BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
****************
HÀ KIM SƠN
PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC LẠI, GIẢI THỂ DOANH
NGHIỆP VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH YÊN BÁI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
****************
HÀ KIM SƠN
PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC LẠI, GIẢI THỂ DOANH
NGHIỆP VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH YÊN BÁI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60380107
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Viết Tý
Hà Nội – 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Mọi thông tin được trích dẫn trong luận văn tốt nghiệp đã được ghi
rõ nguồn gốc.
Tôi xin chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình.
Tác giả luận văn
Hà Kim Sơn
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tác giả chân thành cám ơn giáo viên hướng dẫn PGS.TS
Nguyễn Viết Tý đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn
tốt nghiệp này.
Tác giả cũng xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình, đồng nghiệp
và bạn bè đã ủng hộ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tác giả có thể hoàn
thành được luận văn này.
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
Hà Kim Sơn
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DNNN:
DNTN:
TNHH:
DNXH:
Doanh nghiệp nhà nước
Doanh nghiệp tư nhân
Trách nhiệm hữu hạn
Doanh nghiệp xã hội
CTCP:
HĐQT:
GCNĐKKD:
GCNĐKDN:
DN:
NN:
TW:
Công ty Cổ phần.
Hội đồng quản trị
Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh
Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
Doanh nghiệp
Nhà nước
Trung ương
BHXH:
BHYT:
BHTN:
Bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm y tế
Bảo hiểm thất nghiệp
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1.TỔNG QUAN PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC LẠI, GIẢI THỂ
DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM.................................................................... 6
1.1. KHÁI QUÁT VỀ TỔ CHỨC LẠI, GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP .............. 6
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của tổ chức lại doanh nghiệp.......................... 6
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm của giải thể doanh nghiệp .............................. 8
1.2. KHÁI QUÁT VỀ PHÁP LUẬT TỔ CHỨC LẠI, GIẢI THỂ DOANH
NGHIỆP ........................................................................................................... 10
1.2.1. Pháp luật về tổ chức lại doanh nghiệp ............................................... 10
1.2.2. Pháp luật về giải thể doanh nghiệp: .................................................. 22
CHƯƠNG 2.THỰC TRẠNG DOANH NGHIỆP VÀ THỰC TIỄN ÁP
DỤNG PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC LẠI, GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP
TẠI TỈNH YÊN BÁI ...................................................................................... 37
2.1. THỰC TRẠNG VỀ DOANH NGHIỆP TẠI TỈNH YÊN BÁI................... 37
2.2. THỰC TIỄN THỰC HIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC LẠI
DOANH NGHIỆP TẠI TỈNH YÊN BÁI.......................................................... 41
2.2.1. Thực tiễn thực hiện các quy định về hình thức tổ chức lại ................ 41
2.2.2. Thực tiễn thực hiện các quy định về tổ chức lại dưới hình thức sáp
nhập ở Yên Bái........................................................................................... 42
2.3. THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP
TẠI TỈNH YÊN BÁI. ....................................................................................... 43
2.3.1. Nội dung pháp luật về giải thể được áp dụng tại Tỉnh Yên Bái ......... 43
2.3.2. Thực tiễn giải thể doanh nghiệp ở Yên Bái qua một số vụ việc cụ thể
................................................................................................................... 45
CHƯƠNG 3.GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT NÂNG CAO HIỆU
QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC LẠI, GIẢI THỂ DOANH
NGHIỆP.......................................................................................................... 53
3.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về tổ chức lại, giải thể doanh nghiệp ......... 53
3.1.1. Sự cần thiết và hướng hoàn thiện pháp luật về tổ chức lại, giải thể
doanh nghiệp trong luật doanh nghiệp ........................................................ 53
3.1.2. Giải pháp sửa đổi, bổ sung các quy định về tổ chức lại doanh nghiệp 55
3.1.3. Giải pháp sửa đổi, bổ sung các quy định về giải thể doanh nghiệp ........ 59
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động tổ chức lại và giải thể doanh nghiệp
......................................................................................................................... 63
3.2.1. Nâng cao chất lượng công tác cán bộ, tăng cường hướng dẫn, trao đổi
nghiệp vụ ................................................................................................... 63
3.2.2. Tuyên truyền giáo dục, phổ biến pháp luật về tổ chức lại và giải thể
cho các doanh nghiệp ................................................................................. 63
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 66
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của Đề tài
Chủ thể chủ yếu của nền kinh tế thị trường chính là các doanh nghiệp, do
đó nhu cầu điều chỉnh hoạt động của các doanh nghiệp trong đời sống kinh tế xã hội là cần thiết; nhu cầu hiểu biết pháp luật doanh nghiệp càng trở nên
thiết yếu. Cũng giống như các sự vật, hiện tượng trong đời sống xã hội, doanh
nghiệp có “đời sống” riêng của nó. Doanh nghiệp ra đời, phát triển, thay đổi và
cũng có thể sẽ mất đi ở một thời điểm nhất định. Các doanh nghiệp dù lớn hay
nhỏ đều có thể phải trải qua các giai đoạn giống nhau của một vòng đời, mặc dù
thời gian của các giai đoạn này có thể dài, ngắn khác nhau. Hiểu biết pháp luật
doanh nghiệp không chỉ bó hẹp trong phạm vi lúc doanh nghiệp bắt đầu hoạt
động mà phải là hiểu biết toàn diện bao gồm về thời kỳ hoạt động, các thay đổi
phương thức hoạt động thông qua tổ chức lại hoặc chấm dứt số phận pháp lý
doanh nghiệp bằng thủ tục giải thể …
Hiểu rõ bản chất pháp lý của quá trình tổ chức lại, giải thể doanh nghiệp
là một nhu cầu xã hội đòi hỏi các nhà luật gia, các cơ quan quản lý nhà nước,
những người nghiên cứu khoa học pháp lý phải tổ chức tìm hiểu về các các quy
định mang tính thủ tục được xây dựng trong luật và cần phải tìm hiểu, nghiên
cứu những khía cạnh pháp lý, thực tiễn liên quan để hiểu biết, lý giải vấn đề một
cách thấu đáo. Đây cũng là một nhiệm vụ quan trọng nhằm đưa chế định tổ chức
lại, giải thể doanh nghiệp vào thực tiễn cuộc sống, đồng thời góp phần làm sáng
tỏ một số quan điểm nhận thức về một chế định pháp lý còn khá mới mẻ trong
đời sống xã hội. Đặc biệt trong nền kinh tế Việt nam đang tiến sâu vào nền kinh
tế cơ chế thị trường thì quá trình tổ chức lại, giải thể doanh nghiệp ngày càng sẽ
trở thành nhu cầu quan trọng của doanh nghiệp. Việc phân tích tìm hiểu nội dung
và những vấn đề pháp lý về tổ chức lại, giải thể doanh nghiệp sẽ là một công
việc có ý nghĩa trong thực tiễn áp dụng pháp luật và có thể đồng thời góp phần
vào quá trình nhận thức một chế định pháp lý còn khá mới mẻ trong đời sống xã
hội. Thực tế, để doanh nghiệp tăng trưởng đem lại lợi nhuận cao nhất, phù hợp
2
với thực tiễn địa phương, doanh nghiệp có thể có nhiều hình thức nhằm thay đổi
phương thức kinh doanh thông qua chia, tách, hợp nhất, chuyển đổi hoặc chấm
dứt sự tồn tại, trong đó có hình thức giải thể doanh nghiệp.
Khi một doanh nghiệp cần thay đổi chiến lược kinh doanh hoặc nhu cầu
quản trị công ty thay đổi, các chủ sở hữu mẫu thuẫn hoặc biến động về số lượng
thành viên, hay nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh; hoặc doanh nghiệp bị lâm
vào tình trạng buộc phải giải thể làm nảy sinh nhiều vấn đề cần được giải quyết.
Chẳng những quan hệ giữa các thành viên trong doanh nghiệp, quan hệ vay nợ
giữa các chủ nợ với doanh nghiệp, quan hệ giữa doanh nghiệp được tổ chức lại,
giải thể với người lao động. Vì vậy, việc giải quyết kịp thời các vấn đề của việc
tổ chức lại, giải thể doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng nhằm duy trì, bảo vệ
quyền lợi của các chủ thể, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể
liên quan.
Hơn nữa hiện nay, trong tình trạng kinh tế khủng hoảng sâu và rộng trên
toàn cầu, mục tiêu, nhu cầu cơ cấu lại doanh nghiệp để phù hợp với chiến lược
kinh doanh của các nhà đầu tư hay việc rút lui khỏi thị trường một cách "trật tự",
từ đó số lượng doanh nghiệp có nhu cầu được tổ chức lại hay giải thể càng
nhiều. Trong khi đó, việc thi hành pháp luật về tổ chức lại, giải thể doanh nghiệp
vẫn còn nhiều điểm vướng mắc; còn có độ "vênh" giữa pháp luật và thực tiễn,
trình tự, thủ tục, thời hạn để thực hiện còn có những bất cập, kéo dài hay khó
khăn nhất định cho doanh nghiệp khi thực hiện. Xuất phát từ thực tiễn như vậy,
tác giả chọn đề tài “Pháp luật về tổ chức lại, giải thể doanh nghiệp và thực
tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Yên Bái” làm đề tài nghiên cứu để thực hiện
luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu
Vấn đề tổ chức lại và giải thể doanh nghiệp không phải là vấn đề mới và
đã được nhiều nhà khoa học cũng như những người làm công tác thực tiễn quan
tâm nghiên cứu.
3
- Các công trình nghiên cứu về pháp luật tổ chức lại, giải thể doanh
nghiệp mới có thể kể như: “Nguyên tắc xây dựng và thực hiện chế định tổ chức
lại doanh nghiệp theo quy định của Luật doanh nghiệp” của tác giả Trần Trí
Trung – Đại học Quốc gia Hà Nội, bài viết đăng trên Tạp chí khoa học, Đại học
quốc gia Hà Nội, Luật học số 28 (2012) tr 63-68; bài giảng chủ thể kinh doanh,
chương Tổ chức lại và giải thể doanh nghiệp của Từ Thanh Thảo – Giảng viên
Đại học Luật, thành phố Hồ chí minh; bài “Một số vấn đề pháp lý liên quan đến
việc thành lập, tổ chức lại và giải thể công ty trách nhiệm hữu hạn một thành
viên do doanh nghiệp nhà nước là chủ sở hữu - Nguyễn Tuấn Linh, Tạp chí dân
chủ và pháp luật, số chuyên đề pháp luật về doanh nghiệp 2012.
- Các công trình nghiên cứu về pháp luật giải thể doanh nghiệp có thể kể
đến như: “Quy chế thành lập và giải thể doanh nghiệp nhà nước" (2000) của
Hoành Thị Trâm, khóa tốt nghiệp; “Quy chế thành lập và giải thể, phá sản và cơ
chế quản lý của Luật công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân” (1996) Phạm Minh
Long, khóa luận tốt nghiệp; “Những quyy định về thành lập và giải thể doah
nghiệp nhà nước” (1992) của Ủy ban Kế hoạch nhà nước; “Một số ý kiến về giải
thể, phá sản doanh nghiệp tư nhân và công ty trách nhiệm hữu hạn: của Phạm
Quý Tỵ, Tạp chí dân chủ và pháp luật, số 06/1998; Công trình nghiên cứu “Thực
trạng pháp luật vê giải thể doanh nghiệp - Một số đánh giá và kiến nghị hoàn
thiện” của TS. Nguyễn Thị Dung, Tạp chí luật học, số 10/2012; Công trình
“Những giải pháp pháp lý cần xây dựng và hoàn thiện nhằm đảm bảo doanh
nghiệp rút khỏi thị trường” (2012); Tài liệu Hội thảo khoa học của Viện Khoa
học pháp lý - Bộ Tư pháp; Luận văn thạc sĩ Luật học “Pháp luật về giải thể
doanh nghiệp ở Việt Nam,thực trạng và hướng hoàn thiện”-tác giả Lê Ngọc Anh.
Tuy nhiên, vấn đề tổ chức lại và giải thể doanh nghiệp chỉ là một trong
các khía cạnh được nghiên cứu trong các công trình mà hầu hết tập trung bình
luận, lý giải việc tổ chức lại, giải thể trên cơ sở các quy định pháp luật đã được
sửa đổi. Trong số đó, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện về các vấn đề
liên quan đến tổ chức lại và giải thể doanh nghiệp theo quy định pháp luật hiện
4
hành về tổ chức lại, giải thể doanh nghiệp và đặc biệt chưa đi sâu nghiên cứu
việc áp dụng pháp luật về tổ chức lại, giải thể tại một địa phương cụ thể.
Trên cơ sở kế thừa những thành tựu nghiên cứu về tổ chức lại, giải thể
doanh nghiệp của các công trình khoa học đã được công bố, luận văn đi sâu tìm
hiểu các quy định của pháp luật hiện hành về tổ chức lại, giải thể doanh nghiệp
và thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Yên Bái, để có cái nhìn toàn diện về thực
trạng tổ chức lại và giải thể doanh nghiệp hiện nay. Từ đó tìm kiếm giải pháp
nâng cao hiệu quả điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp trong phạm vi cả nước
nói chung và ở tỉnh Yên Bái nói riêng.
3. Mục tiêu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Mục tiêu nghiên cứu của luận văn: Luận văn này được thực hiện với
mục đích làm sáng tỏ cơ sở lý luận cũng như nội dung của pháp luật về tổ chức
lại và giải thể doanh nghiệp; phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về
tổ chức lại và giải thể doanh nghiệp ở một địa phương, đó là tỉnh Yên Bái; tìm
kiếm những giải pháp và góp phần xây dựng hoàn thiện và nâng cao hiệu quả
điều chỉnh của pháp luật tổ chức lại và giải thể doanh nghiệp.
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn: là các quy định pháp luật, đặc biệt
là Luật Doanh nghiệp năm 2014 về tổ chức lại, giải thể doanh nghiệp và thực
tiễn hoạt động tổ chức lại và giải thể doanh nghiệp ở một địa phương cụ thể.
- Phạm vi nghiên cứu: luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu các quy
định pháp luật hiện hành về tổ chức lại và giải thể doanh nghiệp theo của Luật
Doanh nghiệp năm 2014 và thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về tổ chức
lại và giải thể doanh nghiệp tại tỉnh Yên Bái.
4. Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn
Những câu hỏi nghiên cứu trong luận văn này gồm: (i) Thế nào là tổ
chức lại và giải thể doanh nghiệp? (ii) Nội dung của Luật Doanh nghiệp (2014)
về tổ chức lại và giải thể doanh nghiệp? (iii) Thực tiễn hoạt động tổ chức lại và
giải thể doanh nghiệp và những thuận lợi, khó khăn trong hoạt động tổ chức lại
và giải thể doanh nghiệp ở tỉnh Yên Bái? (iv) Các giải pháp hoàn thiện pháp
5
luật về tổ chức lại và giải thể doanh nghiệp và nâng cao hiệu quả hoạt động tổ
chức lại và giải thể doanh nghiệp?
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận được sử dụng để giải quyết những vấn đề đặt ra trong
luận văn là: Phép duy vật biện chứng và phép duy vật lịch sử.
- Các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể bao gồm: Phương pháp
phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp đối chiếu, phương pháp thống kê,
phương pháp mô hình hóa và phương pháp tổng hợp đánh giá. Ngoài ra, luận văn
còn có sự kế thừa những thành tựu đã đạt được của các công trình khoa học đi
trước, từ đó khai triển theo ý tưởng của riêng mình gắn lý luận với thực tiễn nhằm
phát hiện những ưu điểm, hạn chế của các quy định và đưa ra những kiến nghị có
tính khả thi nhằm đảm bảo quyền tự do kinh doanh của tổ chức và cá nhân.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
- Luận văn hệ thống hóa các cơ sở lý luận, nghiên cứu các nội dung cụ thể
của hoạt động tổ chức lại và giải thể doanh nghiệp;
- Phân tích đánh giá thực trạng hoạt động tổ chức lại và giải thể doanh
nghiệp trên địa bàn tỉnh Yên Bái;
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về tổ chức lại và giải thể
doanh nghiệp và nâng cao hiệu quả hoạt động tổ chức lại và giải thể doanh
nghiệp trong phạm vi cả nước nói chung và trên địa bàn tỉnh Yên Bái nói riêng.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1. Tổng quan về tổ chức lại, giải thể DN và pháp luật về tổ chức
lại, giải thể DN;
Chương 2. Thực trạng DN và thực tiễn áp dụng pháp luật về tổ chức lại,
giải thể DN tại Tỉnh Yên Bái;
Chương 3. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về tổ chức lại, giải thể DN và
giải pháp hoàn nâng cao hiệu quả hoạt động tổ chức lại, giải thể DN.
6
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC LẠI, GIẢI THỂ DOANH
NGHIỆP Ở VIỆT NAM
1.1. KHÁI QUÁT VỀ TỔ CHỨC LẠI, GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của tổ chức lại doanh nghiệp
Trong hoạt động của doanh nghiệp, việc cải tiến thay thế, mua lại, sáp
nhập hay chuyển đổi loại hình doanh nghiệp là nhu cầu thường thấy của các
doanh nghiệp. Điều đó xuất phát từ các nguyên nhân như chiến lược kinh doanh
của doanh nghiệp bị thay đổi, nhu cầu quản trị của công ty thay đổi, các chủ sở
hữu công ty phát sinh mâu thuẫn hoặc không thể tiếp tục tiến hành hoạt động sản
xuất kinh doanh, số thành viên công ty không còn đủ giới hạn tối thiểu... Trong
quá trình kinh doanh, các chủ đầu tư lại có quyền mở rộng, thu hẹp quy mô hoặc
chuyển đổi hình thức kinh doanh phù hợp với năng lực kinh doanh, nhu cầu của
chủ sở hữu trong từng giai đoạn khác nhau. Tổ chức lại doanh nghiệp là những
biện pháp nhằm thay đổi quy mô hoặc loại hình doanh nghiệp, theo quyết định
của chủ sở hữu doanh nghiệp phù hợp với từng giai đoạn kinh doanh khác nhau.
Dưới góc độ lý luận: Tổ chức lại doanh nghiệp là tái cấu trúc lại doanh
nghiệp (chia, tách, hợp nhất, sáp nhập hoặc chuyển đổi doanh nghiệp) dẫn đến
làm thay đổi quy mô kinh doanh, hoặc thay đổi hình thức pháp lý nhằm mục
đích nâng cao năng lực cạnh tranh và để phát huy hiệu quả, phù hợp hơn với
mục tiêu doanh nghiệp hướng tới.1. Xét theo khía cạnh pháp lý thì tổ chức lại
doanh nghiệp là một chế định pháp luật quy định về quá trình chia, tách, sáp
nhập, hợp nhất, chuyển đổi doanh nghiệp nhằm mục đích phát triển của doanh
nghiệp trong từng thời kỳ2.
Trong lịch sử lập pháp của nước ta, những vấn đề về chia tách, hợp nhất,
sáp nhập là những nội dung pháp lý đã được đề cập đến trong các văn bản khác
1
Từ Thanh Thảo, (2015) “Tập bài giảng chủ thể kinh doanh”, truy cập ngày 28/5/2017, tại địa chỉ
/>2
Trần Chí Trung Nguyên (2012), “Nguyên tắc xây dựng và thực hiện chế định tổ chức lại doanh nghiệp theo
quy định của Luật doanh nghiệp”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học số 28 truy cập ngày 26/5/2017 tại
địa chỉ file:///C:/Users/Admin/Downloads/1128-1-2198-1-10-20160520%20(1).pdf
7
nhau. Bộ Luật Dân sự năm 1995, đã đề cập các biện pháp này trong phần
“Những quy định chung về pháp nhân”, các nội dung tương tự cũng được kế
thừa trong Bộ Luật Dân sự năm 2014. Luật doanh nghiệp nhà nước năm 1995
cũng đã có quy định về các biện pháp tổ chức lại doanh nghiệp bao gồm: Sáp
nhập vào doanh nghiệp nhà nước khác; chia tách doanh nghiệp nhà nước và
những biện pháp khác làm thay đổi mục tiêu hoạt động, hình thức tổ chức của
doanh nghiệp… trong phạm vi các văn bản luật về kinh doanh, thương mại. Các
quy định về tổ chức lại doanh nghiệp lần đầu tiên được đề cập trong Luật doanh
nghiệp năm 1999 theo đó định nghĩa “Tổ chức lại doanh nghiệp là việc chia,
tách, sáp nhập, hợp nhất và chuyển đổi doanh nghiệp”3. Luật Doanh nghiệp năm
2005 gần như vẫn giữ nguyên khái niệm đã xác định “Tổ chức lại doanh nghiệp
là việc chia, tách, hợp nhất, sáp nhập hoặc chuyển đổi doanh nghiệp”4. Luật
Doanh nghiệp năm 2014 đã quy định rất cụ thể, rõ ràng về khái niệm tổ chức lại
doanh nghiệp và các trường hợp tổ chức lại doanh nghiệp, tại Điều 4, Luật
Doanh nghiệp năm 2014 đã giải thích cụ thể, rõ ràng: “Tổ chức lại doanh nghiệp
là việc chia, tách, hợp nhất, sáp nhập hoặc chuyển đổi loại hình doanh nghiệp”.
Như vậy, về bản chất tổ chức lại doanh nghiệp là tái cấu trúc lại doanh
nghiệp làm thay đổi thay đổi quy mô, cơ cấu, cấu trúc bộ máy tổ chức hay hình
thức pháp lý của doanh nghiệp. Luật Doanh nghiệp đã giải thích cụ thể, rõ ràng:
“Tổ chức lại doanh nghiệp là việc chia, tách, hợp nhất, sáp nhập hoặc chuyển
đổi loại hình doanh nghiệp” và được quy định cụ thể tại các điều từ điều 192 đến
điều 199 Chương IX của Luật Doanh nghiệp năm 2014.
Đặc điểm của việc tổ chức lại doanh nghiệp:
(i) Làm thay đổi quy mô kinh doanh, từ công ty có quy mô lớn thành công
ty có quy mô nhỏ hơn và ngược lại: chia, tách, hợp nhất, sáp nhập;
(ii) Làm thay đổi hình thức pháp lý doanh nghiệp, từ doanh nghiệp tư
nhân sang công ty TNHH, từ công ty TNHH thành công ty cổ phần… như việc
chuyển đổi doanh nghiệp; Hình thành các doanh nghiệp mới trên thị trường,
3
4
Luật doanh nghiệp 1999
Luật doanh nghiệp 2005
8
hoặc chấm dứt các doanh nghiệp đang tồn tại từ các biện pháp chia, tách, hợp
nhất doanh nghiệp;
(iii) Làm ảnh hưởng đến vấn đề cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trên thị
trường khi các doanh nghiệp thực hiệm biện pháp hợp nhất hay sáp nhập trở
thanh các doanh nghiệp có quy mô kinh doanh, năng lực đầu tư.
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm của giải thể doanh nghiệp
Tại Việt Nam, hàng ngày có rất nhiều doanh nghiệp được thành lập mới
thì ngược lại cũng có không ít các doanh nghiệp rút khỏi thị trường, việc gia
nhập, rút khỏi thị trường là một tất yếu của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị
trường. Dưới góc độ ngôn ngữ, giải thể là “không còn hoặc làm cho không còn
tồn tại như một tổ chức, các thành phần, thành viên phân tán đi”5. Như vậy, hiểu
theo cách thông thường thì giải thể doanh nghiệp có nghĩa là doanh nghiệp chấm
dứt sự tồn tại, không còn tiến hành hoạt động kinh doanh. Dưới góc độ pháp lý,
khái niệm giải thể doanh nghiệp chưa được quy định tại bất kỳ văn bản quy
phạm pháp luật nào. Tuy nhiên, trong các tài liệu nghiên cứu luật học, có rất
nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra khái niệm giải thể doanh nghiệp. Từ điển Luật
học là “thủ tục chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp, với tư cách là một chủ thể
kinh doanh bằng cách thanh lý tài sản của doanh nghiệp để trả cho các chủ
nợ”6. Bên cạnh đó, một số tác giả cũng đưa ra khái niệm về giải thể doanh
nghiệp, như Giáo trình Luật Kinh tế Việt Nam của Viện Đại học Mở Hà Nội:
“Giải thể doanh nghiệp là một trong những thủ tục pháp lý dẫn đến chấm dứt sự
tồn tại của doanh nghiệp”7 hay Giáo trình Pháp luật Kinh tế - Khoa Luật Trường
Đại học Kinh tế Quốc dân: “Giải thể doanh nghiệp được nhìn nhận là việc một
doanh nghiệp chấm dứt hoạt động kinh doanh, không tiếp tục tồn tại trên thị
trường với tư cách là một chủ thể kinh doanh”8. Như vậy, có thể thấy các nhà
nghiên cứu luật học có cách hiểu về khái niệm giải thể doanh nghiệp tương đối
5
Viện ngôn ngữ học (2005), Từ điẻn tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, Hà Nội-Đã Nẵng
Bộ Tư pháp- Viện Khoa học pháp lý, Từ điển luật học, NXB Từ điển bách khoa- NXB Tư pháp
7
Viện đại học mở Hà Nội (2013), Giáo trình luật kinh tế Việt Nam, NXB Tư pháp, Hà Nội
8
Khoa luật - Trường Đại học kinh tế quốc dân (2012), Giáo trình pháp luật kinh tế, NXB Đại học Kinh tế
quốc dân
6
9
giống nhau, đều cho rằng giải thể doanh nghiệp là việc chấm dứt sự tồn tại của
doanh nghiệp với tư cách là một chủ thể kinh doanh. Giải thể doanh nghiệp
không phải là một thời điểm, một sự kiện mà là một quá trình9 và quá trình đó
phải tuân theo các quy định của pháp luật về điều kiện, đó là doanh nghiệp phải
đảm bảo thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp.
Tóm lại, giải thể doanh nghiệp là thủ tục chấm dứt sự tồn tại của doanh
nghiệp có điều kiện khi bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản
khác của doanh nghiệp đó.
Giải thể doanh nghiệp có các đặc điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, giải thể doanh nghiệp dẫn đến việc chấm dứt sự tồn tại của
doanh nghiệp, doanh nghiệp phải tiến hành thanh lý các tài sản, thực hiện việc
thanh toán các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp. Hậu quả là
doanh nghiệp sẽ bị xóa tên trong sổ đăng ký doanh nghiệp và doanh nghiệp đó
không còn tồn tại trên thị trường nữa.
Thứ hai, giải thể doanh nghiệp là thủ tục mang tính hành chính. Việc giải
thể doanh nghiệp do doanh nghiệp mà cụ thể là chủ sở hữu doanh nghiệp hoặc
đại diện chủ sở hữu doanh nghiệp tiến hành theo trình tự, thủ tục pháp luật quy
định. Doanh nghiệp phải thực hiện đày đủ theo đúng thủ tục, trình tự luật định
như thủ tục chấm dứt hiệu lực mã số thuế, trả con dấu, nộp hồ sơ giải thể…
Thứ ba, giải thể doanh nghiệp mang tính tự nguyện hoặc bắt buộc. Giải
thể doanh nghiệp trước hết là quyền của chủ sở hữu hoặc các chủ sở hữu doanh
nghiệp. Chủ doanh nghiệp tư nhân, tất cả thành viên hợp danh của công ty hợp
danh, Hội đồng thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) hai thành
viên trở lên, chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên, Đại hội đồng cổ đông
công ty cổ phần đều có quyền quyết định giải thể doanh nghiệp. Đây là trường
hợp giải thể hoàn toàn mang tính chất tự nguyện, theo ý chí của nhà đầu tư. Tuy
nhiên, pháp luật cũng quy định các trường hợp doanh nghiệp bắt buộc phải giải
9
Nguyên Văn Cương (2012) "Một số suy nghĩ về vai trò của Nhà nước trước hiện tượng doanh nghiệp rút
khỏi thị trường ở nước ta hiện nay", Hội thảo Những giải pháp pháp lý cần xây dựng và hoàn thiện nhằ, đảm
bảo doanh nghiệp rút khỏi thị trường
10
thể, như trong những trường hợp Công ty không còn đủ số lượng thành viên tối
thiểu theo quy định trong thời hạn 06 tháng liên tục mà không làm thủ tục
chuyển đổi loại hình doanh nghiệp hoặc Bị thu hồi GCNĐKDN.
Thứ tư, việc giải thể doanh nghiệp có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau
nhưng phải đảm bảo thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của
doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể giải thể xuất phát từ: chủ doanh nghiệp hoặc
các chủ sở hữu doanh nghiệp quyết định giải thể doanh nghiệp khi mục tiêu đề ra
đã được hoàn thành xong hay không thể đạt được mục tiêu đã đề ra hoặc doanh
nghiệp có thể bị thu hồi GCNĐKDN do vi phạm pháp luật... Tuy nhiên, dù giải
thể với lý do gì thì doanh nghiệp chỉ được giải thể khi bảo đảm thanh toán hết
các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác. Doanh nghiệp muốn chấm dứt sự tồn tại
bằng thủ tục giải thể, doanh nghiệp phải tiến hành thanh lý tài sản và bảo đảm
thanh toán đầy đủ các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp. Đây
cũng là đặc trưng, tiêu chí, sự khác biệt được dùng để phân biệt giữa chế định
phá sản doanh nghiệp và giải thể doanh nghiệp10.
1.2. KHÁI QUÁT VỀ PHÁP LUẬT TỔ CHỨC LẠI, GIẢI THỂ DOANH
NGHIỆP
1.2.1. Pháp luật về tổ chức lại doanh nghiệp
1.2.1.1. Khái niệm pháp luật về tổ chức lại doanh nghiệp
Tổ chức lại doanh nghiệp là việc chia, tách, hợp nhất, sáp nhập hoặc
chuyển đổi loại hình doanh nghiệp. Đây là hoạt động thuộc nội hàm của quyền
tự do kinh doanh của doanh nghiệp, được thực hiện nhằm mục đích tạo dựng
những mô hình tổ chức kinh doanh hợp lý nhất để nâng cao hiệu quả sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp. Trong quá trình thức hiện việc tổ chức lại doanh
nghiệp phát sinh nhiều mối quan hệ khác nhau, như: quan hệ giữa doanh nghiệp
với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, quan hệ giữa doanh nghiệp với các đối tác
(khách hàng), các quan hệ nội bộ trong doanh nghiệp và hoạt động tổ chức lại
doanh nghiệp cũng ảnh hưởng, liên quan đến lợi ích của nhiều chủ thể khác
10
Lê Ngọc Anh (2014), Pháp luật về giải thể doanh nghiệp ở Việt Nam- Thực trạng và những giải pháp,
Luận văn thạc sỹ, Tr14.
11
nhau. Để điều chỉnh các quan hệ xã hội, cũng như bảo vệ lợi ích của các chủ thể
có lên quan, Nhà nước ban hành một hệ thống các quy phạm pháp luật nhằm
điều chỉnh về tổ chức lại doanh nghiệp.
Như vậy, pháp luật về tổ chức lại doanh nghiệp được hiểu là tổng thể các
quy phạm do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, điều chỉnh các quan hệ xã hội
phát sinh trong quá trình tổ chức lại doanh nghiệp, nhằm bảo vệ lợi ích của
doanh nghiệp cũng như lợi ích của các chủ thể khác có liên quan.
Xét về mặt nội dung, pháp luật về tổ chức lại doanh nghiệp bao gồm các
quy định về: (i) Các hình thức tổ chức lại doanh nghiệp (chia, tách, hợp nhất, sáp
nhập hoặc chuyển đổi loại hình doanh nghiệp); (ii) trình tự, thủ tục tổ chức lại
doanh nghiệp; (iii) đảm bảo quyền và lợi ích của các chủ thể có liên quan trong
quá trình tổ chức lại doanh nghiệp.
Xét về mặt hình thức, pháp luật tổ chức lại doanh nghiệp là một bộ phận
của pháp của pháp luật doanh nghiệp, được quy định trong các luật doanh nghiệp
và các văn bản hướng dẫn thi hành, trong đó phải kể đến Luật Doanh nghiệp
năm 2005 và Luật Doanh nghiệp năm 2014.
Luật Doanh nghiệp năm 2014 có những quy định mang tính định hướng,
gợi mở về thành lập, tổ chức quản lý, tổ chức lại doanh nghiệp, trao cho doanh
nghiệp tự do, tự nguyện, cam kết, thoả thuận theo các quy định của pháp luật:
cho phép công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần có thể có một hoặc nhiều
người đại diện theo pháp luật; cho phép công ty cổ phần có thể chọn một trong
hai mô hình tổ chức, quản lý; cho phép lựa chọn cách bầu dồn phiếu hay không
bầu dồn phiếu khi bầu thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát công ty cổ
phần...
Theo Luật Doanh nghiệp năm 2005 chỉ cho phép các công ty cùng loại
hình mới được hợp nhất hay sáp nhập, Luật Doanh nghiệp năm 2014 không yêu
cầu các công ty cùng loại mới được hợp nhất, sáp nhập, chia, tách đồng thời quy
định rõ ràng về quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm cũng như trình tự thủ tục, hồ sơ
thực hiện các loại thủ tục này. Đây là điểm đổi mới hết sức quan trọng, điều này
12
sẽ góp phần thúc đẩy thị trường mua bán doanh nghiệp11.
1.2.1.2. Các hình thức tổ chức lại doanh nghiệp theo quy định của Luật
Doanh nghiệp hiện hành
Nhóm quy phạm pháp luật quan trọng của pháp luật về tổ chức lại doanh
nghiệp được ghi nhận trong Luật Doanh nghiệp năm 2014, đó là những quy định
về các hình thức tổ chức lại doanh nghiệp, bao gồm: hợp nhất, sáp nháp, chia,
tách và chuyển đổi doanh nghiệp12 Cụ thể:
Thứ nhất, Hợp nhất doanh nghiệp
Theo quy định của Điều 194 Luật Doanh nghiệp năm 2014, hình thức hợp
nhất doanh nghiệp được áp dụng đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty
cổ phần, công ty hợp danh. Hợp nhất doanh nghiệp được hiểu là hai hoặc một số
công ty (công ty bị hợp nhất) có thể hợp nhất thành một công ty mới (công ty
hợp nhất) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp
sang công ty hợp nhất. Việc hợp nhất doanh nghiệp dẫn đến hậu quả pháp lý là
sau khi hợp nhất, đăng ký doanh nghiệp, các công ty bị hợp nhất chấm dứt tồn
tại, công ty hợp nhất được hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp, chịu trách
nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao động và các nghĩa vụ tài
sản khác của các công ty bị hợp nhất.
Thứ hai, sáp nhập doanh nghiệp
Sáp nhập doanh nghiệp được quy định cụ thể trong Điều 195 Luật Doanh
nghiệp năm 2014, theo đó hình thức sáp nhập được áp dụng đối với các loại hình
công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh. Sáp nhập
doanh nghiệp là một hoặc một số công ty (công ty sáp nhập) có thể sáp nhập vào
một công ty khác (công ty nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản,
quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm
dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập. Sau khi đăng ký doanh nghiệp, công ty bị
sáp nhập chấm dứt tồn tại, công ty nhận sáp nhập được hưởng các quyền và lợi
11
Luật Doanh nghiệp năm 2014 và những điều bạn nên biết (2015), truy cập ngày 20/5/2017 tại địa chỉ:
/>12
Xem: các điều từ 192 – 199 Luật doanh nghiệp năm 2014.
13
ích hợp pháp, chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao
động và nghĩa vụ tài sản khác của các công ty bị sáp nhập.
Thứ ba, chia doanh nghiệp
Hình thức chia doanh nghiệp được quy định cụ thể tại Điều 192 Luật
Doanh nghiệp năm 2014. Đối với hình thức này, công ty trách nhiệm hữu hạn và
công ty cổ phần có thể tiến hành chia doanh nghiệp tùy tình hình, nhu cầu kinh
doanh và mục đích của chủ sở hữu. Các doanh nghiệp có thể được chia thành một
số doanh nghiệp cùng loại. Việc chia doanh nghiệp là giảm quy mô nhưng làm tăng
số lượng doanh nghiệp. Số lượng thành viên, cổ đông và số lượng, tỷ lệ sở hữu cổ
phần, phần vốn góp của thành viên, cổ đông và vốn điều lệ của các công ty mới sẽ
được ghi tương ứng với cách thức phân chia, chuyển đổi phần vốn góp, cổ phần của
công ty bị chia sang các công ty mới tương ứng. Việc chia doanh nghiệp sẽ dẫn đến
hậu quả pháp lý: Công ty bị chia chấm dứt tồn tại sau khi các công ty mới được cấp
Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Các công ty mới phải cùng liên đới chịu
trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao động và nghĩa vụ tài
sản khác của công ty bị chia hoặc thỏa thuận với chủ nợ, khách hàng và người lao
động để một trong số các công ty đó thực hiện các nghĩa vụ này.
Thứ tư, tách doanh nghiệp
Điều 193 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định, việc tách doanh nghiệp
được áp dụng là công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần. Công ty trách
nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần có thể tách doanh nghiệp bằng cách: chuyển
một phần tài sản của công ty hiện có (công ty bị tách) để thành lập một hoặc
một số công ty mới (công ty được tách); chuyển toàn bộ phần vốn góp, cổ phần
của một hoặc một số thành viên, cổ đông cùng với tài sản tương ứng với giá trị
cổ phần, phần vốn góp của họ được chuyển sang cho các công ty mới; hoặc kết
hợp cả hai hình thức trên. Hậu quả pháp lý của việc tách doanh nghiệp là: Công
ty bị tách phải đăng ký thay đổi vốn điều lệ và số lượng thành viên tương ứng
với phần vốn góp, cổ phần và số lượng thành viên giảm xuống đồng thời với
đăng ký doanh nghiệp các công ty mới. Sau khi đăng ký doanh nghiệp, công ty
14
bị tách và công ty được tách phải cùng liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ
chưa thanh toán, hợp đồng lao động và nghĩa vụ tài sản khác của công ty bị tách,
trừ trường hợp công ty bị tách, công ty mới thành lập, chủ nợ, khách hàng và
người lao động của công ty bị tách có thỏa thuận khác.
Thứ năm, chuyển đổi doanh nghiệp
Các điều 196, 197 ,198, 199 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định, đối
tượng áp dụng việc chuyển đổi doanh nghiệp là: Công ty TNHH có thể chuyển
đổi thành công ty cổ phần và ngược lại; doanh nghiệp tư nhân có thể chuyển đổi
thành công ty TNHH. Hậu quả pháp lý của việc chuyển đổi doanh nghiệp là, sau
khi đăng ký kinh doanh, công ty được chuyển đổi chấm dứt sự tồn tại; công ty
chuyển đổi được hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp, chịu trách nhiệm về các
khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao động và nghĩa vụ về tài sản khác của
công ty được chuyển đổi.
1.2.1.3. Quy định về trình tự, thủ tục tổ chức lại doanh nghiệp
Trình tự, thủ tục tổ chức lại doanh nghiệp được hướng dẫn cụ thể trong
Thông tư số 20/2015/TT-BKHĐT ngày 01/12/2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
Cụ thể:
● Thủ tục chia công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần được quy
định như sau:
- Để chia công ty, trước hết công ty phải tổ chức hội nghị thông qua nghị
quyết chia công ty theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014 và Điều lệ
công ty của các chủ sở hữu công ty (Hội đồng thành viên, chủ sở hữu công ty
TNHH một Thành viên hoặc Đại hội đồng cổ đông). Nghị quyết phải có các nội
dung chủ yếu: tên, địa chỉ trụ sở chính của công ty bị chia và các công ty sẽ
thành lập; nguyên tắc, cách thức và thủ tục chia tài sản công ty; phương án sử
dụng lao động; cách thức phân chia, thời hạn và thủ tục chuyển đổi phần vốn
góp, cổ phần, trái phiếu của công ty bị chia sang các công ty mới; nguyên tắc
giải quyết các nghĩa vụ; thời hạn thực hiện chia công ty. Nghị quyết chia công ty
15
phải được gửi đến tất cả các chủ nợ và thông báo cho người lao động biết trong
thời hạn 15 ngày, kể từ ngày thông qua nghị quyết;
- Thành viên, chủ sở hữu công ty hoặc cổ đông của công ty mới được thành
lập thông qua Điều lệ, bầu hoặc bổ nhiệm Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ
tịch công ty, Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và tiến hành đăng
ký doanh nghiệp kèm theo nghị quyết chia công ty;
- Số lượng thành viên, cổ đông,số lượng, tỷ lệ sở hữu, phần vốn góp, vốn
điều lệ của các công ty mới sẽ được ghi tương ứng với cách thức phân chia,
chuyển đổi phần vốn góp, cổ phần của công ty bị chia sang các công ty mới;
- Công ty bị chia chấm dứt tồn tại sau khi các công ty mới được cấp
GCNĐKDN. Các công ty mới phải cùng liên đới chịu trách nhiệm về các khoản
nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao động và nghĩa vụ tài sản khác của công ty bị
chia hoặc thỏa thuận với chủ nợ, khách hàng và người lao động để một trong số
các công ty đó thực hiện các nghĩa vụ này;
- Cơ quan đăng ký kinh doanh cập nhật tình trạng pháp lý của công ty bị
chia trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp khi cấp
GCNĐKDN cho công ty mới. Trường hợp công ty mới có địa chỉ trụ sở chính
ngoài tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi công ty bị chia có trụ sở
chính thì Cơ quan đăng ký kinh doanh nơi đặt trụ sở chính công ty mới phải
thông báo việc đăng ký doanh nghiệp công ty mới cho Cơ quan đăng ký kinh
doanh nơi công ty bị chia đặt trụ sở chính để cập nhật tình trạng pháp lý của
công ty bị chia trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.
● Thủ tục tách công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần được quy
định như sau:
Thứ nhất, hội đồng thành viên, chủ sở hữu công ty hoặc Đại hội đồng cổ
đông của công ty bị tách thông qua nghị quyết tách công ty theo quy định của
Luật này và Điều lệ công ty. Nghị quyết tách công ty phải có các nội dung chủ
yếu về tên, địa chỉ trụ sở chính công ty bị tách; tên công ty được tách sẽ thành
lập; phương án sử dụng lao động; cách thức tách công ty; giá trị tài sản, các
16
quyền và nghĩa vụ được chuyển từ công ty bị tách sang công ty được tách; thời
hạn thực hiện tách công ty. Nghị quyết tách công ty phải được gửi đến tất cả các
chủ nợ và thông báo cho người lao động biết trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày
thông qua nghị quyết;
Thứ hai, các thành viên, chủ sở hữu công ty hoặc các cổ đông của công ty
được tách thông qua Điều lệ, bầu hoặc bổ nhiệm Chủ tịch Hội đồng thành viên,
Chủ tịch công ty, Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và tiến hành
đăng ký doanh nghiệp theo quy định của Luật này. Trường hợp này, hồ sơ đăng
ký doanh nghiệp phải kèm theo nghị quyết tách công ty quy định tại điểm a
khoản này. Sau khi đăng ký doanh nghiệp, công ty bị tách và công ty được tách
phải cùng liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng
lao động và nghĩa vụ tài sản khác của công ty bị tách, trừ trường hợp công ty bị
tách, công ty mới thành lập, chủ nợ, khách hàng và người lao động của công ty
bị tách có thỏa thuận khác13.
● Thủ tục hợp nhất công ty được quy định như sau:
Thứ nhất, các công ty bị hợp nhất chuẩn bị hợp đồng hợp nhất. Hợp đồng
hợp nhất phải có các nội dung chủ yếu về tên, địa chỉ trụ sở chính của các công
ty bị hợp nhất; tên, địa chỉ trụ sở chính của công ty hợp nhất; thủ tục và điều kiện
hợp nhất; phương án sử dụng lao động; thời hạn, thủ tục và điều kiện chuyển đổi
tài sản, chuyển đổi phần vốn góp, cổ phần, trái phiếu của công ty bị hợp nhất
thành phần vốn góp, cổ phần, trái phiếu của công ty hợp nhất; thời hạn thực hiện
hợp nhất; dự thảo Điều lệ công ty hợp nhất;
Thứ hai, các thành viên, chủ sở hữu công ty hoặc các cổ đông của các công
ty bị hợp nhất thông qua hợp đồng hợp nhất, Điều lệ công ty hợp nhất, bầu hoặc
bổ nhiệm Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Hội đồng quản trị,
Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty hợp nhất và tiến hành đăng ký doanh
nghiệp công ty hợp nhất theo quy định của Luật này. Hợp đồng hợp nhất phải
13
Quy định mới về chia tách doanh nghiệp (2014), truy cập ngày 15/4/2017 tại địa chỉ
/>
17
được gửi đến các chủ nợ và thông báo cho người lao động biết trong thời hạn 15
ngày, kể từ ngày thông qua.
Thứ ba, trường hợp hợp nhất mà theo đó công ty hợp nhất có thị phần từ
30% đến 50% trên thị trường liên quan thì đại diện hợp pháp của công ty bị hợp
nhất phải thông báo cho cơ quan quản lý cạnh tranh trước khi tiến hành hợp nhất,
trừ trường hợp Luật Cạnh tranh có quy định khác. Cấm các trường hợp hợp nhất
mà theo đó công ty hợp nhất có thị phần trên 50% trên thị trường có liên quan,
trừ trường hợp Luật cạnh tranh có quy định khác.
Thứ tư, hồ sơ, trình tự đăng ký doanh nghiệp công ty hợp nhất thực hiện
theo các quy định tương ứng của Luật này và phải kèm theo bản sao các giấy tờ
như: Hợp đồng hợp nhất; Nghị quyết và biên bản họp thông qua hợp đồng hợp
nhất của các công ty bị hợp nhất.
Thứ năm, Sau khi đăng ký doanh nghiệp, các công ty bị hợp nhất chấm dứt
tồn tại; công ty hợp nhất được hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp, chịu trách
nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao động và các nghĩa vụ tài
sản khác của các công ty bị hợp nhất. Cơ quan đăng ký kinh doanh cập nhật tình
trạng pháp lý của công ty bị hợp nhất trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng
ký doanh nghiệp khi cấp GCNĐKDN cho công ty hợp nhất. Trường hợp công ty
bị hợp nhất có địa chỉ trụ sở chính ngoài tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
nơi đặt trụ sở chính công ty hợp nhất thì Cơ quan đăng ký kinh doanh nơi công
ty hợp nhất phải thông báo việc đăng ký doanh nghiệp cho Cơ quan đăng ký
kinh doanh nơi đặt trụ sở chính công ty bị hợp nhất để cập nhật tình trạng pháp
lý công ty bị hợp nhất trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp14.
● Thủ tục sáp nhập công ty được quy định như sau:
Thứ nhất, các công ty liên quan chuẩn bị hợp đồng sáp nhập và dự thảo
Điều lệ công ty nhận sáp nhập. Hợp đồng sáp nhập phải có các nội dung chủ yếu
về tên, địa chỉ trụ sở chính của công ty nhận sáp nhập; tên, địa chỉ trụ sở chính
14
Thủ tục chia, tách, hợp nhất, sáp nhập doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp 2014 (2017) truy cập ngày
15/4/2017 tại địa chỉ: />
18
của công ty bị sáp nhập; thủ tục và điều kiện sáp nhập; phương án sử dụng lao
động; cách thức, thủ tục, thời hạn và điều kiện chuyển đổi tài sản, chuyển đổi
phần vốn góp, cổ phần, trái phiếu của công ty bị sáp nhập thành phần vốn góp,
cổ phần, trái phiếu của công ty nhận sáp nhập; thời hạn thực hiện sáp nhập. Các
thành viên, chủ sở hữu công ty hoặc các cổ đông của các công ty liên quan thông
qua hợp đồng sáp nhập, Điều lệ công ty nhận sáp nhập và tiến hành đăng ký
doanh nghiệp công ty nhận sáp nhập theo quy định của Luật này. Hợp đồng sáp
nhập phải được gửi đến tất cả các chủ nợ và thông báo cho người lao động biết
trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày thông qua.
Thứ hai, sau khi đăng ký doanh nghiệp, công ty bị sáp nhập chấm dứt tồn
tại; công ty nhận sáp nhập được hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp, chịu trách
nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao động và nghĩa vụ tài sản
khác của công ty bị sáp nhập.
Thứ ba, trường hợp sáp nhập mà theo đó công ty nhận sáp nhập có thị phần
từ 30% đến 50% trên thị trường liên quan thì đại diện hợp pháp của công ty
thông báo cho cơ quan quản lý cạnh tranh trước khi tiến hành sáp nhập, trừ
trường hợp Luật cạnh tranh có quy định khác. Cấm các trường hợp sáp nhập các
công ty mà theo đó công ty nhận sáp nhập có thị phần trên 50% trên thị trường
có liên quan, trừ trường hợp Luật cạnh tranh có quy định khác.
Thứ tư, hồ sơ, trình tự đăng ký doanh nghiệp công ty nhận sáp nhập thực
hiện theo các quy định của Luật doanh nghiệp và phải kèm theo bản sao các giấy
tờ sau đây: Hợp đồng sáp nhập; Nghị quyết và biên bản họp thông qua hợp đồng
sáp nhập của các công ty nhận sáp nhập; Nghị quyết và biên bản họp thông qua
hợp đồng sáp nhập của các công ty bị sáp nhập, trừ trường hợp công ty nhận sáp
nhập là thành viên, cổ đông sở hữu trên 65% vốn điều lệ hoặc cổ phần có quyền
biểu quyết của công ty bị sáp nhập.
Thứ năm, cơ quan đăng ký kinh doanh tiến hành cập nhật tình trạng pháp lý
của công ty bị sáp nhập trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp và
thực hiện thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp cho công ty nhận sáp nhập.