BAN CHỈ ĐẠO TỔNG ĐIỀU TRA DÂN SỐ VÀ NHÀ Ở TRUNG ƯƠNG
TỔNG ĐIỀU TRA DÂN SỐ VÀ NHÀ Ở 1/4/2009
TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN
NGHIỆP VỤ ĐIỀU TRA
(DÙNG TRONG ĐIỀU TRA THỬ NHỎ LẦN 2)
HÀ NỘI - 10/2007
3
Tổng điều tra dân số và nhà ở 2009
Hướng dẫn nghiệp vụ điều tra
4
Tổng điều tra dân số và nhà ở 2009
Hướng dẫn nghiệp vụ điều tra
5
Tổng điều tra dân số và nhà ở 2009
Hướng dẫn nghiệp vụ điều tra
CHƯƠNG I
VAI TRÒ VÀ NHIỆM VỤ CỦA ĐIỀU TRA VIÊN
1. Trong giai đoạn chuẩn bị
1/ Tham dự tập huấn nghiệp vụ điều tra: tham dự đầy đủ, nghiêm túc các
buổi tập huấn nghiệp vụ điều tra, ghi phiếu. Không bỏ bất cứ một buổi lên lớp
(hướng dẫn nghiệp vụ, thảo luận và làm bài tập) cũng như đi thực tập tại địa bàn.
Chú ý nghe giảng, nghiên cứu kỹ tài liệu, liên hệ với tình hình thực tế của địa
phương để nắm vững phạm vi trách nhiệm của mình, cụ thể hoá các vấn đề
nghiệp vụ và phương pháp điều tra, ghi và bảo quản phiếu;
2/ Nhận đầy đủ các tài liệu, phương tiện điều tra từ tổ trưởng như: phiếu
điều tra; cặp đựng tài liệu điều tra; sơ đồ địa bàn điều tra; bảng kê số nhà, số hộ,
số người; tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ điều tra (sổ tay ĐTV); bút viết;
3/ Nhằm giảm bớt thời gian phải đến hộ nhiều lần, ĐTV cần thăm và hẹn
ngày làm việc cụ thể với từng hộ, nói cách khác là lên lịch điều tra cụ thể cho
ngày điều tra đầu tiên và những ngày tiếp theo. Phát hiện những hộ có thể vắng
mặt tại địa bàn trong suốt thời gian điều tra để có kế hoạch tiến hành điều tra,
đăng ký trước.
2. Trong giai đoạn điều tra
1/ Phải thực hiện đúng phương pháp điều tra là phỏng vấn trực tiếp;
2/ Xác định đầy đủ số hộ thuộc địa bàn mình phụ trách. Việc phỏng vấn,
ghi phiếu phải tuân thủ đúng những quy định về nghiệp vụ và quy trình phỏng
vấn, đảm bảo không điều tra trùng hoặc bỏ sót một đối tượng điều tra (ĐTĐT)
nào, cũng như không ghi thừa hay bỏ sót một mục nào trên phiếu;
3/ Cần điều tra theo đúng tiến độ quy định: ngày đầu điều tra không quá
7-8 hộ/ngày, các ngày sau khoảng 9-11 hộ/ngày. Chống tư tưởng chủ quan, lướt
nhanh, làm ẩu dẫn đến kết quả kém chính xác;
4/ Cuối mỗi ngày điều tra, phải kiểm tra lại các phiếu đã ghi, phát hiện
các sai sót để sửa chữa kịp thời, nếu cần thiết phải quay lại hộ để xác minh và
sửa chữa. Việc sửa chữa những sai sót phải theo đúng quy định. Sắp xếp những
phiếu đã hoàn thành theo số thứ tự hộ từ nhỏ đến lớn. Báo cáo tiến độ và nộp
cho tổ trưởng số phiếu đã hoàn thành trong ngày để tổ trưởng kiểm tra chất
6
Tổng điều tra dân số và nhà ở 2009
Hướng dẫn nghiệp vụ điều tra
lượng ghi phiếu. Xác minh những sai sót ghi trên phiếu mà tổ trưởng yêu cầu.
Ghi chép kết quả điều tra ghi phiếu hàng ngày vào bảng “Theo dõi tiến độ điều
tra” (Phụ lục 1).
5/ Phải có tinh thần hợp tác với các ĐTV khác, phục tùng sự chỉ đạo của
tổ trưởng điều tra.
6/ Phải giữ gìn phiếu và các tài liệu điều tra khác sạch sẽ, an toàn, đồng
thời không được tiết lộ các thông tin ghi trên phiếu cho người khác biết.
3. Khi kết thúc điều tra
1/ Soát xét trên bảng kê xem có còn hộ nào, người nào thuộc ĐTĐT của
địa bàn mà chưa được điều tra ghi phiếu. Nếu có, phải tiến hành điều tra bổ
sung;
2/ Cùng với tổ trưởng sắp xếp các phiếu theo số thứ tự hộ từ nhỏ đến lớn
theo địa bàn mình phụ trách.
- Trong mỗi cặp đựng tài liệu của từng địa bàn điều tra, phiếu điều tra và
các tài liệu có liên quan của địa bàn điều tra được sắp xếp theo thứ tự sau (theo
thứ tự từ trên xuống dưới):
+ Bảng kê số nhà, số hộ, số người;
+ Phiếu điều tra đã hoàn thiện của một địa bàn được sắp xếp theo thứ tự
hộ từ nhỏ đến lớn và cho vào cặp đựng tài liệu.
- Giao nộp phiếu điều tra và các tài liệu khác cho tổ trưởng.
7
Tổng điều tra dân số và nhà ở 2009
Hướng dẫn nghiệp vụ điều tra
CHƯƠNG II
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ NGHIỆP VỤ ĐIỀU TRA
I. THỜI ĐIỂM ĐIỀU TRA
Thời điểm điều tra thí điểm lần 2 là 0 giờ ngày 1 tháng 10 năm 2007.
Trong thời gian điều tra, dù ĐTV đến hộ để phỏng vấn ghi phiếu vào bất
kỳ ngày, giờ nào, thì cũng phải lấy mốc thời điểm là 0 giờ, ngày 1 tháng 10 năm
2007 (hay 12 giờ đêm ngày 30/9/2007) để xác định số nhân khẩu thực tế thường
trú (TTTT) tại hộ và các đặc trưng cá nhân của họ để ghi phiếu. Đối với các câu
hỏi về tình hình di cư và tử vong của dân số, ĐTV phải căn cứ vào khoảng thời
gian thu thập thông tin để xác định đầy đủ các sự kiện.
II. THỜI GIAN ĐIỀU TRA
Thời gian điều tra được tiến hành trong 3 ngày, từ ngày 29 đến 31 tháng
10 năm 2007.
III. PHẠM VI, ĐỐI TƯỢNG ĐIỀU TRA
1. Tất cả những người Việt Nam và người nước ngoài (không kể những
người làm trong các đại sứ quán, các cơ quan ngoại giao đoàn và thân nhân của
họ đi theo) vẫn thường xuyên cư trú tại hộ có đến thời điểm điều tra.
2. Những người Việt Nam được cơ quan có thẩm quyền cho phép xuất
cảnh ra nước ngoài có thời hạn, và tính đến thời điểm điều tra họ vẫn ở nước
ngoài trong thời hạn quy định (thường xuyên cư trú tại hộ trước khi xuất cảnh ra
nước ngoài).
3. Nhà ở của các hộ dân cư thuộc địa bàn điều tra.
IV. ĐƠN VỊ ĐIỀU TRA
Đơn vị điều tra là “hộ” theo khái niệm sau đây:
Khái niệm hộ
Hộ là một đơn vị xã hội bao gồm một người ở riêng hay một nhóm người
(từ hai người trở lên) ở chung trong một đơn vị nhà ở (một nhà/căn hộ/phòng
ở…) và ăn chung với nhau; họ có thể có hoặc không có quỹ thu-chi chung; họ
8
Tổng điều tra dân số và nhà ở 2009
Hướng dẫn nghiệp vụ điều tra
có thể có hoặc không có mối quan hệ hôn nhân, ruột thịt, họ hàng; hoặc kết hợp
cả hai loại quan hệ trên.
Một hộ thường sử dụng toàn bộ, một phần hay trên một ngôi nhà/căn hộ,
nhưng cũng có những hộ sống trong các lều/lán/trại/nhà trọ/khách sạn; hoặc nhà
tập thể, doanh trại, ký túc xá, v.v … , hoặc không có nhà ở.
Trong hầu hết các trường hợp, một hộ chỉ bao gồm những người có quan
hệ họ hàng, như bố mẹ và các con, hoặc các gia đình nhiều thế hệ. Trong một số
trường hợp, thậm chí chỉ những người có quan hệ họ hàng xa cũng là thành viên
của một hộ.
Những người giúp việc gia đình, người ở trọ và những người không có
quan hệ họ hàng cũng được coi là thành viên của hộ nếu họ thường xuyên ngủ
chung và ăn chung trong đơn vị nhà ở của hộ.
Thông thường, một hộ gồm những người ở chung trong một đơn vị nhà ở.
Tuy nhiên, trong một số trường hợp khi có hai nhóm gia đình trở lên hoặc có hai
nhóm người trở lên không có quan hệ họ hàng tuy có ở chung trong một đơn vị
nhà ở nhưng không ăn chung với nhau, mỗi nhóm gia đình như vậy tạo thành
một hộ.
Một người tuy ở chung trong đơn vị nhà ở với một hộ nhưng lại nấu ăn
riêng hoặc ăn ở nơi khác, thì người đó không được coi là thành viên của hộ
chung nhà mà phải tách ra thành một hộ riêng.
Nếu hai nhóm người tuy ăn chung nhưng lại ngủ riêng ở hai đơn vị nhà ở
khác nhau, thì hai nhóm này tạo thành hai hộ khác nhau. Trường hợp đặc biệt
khi các trẻ em còn phụ thuộc kinh tế vào bố mẹ nhưng lại ngủ ở các đơn vị nhà ở
gần đó cho tiện, thì qui ước coi số trẻ em này là thành viên hộ của bố mẹ chúng.
Đối với “nhân khẩu đặc thù”: Được điều tra riêng và ghi vào mẫu phiếu
riêng.
V. THÀNH VIÊN CỦA HỘ (NHÂN KHẨU THỰC TẾ THƯỜNG TRÚ TẠI
HỘ)
1. Nhân khẩu thực tế thường trú tại hộ: là những người thực tế vẫn thường
xuyên ăn, ở tại hộ hoặc mới chuyển đến ở ổn định tại hộ từ 6 tháng trở lên,
không phân biệt họ đã hay chưa được cơ quan công an cho đăng ký hộ khẩu
thường trú.
9
Tổng điều tra dân số và nhà ở 2009
Hướng dẫn nghiệp vụ điều tra
Nhân khẩu TTTT tại hộ bao gồm cả số nhân khẩu tạm vắng, nhưng không
bao gồm số nhân khẩu tạm trú.
Nhân khẩu TTTT tại hộ (thành viên của hộ) bao gồm các loại sau đây:
a. Những người vẫn ở ổn định tại hộ tính đến thời điểm điều tra, bao gồm:
Những người trong 6 tháng qua hoặc lâu hơn vẫn thường xuyên ăn, ở tại
hộ, đến thời điểm điều tra họ còn đang cư trú thường xuyên ở đó, không
phân biệt họ đã hay chưa được đăng ký hộ khẩu thường trú, kể cả những
quân nhân, công an, học sinh, … vẫn thường xuyên cư trú tại hộ (không
kể những nhân khẩu đặc thù sẽ được điều tra riêng – xem Mục VI);;
Trẻ em mới sinh trước thời điểm điều tra;
Những người tuy đã có giấy tờ di chuyển, nhưng đến thời điểm điều tra họ
vẫn chưa rời khỏi hộ để đến nơi ở mới (giấy gọi nhập ngũ, giấy chiêu
sinh, quyết định tuyển dụng, thuyên chuyển công tác, v.v...).
b. Những người mới chuyển đến ở ổn định tại hộ tính đến trước thời điểm
điều tra, bao gồm:
Những người đã rời hẳn nơi ở cũ có giấy chứng nhận di chuyển (không kể
thời gian họ đã chuyển đến hộ được bao lâu) hiện đang ở tại hộ;
Những người đã rời nơi ở cũ, tuy không có giấy tờ chứng nhận sự di
chuyển, nhưng đã xác định rõ họ chuyển đến ở ổn định tại hộ từ 6 tháng
trở lên như: đến xây dựng vùng kinh tế mới, về ở nhà chồng/nhà vợ để
làm dâu/làm rể, đến ở làm con nuôi, cán bộ, công nhân viên chức, quân
nhân, công an nghỉ theo chế độ hưu trí, mất sức đã trở về thường trú ở hộ
(không kể những người do quân đội, công an quản lý đang nghỉ chế độ
chờ quyết định hưu trí, mất sức), v.v…
Những quân nhân, công an đào ngũ, đào nhiệm (đã có giấy báo của đơn vị
hoặc có một căn cứ xác đáng khác) hiện đang cư trú tại hộ.
c. Những người tạm vắng:
Là những người tạm thời vắng mặt tại hộ, gồm những trường hợp sau:
10
Tổng điều tra dân số và nhà ở 2009
Hướng dẫn nghiệp vụ điều tra
Đang đi nghỉ hè, nghỉ lễ, đi công tác, đi du lịch hoặc học tập/đào tạo ngắn
hạn ở trong nước và sẽ/hoặc dự định quay trở về trong vòng 6 tháng kể từ
khi ra đi;
Đang đi nghỉ hè, đi làm việc/công tác, đi du lịch hoặc học tập/đào tạo ở
nước ngoài và dự định sẽ quay trở về trong vòng 1 năm kể từ ngày ra đi;
Đang chữa bệnh nội trú trong các bệnh viện, cơ sở điều dưỡng trong thời
hạn 6 tháng (trừ những bệnh viện, cơ sở điều trị thuộc đối tượng điều tra
riêng);
Đang bị tạm giam giữ trong thời hạn 6 tháng;
Các trường hợp tương tự khác.
Những “nhân khẩu tạm vắng” được gọi là “nhân khẩu tạm trú” tại địa
bàn nơi mà họ có mặt tại thời điểm điều tra. Tất cả các nhân khẩu “tạm vắng”
và “tạm trú” đều phải được điều tra, đăng ký tại nơi TTTT của họ.
d. Những người ở trọ, thuê nhà của hộ hoặc người làm thuê cho hộ mà hàng
ngày họ không trở về gia đình của họ.
e. Những người đang ở tạm thời trong hộ nhưng họ không có một nơi thường
trú bất kỳ nào khác.
Chú ý: Đối với những người không xác định được tính chất di chuyển
(không xác định được họ chuyển đến cư trú ổn định tại hộ hay không), như:
những người ở nông thôn đi ra thành phố làm những công việc không mang tính
chất ổn định, lâu dài ở một nơi nhất định (làm thuê trong các nhà hàng, khách
sạn, giúp việc cho các gia đình, làm các công việc xây dựng, v.v…), những
người đi làm thuê các công việc thuộc ngành nông nghiệp (làm cỏ, cắt lúa, thu
hoạch cà phê, cao su, …), thì quy ước như sau:
- Nếu đi cả hộ, thì điều tra họ tại nơi mà họ hiện đang cư trú;
- Nếu chỉ đi một hoặc một số người trong hộ:
+ Nếu họ đã rời nơi ở cũ chưa được 6 tháng, tính đến thời điểm
điều tra, thì vẫn được tính là nhân khẩu TTTT tại nơi ở cũ trước khi đi;
11
Tổng điều tra dân số và nhà ở 2009
Hướng dẫn nghiệp vụ điều tra
+ Nếu họ đã rời nơi ở cũ từ 6 tháng trở lên, tính đến thời điểm điều
tra, thì không được tính họ là nhân khẩu TTTT tại nơi ở cũ, mà tính họ là
nhân khẩu TTTT tại hộ nơi đang ở. (Thời gian 6 tháng nêu trên không
tính những lần họ về thăm nhà);
2. Không được tính là thành viên hộ (nhân khẩu TTTT tại hộ) những người
sau đây:
- Trẻ em mới sinh sau thời điểm điều tra và những người chết trước thời
điểm điều tra;
- Những người đã chuyển đi khỏi hộ trước thời điểm điều tra, những
người mới chuyển đến sau thời điểm điều tra;
- Những người đến tạm trú tại hộ dưới 6 tháng (trừ trường hợp không có
nơi thường trú khác);
- Những người đã cư trú ổn định ở nước ngoài (có hoặc không có giấy
xuất cảnh), kể cả những người đã ở nước ngoài quá thời hạn quy định;
- Việt kiều về thăm gia đình;
- Người nước ngoài chưa nhập quốc tịch Việt Nam (hay những người
mang quốc tịch nước ngoài), là thường dân cư trú tại hộ (nếu có).
- Người Việt Nam đang làm trong các đại sứ quán, cơ quan ngoại giao
đoàn ở nước ngoài (kể cả thân nhân của họ đi theo);
3. Một số điểm cần chú ý khi xác định thành viên hộ (nhân khẩu TTTT tại
hộ):
a. Đối với những người có hai hoặc nhiều nơi ở: những người này được xác
định là nhân khẩu TTTT tại nơi mà họ có thời gian ở nhiều hơn (nơi ở chính):
- Nếu các nơi ở của hộ cùng nằm trên phạm vi lãnh thổ của một địa bàn:
ĐTV sẽ điều tra đăng ký họ vào một nơi mà hộ được xác định là nơi ở chính.
- Nếu các nơi ở của hộ thuộc phạm vi lãnh thổ của nhiều địa bàn khác
nhau trong cùng một xã/phường hoặc khác xã/phường: Đến thời điểm điều tra,
ai được xác định là nhân khẩu thực tế thường trú ở địa bàn nào sẽ do ĐTV phụ
trách địa bàn đó điều tra đăng ký.
12
Tổng điều tra dân số và nhà ở 2009
Hướng dẫn nghiệp vụ điều tra
b. Đối với những người ăn một nơi, ngủ một nơi: những người này được xác
định là nhân khẩu TTTT tại nơi mà họ ngủ.
c. Đối với những phụ nữ mới chuyển đến đã được xác định là nhân khẩu TTTT
tại hộ, sau đó sinh con, rồi người mẹ đó bị chết trong khoảng thời gian thu thập
thông tin: Ghi nhân khẩu TTTT cho con vào Phần 1 (Thông tin về dân số), và
ghi thông tin chết của người phụ nữ vào Phần 2 (Thông tin về người chết). Nếu
đứa con cũng bị chết thì ghi tương tự như ghi cho người mẹ.
VI. NHỮNG THÀNH VIÊN HỘ (NHÂN KHẨU TTTT TẠI HỘ) ĐÃ CHẾT
TRONG KHOẢNG THỜI GIAN TỪ THÁNG 01 NĂM 2006 ĐẾN HẾT
THÁNG 9 NĂM 2007.
Những người đã từng là nhân khẩu TTTT tại hộ nhưng đã chết trong
khoảng thời gian từ ngày mùng 1 Tết Bính Tuất năm 2006 (29/01/2006 theo
dương lịch) đến hết ngày 30/9/2007, bao gồm:
- Những người lâu nay vẫn ở ổn định tại hộ nhưng đã chết trong khoảng
thời gian nói trên;
- Trẻ em mới sinh nhưng đã chết trong khoảng thời gian nói trên;
- Những người mới chuyển đến ở ổn định tại hộ nhưng đã chết trong
khoảng thời gian nói trên.
VII. NHÂN KHẨU ĐẶC THÙ (SẼ ĐƯỢC ĐIỀU TRA THEO KẾ HOẠCH
RIÊNG)
Đối với “nhân khẩu đặc thù”: Được điều tra riêng và ghi vào mẫu phiếu
riêng. Nhân khẩu đặc thù bao gồm các loại sau:
1. Quân đội và công an trong doanh trại (lực lượng thường trực), bao gồm:
Những người là quân nhân tại ngũ, công nhân viên quốc phòng, công an, kể
cả những người mới được tạm tuyển hoặc làm hợp đồng ngắn hạn và dài hạn
(trừ những người đang làm công nhật hoặc thời vụ) đang sống trong các khu
vực do quân đội và công an quản lý;
2. Phạm nhân trong các trại giam, trại cải tạo, bao gồm: Những người đang học
tập/cải tạo/cải huấn trong các trường/trại cải tạo, cải huấn (do ngành quân đội
hoặc công an quản lý), kể cả những người bị tạm giam (đã được Viện Kiểm
sát phê chuẩn lệnh bắt giam);
13
Tổng điều tra dân số và nhà ở 2009
Hướng dẫn nghiệp vụ điều tra
3. Thường trú trong khách sạn từ 6 tháng trở lên tính đến thời điểm tổng điều
tra (chỉ tính những người không có nơi ở nào khác);
4. Bệnh nhân (không nơi nương tựa) đã nằm tại bệnh viện ít nhất 6 tháng.
5. Trẻ em trong các trại trẻ mồ côi, những người sống trong các nhà dưỡng lão,
trại phong/hủi, trung tâm/trường/trại cai nghiện, phục hồi nhân phẩm và các
trung tâm/trường/trại/cơ sở cải tạo tệ nạn xã hội khác đóng trên phạm vi ranh
giới của xã/phường/thị trấn có địa bàn điều tra;
6. Trường thanh thiếu niên, trường dân tộc nội trú, trường câm/điếc, các nữ tu
sỹ trong các nữ tu viện, các nhà sư và tu sỹ, nhà chung, nhà chùa;
7. Những người lang thang cơ nhỡ, không có nhà ở và những người sống bằng
nghề trên mặt nước.
(i). Những người không có nơi ở ổn định, sống nay đây mai đó.
ii). Những hộ sống bằng nghề trên mặt nước.
- Nếu họ có nhà ở trên bờ: nhà ở của họ thuộc địa bàn nào sẽ do ĐTV phụ
trách địa bàn đó điều tra đăng ký.
- Nếu họ không có nhà ở trên bờ nhưng có đăng ký tại bến gốc: bến gốc của
họ thuộc địa bàn nào sẽ do ĐTV phụ trách địa bàn đó điều tra đăng ký.
VIII. PHÂN CÔNG TRÁCH NHIỆM ĐIỀU TRA
1. Đối tượng điều tra cụ thể thuộc phạm vi 1 địa bàn điều tra.
- Những người là nhân khẩu TTTT tại các hộ thuộc phạm vi ranh giới của địa
bàn điều tra (không kể những người thuộc lực lượng quân đội, công an và người
nước ngoài không thuộc “những người mới chuyển đến cư trú ổn định tại
ĐBĐT”, hiện đang trú tại địa bàn.
+ Riêng những người đang làm công nhật hoặc thời vụ (không kể làm hợp đồng
và tạm tuyển) cho quân đội, công an thì phải được tính là nhân khẩu TTTT tại
hộ.
- Những người được phép xuất cảnh ra nước ngoài (công tác, học tập, tham
quan, du lịch, thăm người thân, chữa bệnh, vv…) có thời hạn và tính đến thời
điểm điều tra họ vẫn còn ở nước ngoài trong thời hạn cho phép (không kể những
14
Tổng điều tra dân số và nhà ở 2009
Hướng dẫn nghiệp vụ điều tra
người do lực lượng quân đội, công an quản lý, những người làm trong các đại sứ
quán, các cơ quan ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài và thân nhân của họ đi
theo);
- Những quân nhân, công an đào ngũ, đào nhiệm (đã có giấy báo của đơn vị
hoặc có một căn cứ xác đáng khác) hiện đang cư trú tại hộ;
- Những người sống trong các nhà dưỡng lão, trại trẻ mồ côi, trại phong/hủi, và
các trung tâm/trường/trại/cơ sở khác thuộc ngành Lao động – Thương binh – Xã
hội quản lý đóng trên phạm vi ranh giới của địa bàn điều tra;
- Những người gốc nước ngoài đã nhập quốc tịch Việt Nam
- Những người đang bị quản thúc, án treo hoặc tạm giữ (chưa được Viện Kiểm
sát phê chuẩn lệnh bắt giam) và thực tế thường trú tại địa bàn. Trường hợp chủ
hộ không xác định được “tạm giam” hay “tạm giữ”, thì quy ước: nếu đã bị tạm
giam/giữ dưới 24 giờ là trường hợp “tạm giữ”,nếu đã bị tạm giam/giữ trên 24
giờ là “tạm giam”
2. Phân công trách nhiệm điều tra.
- Vụ lãnh sự ( Bộ Ngoại giao) điều tra đăng kí các vị đại sứ quốc tịch Việt Nam
và thân nhân của họ hiện đang sống và làm việc ở nước ngoài. Những người
đang công tác, học tập và lao động,…có thời hạn ở nước ngoài sẽ được điều tra
đăng ký theo hộ ở Việt Nam.
- Học sinh phổ thông thì được điều tra đăng ký theo gia đình của họ (trừ số học
sinh các trường học dân tộc nội trú, vừa học vừa làm ở tập trung,…)
- Học sinh các trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học, và các trường
nội trú hiện thường trú trong ký túc xá sẽ được điều tra riêng.
- Bệnh nhân đã nằm tại bệnh viện ít nhất 6 tháng: (i). Không nơi nương tựa thì
được điều tra tại bệnh viện; (ii). Có gia đình thì được điều tra theo hộ mà người
đó đang sống.
- Đối với những người thuộc lực lượng quân đội, công an nhưng không phải
quân thường trực (công nhân quốc phòng, quân nhân, công an sống cùng gia
đình,vv…) sẽ được điều tra đăng ký theo hộ mà họ đang ở.
15
Tổng điều tra dân số và nhà ở 2009
Hướng dẫn nghiệp vụ điều tra
CHƯƠNG III
MỘT SỐ NGUYÊN TẮC VÀ QUY ĐỊNH CHUNG
VỀ PHỎNG VẤN VÀ GHI PHIẾU
Phỏng vấn là một nghệ thuật và không được coi đó là một việc làm máy
móc. Mỗi cuộc phỏng vấn cho ta một nguồn thông tin mới, vì thế nó tạo nên sự
hưng phấn cho điều tra viên (ĐTV). Nghệ thuật phỏng vấn phát triển qua thực tế,
nhưng ĐTV cần tuân theo một số nguyên tắc nhất định. Trong phần này, bạn sẽ
được hướng dẫn cách tiếp cận với đối tượng điều tra để thực hiện thành công một
cuộc phỏng vấn.
ĐTV phải đến từng hộ để hỏi chủ hộ về từng nhân khẩu thực tế thường trú
của hộ để ghi vào phiếu điều tra. Chủ hộ hoặc một thành viên là người lớn bất kỳ
của hộ có khả năng trả lời các câu hỏi trong phiếu có thể được chọn làm người trả
lời thích hợp để phỏng vấn hộ. Nếu người trả lời không biết một thông tin nào đó
khi phỏng vấn hộ thì ĐTV có thể hỏi các thành viên khác của hộ để thu thập
thông tin. Nếu người đại diện của hộ không nhớ chính xác về mục nào đó của một
thành viên trong hộ, thì ĐTV hỏi trực tiếp thành viên đó. Trường hợp người đó đi
vắng thì ĐTV hẹn (ngày, giờ) trở lại hộ để hỏi trực tiếp người đó. Chỉ trong
trường hợp hộ không có một thành viên là người lớn nào thì bạn hẹn quay lại hộ
vào thời gian khác. Đối với những câu hỏi về “ lực lượng lao động trong 7 ngày
qua ” và về “ lịch sử sinh đẻ ” thì ĐTV phải gặp và phỏng vấn trực tiếp các đối
tượng thích hợp, không được phỏng vấn gián tiếp qua bất kỳ một người nào
khác.
ĐTV phải xác định được tổng số người TTTT của hộ trước khi hỏi và ghi
các thông tin cho từng người vào phiếu điều tra. Việc phỏng vấn phải được tiến
hành cho từng người một, đầu tiên là chủ hộ; tiếp đến là chồng/vợ, con đẻ, con
riêng của vợ (hoặc chồng) chủ hộ, con dâu/rể/nuôi, cha/mẹ của chủ hộ, cuối
cùng là những người có quan hệ gia đình khác và những người không có quan hệ
gia đình với chủ hộ.
Khi hỏi cần nói chậm và rõ, đặt câu hỏi như đã in trên phiếu, phải hỏi
đúng theo “Quy trình phỏng vấn ”. Không giải thích dài dòng hoặc gợi ý câu trả
lời. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, vì hầu hết ĐTV là người địa phương, nên cần tránh
máy móc khi đặt câu hỏi. Ví dụ, khi ĐTV đã biết chắc chắn giới tính của ĐTĐT,
thì không cần nhắc lại câu hỏi “[TÊN] là nam hay nữ ?” Trong một số trường
16
Tổng điều tra Dân số và Nhà ở 2009
Hướng dẫn nghiệp vụ điều tra
hợp, có thể đưa ra những câu hỏi phụ để nhận được câu trả lời chính xác, nhưng
phải đảm bảo không làm sai lạc ý của câu hỏi gốc.
I. XÂY DỰNG MỐI QUAN HỆ TỐT VỚI NGƯỜI TRẢ LỜI
Là một ĐTV, công việc đầu tiên của bạn là xây dựng mối quan hệ tốt với
người trả lời. Khi bắt đầu cuộc phỏng vấn, bạn và người trả lời là những người xa
lạ với nhau. Ấn tượng đầu tiên của người trả lời đối với bạn sẽ ảnh hưởng đến
thiện chí hợp tác của họ. Cần lưu ý thể hiện cử chỉ thân thiện ngay từ đầu bằng lời
tự giới thiệu về bản thân.
1. Gây ấn tượng tốt ban đầu
Khi bắt đầu tiếp cận với người trả lời, hãy cố gắng làm cho họ cảm thấy dễ
chịu. Với những từ ngữ được chọn một cách cẩn thận, bạn sẽ đưa người trả lời
vào trạng thái tâm lý thoải mái cho cuộc phỏng vấn. Hãy mở đầu phỏng vấn bằng
một nụ cười và lời chào như "Chào anh/chị" rồi tự giới thiệu.
Một lời giới thiệu tốt có thể là: "Tên tôi là..., tôi là đại diện của Ban Chỉ
đạo Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Trung ương. Chúng tôi đang tiến hành một
cuộc Tổng điều tra Dân số và Nhà ở trên phạm vi toàn quốc. Tôi muốn hỏi
anh/chị một vài câu hỏi".
2. Hãy tế nhị khi tiếp xúc với ĐTĐT
Không nên tỏ thái độ rụt rè và không nên sử dụng những câu như "Anh/chị
có bận lắm không?", "Anh/chị có dành được vài phút không?" hoặc "Anh/chị có
thể trả lời một vài câu hỏi không?". Những câu hỏi như vậy sẽ gây ra sự từ chối
trước khi bạn mở đầu. Tốt hơn là nói với người trả lời: "Tôi muốn hỏi anh/chị một
vài câu hỏi về dân số" hoặc "Tôi muốn được nói chuyện với anh/chị một lát".
3. Nhấn mạnh sự giữ gìn bí mật các câu trả lời khi cần thiết
Nếu người trả lời lưỡng lự trả lời các câu hỏi hoặc hỏi các thông tin sẽ được
sử dụng làm gì, hãy giải thích rằng thông tin thu thập sẽ được giữ kín và tất cả
những thông tin này sẽ được tổng hợp lại để viết một báo cáo chung cho cả nước.
Đừng bao giờ kể lại các cuộc phỏng vấn khác hoặc đưa các phiếu điều tra đã ghi
cho ĐTV khác hoặc tổ trưởng xem trước mặt người trả lời hay bất kỳ người nào
không có trách nhiệm.
17
Tổng điều tra dân số và nhà ở 2009
Hướng dẫn nghiệp vụ điều tra
4. Trả lời thẳng thắn bất kỳ câu hỏi nào của người trả lời
Trước khi đồng ý được phỏng vấn, người trả lời có thể hỏi bạn một số câu
hỏi về cuộc điều tra hoặc tại sao họ lại được chọn phỏng vấn.
Người trả lời cũng có thể quan tâm về độ dài thời gian phỏng vấn. Trong
trường hợp này hãy nói rằng cuộc phỏng vấn cho cả hộ thường kéo dài 30 phút.
Hãy nói rõ là bạn vui lòng trở lại vào dịp khác nếu lúc đó ĐTĐT không tiện trả lời
câu hỏi.
5. Chỉ nên phỏng vấn một mình đối tượng điều tra cá nhân
Sự có mặt của người thứ 3 trong lúc phỏng vấn cá nhân có thể làm cho ta
không nhận được các câu trả lời chân thật. Do đó, điều quan trọng là phỏng vấn cá
nhân nên tiến hành riêng và tất cả các câu hỏi đều do chính đương sự trả lời.
II. NHỮNG LỜI KHUYÊN KHI TIẾN HÀNH PHỎNG VẤN
1. Đảm bảo tính khách quan trong quá trình phỏng vấn
Hầu hết nhân dân thường lịch sự và muốn đưa ra những câu trả lời mà bạn
thích nghe. Vì vậy điều quan trọng là bạn nên giữ được tính khách quan khi đặt
câu hỏi. Đừng bao giờ thể hiện qua nét mặt hoặc giọng nói để cho người trả lời
nghĩ rằng họ đã trả lời “Đúng” hoặc “Sai” đối với mỗi câu hỏi của bạn. Đừng bao
giờ công nhận hoặc phủ nhận bất kỳ câu trả lời nào của ĐTĐT.
Nếu câu trả lời chưa rõ ràng, hãy cố gắng thăm dò một cách tế nhị bằng
cách đặt câu hỏi như: "Anh/chị có thể giải thích thêm chút nữa không?" hoặc "Tôi
nghe chưa rõ, anh/chị làm ơn nói lại cho tôi một lần nữa".
2. Đừng bao giờ gợi ý câu trả lời
Nếu câu trả lời của đương sự không phù hợp với câu hỏi, đừng gợi ý như:
"Tôi nghĩ anh/chị có ý nói rằng.... có phải không?". Trong nhiều trường hợp, họ
sẽ đồng ý ngay với lời giải thích của bạn, mặc dù thực chất họ không nghĩ như
vậy. Tốt nhất là bạn nên đặt câu hỏi thăm dò sao cho chính ĐTĐT đưa ra câu trả
lời thích hợp. Đừng bao giờ đọc các phương án trả lời in sẵn bằng chữ in hoa ở
phần ghi câu trả lời cho ĐTĐT nghe, ngay cả khi họ còn lúng túng chưa trả lời.
18
Tổng điều tra Dân số và Nhà ở 2009
Hướng dẫn nghiệp vụ điều tra
3. Đừng thay đổi từ ngữ hoặc trình tự các câu hỏi
Cần dùng đúng từ ngữ và trình tự của các câu hỏi trong phiếu điều tra. Nếu
người trả lời hiểu lầm câu hỏi, bạn nên nhắc lại câu hỏi chậm và rõ. Nếu người trả
lời vẫn không hiểu, bạn nên diễn tả lại câu hỏi, nhưng thận trọng đừng làm thay
đổi ý của câu hỏi gốc.
4. Xử lý khéo với những người trả lời lưỡng lự
Sẽ có những trường hợp người trả lời nói đơn giản là "Tôi không biết" hoặc
đưa ra một câu trả lời không phù hợp, hoặc từ chối trả lời. Trong những trường
hợp đó, bạn nên cố gắng khôi phục lại sự hứng thú của ĐTĐT trong cuộc đối
thoại. Ví dụ, nếu bạn nhận thấy ĐTĐT xấu hổ hoặc bối rối, cố gắng làm cho
ĐTĐT hết xấu hổ hoặc bối rối trước khi hỏi câu sau. Hãy dành một lát nói chuyện
về những điều không liên quan đến cuộc phỏng vấn (Ví dụ: hỏi về thành phố hoặc
xóm làng nơi ĐTĐT đang ở, tình hình thời tiết, các công việc hàng ngày của
ĐTĐT, v.v...).
Nếu ĐTĐT trả lời các câu hỏi không phù hợp hoặc quá dài, đừng ngắt lời
họ đột ngột hoặc thô bạo, mà hãy lắng nghe điều họ nói, rồi khéo léo hướng họ về
câu hỏi gốc. Nên giữ được bầu không khí tốt trong suốt cuộc phỏng vấn, trong đó
người trả lời coi ĐTV như một người bạn chân thành và ĐTĐT có thể nói hết mọi
điều mà không thấy xấu hổ hoặc bối rối.
5. Đừng tạo ra sự mặc cảm
Không được tạo ra những mặc cảm về mặt năng lực và sự hiểu biết của
người trả lời. Đừng cho rằng những phụ nữ ở nông thôn hoặc những người học
vấn thấp thì kém hiểu biết.
Mặt khác, nên nhớ rằng sự cách biệt giữa ĐTV và người trả lời có thể ảnh
hưởng đến cuộc phỏng vấn. Bạn nên tỏ thái độ và lời nói sao cho ĐTĐT cảm thấy
dễ chịu và thoải mái khi nói chuyện với bạn.
6. Không phỏng vấn vội vàng
Hãy đọc các câu hỏi một cách thong thả để đảm bảo người trả lời hiểu được
họ đang được hỏi về vấn đề gì. Sau khi đặt ra câu hỏi nên dừng lại và dành thời
gian cho người trả lời suy nghĩ. Nếu người trả lời cảm thấy bị hối thúc hoặc
không để cho họ được bày tỏ quan điểm riêng của mình, thì ĐTĐT có thể trả lời
19
Tổng điều tra dân số và nhà ở 2009
Hướng dẫn nghiệp vụ điều tra
"Tôi không biết" hoặc đưa ra một câu trả lời không chính xác. Nếu bạn cảm thấy
ĐTĐT trả lời thiếu suy nghĩ, chỉ muốn cho xong cuộc phỏng vấn, hãy nói với
ĐTĐT rằng: "Không có gì phải vội, ý kiến của anh/chị rất quan trọng, xin anh/chị
xem xét câu trả lời thật cẩn thận".
III. CÁC QUY ĐỊNH CHUNG ĐỂ HOÀN THÀNH PHIẾU ĐIỀU TRA
Để thu được những thông tin cần thiết, bạn cần biết cách hỏi của từng câu
hỏi như thế nào, thông tin gì mà câu hỏi muốn thu thập và làm thế nào để vượt
qua những khó khăn nảy sinh trong quá trình phỏng vấn. Bạn cũng cần phải hiểu
làm thế nào để ghi đúng các câu trả lời của đối tượng điều tra và làm thế nào để
tuân thủ các cấu trúc đặc biệt của câu hỏi. Phần này của sổ tay được thiết kế để
các bạn làm quen với phiếu điều tra.
1. Nêu các câu hỏi
Điều quan trọng là bạn nên đặt câu hỏi đúng như đã được in trong phiếu.
Khi hỏi, cần nói chậm rãi và rõ ràng sao cho đối tượng điều tra không gặp khó
khăn trong việc nghe và hiểu câu hỏi. Có lúc, bạn cần đọc lại câu hỏi để đối tượng
điều tra hiểu rõ. Trong trường hợp như vậy, không được thay đổi từ của câu hỏi,
mà đọc đúng như chúng đã được viết.
Cần chú ý rằng, tất cả các hướng dẫn cho điều tra viên được in bằng
“CHỮ IN HOA”, trong khi các câu để hỏi được in bằng “ CHỮ IN THƯỜNG ”.
Nếu sau khi bạn đọc lại câu hỏi, đối tượng điều tra vẫn không hiểu, bạn có
thể sửa lại câu hỏi. Tuy nhiên, bạn cần hết sức thận trọng khi sửa lại từ, sao cho
không thay đổi nghĩa gốc của câu hỏi.
Trong một số trường hợp, bạn cần đặt thêm câu hỏi phụ để có thể thu được
câu trả lời chính xác của đối tượng điều tra (chúng tôi gọi đó là câu thăm dò). Nếu
bạn thực hiện điều này, bạn cần cẩn thận để sự thăm dò của bạn mang tính “khách
quan” và không gợi ý câu trả lời cho đối tượng điều tra. Việc thăm dò nên vừa tế
nhị vừa khéo léo, và nó sẽ là một thách thức quan trọng nhất đối với bạn với tư
cách là điều tra viên.
Phiếu được thiết kế dùng chung cho cả đối tượng điều tra là nam cũng như
nữ, già cũng như trẻ. Do đó cần sử dụng đại từ nhân xưng sao cho phù hợp với
hoàn cảnh thực tế.
20
Tổng điều tra Dân số và Nhà ở 2009
Hướng dẫn nghiệp vụ điều tra
2. Ghi câu trả lời
Phiếu được thiết kế để áp dụng công nghệ quét. ĐTV và tổ trưởng sẽ sử
dụng bút chì và tẩy để ghi thông tin vào phiếu. Cần viết sao cho nét chữ đều và rõ,
tránh làm gẫy ruột chì, ghi các chữ số đúng như mẫu trên trang bìa.
Trong phiếu điều tra có các ký hiệu đặc biệt sau:
a). Ô vuông nhỏ: chỉ được gạch chéo ‘x’ trong phạm vi của ô đó.
Ví dụ:
b). Ô to: ghi 1 chữ số vào trong mỗi ô, chú ý ghi một cách rõ ràng, chân
phương, đúng với mẫu.
Ví dụ:
4. [TÊN] sinh vào tháng, năm dương lich nào?
THÁNG..................................
NĂM........................
0 I
2 0 0 5
c). Các dòng kẻ liền nét được sử dụng để ghi thông tin vào đó.
Ví dụ: TỈNH/THÀNH PHỐ:
Hải Dương
HUYỆN/QUẬN/THỊ XÃ/THÀNH PHỐ THUỘC TỈNH:
Gia Lộc
d) Các mũi tên chuyển, biểu thị câu hỏi tiếp theo cần chuyển đến
tương ứng. Ví dụ:
I7. Hiện nay [TÊN] đang đi học, đã thôi học hay
chưa bao giờ đi học phổ thông?
ĐANG HỌC PHỔ THÔNG.................I
ĐÃ THÔI HỌC PHỔ THÔNG............2
CHƯA ĐI HỌC PHỔ THÔNG…....... .3
C20
Có bốn loại câu hỏi được sử dụng trong phiếu điều tra: 1) Câu hỏi với câu
trả lời đã mã hoá trước, còn gọi là câu hỏi đóng; 2) Câu hỏi với câu trả lời không
được mã hoá, còn họi là câu hỏi mở; 3). Câu hỏi vừa đóng vừa mở; 4) Câu hướng
dẫn chuyển.
21
Tổng điều tra dân số và nhà ở 2009
Hướng dẫn nghiệp vụ điều tra
Sau đây trình bày chi tiết từng loại câu hỏi:
2.1 Câu hỏi với câu trả lời đã mã hoá trước
Đối với một số câu hỏi, chúng ta có thể dự đoán trước các câu trả lời. Các
câu trả lời cho loại câu hỏi này được liệt kê trong phiếu. Để ghi câu trả lời của đối
tượng, bạn chỉ cần gạch chéo ‘x’ vào các ô vuông nhỏ in sẵn kèm sau mã số.
Dấu hiệu để nhận biết các câu hỏi đóng là câu mà trong phần trả lời có một
danh sách lựa chọn tương ứng với các số và một ô vuông nhỏ bên cạnh, có hoặc
không có dòng kẻ liền (để ghi câu trả lời “ KHÁC ”).
Ví dụ:
a) Câu hỏi đóng chỉ có số và các ô vuông nhỏ:
I0. Cách đây I năm, nơi thường trú nói trên là xã
hay phường, thị trấn?
PHƯỜNG/THỊ TRẤN ....................I
XÃ.....................................................2
b) Câu hỏi đóng có số, ô vuông nhỏ và phần để ghi trường hợp “ KHÁC ”
ở dòng kẻ liền dành sẵn (gọi là mã ‘KHÁC’)
Trong một số trường hợp, câu hỏi đóng có mã “KHÁC”. Mã “KHÁC” sẽ
được chọn khi câu trả lời của đối tượng khác với tất cả các câu trả lời đã được liệt
kê cho câu hỏi này. Trước khi sử dụng mã “KHÁC”, bạn cần đảm bảo rằng, câu
trả lời không thể đưa vào bất kỳ loại nào đã liệt kê. Khi bạn chọn mã “KHÁC”
cho một câu hỏi cụ thể, bạn đồng thời phải viết câu trả lời của đối tượng vào dòng
kẻ liền dành sẵn. Nếu cần chỗ nhiều hơn, bạn có thể viết vào lề phiếu.
I4. Tiếng nói thường dùng hàng ngày trong gia
đình của [TÊN] là gì?
TIẾNG VIỆT (KINH).................I
CI7
KHÁC........................................2
_____________________
(GHI CỤ THỂ)
c) Câu hỏi đóng có số, ô vuông nhỏ và hướng dẫn chuyển
I7. Hiện nay [TÊN] đang đi học, đã thôi học hay
chưa bao giờ đi học phổ thông?
ĐANG HỌC PHỔ THÔNG.................I
ĐÃ THÔI HỌC PHỔ THÔNG............2
CHƯA ĐI HỌC PHỔ THÔNG…........ 3
C20
22
Tổng điều tra Dân số và Nhà ở 2009
Hướng dẫn nghiệp vụ điều tra
2.2 Câu hỏi với câu trả lời không mã hoá trước (Câu hỏi mở)
Có những câu hỏi không thể mã hoá trước. Khi ghi câu trả lời cho những
câu hỏi này, bạn phải viết câu trả lời của ĐTĐT vào phần đã được dành sẵn.
Thông thường, bạn phải điền số, ngày tháng vào các ô đã cho, hoặc viết chữ vào
dòng kẻ liền.
Dấu hiệu để nhận biết loại câu hỏi này là trong phần trả lời của các câu hỏi
đó có các ô to và dòng kẻ liền.
Cần chú ý rằng, nếu câu trả lời có số chữ số ít hơn so với số ô mã đã có thì
bạn phải viết thêm các số ‘0’ ở phía trước. Ví dụ, nếu câu trả lời là ‘8’ thì ghi ‘0’
và ‘8’ vào nơi có 2 ô mã.
Ví dụ:
a) Câu hỏi mở chỉ có ô to
4. [TÊN] sinh vào tháng, năm dương lịch nào?
THÁNG...........
NĂM....
I
0 8
9 7 9
b) Câu hỏi mở có ô to và dòng kẻ liền
6. [TÊN] thuộc dân tộc nào?
Kinh
0 I
(TÊN DÂN TỘC)
Chú ý: Câu hỏi mở số 6 có cả dòng kẻ liền và ô to, ĐTV chỉ được ghi vào
dòng kẻ liền, còn các ô mã để ghi mã sau (do cấp tỉnh, thành phố thực hiện).
2.3 Câu hỏi vừa đóng vừa mở
Đây là câu hỏi kết hợp cả 2 loại câu hỏi nói trên. Khi ghi câu trả lời cho
những câu hỏi này, bạn phải gạch chéo ‘x’ vào các ô vuông nhỏ và ghi câu trả lời
vào các ô to.
Dấu hiệu để nhận biết loại câu hỏi này là trong phần trả lời của các câu hỏi
đó có cả các ô vuông nhỏ và các ô to.
Ví dụ:
64. Ngôi nhà được đưa
TRƯỚC NĂM I975.........................I
vào sử dụng vào năm
nào?
TỪ NĂM I975 ĐẾN NĂM I999.......2
TỪ NĂM 2000 ĐẾN NAY...............3
23
Tổng điều tra dân số và nhà ở 2009
Hướng dẫn nghiệp vụ điều tra
2.4 Hướng dẫn chuyển
Có hai loại hướng dẫn chuyển, một là các mũi tên hướng dẫn chuyển trong
phần trả lời của các câu hỏi đóng và, hai là câu kiểm tra có hướng dẫn chuyển.
Dấu hiệu để nhận biết hướng dẫn chuyển đối với câu hỏi đóng là các mũi
tên trong phần trả lời của các câu hỏi đóng.
Ví dụ:
I7. Hiện nay [TÊN] đang đi học, đã thôi học hay
chưa bao giờ đi học phổ thông?
ĐANG HỌC PHỔ THÔNG................I
ĐÃ THÔI HỌC PHỔ THÔNG............2
CHƯA ĐI HỌC PHỔ THÔNG…....... .3
C20
Đối với câu kiểm tra, ĐTV phải kiểm tra một điều kiện cụ thể, nếu điều
kiện được đáp ứng thì chuyển đến câu chỉ định, ngược lại sẽ chuyển đến một câu
khác. Lý do phải có các hướng dẫn chuyển là để không phải hỏi những câu không
thích hợp. Dấu hiệu để nhận biết loại hướng dẫn chuyển này là những câu được
bôi nền màu xám và có chữ in hoa.
Ví dụ:
I9. KIỂM TRA CÂU I8: NẾU LỚP <= 5
CÂU 20, CÒN LẠI
GẠCH CHÉO MÃ ‘I’ CỦA CÂU 20
Chú ý: Khi kiểm tra một điều kiện nào đó, ĐTV phải quay đến câu có ghi
thông tin cần kiểm tra để xem xét (ở ví dụ trên là phải quay lại Câu 18). Không
được dựa vào trí nhớ, hoặc phán đoán, vì điều đó có thể gây nhầm lẫn.
IV. SỬA LỖI
Công nghệ quét là nhận dạng ký tự bằng quang học theo tọa độ xác định
trước. Tức là máy tính đã ghi nhớ những tọa độ mà ở đó có thể có thông tin (trong
trường hợp của chúng ta, đó là vị trí của các ô vuông nhỏ và các ô to). Khi quét
phiếu điều tra, máy quét nhận dạng ký tự ghi ở những vị trí đó và biến thành
thông tin theo quy định rồi ghi vào bộ nhớ. Vì vậy, thông tin thu thập được phải
ghi đúng vào các vị trí đã quy định trước.
Điều quan trọng là bạn phải điền câu trả lời rõ ràng và đúng. Đối với những
câu hỏi đã được mã hoá, bạn phải đảm bảo rằng mình đã cẩn thận đánh dấu ‘x’ ở
vị trí đúng mã trả lời. Đối với câu trả lời mở, việc ghi câu trả lời phải rõ ràng, dễ
đọc, số ghi trong ô mã phải đúng mẫu. Nếu bạn mắc lỗi khi điền vào ô vuông nhỏ
24
Tổng điều tra Dân số và Nhà ở 2009
Hướng dẫn nghiệp vụ điều tra
hoặc ô to, thì bạn tẩy sạch các thông tin ghi sai và dùng bút chì kim viết lại
thông tin đúng theo quy định.
V. KIỂM TRA CÁC PHIẾU ĐIỀU TRA ĐÃ HOÀN THÀNH
Sau khi kết thúc phỏng vấn, bạn phải kiểm tra lại phiếu điều tra đối với
từng người trong hộ để đảm bảo mọi câu hỏi thích hợp đều đã được hỏi, và các
câu trả lời đã được ghi một cách chính xác, hợp lý (bao gồm các thông tin chung
cho cả hộ). Bạn phải kiểm tra cẩn thận câu trả lời của từng câu hỏi. Kiểm tra xem
bạn đã tuân thủ đúng bước chuyển không và bạn có bỏ quên đoạn nào không. Nếu
cần thiết, bạn cần kiểm tra câu bạn đã viết và phân loại câu trả lời. Bạn phải kiểm
tra lại phiếu TRƯỚC KHI BẠN RỜI KHỎI HỘ, để nếu bạn cần hỏi lại đối tượng
một câu hỏi nào đó, bạn vẫn có thể thực hiện được.
Bạn cần kiểm tra tính logic của các thông tin trả lời của từng nhân khẩu và
giữa các nhân khẩu thực tế thường trú trong hộ về những chỉ tiêu có liên quan.
Trên thực địa, nếu phát hiện những trường hợp đã nêu dưới đây thì phải đi kiểm
tra thực tế để xác minh và sửa lại ngay :
1. Kiểm tra tính logic về tuổi giữa các thành viên trong hộ
- Mẹ đẻ phải hơn người con đầu ít nhất 13 tuổi. Vì ở Việt Nam, người phụ
nữ hầu như không có khả năng sinh con trước độ tuổi 13.
- Hai người con sinh liền kề nhau phải cách nhau ít nhất 8 tháng (trừ
trường hợp sinh đôi, sinh ba,...). Vì một người phụ nữ thường chỉ có khả
năng mang thai ít nhất 1 tháng sau khi sinh con, và thời gian mang thai
ít nhất là 28 tuần (7 tháng). Vì vậy, hai người con sinh kế tiếp nhau phải
cách nhau ít nhất 8 tháng.
2. Kiểm tra tính logic giữa tuổi với trình độ văn hóa và trình độ chuyên
môn kỹ thuật
- Một người mới 10 tuổi không thể học lớp 8. Thông thường một đứa trẻ
bắt đầu đi học khoảng 5 đến 6 tuổi. Nếu đứa trẻ đó học mỗi năm một lớp
thì khi 10 tuổi, nó cũng chỉ có thể học đến lớp 5 hoặc lớp 6 là cao nhất.
- Một người đã đạt được trình độ đại học thường phải trên 20 tuổi. Nói
chung, để đạt trình độ đại học, một người thường phải học 12 năm học
phổ thông và ít nhất 4 năm học ở bậc đại học. Như vậy, người đó phải
25
Tổng điều tra dân số và nhà ở 2009
Hướng dẫn nghiệp vụ điều tra
học tất cả là 16 năm. Nếu người đó đi học từ khi 5 tuổi, thì thường cũng
phải 21 tuổi mới đạt được trình độ đại học.
VI. KIỂM TRA KẾT QUẢ ĐIỀU TRA TRONG NGÀY
Cuối mỗi ngày điều tra, ĐTV phải kiểm tra lại tất cả các phiếu đã điều tra
được trong ngày xem trang bìa của phiếu đã ghi đầy đủ và chính xác chưa, kiểm
tra lại các tiêu thức ghi trong phiếu đã đảm bảo đầy đủ, chính xác và hợp lý chưa,
sắp xếp các phiếu đã hoàn chỉnh theo số thứ tự hộ từ nhỏ đến lớn. Để riêng và ghi
chép lại những phiếu còn có sai sót, lập kế hoạch trở lại hộ để hoàn thiện những
phiếu này.
26
Tổng điều tra Dân số và Nhà ở 2009
Hướng dẫn nghiệp vụ điều tra
27