Tải bản đầy đủ (.pdf) (97 trang)

Hoàn thiện quy định pháp luật của lào về các hành vi cạnh tranh không lành mạnh từ kinh nghiệm của pháp luật việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.02 MB, 97 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

BOUNTHAVATH HANSAYA

ĐỀ TÀI
HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT CỦA LÀO VỀ CÁC
HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TỪ KINH
NGHIỆM CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số

: 60380107

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. ĐẶNG VŨ HUÂN

HÀ NỘI - 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình
nào khác. Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích
dẫn theo đúng quy định.
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN



BOUNTHAVATH HANSAYA


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CHXHCN

: Cộng hoà xã hội chủ nghĩa

CHDCND

: Cộng hoà dân chủ nhân dân

FTC

: Ủy ban Thương mại liên bang


MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
Chƣơng 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH
MẠNH VÀ PHÁP LUẬT VỀ HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH
MẠNH ........................................................................................................................6
1.1. Khái quát về các hành vi cạnh tranh không lành mạnh .............................6
1.1.1. Khái quát về cạnh tranh .............................................................................6
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm của các hành vi cạnh tranh không lành mạnh ..........8
1.2. Pháp luật về các hành vi cạnh tranh không lành mạnh ...........................15
1.2.1. Khái niệm pháp luật về các hành vi cạnh tranh không lành mạnh ........15
1.2.2. Vai trò của pháp luật về các hành vi cạnh tranh không lành mạnh .......17

1.2.3. Nội dung cơ bản của pháp luật về các hành vi cạnh tranh không lành
mạnh...................................................................................................................19
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 ....................................................................................21
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC THI PHÁP
LUẬT VỀ CÁC HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH NƢỚC
CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO .........................................................22
2.1. Thực trạng pháp luật về các hành vi cạnh tranh không lành mạnh của
nƣớc Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào..............................................................22
2.1.1. Nguồn của pháp luật Lào hiện hành về các hành vi cạnh tranh không lành
mạnh...................................................................................................................22
2.1.2. Các loại hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong những văn bản pháp
luật Lào ..............................................................................................................24
2.1.3. Các hình thức chế tài đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh .......42
2.1.4. Quy trình xử lý vụ các vụ việc cạnh tranh không lành mạnh theo quy
định của pháp luật cạnh tranh ............................................................................45
2.2. Thực tiễn thi hành pháp luật về các hành vi cạnh tranh không lành
mạnh của nƣớc Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào ............................................49
2.2.1. Thực trạng cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường Lào ..................49


2.2.2. Thực tiễn thi hành pháp luật về các hành vi cạnh tranh không lành mạnh
của Lào ...............................................................................................................51
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 ....................................................................................55
Chƣơng 3. BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA VIỆT NAM VÀ GIẢI PHÁP
HOÀN THIỆN, BẢO ĐẢM THỰC THI HIỆU QUẢ PHÁP LUẬT LÀO VỀ
CÁC HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH .................................56
3.1. Bài học kinh nghiệm của pháp luật Việt Nam về hành vi cạnh tranh
không lành mạnh .................................................................................................56
3.2. Định hƣớng và một số giải pháp nhằm hoàn thiện, thực thi hiệu quả
pháp luật Lào về hành vi cạnh tranh không lành mạnh ..................................63

3.2.1. Nhu cầu hoàn thiện pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh ở
Lào .....................................................................................................................63
3.2.2. Định hướng cơ bản trong việc hoàn thiện pháp luật Lào về hành vi cạnh
tranh không lành mạnh ......................................................................................65
3.2.3. Giải pháp hoàn thiện pháp luật Lào về hành vi cạnh tranh không lành
mạnh trên cơ sở kinh nghiệm của pháp luật Việt Nam .....................................67
3.2.4. Giải pháp thực thi hiệu quả pháp luật Lào về hành vi cạnh tranh không lành
mạnh trên cơ sở kinh nghiệm thực thi pháp luật cạnh tranh Việt Nam .................74
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3 ....................................................................................76
KẾT LUẬN ..............................................................................................................77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................79


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cạnh tranh là một đặc trưng cơ bản, là nền tảng và động lực phát triển của
nền kinh tế thị trường. Có thể nói rằng không có cạnh tranh thì cũng không thể có
nền kinh tế thị trường. Cùng với quy luật cung cầu và quy luật giá trị, cạnh tranh trở
thành một quy luật cơ bản của nền kinh tế thị trường. Trong thời gian qua, cùng với
chính sách đổi mới, mọi thành phần kinh tế được khuyến khích và tạo nhiều điều
kiện thuận lợi để tham gia kinh doanh trong thị trường. Từ đó, cạnh tranh ngày càng
trở nên mạnh mẽ trong mỗi ngành, mỗi lĩnh vực của nền kinh tế, góp phần thúc đẩy
phát triển kinh tế. Tuy nhiên, cùng với sự gia tăng mức độ cạnh tranh, đã xuất hiện
những hành vi cạnh tranh không lành mạnh, gây khó khăn cho hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp.
Trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới, kinh tế - xã hội Lào đã có sự phát
triển khởi sắc mạnh mẽ. Tuy nhiên, để có được sự phát triển như ngày nay thì đã
diễn ra sự canh tranh rất khốc liệt trên thị trường, đặc biệt là sự cạnh tranh giữa các

doanh nghiệp. Để đạt được mục tiêu của mình, các chủ thể tham gia cạnh tranh sử
dụng nhiều biện pháp, cách thức khác nhau trong những lĩnh vực khác nhau, đặc
biệt là lĩnh vực xúc tiến thương mại nhằm thu được lợi ích nhất về phía mình.
Để đáp ứng yêu cầu điều chỉnh các vấn đề liên quan đến cạnh tranh, trong đó
có các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, Luật Cạnh tranh của nước CHDCND
Lào đã được Quốc hội thông qua và được Chủ tịch nước ký ban hành bằng Nghị
định ban hành số 134/Chủ tịch nước, ngày 28/8/2015 (gọi tắt là Luật Cạnh tranh
Lào năm 2015). Ngay từ khi ra đời, Luật Cạnh tranh Lào năm 2015 đã đóng góp rất
quan trọng đối với việc điều chỉnh hầu hết các quan hệ kinh tế trên thương trường,
bảo đảm cho sự lành mạnh của các quan hệ cạnh tranh vốn đang diễn biến phức tạp
với sự biểu hiện của rất nhiều hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong một nền
kinh tế thị trường ở Lào. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng Luật Cạnh tranh Lào năm
2015 đã cho thấy, vẫn còn một số hạn chế trong những quy định điều chỉnh các
hành vi cạnh tranh không lành mạnh, việc điều chỉnh loại hành vi này đã gặp rất
nhiều khó khăn trong việc triển khai áp dụng vào thực tiễn.
Nhận thức được tầm quan trọng của pháp luật về các hành vi cạnh tranh
không lành mạnh trong nền kinh tế thị trường nhiều thành phần của Lào, là một Lưu


2

học sinh người Lào, tôi đã chọn đề tài “Hoàn thiện quy định pháp luật của Lào về
các hành vi cạnh tranh không lành mạnh từ kinh nghiệm của pháp luật Việt Nam”
làm đề tài Luận văn thạc sĩ Luật học, với hi vọng, bằng từ phân tích, đánh giá nội
dung pháp luật của Lào về hành vi cạnh tranh không lành mạnh, cũng như từ việc
nghiên cứu các quy định của pháp luật về các hành vi cạnh tranh không lành mạnh
ở Việt Nam hiện hành để đưa ra những kiến nghị hữu ích trong quá trình sửa đổi
pháp luật cạnh tranh của Lào trong tương lai.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Lĩnh vực pháp luật cạnh tranh nói chung và pháp luật chống hành vi cạnh

tranh không lành mạnh nói riêng luôn nhận được sự quan tâm chú ý của các nhà
nghiên cứu luật học cũng như giới kinh doanh ở Việt Nam, Lào cũng như các nước
trên thế giới. Trong đó, ở Việt Nam, kể từ năm 1986 cả nước thực hiện công cuộc
đổi mới đất nước, công trình đầu tiên nghiên cứu có liên quan đến cạnh tranh với
tên gọi "Các giải pháp kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh
trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế ở Việt Nam" đã được Viện nghiên cứu thị
trường giá cả thuộc Ban Vật giá Chính phủ (nay thuộc Bộ Tài chính) tiến hành
nghiên cứu và nghiệm thu năm 1996. Từ đó, hành loạt các công trình nghiên cứu về
pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh được công bố. Trong đó có thể kể
đến: Ở cấp độ luận án, luận văn: Đề tài “Pháp luật về chống cạnh tranh không lành
mạnh ở Việt Nam” - Luận án Tiến sỹ của tác giả Lê Anh Tuấn, năm 2008, Khoa
Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội; đề tài “Pháp luật chống hành vi cạnh tranh không
lành mạnh trong lĩnh vực quảng cáo ở Việt Nam” - Luận văn Thạc sỹ của tác giả
Trịnh Thị Liên Hương, năm 2010, Trường Đại học Luật Hà Nội; đề tài “Pháp luật
về chống cạnh tranh không lành mạnh và việc xử lý các hành vi cạnh tranh không
lành mạnh ở Việt Nam” - Luận văn Thạc sỹ của tác giả Đinh Đức Minh, năm 2012,
Trường Đại học Luật Hà Nội… Ở cấp độ bài đăng trên tạp chí có thể kể đến: Bài
viết “Đưa pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh vào cuộc sống” của
PGS.TS Nguyễn Như Phát trên Tạp chí Luật học số 6/2006; bài viết “Xác định hành
vi cạnh tranh không lành mạnh và hành vi hạn chế cạnh tranh liên quan đến quyền
sở hữu công nghiệp theo quy định của pháp luật Việt Nam” của Thạc sỹ Nguyễn
Thị Như Quỳnh trên Tạp chí Luật học số 5/2009; bài viết “Bồi thường thiệt hại do
hành vi cạnh tranh không lành mạnh gây ra” của PGS.TS. Đỗ Văn Đại, ThS.


3

Nguyễn Thị Hòa Trâm trên Tạp chí Khoa học pháp lý, Trường Đại học Luật Thành
phố Hồ Chí Minh số 2/2012…
Ở Lào, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, vấn đề cạnh tranh và chống

cạnh tranh không lành mạnh cũng dần được quan tâm. Tuy nhiên, các công trình
nghiên cứu ở Lào mới chỉ tồn tại dưới dạng tài liệu giới thiệu hoặc bài viết như: Tài
liệu “Nội dung cơ bản của Nghị định số 15/PMO ngày 04/02/2004 về cạnh tranh
thương mại” của Cục Tuyên truyền - Phổ biến pháp luật, Bộ Tư pháp Lào năm
2004; Tài liệu “Giới thiệu nội dung cơ bản của Luật Cạnh tranh năm 2015” của
Cục Tuyên truyền - Phổ biến pháp luật, Bộ Tư pháp Lào năm 2016; bài viết “Chế
định chống cạnh tranh không lành mạnh – Quy định pháp luật và một số vấn đề cần
bàn luận” của tác giả Xổm Xay Xỉ Hà Chắc đăng trên Tạp chí Luật học số 10/2005,
tr. 42-48; bài viết “Sự cần thiết phải sửa đổi hoàn thiện pháp luật về cạnh tranh
thương mại Lào trong bối cảnh hội nhập hiện nay” Phô Thi Lát Phôm phô Thi đăng
trên Tạp chí Giáo dục lý luận, số 12/2014, tr.25-28; bài viết “Kế hoạch thành lập
Cộng đồng kinh tế ASEAN và pháp luật cạnh tranh thương mại của nước CHDCND
Lào” của tác giả Phô Thi Lát Phôm phô Thi đăng trên Tạp chí Alunmay (Tạp chí lý
luận và thực tiễn của Đảng nhân dân Cách mạng Lào), số 5/2014, tr 32-39;...
Nghiên cứu cho thấy, các công trình và bài viết chỉ tiếp cận ở góc độ khái
quát về khoa học pháp lý đối với quan hệ cạnh tranh nói chung và chống cạnh tranh
không lành mạnh nói riêng hoặc nghiên cứu cạnh tranh trong từng lĩnh vực, dưới
từng góc độ khác nhau. Các công trình tại Lào hầu hết mới nghiên cứu đánh giá các
quy định của Nghị định số 15/PMO năm 2004 về cạnh tranh thương mại ngày hiện
đã hết hiệu lực. Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách tổng thể và chuyên
sâu về các pháp luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo pháp luật cạnh
tranh Lào, đánh giá những bất cập quy định sau khi Luật Canh tranh Lào năm 2015
được ban hành, cũng như nghiên cứu kinh nghiệm từ pháp luật Việt Nam để đề xuất
các biện pháp hoàn thiện pháp luật về các hành vi cạnh tranh không lành mạnh
trong các quan hệ kinh tế diễn ra trong môi trường kinh doanh hiện nay.
3. Đối tƣợng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn
Hiện nay, ở Lào việc điều chỉnh đối hành vi cạnh tranh không lành mạnh
được quy định trong nhiều văn bản pháp luật thuộc các lĩnh vực pháp luật khác
nhau như: Pháp luật hành chính, pháp luật dân sự, pháp luật hình sự… Tuy nhiên,
luận văn này chỉ tập trung nghiên cứu về pháp luật đối với những hành vi cạnh



4

tranh không lành mạnh và chế tài đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong
Luật Cạnh tranh Lào năm 2015. Cùng với đó, Luận văn cũng nghiên cứu pháp luật
chống cạnh tranh không lành mạnh một số nước trên thế giới, đặc biệt là Việt Nam
để đưa ra những bài học kinh nghiệm cho pháp luật cạnh tranh Lào.
4. Mục tiêu nghiên cứu
Luận văn đi sâu vào nghiên cứu quy định của pháp luật về nội dung và chế
tài đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo pháp luật cạnh tranh Lào. Từ
đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định và củng cố chế tài pháp luật
đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh, góp phần đấu tranh chống hành vi vi
phạm tạo môi trường kinh doanh thuận lợi và bình đẳng.
5. Các câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu đã đề ra, luận văn có nhiệm vụ trả lời các
câu hỏi nghiên cứu sau:
- Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là gì? Pháp luật về hành vi cạnh tranh
không lành mạnh bao gồm những nội dung nào?
- Phân tích và đánh giá những quy định pháp luật hiện hành điều chỉnh hành
vi cạnh tranh không lành mạnh: Nội dung, ưu điểm, hạn chế, bất cập?
- Thực tiễn cạnh tranh không lành mạnh ở nước CHDCND Lào và vấn đề xử
lý vi phạm trong thời gian qua?
- Phương hướng và các giải pháp cần thiết để hoàn thiện Luật Cạnh tranh
Lào điều chỉnh hành vi cạnh tranh không lành mạnh phù hợp với điều kiện thực tế ở
Lào và xu thế hội nhập quốc tế?
6. Các phƣơng pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật bao gồm phương pháp luận của
chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các văn kiện đại hội

Đảng, quan điểm của Đảng và Nhà nước của cả CHXHCN Việt Nam và CHDCND
Lào đối với nền kinh tế nói chung và hoạt động của doanh nghiệp nói riêng.
Các phương pháp cụ thể được vận dụng khi viết luận văn là phương pháp
phân tích, tổng hợp, chứng minh, hệ thống hoá pháp luật và phương pháp luật học
so sánh. Luận văn tiến hành tổng hợp và phân tích các quy định trong các văn bản
pháp luật cạnh tranh của Lào về hành vi cạnh tranh không lành mạnh để đánh giá


5

thực trạng, những khó khăn, vướng mắc trong việc điều chỉnh các hành vi cạnh
tranh không lành mạnh. Trên cơ sở so sánh, rút ra bài học kinh nghiệm từ pháp luận
cạnh tranh Việt Nam, luận văn sẽ đưa ra những kiến nghị về việc hoàn thiện các
quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh ở Lào trong giai đoạn hiện nay. Sự
vận dụng một cách nhuần nhuyễn các phương pháp nghiên cứu cụ thể nêu trên sẽ
góp phần đưa đến thành công của luận văn.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Đề tài góp phần làm sâu sắc hơn nhận thức về quy định pháp luật cạnh tranh
Lào về hành vi cạnh tranh không lành mạnh, phân tích việc áp dụng các quy định
pháp luật thực hiện trên thực tế, từ đó đưa ra một số kiến nghị cũng như giải pháp
nhằm tăng tính khả thi và hiệu quả của quy định, tạo một môi trường kinh doanh cạnh
tranh thực sự bình đẳng và công bằng, tạo được niềm tin cho doanh nghiệp cũng như
người tiêu dùng, tăng vị thế cạnh tranh của đất nước trên trường quốc tế. Do đó, đề
tài góp phần cung cấp thông tin có giá trị tham khảo cho các nhà hoạch định chính
sách trong quá trình hoàn thiện pháp luật cạnh tranh Lào trong thời gian tới.
8. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về cạnh tranh không lành mạnh và pháp
luật về hành vi cạnh tranh không lành mạnh.

Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực thi pháp luật về các hành
vi cạnh tranh không lành mạnh nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào.
Chương 3: Bài học kinh nghiệm của Việt Nam và giải pháp hoàn thiện, bảo
đảm thực thi hiệu quả pháp luật Lào về các hành vi cạnh tranh không lành mạnh.


6

Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH
MẠNH VÀ PHÁP LUẬT VỀ HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG
LÀNH MẠNH
1.1. Khái quát về các hành vi cạnh tranh không lành mạnh
1.1.1. Khái quát về cạnh tranh
Cạnh tranh là hoạt động nhằm tranh giành thị trường, lôi kéo khách hàng về
phía mình của các chủ thể kinh doanh. Trong cơ chế thị trường, quyền tự do kinh
doanh của doanh nghiệp cũng đồng nghĩa với quyền tự do cạnh tranh bởi vậy các
chủ thể kinh doanh có thể sử dụng nhiều phương thức, biện pháp để cạnh tranh với
nhau trong đó có phương thức cạnh tranh lành mạnh và cả phương thức cạnh tranh
không lành mạnh. Trong phương thức cạnh tranh không lành mạnh, để thắng được
trong cạnh tranh các chủ thể kinh doanh có thể thực hiện nhiều hành vi cạnh tranh
khác nhau, có thể là hành vi gây hạn chế cạnh tranh có hậu quả đẩy lùi cạnh tranh,
dẫn đến thủ tiêu cạnh tranh và cũng có thể là hành vi nhằm mục đích cạnh tranh
nhưng đi ngược lại với các quy tắc xử sự chung được thừa nhận trong kinh doanh.
Vì vậy, pháp luật cạnh tranh được ban hành nhằm kiểm soát các hành vi như vậy.
Với tư cách là một trong những đặc trưng cơ bản của kinh tế thị trường, là
năng lực phát triển của kinh tế thị trường, Từ điển Kinh doanh của Anh năm 1992
đã định nghĩa: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh
trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một
loại khách hàng về phía mình”1. Hoạt động cạnh tranh được cuốn Black’Law

Dictionary diễn tả là “sự nỗ lực hoặc hành vi của hai hay nhiều thương nhân nhằm
tranh giành những lợi ích giống nhau từ chủ thể thứ ba”2. Từ điển Tiếng Việt
“Bách khoa tri thức phổ thông”3 cũng giải thích, cạnh tranh là sự ganh đua giữa
những nhà sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền
kinh tế nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất.

1

Nguyễn Hữu Huyên (2004), Luật cạnh tranh của Pháp và Liên minh Châu Âu, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr.19.
Đặng Vũ Huân (2004), Pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt
Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.19.
3
Từ điển Tiếng Việt “Bách khoa tri thức phổ thông” (1995), Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng, tr.190.
2


7

1.1.1.1. Bản chất và vai trò của cạnh tranh
Nếu nhìn khái quát trên quy mô toàn xã hội, thì cạnh tranh là phương thức
phân bổ các nguồn lực, tài nguyên một cách tối ưu, vì vậy, nó là động lực phát triển
bên trong của nền kinh tế. Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng,
cạnh tranh có bản chất kinh tế - xã hội của nó4. Bản chất kinh tế của cạnh tranh thể
hiện mục đích tạo lập cho mình một ưu thế chi phối thị trường và vì lợi nhuận. Bản
chất xã hội của cạnh tranh là thể hiện ở đạo đức kinh doanh và uy tín của mỗi chủ
thể cạnh tranh trong mối quan hệ đối với những người lao động trực tiếp tạo ra tiềm
lực cạnh tranh của doanh.
Trong nền kinh tế thị trường, nếu quan hệ cung cầu là cốt vật chất, giá cả là
diện mạo thì cạnh tranh là linh hồn của thị trường. Nhờ có cạnh tranh, với sự thay
đổi liên tục về nhu cầu và với bản tính tham lam của con người mà nền kinh tế thị

trường đã đem lại những bước phát triển nhảy vọt mà loài người chưa từng có được
trong các hình thái kinh tế trước đó. Sự ham muốn không có điểm dừng đối với lợi
nhuận của nhà kinh doanh sẽ mau chóng trở thành động lực thúc đẩy họ sáng tạo
không mệt mỏi, làm cho cạnh tranh trở thành động lực của sự phát triển. Theo đó,
cạnh tranh có những vai trò cơ bản sau đây5:
- Cạnh tranh đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng;
- Cạnh tranh có vai trò điều phối các hoạt động kinh doanh trên thị trường;
- Cạnh tranh đảm bảo cho việc sử dụng các nguồn lực kinh tế một cách hiệu
quả nhất;
- Cạnh tranh có tác dụng thúc đẩy việc ứng dụng các tiến bộ khoa học, kỹ
thuật trong kinh doanh;
- Cạnh tranh kích thích sự sáng tạo, là nguồn gốc của sự đổi mới liên tục
trong đời sống kinh tế - xã hội.
1.1.1.2. Phân loại các hình thức cạnh tranh
Trong kinh tế học và trong khoa học pháp lý, các nhà khoa học có nhiều cách
phân loại cạnh tranh khác nhau để phục vụ cho nhiệm vụ nghiên cứu hoặc cho công

4

Phạm Đức Hòa (2017), Hoàn thiện pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo ở Việt Nam hiện nay,
Luận án Tiến sĩ Luật học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, tr.24.
5
Lê Danh Vĩnh (Chủ biên, 2010), Giáo trình Luật cạnh tranh, Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TP.
Hồ Chí Minh, TP. Hồ Chí Minh, tr.10-16.


8

tác xây dựng chính sách cạnh tranh. Trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu về cạnh
tranh, có thể thấy một số cách phân loại cạnh tranh như sau:

- Dựa vào vai trò điều tiết của Nhà nước, cạnh tranh được chia thành hai loại:
Cạnh tranh tự do và cạnh tranh có sự điều tiết của Nhà nước.
- Căn cứ vào tính chất mức độ biểu hiện, cạnh tranh được chia thành cạnh
tranh hoàn hảo, cạnh tranh không hoàn hảo và độc quyền.
- Dựa vào tính lành mạnh và sự tác động của hành vi đối với thị trường, các
hành vi cạnh tranh được chia làm 3 loại là cạnh tranh lành mạnh, cạnh tranh không
lành mạnh và hạn chế cạnh tranh.

1.1.2. Khái niệm và đặc điểm của các hành vi cạnh tranh không lành mạnh
1.1.2.1. Khái niệm hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Cạnh tranh là một trong những quy luật quan trọng của nền kinh tế thị trường,
nó là động lực thúc đẩy sự phát triển để đem lại nhiều lợi ích cho khách hàng, người
tiêu dùng và được Nhà nước bảo vệ. Hành vi cạnh tranh sẽ được coi là mạnh nếu
doanh nghiệp cạnh tranh bằng cách thức phù hợp với các quy định pháp luật và các
chuẩn mực, đạo đức kinh doanh thông thường. Tuy nhiên, thay vì nỗ lực để nâng cao
lợi nhuận và tìm kiếm khách hàng một cách chính đáng, không ít doanh nghiệp đã lựa
chọn cách thức và phương pháp mà pháp luật không cho phép, đó là tiến hành những
hành vi cạnh tranh không lành mạnh đi ngược với các nguyên tắc trung thực, thiện
chí hoặc các thông lệ, tập quán được chấp nhận rộng rãi và lâu dài trong kinh doanh,
nhằm tạo lợi thế cạnh tranh bất chính cho mình. Các hành vi này được xem là nguy
hại đối với môi trường cạnh tranh và bị pháp luật kiểm soát nghiêm ngặt.
Hiện nay, có quá nhiều quan niệm khác nhau về hành vi cạnh tranh không
lành mạnh. Hiểu theo nghĩa rộng, hành vi cạnh tranh không lành mạnh bao gồm tất
cả các hành vi cạnh tranh bằng các thủ đoạn không lành mạnh xâm hại tới hoạt
động cạnh tranh trên thị trường, xâm hại tới quyền tự do cạnh tranh công bằng của
các doanh nghiệp. Theo qua niệm này, các hành vi hạn chế cạnh tranh (nhất là hành
vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh và lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường) cũng
thuộc vào phạm trù “cạnh tranh không lành mạnh”6. Quan niệm này làm cho làm
cho lượng hành vi bị coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh rất rộng. Quan
niệm như vậy sẽ có thể sẽ tạo ra sự lẫn lộn trong cơ chế xử lý giữa hành vi hạn chế

6

Phạm Văn Lợi, Lê Thị Hoàng Oanh, Nguyễn Văn Cương, Hoàng Thế Anh, Vũ Thị Hiệp (2013), Pháp luật
chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam: Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Bộ Thương mại, Hà Nội.


9

cạnh tranh và hành vi cạnh tranh không lành mạnh, trong khi đó hai loại hành vi này
lại có những đặc điểm khác biệt về bản chất rất khó trộn lẫn với nhau.
Trong Công ước Paris năm 1883 về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp - một
trong những điều ước quốc tế sớm nhất có quy định về việc chống các hành vi cạnh
tranh không lành mạnh, tại Điều 10 Bis Công ước, điều khoản được bổ sung vào
Công ước năm 1900 và được sửa đổi lần cuối theo Văn bản Stockholm năm 1967
quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh như sau: “Bất cứ hành vi cạnh
tranh nào đi ngược lại các hệ thống trung thực, thiện chí trong công nghiệp hoặc
trong thương mại đều là hành vi cạnh tranh không lành mạnh”. Quy định này cho
thấy, so với cách quan niệm trên, quan niệm của Công ước Paris có phần hẹp hơn,
chủ yếu hướng tới các hành vi mang tính chất gian dối trong hoạt động thương mại,
cụ thể các hình thức cạnh tranh không lành mạnh sau bị cấm: (i) Mọi hành vi nhằm
gây ra sự nhầm lẫn, bằng bất kỳ phương tiện nào, với cơ sở, hàng hoá hay hoạt động
kinh doanh, thương mại của đối thủ cạnh tranh; (ii) Những tuyên bố sai trái trong
công việc kinh doanh nhằm làm mất uy tín của cơ sở, hàng hoá hay hoạt động kinh
doanh, thương mại của đối thủ cạnh tranh; (iii) Những chỉ dẫn hoặc tuyên bố sử
dụng trong quá trình kinh doanh nhằm lừa dối công chúng về bản chất, quy trình
sản xuất, đặc điểm, sự phù hợp về mục đích hoặc số lượng của hàng hoá. Với quy
định này của Công ước Paris thì hành vi cạnh tranh không lành mạnh không bao
hàm một số hành vi thường được coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong
pháp luật của nhiều quốc gia như hành vi gây rối hoạt động kinh doanh của đối thủ
cạnh tranh, xâm phạm bí mật kinh doanh (bí mật thương mại)…

Các quốc gia trên thế giới tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể của
mình đều có cách quan niệm riêng về hành vi cạnh tranh không lành mạnh nhưng
nói chung đều dựa trên các quy định của Công ước Paris. Tuy nhiên, dù có nhiều cố
gắng, song pháp luật các nước đều không thể đưa ra được khái niệm cạnh tranh
không lành mạnh có thể bao quát được mọi biểu hiện trên thực tế. Vì vậy, nếu có
đưa ra khái niệm cạnh tranh không lành mạnh, pháp luật của các nước cũng phải
kèm theo các quy định liệt kê từng hành vi cụ thể.
Ví dụ như, Luật Cạnh tranh Việt Nam năm 2004 hiện hành quan niệm hành
vi cạnh tranh không lành mạnh bao gồm các “hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp
trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh
doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và


10

lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dung” (khoản 4 Điều 3).
Tiếp theo đó, Điều 39 Luật Cạnh tranh Việt Nam năm 2004 quy định rõ một số loại
hành vi được coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh như chỉ dẫn gây nhầm lẫn,
xâm hại bí mật kinh doanh, ép buộc trong kinh doanh, gièm pha doanh nghiệp khác,
gây rối hoạt động của doanh nghiệp khác, quảng các và khuyến mại nhằm cạnh
tranh không lành mạnh, phân biệt đối xử của hiệp hội doanh nghiệp, bán hành đa
cấp bất chính và các hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác do Chính phủ quy
định thỏa mãn các tiêu chí quy định tại khoản 4 Điều 3 Luật Cạnh tranh Việt Nam
năm 2004. So sánh cho thấy, cách quan niệm theo Luật Cạnh tranh Việt Nam năm
2004 có phần hẹp hơn cách quan niệm thứ nhất nhưng lại rộng hơn cách quan niệm
thứ hai. Tuy nhiên, trong bối cảnh điều kiện kinh tế, kinh nghiệm lập pháp và thực
thi pháp luật như Việt Nam và Lào, phạm vi các hành vi được coi là hành vi cạnh
tranh không lành mạnh như quy định tại Điều 39 Luật Cạnh tranh Việt Nam năm
2004 là tương đối phù hợp.
Trong khi đó, Luật Cạnh tranh Lào Lào năm 2015 lại quan niệm chung

chung rằng: “Cạnh tranh không lành mạnh là hoạt động của một hoặc một nhóm
doanh nghiệp bằng hành vi được quy định trong Điều 9 của luật này” (Điều 8).
Tiếp đó, Điều 9 Luật Cạnh tranh Lào năm 2015 cũng quy định rõ một số loại hành
vi được coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh như: Chỉ dẫn gây nhầm lẫn, xâm
phạm bí mật kinh doanh, ép buộc trong kinh doanh, gièm pha doanh nghiệp khác,
gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác, quảng cáo nhằm cạnh tranh
không lành mạnh, khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh, phân biệt đối xử
của hiệp hội, các hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác mà được quy định trong
pháp luật và quy chế thì liên quan.
Luật Cạnh tranh không lành mạnh Trung Quốc năm 1993 quy định: “Cạnh
tranh không lành mạnh là hoạt động của doanh nghiệp trái với quy định của luật
này, gây thiệt hại cho quyền và lợi ích chính đáng của doanh nghiệp khác, làm rối
loạn trật tự kinh tế - xã hội…”7.
Khoản 2 Điều 12 Luật Cạnh tranh Bungari năm 1991 định nghĩa: “Cạnh
tranh không lành mạnh là hành vi hoặc biểu hiện tiến hành các hoạt động kinh tế
trái với tiêu chuẩn thông thường về kinh doanh trung thực, gây hại hoặc có thể gây
7

Nguyễn Văn Thành (2012), “Mối quan hệ giữa pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật
bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng”, Tài liệu Hội thảo khoa học về thực thi pháp luật cạnh tranh không lành
mạnh ở Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr. 27.


11

hại tới những lợi ích của các đối thủ cạnh tranh khác trong các mối quan hệ giữa
họ và người tiêu dùng…”8.
Dù có những điểm khác nhau trong cách định nghĩa về hành vi cạnh tranh
không lành mạnh của pháp luật các nước và điều ước quốc tế, nhưng vẫn có thể
thấy một điểm chung giữa các khái niệm về hành vi cạnh tranh không lành mạnh,

đó là hành vi cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh vì mục
tiêu lợi nhuận mà đi ngược lại các nguyên tắc xã hội, tập quán và truyền thống kinh
doanh, xâm hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích
hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc của người tiêu dùng.
1.1.2.2. Đặc điểm của hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Theo quy định của Luật Cạnh tranh Lào năm 2015 và các văn bản hướng dẫn
thi hành, hành vi cạnh tranh không lành mạnh có những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, hành vi cạnh tranh không lành mạnh trước hết là một hành vi cạnh
tranh do các doanh nghiệp thực hiện nhằm mục tiêu lợi nhuận. Đặc điểm này thể
hiện quy định về chủ thể và mục đích thực hiện hành vi cạnh tranh không lành
mạnh cũng như thời điểm thực hiện hành vi. Theo đó, chủ thể thực hiện hành vi
cạnh tranh không lành mạnh là các doanh nghiệp tham gia hoạt động kinh doanh
trên thị trường như: Công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp
danh và doanh nghiệp tư nhân; hợp tác xã; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài;
doanh nghiệp của các tổ chức chính trị, tổ chức kinh tế - xã hội.
Mặt khác, các chủ thể này phải thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh
trong quá trình tiến hành các hoạt động kinh doanh thu lợi nhuận, còn các hành vi nằm
ngoài chức năng kinh doanh của chủ thể thì không được coi là hành vi canh tranh
không lành mạnh. Ngoài ra, mục đích cạnh tranh cũng là yếu tố bắt buộc để các định
một hành vi là cạnh tranh không lành mạnh hay không. Nếu hành vi của một doanh
nghiệp, hiệp hội mà không nhằm mục đích cạnh tranh thì đó không phải là hành vi
cạnh tranh không lành mạnh và không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Cạnh tranh.
Thứ hai, hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi trái với các chuẩn mực
thông thường về đạo đức kinh doanh. Đặc điểm này là căn cứ để xác định bản chất
không lành mạnh của hành vi. Tuy nhiên “chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh
8

Nguyễn Văn Thành (2012), “Mối quan hệ giữa pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh và pháp luật
bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng”, Tài liệu Hội thảo khoa học về thực thi pháp luật cạnh tranh không lành
mạnh ở Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr. 27.



12

doanh” là một khái niệm mang tính trừu tượng, rất khó xác định, nó phụ thuộc vào
quan niệm truyền thống kinh doanh của mỗi quốc gia hay từng vùng miền. Không có
những căn cứ pháp lý hoặc cấu thành pháp lý cụ thể để xác định đặc điểm này.
Theo tìm hiểu, thuật ngữ các “chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh
doanh” có thể xác định dựa vào hai căn cứ sau đây9:
- Căn cứ luật định là những tiêu chuẩn đã được định hoá bằng pháp luật, một
khi hành vi đi trái với các quy định pháp luật đã được xem là không lành mạnh. Trong
trường hợp này, hành vi cạnh tranh không lành mạnh đồng nghĩa với hành vi cạnh
tranh bất hợp pháp. Theo đó, hành vi cạnh tranh không lành mạnh có thể là hành vi của
tổ chức, cá nhân kinh doanh vi phạm điều cấm của pháp luật (bao gồm các quy định
cấm của Luật Cạnh tranh và các văn bản pháp luật khác như luật thương mại, pháp luật
về quản lý giá, pháp luật về sở hữu trí tuệ…) hoặc là hành vi vi phạm các tiêu chuẩn
lành mạnh được pháp luật quy định cũng là nguyên tắc cơ bản của giao dịch dân sự,
thương mại như nguyên tắc về tính trung thực, thiện trí, tự nguyện, hợp tác… được quy
định tại các văn bản luật như Bộ luật Dân sự hay Luật Doanh nghiệp.
- Các tập quán kinh doanh thông thường đã được thừa nhận rộng rãi sẽ được
áp dụng đối với những hành vi chưa được pháp luật dự liệu là cạnh tranh không
lành mạnh. Nói các khác, căn cứ này là biện pháp dự phòng để áp dụng cho những
trường hợp pháp luật chưa quy định về một hành vi cụ thể nhưng khi hành vi này
được thực hiện đã xâm hại đến quyền cạnh tranh của các tổ chức, cá nhân kinh
doanh khác, quyền lợi hợp pháp của người tiêu dung và trái với tập quán kinh
doanh. Căn cứ này đã mở rộng khả năng điều chỉnh và khắc phục được tình trạng
chóng lạc hậu của pháp luật cạnh tranh. Cho đến nay, Luật Cạnh tranh chưa quy
định những tập quán kinh doanh nào được coi là chuẩn mực đạo đức thông thường.
Tính trái chuẩn mực đạo đức thông thường trong kinh doanh của hành vi
cạnh tranh không lành mạnh đòi hỏi pháp luật cạnh tranh phải luôn được chỉnh lý,

bổ sung cho phù hợp với thực tiễn.
Thứ ba, về hành vi cạnh tranh không lành mạnh phải gây thiệt hại hoặc có thể
gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích của doanh nghiệp khác hoặc của người
tiêu dùng. Theo quy định của pháp luật cạnh tranh thì doanh nghiệp được quyền tự do
cạnh tranh trong khuôn khổ của pháp luật, Nhà nước bảo hộ quyền cạnh tranh hợp
9

Lương Thị Diệu Linh (2014), Chế tài xử lý đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo pháp luật
cạnh tranh Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr.10-11.


13

pháp trong kinh doanh. Tuy nhiên, trong trường hợp doanh nghiệp thực hiện quyền tự
do cạnh tranh mà gây thiệt hại đến các chủ thể khác thì sẽ xếp vào nhóm hành vi cạnh
tranh không lành mạnh. Hành vi cạnh tranh không lành mạnh có đối tượng xâm hại cụ
thể là lợi ích của Nhà nước (tác động xấu đến thị trường, làm đảo lộn trật tự quản lý
kinh tế…), các doanh nghiệp khác (bị mất uy tín, giảm thị phần, giảm doanh thu) và
người tiêu dùng (bị nhầm lẫn, mua hàng kém chất lượng, bị giảm sút về sức khoẻ, thâm
chí thiệt hại về tính mạng…). Bên cạnh đó, thiệt hại mà hành vi gây ra có thể đã thực
hiện (đã xảy ra) nhưng cũng có thể chỉ là tiềm năng (có căn cứ để xác định rằng hậu
quả chắc chắn sẽ xảy ra nếu không ngăn chặn hành vi). Do đó, một số hành vi cạnh
tranh không lành mạnh có cấu thành vật chất (thiệt hại là dấu hiệu bắt buộc) như gièm
pha doanh nghiệp khác, một số hành vi lại có cấu thành hình thức (thiệt hại không là
dấu hiệu bắt buộc mà chỉ có thể là sự suy đoán nếu hành vi tiếp tục được thực hiện) ví
dụ như hành vi quảng cáo không trung thực...
Đặc điểm và hậu quả của hành vi giúp cho chúng ta phân biệt dưới góc độ lý
thuyết giữa hành vi cạnh tranh không lành mạnh và hành vi hạn chế cạnh tranh.
Hành vi hạn chế cạnh tranh là những xử sự của doanh nghiệp hoặc nhóm doanh
nghiệp làm thay đổi một các tiêu cực tình trạng cạnh tranh hoặc làm giảm tác dụng

của cạnh tranh đối với thị trường. Hành vi hạn chế cạnh tranh có ảnh hưởng xấu đến
toàn bộ thị trường, thay đổi cấu trúc thị trường, thay đổi tương quan cạnh tranh trên
thị trường10. Trong khi đó, hành vi cạnh tranh không lành mạnh chỉ gây thiệt hại
cho các tổ chức, cá nhân kinh doanh khác hoặc cho người tiêu dùng, xâm hại đến
trật tự quản lý cạnh tranh của Nhà nước mà không cản trở, làm sai lệch hay làm
giảm tình trạng cạnh tranh của thị trường. Vì vậy, cách thức và mực độ xử lý đối
với hai loại hành vi này khác nhau.
1.1.2.3. Phân loại hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh được Luật Cạnh tranh Lào năm
2015 liệt kê tại Điều 9. Dựa vào tính chất của 09 hành vi này, có thể phân loại
chúng thành ba nhóm: Các hành vi mang tính chất lợi dụng lợi thế cạnh tranh của
doanh nghiệp khác; các hành vi mang tính chất công kích hoặc cản trở hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp khác; các hành vi lôi kéo bất chính khách hàng của
doanh nghiệp khác.
10

Nguyễn Thị Vân Anh (2012), “Tổng quan pháp luật và thực thi pháp luật cạnh tranh không lành mạnh ở
Việt Nam”, Tài liệu Hội thảo khoa học về thực thi pháp luật cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam,
Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.1.


14

(i) Nhóm hành vi mang tính chất lợi dụng lợi thế cạnh tranh của doanh
nghiệp khác. Đây là nhóm hành vi cạnh tranh không lành mạnh điển hình, được biết
đến với dưới nhiều dạng thức khác nhau gây nhầm lẫn về nguồn gốc của hành hoá,
dịch vụ, lợi dụng thành quả đầu tư của người khác, xâm phạm bí mật kinh doanh…
Bản chất của hành vi này là việc chiếm đoạt hay sử dụng trái phép lợi thế cạnh
tranh của doanh nghiệp khác. Theo quy định của pháp luật cạnh tranh Lào, hành vi
chỉ dẫn gây nhầm lẫn và hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh (Điều 10, 11 Luật

Cạnh tranh Lào năm 2015) là những hành vi thuộc nhóm này.
(ii) Nhóm hành vi mang tính chất công kích hoặc cản trở hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp khác. Đây là nhóm hành vi có chung bản chất là tấn công
vào đối thủ cạnh tranh, triệt tiêu hoặc làm suy giảm các lợi thế cạnh tranh của đối
thủ cạnh tranh. Các hành vi cụ thể rất đa dạng, phụ thuộc vào cách thức, mục tiêu
công kích, có thể là những thông tin sai trái làm mất uy tín đối thủ cạnh tranh, hoặc
các hành vi trực tiếp gây cản trở hoạt động kinh doanh của đối thủ, hoặc lôi kéo,
mua chuộc nhân viên hoặc đối tác của đối thủ cạnh tranh. Theo quy định của Luật
Cạnh tranh Lào thì nhóm hành vi này bao gồm: Hành vi ép buộc trong kinh doanh,
hành vi gièm pha doanh nghiệp khác, hành vi gây rối hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp khác (các điều 12, 13, 14 Luật Cạnh tranh Lào năm 2015).
(iii) Nhóm các hành vi lôi kéo bất chính khách hàng của doanh nghiệp khác.
Bản chất của nhóm hành vi này là tạo ra một lợi thế cạnh tranh gian dối để lôi kéo
khách hàng, người tiêu dùng thông qua các hành vi như quảng cáo gian dối, khuyến
mại không trung thực hay ép buộc… Đối tượng chịu tác động trực tiếp của các hành
vi này là khách hàng/người tiêu dùng, còn các doanh nghiệp cạnh tranh chỉ chịu ảnh
hưởng gián tiếp từ hành vi vi phạm thông qua việc mất khách hàng. Hơn nữa, dạng
hành vi này còn khiến thị trường trở nên không minh bạch, làm sai lệch giao dịch
giữa các chủ thể tham gia thị trường và qua đó ảnh hưởng xấu đến môi trường kinh
doanh chung. Theo quy định của Luật Cạnh tranh Lào thì hành vi quảng cáo nhằm
cạnh tranh không lành mạnh, khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh thuộc
nhóm hành vi này (Điều 15, 16 Luật Cạnh tranh Lào năm 2015).
Việc phân nhóm các hành vi cạnh tranh không lành mạnh như trên chỉ mang
tính khái quát, chủ yếu phục vụ cho công tác nghiên cứu. Trên thực tế, giữa các
nhóm hành vi trên có sự giao thoa với nhau, một số hành vi cạnh tranh không lành


15

mạnh có thể xếp vào hơn một nhóm nếu xem xét mục đích vi phạm cũng như đối

tượng tác động của chúng.
1.2. Pháp luật về các hành vi cạnh tranh không lành mạnh

1.2.1. Khái niệm pháp luật về các hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Cạnh tranh là hiện tượng tất yếu, là động lực phát triển của thị trường. Tuy
nhiên, trong lịch sử phát triển của thị trường, đã có một thời kỳ, nguyên tắc tự do trong
cạnh tranh được tôn trọng tuyệt đối đến mức Nhà nước cho dù là chủ thể của quyền lực
xã hội nhưng không được quyền can thiệp vào các quan hệ thị trường. Điều này lý giải
tại sao cạnh tranh đã có từ lâu nhưng pháp luật về cạnh tranh lại xuất hiện muộn hơn rất
nhiều. Nhưng việc cần phải có sự can thiệp và điều tiết của Nhà nước đối với môi
trường cạnh tranh chính là lý do cần phải có pháp luật với tư cách là công cụ chủ yếu
và hữu hiệu nhất của Nhà nước để quản lý xã hội và quản lý nền kinh tế.
Pháp luật cạnh tranh ra đời cùng với sự thừa nhận và đảm bảo quyền tự do
kinh doanh. Theo nghĩa kinh điển, pháp luật cạnh tranh chỉ bao hàm các quy định
ngăn cấm những hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo cách hiểu của ngày nay.
Sở dĩ như vậy là vì, trong lịch sử đã có lúc người ta chưa biết đến hiện tượng độc
quyền và sự tác hại của nó. Đó là thời kỳ của chủ nghĩa tư bản tự do11. Đến cuối thế
kỷ XIX, pháp luật cạnh tranh đã được mở rộng và có những thay đổi rất cơ bản về
nội dung cũng như phương pháp điều chỉnh. Đặc biệt, sự ra đời của Luật Sherman
năm 1890 đã đánh dấu một bước phát triển mạnh về pháp luật cạnh tranh. Theo đó,
nội dung của pháp luật đã được mở rộng cho thấy Nhà nước đã thực sự nhận thức
và giành quyền quản lý thị trường, điều tiết cạnh tranh không chỉ bằng cách loại bỏ
các biểu hiện tranh đua không lành mạnh, mà còn tạo ra các thiết chế pháp lý ngăn
chặn và loại bỏ các rào cản nhân tạo cũng như tự nhiên để bảo vệ cho thị trường
cạnh tranh. Mặt khác, từ tư duy Luật Cạnh tranh là lĩnh vực pháp luật dân sự mà ở
đó chỉ khi có yêu cầu thì Nhà nước mới giải quyết, Đạo luật Sherman và sau này là
sự nở rộ của pháp luật về kiểm soát độc quyền các nước trên thế giới đã cho phép
Nhà nước chủ động ngăn chặn và kiểm soát mọi nguy cơ có thể làm hạn chế cạnh
tranh bằng các thiết chế quyền lực của mình, kể cả bằng các biện pháp trừng phạt
nặng như chế tài hình sự cho các hành vi vi phạm.


11

Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật (2001), Cạnh tranh và xây dựng pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam
hiện nay, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 244.


16

Cùng với sự phát triển của thị trường và nhận thức của con người về môi
trường tồn tại của mình, trong đó có môi trường của đời sống kinh tế, pháp luật
cạnh tranh ngày càng được hoàn thiện và trở thành chế định pháp luật cơ bản của
pháp luật kinh tế, góp phần làm cho thị trường vận hành ổn định và hiệu quả.
Trên cơ sở tính chất, mức độ của hành vi và mức độ nguy hại của chúng đối
với thị trường, có thể thấy, dù ở các nước, cơ cấu của hệ thống pháp luật cạnh tranh
có sự khác nhau, song nếu xem xét các cấu thành cụ thể họ đều chia pháp luật cạnh
tranh thành hai lĩnh vực khác biệt, đó là: Pháp luật chống cạnh tranh không lành
mạnh và pháp luật hạn chế cạnh tranh.
Pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh ra đời sớm hơn pháp luật về hạn
chế cạnh tranh. Các quy định chống hành vi hạn chế cạnh tranh chỉ ra đời khi thị
trường đã phát triển và đạt được mức độ tập trung hoá nhất định dẫn đến sự hình
thành các doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp mang quyền lực thị trường cần
phải bị kiểm soát. Pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh gắn liền với sự ra đời
của thương mại tự do tại Châu Âu thế kỷ XIX, mà theo một số nhà nghiên cứu, khởi
đầu từ Cách mạng Pháp năm 179112. Hệ thống các phường, hội thương mại đã duy
trì và phát triển luật chơi trong ngành một cách mạnh mẽ, trong khi người ta nhận
thấy rõ rằng không thể trông đợi các thương nhân đơn lẻ thực hiện cạnh tranh lành
mạnh một cách tự giác. Xuất phát từ Điều 1382 Bộ luật Dân sự Pháp năm 1804 về
trách nhiệm bồi thường thiệt hại dân sự nói chung, một loạt các án lệ về cạnh tranh
không lành mạnh (concurrence deloyal) đã xuất hiện đem lại sự bảo vệ cho thương

nhân trước các hành vi gây nhầm lẫn, gièm pha, xâm phạm bí mật kinh doanh, cạnh
tranh “ăn bám”... Sau đó, các quy định pháp luật về cạnh tranh ở nước này còn
được quy định trong Luật Thông tin đối với người tiêu dùng và cấm quảng cáo man
trá năm 1978 và năm 1989. Ở Italia, liên quan đến chống cạnh tranh không lành
mạnh có quy định tại các Điều 1151, Điều 1152 của Bộ luật Dân sự năm 1865), sau
đó được bổ sung thành những nguyên tắc chung ở các Điều 2598, Điều 2601 của Bộ
luật Dân sự năm 1942. Đến năm 1909, ở Italia ban hành Luật Cạnh tranh và kinh
doanh lành mạnh. Trong khi đó, nước Đức từ chối mô hình của Pháp và sau gần
một thế kỷ đã ban hành một đạo luật riêng về cạnh tranh không lành mạnh (năm
1909), trong đó đưa ra các quy định giới hạn nghiêm ngặt hoạt động kinh doanh của
12

Frauke Henning - Bodewig (2006), Unfair competition law: European Union and Member States, Kluwer
Law International, tr.2.


17

thương nhân, trong đó có những hành vi ngày nay được coi là rất thông thường
trong thực tiễn thương mại, như là khuyến mại, giảm giá. Còn ở trung tâm công
nghiệp và pháp lý thứ ba của châu Âu thời kỳ đó là nước Anh, người ta không theo
mô hình luật chung kết hợp với án lệ của Pháp, cũng không theo mô hình luật riêng
về cạnh tranh không lành mạnh của Đức. Cạnh tranh không lành mạnh trong hệ
thống Thông luật của Anh quốc chỉ gói gọn trong việc mô tả các hành vi gây nhầm
lẫn về nhãn hiệu (passing off), gắn liền với pháp luật về sở hữu trí tuệ và sau đó hệ
thống pháp luật Hoa Kỳ cũng tiếp tục cách tiếp cận này trong việc điều chỉnh cạnh
tranh không lành mạnh.
Mặc dù cách làm luật và kỹ thuật điều chỉnh có khác nhau nhưng nhận thức
về khái niệm pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh về cơ bản là thống nhất.
Theo đó, pháp luật về các hành vi cạnh tranh không lành mạnh là những quy định

pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm đảm bảo quyền tự do, bình đẳng trong kinh
doanh, bảo vệ lợi ích của mọi chủ thể sản xuất, kinh doanh, cung ứng dịch vụ tham
gia cạnh tranh trên thị trường, bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng và lợi ích của xã
hội nói chung.
Mục đích của pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh là bảo đảm
quyền và lợi ích hợp pháp cho chủ thể kinh doanh, người tiêu dùng mà cao hơn là
nhằm răn đe, ngăn cấm mọi hành vi cạnh tranh không lành mạnh có nguy cơ xâm
hại và làm vẩn đục môi trường cạnh tranh lành mạnh của nền kinh tế.

1.2.2. Vai trò của pháp luật về các hành vi cạnh tranh không lành
mạnh
Sự ổn định của mỗi quốc gia là điều kiện quan trọng để tạo ra niềm tin, là cơ
sở để mở rộng các mối quan hệ bang giao với các nước khác. Xét ở góc độ này,
pháp luật luôn có vai trò giữ gìn sự ổn định và trật tự xã hội.
Trong nền kinh tế thị trường vận động, phát triển chủ yếu theo cơ chế cung
cầu, đôi khi “mạnh ai nấy làm”. Chính tình trạng này dẫn đến nền kinh tế quốc dân
phát triển mất cân đối, hiện tượng khủng hoảng kinh tế xảy ra. Để đảm bảo sự hài
hoà cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội, thì sự phát triển của nền kinh tế đất
nước cần có vai trò điều tiết của Nhà nước. Ý chí của Nhà nước thể hiện rõ trong
các quy định của pháp luật. Luật Cạnh tranh thể hiện ý chí của Nhà nước trong việc
bảo đảm môi trường kinh doanh lành mạnh. Pháp luật chống cạnh tranh không lành
mạnh - một bộ phận của pháp luật cạnh tranh có những vai trò cơ bản sau đây:


18

Thứ nhất, bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh trong nền kinh tế.
Cạnh tranh là một hoạt động của nền kinh tế thị trường. Cạnh tranh vừa có
tác động tích cực vừa có tác động tiêu cực. Mặt tiêu cực của cạnh tranh ảnh hưởng
đến môi trường cạnh tranh. Môi trường cạnh tranh là “bầu khí quyển” của các chủ

thể kinh doanh. Môi trường cạnh tranh tốt giúp phát huy được tiềm lực và sức mạnh
vốn có của các chủ thể tham gia thị trường.
Việc bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh luôn đồng nghĩa với việc
phải ngăn chặn và loại trừ những hành vi cạnh tranh thiếu lành mạnh như kiểm soát
được độc quyền. Muốn ngăn chặn cạnh tranh không lành mạnh, một mặt phải
không ngừng hoàn thiện pháp luật để không còn kẽ hở cho những hành vi gian lận.
Mặt khác, ngay bản thân các chế định của pháp luật, bên cạnh những quy định xác
lập khung pháp lý cho sự cạnh tranh, cũng cần có những quy định đối với những
hành vi không lành mạnh, bảo vệ quyền lợi của chủ thể bị các hành vi đó xâm hại.
Pháp luật cạnh tranh bảo đảm cạnh tranh lành mạnh bằng các quy định,
nguyên tắc trong cạnh tranh, quy định các hành vi cạnh tranh không lành mạnh và
các biện pháp xử lý vi phạm đối với các hành vi này.
Nguyên tắc trong cạnh tranh là “doanh nghiệp được quyền tự do cạnh tranh
trong khuôn khổ pháp luật. Nhà nước bảo hộ quyền cạnh tranh hợp pháp trong kinh
doanh. Việc cạnh tranh phải được thực hiện theo nguyên tắc trung thực, không xâm
phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của
doanh nghiệp, của người tiêu dùng và phải tuân theo các quy định của luật này”13. Với
mục đích của nguyên tắc là tạo lập, thúc đẩy cơ hội bình đẳng và không phân biệt đối
xử trong cạnh tranh giữa các tổ chức cá nhân kinh doanh. Đồng thời, bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của các chủ thể bị xâm hại bởi hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
Thứ hai, tôn trọng và bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người tiêu dùng, bảo
vệ quyền lợi của chủ thể kinh doanh, Nhà nước và xã hội.
Chủ thể kinh doanh tham gia thị trường vì mục tiêu lợi nhuận. Lợi nhuận lại
do chính khách hàng - “thượng đế” - mang lại. Sự lựa chọn và sức tiêu thụ hàng hoá
của khách hàng là thước đo chính xác cho chất lượng của mỗi sản phẩm. Buộc các
doanh nghiệp phải không ngừng cải tiến, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới
vào sản xuất, kinh doanh để tăng tính năng và chất lượng sản phẩm phủ hợp với nhu
13

Điều 4 Luật Cạnh tranh Việt Nam năm 2004, Điều 5 Luật Cạnh tranh Lào năm 2015.



19

cầu người tiêu dùng. Không phải doanh nghiệp nào cũng có hành vi “đẹp” trong
kinh doanh. Những hành vi cạnh tranh “không đẹp” có thể ảnh hưởng trực tiếp đến
đối thủ cạnh tranh, người tiêu dùng, thậm chí ảnh hưởng đến chính sách cạnh tranh
của Nhà nước; Nhà nước khuyến kích cạnh tranh, nhưng không chấp nhận sự cạnh
tranh với bất kỳ giá nào, nhất là sự cạnh tranh làm thiệt hại đến lợi ích của người
tiêu dùng. Bởi vậy, khi các chủ thể kinh doanh có quyền và lợi ích bị xâm phạm bởi
các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, họ được quyền khiếu kiện đến các cơ
quan nhà nước có thẩm quyền, đó là Toà án. Mục đích của họ khi khởi kiện đến Toà
là nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chính bản thân mình. Khi đó, Toà án
sẽ tiến hành các thủ tục cần thiết, nếu phát hiện thấy vi phạm, cơ quan chức năng có
thẩm quyền sẽ có một bản án hay một quyết định buộc chủ thể vi phạm phải chấm
dứt ngay hành vi vi phạm và bồi thường thiệt hại (nếu có).
Thứ ba, răn đe và nghiêm cấm mọi hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
Tính răn đe thể hiện rất rõ khi Luật Cạnh tranh quy định các hình thức xử lý
hành vi vi phạm đối với các chủ thể thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
Tuỳ theo tính chất, mức độ phạm vi, hậu quả xảy ra mà các chủ thể vi phạm có thể
bị xử lý vi phạm hành chính, bồi tường thiệt hại, thậm chí là truy cứu trách nhiệm
hình sự nếu cấu thành tội phạm. Nghiêm cấm các doanh nghiệp trong quá trình kinh
doanh thực hiện các hành vi cạnh tranh không lành mạnh như chỉ dẫn gây nhầm lẫn,
xâm phạm bí mật kinh doanh, gièm pha doanh nghiệp khác, quảng cáo nhằm cạnh
tranh không lành mạnh…
Mục đích mà pháp luật cạnh tranh quy định như vậy là để răn đe và nghiêm
cấm các chủ thể thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Qua đó, tạo tâm lý,
thái độ tôn trọng pháp luật của các chủ thể kinh doanh.
1.2.3. Nội dung cơ bản của pháp luật về các hành vi cạnh tranh không
lành mạnh

Tùy thuộc vào bối cảnh lịch sử, kinh tế, xã hội, mỗi nước có những quy định
khác nhau về hành vi cạnh tranh không lành mạnh, nhưng tựu chung lại, pháp luật về
các hành vi cạnh tranh không lành mạnh bao gồm những vấn đề chính sau:
- Nguồn của pháp luật về các hành vi cạnh tranh không lành mạnh: Có thể
thấy, nguồn của pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh tương đối đa dạng, bao
gồm cả án lệ, luật tục, luật thành văn, trong đó luật thành văn có thể là quy định
chung của pháp luật về dân sự, thương mại, cũng có thể là một đạo luật riêng về


20

cạnh tranh không lành mạnh, hay là rải rác các quy định nằm trong các lĩnh vực
pháp luật khác có liên quan. Ví dụ như, ở Pháp, nguồn pháp luật về hành vi cạnh
tranh không lành mạnh là luật chung kết hợp với án lệ. Trong khi đó, ở Đức, nguồn
điều chỉnh hành vi cạnh tranh không lành mạnh là các bộ luật riêng về cạnh tranh
không lành mạnh. Còn ở Anh, cạnh tranh không lành mạnh trong hệ thống Thông
luật của Anh quốc chỉ gói gọn trong việc mô tả các hành vi gây nhầm lẫn về nhãn
hiệu (passing off), gắn liền với pháp luật về sở hữu trí tuệ và sau đó hệ thống pháp
luật Hoa Kỳ cũng tiếp tục cách tiếp cận này trong việc điều chỉnh cạnh tranh không
lành mạnh.
- Các nhóm hành vi cạnh tranh không lành mạnh bị điều chỉnh: Do tính chất
không rõ ràng trong khái niệm cũng như phạm vi điều chỉnh đối với hành vi cạnh
tranh không lành mạnh, các nhà làm luật sử dụng cách tiếp cận từ mặt trái trong
việc xây dựng quy định điều chỉnh trong lĩnh vực pháp luật này và luôn cố gắng xây
dựng một danh sách các hành vi cạnh tranh không lành mạnh bị cấm. Nhìn chung,
thông qua thực tiễn thương mại, người ta xác định được một số hành vi luôn luôn bị
coi là tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh. Xét một cách khái quát, các hành vi
cạnh tranh không lành mạnh được mô tả trên đây có cùng một bản chất là việc tạo
ra những lợi thế không chính đáng trong tương quan cạnh tranh trên thị trường và
có thể được chia thành ba nhóm: (1) Các hành vi mang tính chất lợi dụng; (2) Các

hành vi mang tính chất công kích; và (3) Các hành vi lừa dối, lôi kéo khách hàng.
- Các hình thức chế tài đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh: Chế tài
là hệ thống các biện pháp mà chủ thể có thẩm quyền có thể áp dụng đối với các chủ
thể thực hiện một loại hành vi vi phạm pháp luật nhất định. Hành vi cạnh tranh
không lành mạnh là hành vi gây nguy hại cho xã hội, ảnh hưởng đến các đối thủ
cạnh tranh nói riêng cũng như đến môi trường cạnh tranh nói chung. Các biện pháp
chế tài phù hợp để áp dụng đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh nhằm đảm
bảo tạo một môi trường cạnh tranh lành mạnh, bảo đảm lợi ích của Nhà nước,
quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân kinh doanh và người tiêu dùng.
Chế tài đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh là những hệ quả pháp lý bất lợi
được Nhà nước áp dụng đối với các chủ thể kinh doanh do đã có hành vi cạnh tranh
không lành mạnh gây thiệt hại cho các chủ thể kinh doanh và các chủ thể khác14.
14

Đồng Quang Hải (2017), “Chế tài đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo pháp luật cạnh tranh
Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ Luật học, Học việc Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.20.


×