
2.3 Các loại dịch hại trong nhà lưới
Hiện nay, khó khăn lớn nhất trong việc áp dụng rộng rãi hệ thống nhà lưới
chính là sự phát triển của dịch hại. Nếu không chú ý ngay từ đầu, dịch hại sẽ gây thiệt
hại lớn với tốc độ rất nhanh. Do đó cần phải có những phương pháp hữu hiệu cũng như
nỗ lực nhằm ngăn chặn sự lây nhiễm và phát triển của dịch hại. Một trong những loài
gây hại chủ yếu hiện nay là bọ phấn, nhện, rầy mềm, dòi đục lá… và biện pháp dùng
thiên địch để khống chế sâu hại được xem là một trong những giải pháp tối ưu nhất
hiện nay.
4
Bọ phấn trắng: loài côn trùng này có tính kháng thuốc rất cao, nhất là loài
Bemisia tabaci vốn được xem là Q-biotype, có thể kháng với hầu hết thuốc BVTV, do
đó đặc biệt cần đến sự kiểm soát của loài thiên địch để hạn chế sự lây lan của chúng
Hiệu quả kiểm soát chúng trong những năm gần đây trong nhà kính đã được ghi nhận
thông qua các loài ong kí sinh như Encarsia formosa. Thành trùng ong kí sinh đẻ trứng
lên ấu trùng của bọ phấn. Trứng nở thành ấu trùng và sử dụng nguồn dinh dưỡng bên
trong của ấu trùng bọ phấn để phát triển cho đến khi hóa nhộng rồi vũ hóa bay ra.
Nhiệt độ thích hợp cho hoạt động của ong kí sinh là 21,5 - 270 C và ẩm độ là 50-80%.
Tuy nhiên trên cà chua, hiệu quả phòng trừ của loài ong này tương đối giảm sút do các
lông tơ trên lá làm giảm mức độ tìm kiếm cũng như kí sinh lên ấu trùng bọ phấn của
ong. Một loại ong khác là Eretmocerus eremicus. Loài ong này kiểm soát bọ phấn
bằng 2 cách: kí sinh và ăn thịt. Thành trùng cái ngoài việc đẻ trứng lên ấu trùng bọ
phấn nó còn có khả năng ăn ấu trùng của bọ phấn. Ngoài ra còn có ong kí sinh E.
mundus. Hiệu quả kiểm soát của chúng cao hơn so với E. eremicus do không phụ
thuộc vào điều kiện nhiệt độ môi trường.
Bọ trĩ Frankliniella occidentalis: Đối tượng dịch hại này rất khó kiểm soát và
là một trong những dịch hại phổ biến trong nhà lưới. Một trong những phương pháp
hiện nay là dùng loài săn mồi như bọ xít bắt mồi Orius sp.. Ngoài ra loài nhện săn mồi
Ambylseius swirskii cũng được xem là tác nhân hiệu quả trong việc kiểm soát mật số
bọ trĩ. Bên cạnh đó, các nghiên cứu cho thấy có thể dùng nấm kí sinh Beauveria
bassiana do nó không chỉ hiệu quả trên bọ trĩ mà còn trên các loài sâu hại khác như bọ
phấn, rầy mềm và rệp sáp.
Nhện đỏ Tetranychus urticae: thường gọi là nhện 2 chấm. Nó còn được biết
đến bằng tên nhện hại nhà lưới, nhện vàng. Là loài ăn tạp được tìm thấy trên 150 loại
cây kí chủ khác nhau và tấn công trên 300 loài cây trong nhà lưới (Jeppson và cộng sự,
1975). Một trong những loài thiên địch phổ biến nhất hiện nay là nhện săn mồi (mite)
Phytoseiulus persimilis, nó có khả năng kiểm soát nhện 2 chấm ngay khi cá thể nhện
này vừa xuất hiện do khả năng di chuyển linh hoạt và to hơn nhện 2 chấm. Ngoài ra
còn có một số nhện săn mồi khác như Galendromus occidentalis, Neoseiulus
californicus, và Amblyseius fallacis. Tuy nhiên mỗi loài cần có một điều kiện không
gian và nhiệt độ khác nhau.
5
Ruồi Fungus gnats (Bradysia spp.): các loài thiên địch phổ biến như nhện
Hypoaspis miles, tuyến trùng Steinernema feltiae, bọ cánh cứng Atheta coriaria và vi
khuẩn Bacillus thuringiensis var. israelensis. Các loài thiên địch này chủ yếu tấn công
ruồi Fungus gnats giai đoạn ấu trùng, làm chúng giảm mật số ngay từ đầu. Ngoài ra có
thể dùng ruồi săn mồi Coenosia attenuata khi ruồi Fungus gnats đã phát triển thành
thành trùng.
Rầy mềm (Aphid spp.): loài dịch hại này là đối tượng dễ dàng bị tấn công bởi
nhóm kí sinh và săn mồi. Thông thường, nhóm côn trùng kí sinh cho hiệu quả kiểm
soát loài dịch hại này tốt hơn loài săn mồi. Tuy nhiên trong một số trường hợp khi điều
kiện môi trường ấm lên, mật số rầy mềm tăng nhanh sẽ làm cho việc kiểm soát sinh
học kém hiệu quả. Các loài thiên địch thường sử dụng như bọ rùa Hippodamia
convergens, Adalia bipunctata, bọ cánh lưới Chrysoperla rufilabris, nấm kí sinh
Beauveria bassiana.
Ruồi đục lá Liriomyza spp. Những thiên địch chủ yếu dùng để kiểm soát mật
số loài dịch hại này là ong kí sinh Dacnusa sibirica và Diglyphus isaea.
Rệp sáp Planococcus citri và Pseudococcus adonidum: các loài thiên địch chủ
yếu thuộc nhóm kí sinh như Leptomastix dactylopii. Đối với loài P. adonidum thì
nhóm thiên địch săn mồi như bọ rùa Cryptolaemus montrouzieri tỏ ra hiệu quả hơn.
Rệp vảy Diaspididae và Coccus hesperidum: Do các loài rệp này có lớp vảy
phủ bên ngoài, nên việc chọn lựa các loài côn trùng thiên địch sẽ hạn chế hơn. Hiện tại
chỉ mới tìm thấy 2 loài thiên địch hữu hiệu thuộc nhóm săn mồi là bọ cánh lưới
Chrysoperla spp. và bọ rùa Rhyzobius lophanthae.
Ấu trùng bộ cánh vảy: Hiện tại loại thiên địch chủ yếu và phổ biến nhất là vi
khuẩn Bacillus thuringiensis var kurstaki. Sau khi ăn phải vi khuẩn này khoảng 48 giờ,
ấu trùng ngưng ăn và chết.
2.4 Vai trò của bọ xít săn mồi trong IPM và đấu tranh sinh học
Đấu tranh sinh học là 1 hợp phần của IPM, do các thiên địch như loài ăn mồi,
loài kí sinh, nấm bệnh có vai trò như một tác nhân quan trọng. Trong nhóm các loài
săn mồi, bọ xít săn mồi có một vị trí quan trọng. Những nghiên cứu trước đây đều cho
thấy rằng bọ xít ăn mồi, dù là giai đoạn ấu trùng hay thành trùng đều có khả năng tiêu
thụ một lượng con mồi khá lớn. Chúng cũng được xem là một đối tượng có nhiều triển
6
vọng trong các chương trình Quản lí dịch hại tổng hợp (IPM) (Ambrose, 1999, 2003).
Các nghiên cứu trong phòng và ngoài đồng đều cho thấy chúng có thể khống chế hơn
18 loài sâu hại bộ cánh vảy, một số sâu hại bộ cánh cứng và cánh nửa cứng (Ambrose,
1999; Sahayaraj, 2003). Chúng thường xuất hiện ở những nơi khô, ít mưa hay những
nơi có nhiệt độ và ẩm độ ở mức trung bình (Sahayaraj, 2007).
Các loài bọ xít săn mồi thường mang tính đa hình, sâu hại do chúng tấn công
không mang tính chuyên biệt nên chúng có khả năng kiểm soát nhiều loại sâu hại khác
nhau, từ đó giảm thiểu mật số sâu hại trên ruộng (Sahayaraj, 2004). Các nghiên cứu và
ghi nhận tại Ấn Độ cho thấy bọ xít săn mồi có một vai trò quan trọng trong việc khống
chế sâu hại trong tự nhiên, đồng thời là một yếu tố quan trọng trong quá trình đấu
tranh sinh học ở những vùng dễ phát sinh dịch hại (Sahayaraj, 2006). Theo kết quả
khảo sát của Ragupathy và Sahayaraj (2002), trong số các loài trong họ bọ xit bắt mồi
thì các loài thuộc giống Rhynocoris hiện diện nhiều nhất, và chúng chủ yếu xuất hiện ở
những nơi có nhiều các loài sâu hại như ở hệ thống cây trồng nông nghiệp, cây bụi và
cây rừng. Thống kê cũng cho thấy có hơn 65 họ bọ xít bắt mồi được tìm thấy, ở rộng
rãi các hệ thống cây trồng khác nhau như bông vải, mía đường, lúa mì và hệ thống cây
họ đậu (Sahayaraj, 1999, 2007).
2.5 Giới thiệu chung về bọ xít Rhynocoris fuscipes Fabricius
2.5.1 Vị trí trong hệ thống phân loại
Bộ (Order):
Bộ cánh nửa - Hemiptera
Họ (Family):
Bọ ăn thịt – Reduviidae
Chi (Genus):
Rhynocoris
Loài (species):
Rhynocoris fuscipes Fabricius
Rhynocoris (hay còn được gọi là Rhinocoris) là một giống bọ xít thuộc họ bọ
xít ăn mồi (Reduviidae), bộ cánh nửa cứng, là một giống tiêu biểu của họ Reduviidae một họ lớn trong bộ phụ Heteroptera. Đã có khoảng 150 loài được ghi nhận, chúng
phân bố gần như khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là khu vực rừng rậm hay rừng mưa
nhiệt đới. Một số loài cá biệt được tìm thấy ở Sitka và Alaska. Hiện diện trên nhiều hệ
thống cây trồng nông nghiệp như bông vải, thuốc lá, đậu phộng, đậu nành, đậu
garbanzo, cà chua và là thiên địch tự nhiên của hơn 20 loài sâu hại khác nhau trong đó
chủ yếu là ấu trùng bộ cánh vảy (Sahayaraj, 1995).
7
Kích thước trung bình của thành trùng giống Rhynocoris khoảng 10-15 mm.
Con cái thường to hơn con đực và có phần bụng căng phồng. Đốt râu đầu tiên ngắn
hơn đầu. Có mắt đơn. Chân có lông tơ nhằm giúp chúng trụ vững hơn khi tấn công con
mồi. Móng bàn chân có răng cưa hoặc có phần phụ chi. Phần đầu hơi thuôn dài. Miệng
phân hóa thành kiểu miệng hút với một ống dài gọi là rostrum, được dùng để chích và
truyền chất độc làm tê liệt trước khi chúng hút dịch từ con mồi.
Trứng được đẻ thành khối, có một lớp dịch trong suốt bao phủ bên ngoài giúp
chúng dính vào thân cây, đá. Màu sắc, kích thước và số lượng trứng thay đổi đa dạng
tùy theo từng loài khác nhau. Ấu trùng trải qua 5-6 tuổi trước khi trưởng thành và phát
triển mạnh vào những tháng hè (Ross H. Arnett, 2000)
Các nghiên cứu cho thấy giống Rhynocoris, có một vai trò quan trọng và là tác
nhân chủ yếu trong đấu tranh sinh học do nó có khả năng ăn gần 20 loài sâu hại khác
nhau. Saharayaj (1999) cho biết Rhynocoris marginatus có khả năng làm giảm đáng kể
sự phá hại của 2 loài sâu đa thực là Spodoptera litura và Heliothis armigera trên các
ruộng đậu. Việc nghiên cứu về giống bọ xít này đã được thực hiện khá nhiều ở một số
nước như Ấn Độ, Ukraine và một số nước Mỹ Latin, sẽ tạo cơ sở trong việc áp dụng
chúng trong lĩnh vực đấu tranh sinh học
R. fuscipes thuộc nhóm bọ xít săn mồi, trên thân có 2 màu đen và đỏ, ấu trùng
trong tự nhiên thường có thói quen lẩn trong đất đá (Ambrose, 1987). Thành trùng là
loài đa thực, có khả năng tấn công và ăn nhiều loại sâu hại khác nhau như H. armigera,
C. cephaionica, A. janata, P. xylostella, S. litura, Myzus Persica, L. hespes, V.
punctata, R. opaipa, F. lucas, S. pervolagata, đồng thời những thí nghiệm về hiệu quả
kiểm soát sâu hại, tác động của sâu hại đến sinh trưởng và phản ứng chức năng của
loài này cũng được tiến hành nghiên cứu rất nhiều. (Singh, 1985).
2.5.2 Các nghiên cứu trên thế giới về bọ xít Rhynocoris
Hiện đã có khoàng 150 loài thuộc giống Rhynocoris được ghi nhận. Một số loài
tương đối phổ biến như: R. albopilosus, R. albopunctatus, R. iracundus, R. kumarii, R.
leucospilus, R. marginatus, R. tristis và R. ventralis
(Nguồn: />
8
Theo Djamin (1998) khi nghiên cứu các đặc tính sinh học trên loài R. fuscipes
đã ghi nhận rằng loài này có đặc tính ăn thịt lẫn nhau trong suốt giai đọan phát triển ấu
trùng. Vòng đời trung bình 40 ngày khi nuôi trên thức ăn là sâu khoang.
Sahayaraj (1999) cho thấy khi phóng thích 5000 cá thể R. marginatus và R. spp.
trên mỗi ha ruộng đậu phộng có khả năng làm giảm đáng kể sự gây hại của sâu khoang
và sâu xanh, giúp năng suất có thể tăng 182% so với đối chứng.
Ambrose và Anto (1999) nhận thấy rằng khi nhân nuôi bọ xít R. marginatus
trong điều kiện có bổ sung vật liệu lá cây hoặc chồi cây tươi sẽ có tác dụng kích thích
khả năng đẻ trứng, tăng số lượng trứng đẻ cũng như rút ngắn thời kì trước đẻ trứng của
thành trùng cái.
Sahayaraj (1999) khi tiến hành nghiên cứu về ảnh hưởng tuổi con mồi đến khả
năng săn mồi của bọ xít R. marginatus trên 4 đối tượng sâu hại trên ruộng đậu là
Amsacta albistriga Walk., Aproaerema modicella Deventer, H. armigera (Hub.) và
Spodoptera litura Fab. đã thấy rằng ở mỗi độ tuổi và kích thước, bọ xít có xu hướng
tấn công con mồi có độ tuổi và kích thước tương ứng.
Ambrose (2000) khi theo dõi khả năng kiểm soát sinh học của bọ xít R.
marginatus giai đoạn ấu trùng tuổi 4 trên đối tượng sâu hại Clavigralla gibbos và
Hieroglyphus banian cho thấy kiểu phản ứng chức năng của ấu trùng này có dạng 2
theo công thức Holling. Kết quả còn cho thấy khả năng kiểm soát con mồi càng cao
khi mật số con mồi gia tăng.
Sahayaraj (2003) khi dùng R. marginatus trong thí nghiệm phòng trừ Aphis
craccivora Koch trên ruộng đậu phộng ở Ấn Độ đã kết luận rằng ấu trùng bọ xít tuổi 1,
2 và 3 đều có khả năng ăn một lượng lớn Aphid trong khi ở thành trùng là không đáng
kể. Thí nghiệm này cho thấy ấu trùng bọ xít có thể được nhân nuôi sinh khối hàng loạt
và được ứng dụng trong IPM như một tác nhân quan trọng trong việc phòng trừ Aphid.
Sahayaraj (2003) trong báo cáo về kết quả điều tra về thành phần sâu hại và
thiên địch của chúng trên ruộng đậu phộng tại Tamil Nadu, Ấn Độ cho biết trong số
các loài thiên địch ghi nhận được, có sự hiện diện của 2 loài R. marginatus và R.
longifrons. Sự chọn lựa thức ăn của chúng cũng đặc trưng theo loài: trong khi R.
marginatus ăn các loại sâu hại như S. litura và H. armigera thì R. longifrons lại ưa
thích Aphid craccicova. Loài R. kumarii sau đó cũng đã được đưa vào áp dụng trên
9
một số khu vực lân cận nhằm giảm bớt chi phí thuốc trừ sâu cho nông dân.
Claver và ctv (2003) đã thử nghiệm khả năng phòng trừ sinh học của R. kumarii
Ambrose and Livingstone ở tuổi trên ruộng bông vải tại Agricultural College Farm,
Killikulam, Nam Ấn Độ đối với loài sâu hại H. armigera đã cho thấy sự phá hại của
sâu giảm đi nhiều cũng như chất lượng bông thu được tốt hơn hẳn so với đối chứng.
Sahajara và ctv (2006) nghiên cứu chất độc tiết ra từ loài bọ xít R. marginatus
khi dùng để vô hiệu hóa con mồi cho biết có thể dùng nó để điều chế thuốc kháng
khuẩn. Theo đó nó có khả năng kháng được 4 loại vi khuẩn Gram âm là E. coli,
Pseudomonas aeruginosa, Proteus vulgaris, Salmonella typhimurium và 1 vi khuẩn
Gram dương là Streptococcus pyogenes.
Sahayaraj (2008) khi nghiên cứu vai trò của mùi con mồi đến sự tác động qua
lại giữa con mồi – thiên địch giữa bọ xít R. marginatus trên 3 đối tượng sâu hại là
Spodoptera litura, Helicoverpa armigera (Lepidoptera, Noctuidae) và Mylabris
pustulata (Coleoptera, Meloidae) đã nhận thấy rằng S. litura và H. armigera được ưa
thích nhất do mùi của chúng tiết ra có tác dụng thu hút bọ xít (62,5% và 60%) và cũng
mẫn cảm với chất độc do R. marginatus tiết ra khi tấn công con mồi trong khi
Mylabris pustulata lại kém mẫn cảm và kém ưa thích hơn.
Ambrose và ctv (2008) khi nghiên cứu khả năng săn mồi của ấu trùng tuổi 4, 5
và thành trùng bọ xít R. kumarii Ambrose and Livingstone và R. marginatus
(Fabricius) trên đối tượng Euproctis fraterna (Moore) đã nhận thấy các pha phát triển
của bọ xít phụ thuộc vào mật số của sâu được thả vào trong mỗi thí nghiệm. Khả năng
săn mồi của bọ xít có dạng 2 phản ứng Holling. Đồng thời khi có sự tác động của
thuốc trừ sâu thì khả năng săn mồi của loài bọ xít này giảm xuống rõ rệt.
Saharayaj và ctv (2009) nghiên cứu sự ưa mồi của bọ xít R. marginatus trong
điều kiện phòng thí nghiệm trên 3 đối tượng
D. cingulatus , S. litura
và C.
cephalonica ở các độ tuổi ấu trùng khác nhau. Kết quả cho thấy R. marginatus tấn
công chủ yếu ấu trùng S. litura, kế đến là D. cingulatus và sau cùng là C. cephalonica,
và trong cùng loại mồi, bọ xít có xu hướng tấn công con mồi ở độ tuổi nhỏ hơn.
Những nghiên cứu của Chandral (2009) về khả năng săn mồi của bọ xít R.
fucipes trên đối tượng Pterophorus lienigianus thông qua phản ứng chức năng đã cho
thấy bọ xít này có khả năng làm giảm bớt số lượng sâu hại, thông qua việc bọ xít giết
10