Tải bản đầy đủ (.docx) (16 trang)

tiểu luận quản lý nhà nước

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (105.16 KB, 16 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LAO ĐỘNG XÃ HỘI (CS2)
KHOA QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC
----------*****---------

TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LAO ĐỘNG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DẠY NGHỀ TẠI VIỆT NAM

SỐ BÁO DANH: 191
SINH VIÊN THỰC HIỆN: NGUYỄN THỊ ÁNH
N
G
U
Y

T
MSSV: 1553404040933
LỚP: Đ15NL2
GVBM: LÊ THỊ CẪM TRANG
Điểm số

Cán bộ chấm thi 1


Điểm chữ

Cán bộ chấm thi 2

TP HCM, tháng


năm


1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh cả thế giới đang chạy đua với thời gian để theo kịp với cuộc
cách mạng công nghiệp 4.0 và Việt Nam cũng không ngoại lệ, để bắt kịp xu thế, việc
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, xây dựng đội ngũ lao động kỹ thuật có trình độ
tay nghề cao, có kỹ năng nghề nghiệp thực tế bên cạnh kiến thức để có thể làm chủ
máy móc, công nghệ hiện đại là một trong những yếu tố quyết định sự thành công
trong công cuộc phát triển đất nước ngày một lớn mạnh theo hướng công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước.
Vì vậy mà, việc đào tạo đội ngũ chuyên trách đáp ứng cho nhu cầu công nghiệp
hóa, hiện đại hóa là việc cấp thiết và thực tế trong giai đoạn hiện nay. Trong đó, vai trò
của Nhà nước trong công tác quản lý về lĩnh vực này chính là kim chỉ nam để hoạt
động dạy nghề đi đúng hướng và thành công hơn. Tuy nhiên, bên cạnh những thành
tựu và những kết quả đáng ghi nhận, thì công tác dạy nghề và quản lý nhà nước trong
lĩnh vực dạy nghề vẫn còn những bất cập và chưa đáp ứng được những yêu cầu thực
tiễn.
Với mục tiêu đến năm 2020 nước ta có một nền giáo dục tiên tiến, lành mạnh,
mang đậm bản sắc dân tộc, đáp ứng nhu cầu nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế. Từ thực tế đó, việc hoàn thiện hơn công tác
quản lý nhà nước đối với hoạt động dạy nghề thông qua phân tích thực trạng, nhìn
nhận ra các mặt hạn chế và tích cực từ đó đưa ra các kiến nghị nhằm giúp hoàn thiện
công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực này là một đều thực tiễn và cấp bách nên tôi
lựa chọn đề tài “Quản lý nhà nước về dạy nghề tại Việt Nam”.

1


2. Thực trạng quản lý nhà nước về dạy nghề và các vấn đề đặt ra

Về xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp
luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách pháp triển: Ban hành pháp luật là
một trong những công cụ hữu hiệu nhất để quản lý được các hoạt động của đất nước,
trong đó bao gồm cả hoạt động dạy nghề vì pháp luật là thước đo pháp lý để điều
chỉnh các hoạt động quản lý, quy định rõ quyền và nghĩa vụ của các cơ quan, tổ chức,
cá nhân trong hoạt động dạy nghề. Song song đó, pháp luật là kênh quan trọng để
Đảng và Nhà nước đưa ra các chủ trương chính sách nhằm phát triển và duy trì các
hoạt động, bao gồm dạy nghề. Trong hoạt động dạy nghề, Đảng và nhà nước đã ban
hành hàng loạt các chủ trương chính sách, văn bản quy phạm pháp luật như: Nghị định
hướng dẫn thi hành Bộ Luật lao động và Luật Giáo dục nghề nghiệp; Nghị định - Quy
định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực dạy nghề; Nghị định về xã hội hóa
giáo dục đào tạo; Nghị định Quy định về đăng ký hoạt động dạy nghề; Quyết định về
Điều lệ trường dạy nghề; Quyết định về việc quy định mức chi phí đào tạo nghề cho
lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh; Quyết định về việc quy định định mức chi phí
đào tạo nghề cho người khuyết tật trên địa bàn tỉnh; Quyết định về phê duyệt Chiến
lược phát triển dạy nghề thời kỳ 2011 - 2020 Quy chế trung tâm dạy nghề; Quy định
về chế độ làm việc của giáo viên dạy nghề; Quy định nguyên tắc xây dựng chương
trình, thông tư ban hành danh mục nghề đào tạo; Chiến lược phát triển dạy nghề thời
kỳ 2011 - 2020; …Những văn bản quy phạm pháp luật trên chỉ là một trong hàng loạt
văn bản quy phạm phát luật để Nhà nước quản lý hoạt động dạy nghề. “Thứ trưởng Bộ
Lao động – Thương binh và Xã hội Doãn Mậu Diệp cho biết, từ năm 2017, Chính phủ
thống nhất quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp nên bước đầu khắc phục được
sự phân chia quản lý nhà nước đối với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Hệ thống văn
bản pháp luật đã phân cấp mạnh mẽ cho cơ quan quản lý nhà nước địa phương và cơ
sở giáo dục nghề nghiệp, góp phần thúc đẩy đổi mới cơ chế quản lý, điều hành cơ sở
giáo dục nghề nghiệp”1.

1 Chu Thanh Vân (02/06/2017), Phó Thủ tướng: Đánh giá thực trạng các trung tâm dạy nghề, tránh 'lãng phí dài
tập'. Khai thác từ: />2



Trong đó, có 2 điểm nổi bật mà Nhà nước đã đưa ra nhằm phục vụ cho công
tác quản lý dạy nghề là Chính phủ đã quyết định tái lập Tổng cục Dạy nghề thuộc Bộ
Lao động-Thương binh và Xã hội bằng Nghị định số 33/1998/NĐ-CP ngày 23-5-1998
về việc thành lập Tổng cục dạy nghề thuộc Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, và
Luật Dạy nghề đã được Quốc hội thông qua và chính thức có hiệu lực từ ngày
1/6/2017. Thông qua Nghị định số 33/1998/NĐ-CP, Tổng cục Dạy nghề một lần nữa
được tái thành lập sau 2 lần sát nhập sáp nhập trước đó. Nghị định số 33/1998/NĐ-CP
có thể xem là văn bản quy phạm pháp luật đánh dấu bước tiến lớn về nhận thức và tầm
nhìn để xây dựng nền tản trong quản lý Nhà nước về Dạy nghề.
Có nhận định rằng: “Dạy nghề không chỉ trong nhà trường mà còn được truyền
nghề tại gia đình, tại làng nghề, phố nghề, tại cơ sở sản xuất, trên đồng ruộng; dạy
nghề gắn với sản xuất, tạo việc làm... Do đó quản lý nhà nước về dạy nghề trong điều
kiện như vậy thích hợp nhất vẫn là ngành lao động. Vì vậy sự phân công của Chính
phủ tại Nghị định số 33/1998/NĐ-CP ngày 23-5-1998 cần tiếp tục được ổn định để
phát triển sự nghiệp quan trọng - dạy nghề trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước”2.
Tiếp theo là, sau khi Luật Dạy nghề được thông qua, Bộ Lao động – Thương
binh và Xã hội đã phối hợp với các Bộ, ngành để soạn thảo trình Chính phủ 14 văn bản
quy phạm pháp luật bảo đảm triển khai dạy nghề ba cấp trình độ. Kèm theo đó là các
chương trình dạy nghề đã và đang được xây dựng phù hợp với thực tiễn. Luật Dạy
nghề là bước đánh dấu cho thấy, hệ thống pháp luật về dạy nghề bảo đảm các nguyên
tắc cơ bản, chỉnh chu trong hình thức, trình tự, thủ tục ban hành các văn bản quy phạm
pháp luật, thể hiện rõ đúng chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền soạn thảo văn bản, ban
hành văn bản quy phạm pháp luật, các quan hệ xã hội trong hoạt động dạy nghề phần
lớn được điều chỉnh, nhất là tạo hành lang pháp lý cho hoạt động dạy nghề để từ đó
tháo dỡ các mâu thuẩn xung đột xảy ra trong hoạt động dạy nghề và là cơ sở để việc
quản lý nhà nước dựa vào thi hành

2 Bùi Ngọc Thanh (13/04/2017) Quản lý nhà nước về dạy nghề. Khai thác từ

/>3


Về tổ chức bộ máy quản lý, đào tạo và bồi dưỡng cán bộ- giáo viên trong dạy
nghề:
Tổ chức bộ máy quản lý trong hoạt động dạy nghề
Ở nước ta hiện nay, tại cấp Trung ương, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
là cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp, tức là xây dựng, ban hành các
văn bản quy phạm pháp luật để hướng dẫn thực hiện pháp luật về giáo dục nghề
nghiệp. Tổng cục dạy nghề cũng tổ chức, điều hành các hoạt động để đưa giáo dục
nghề nghiệp vào thực tiễn (không phải cơ quan chủ quản) cơ cấu tố chức gồm: “Vụ
Dạy nghề chính quy; Vụ Dạy nghề thường xuyên; Vụ Giáo viên và cán bộ quản lý dạy
nghề; Vụ Cơ sở vật chất và thiết bị dạy nghề; Vụ Công tác học sinh, sinh viên; Vụ Kỹ
năng nghề; Vụ Tổ chức cán bộ; Vụ Kế hoạch - Tài chính; Vụ Pháp chế - Thanh tra;
Văn phòng; Cục Kiểm định chất lượng dạy nghề; Viện Nghiên cứu Khoa học dạy
nghề”3. Việc quản lý trực tiếp (cơ quan chủ quản) các trường dạy nghề vẫn là các Bộ,
ngành, địa phương như trước đây, không hề có sự thay đổi.
Nhà nước cũng ban hành Quyết định số 43/2013/QĐ-TTg về việc quy định
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Dạy nghề thuộc Bộ
Lao động – Thương binh và Xã hội, từ đó chỉ rõ phân chia chức năng nhiệm vụ rõ ràng
để việc vận hành quản lý giảm đi khúc mắt và đùng đẩy trách nhiệm giữa các đơn vị
hành chính sự nghiệp có liên quan.
Đào tạo và bồi dưỡng cán bộ- giáo viên trong dạy nghề
Đối với việc đào tạo và bồi dưỡng cán bộ -giáo viên trong Dạy nghề hiện nay
“quy mô và cơ cấu nghề đào tạo,trình độ đào tạo của đội ngũ nhà giáo Giáo dục nghề
nghiệp được nâng cao với tỷ lệ 100% nhà giáo đạt chuẩn về trình độ đào tạo. “Trong
giai đoạn năm 2011 - 2015 cả nước ước thực hiện đào tạo được 7.352 lượt nhà giáo.
Trong đó, Tổng cục Dạy nghề đã phối hợp với các tổ chức quốc tế như Hội đồng Anh,
EBG, APPE, City&Guilds,… và các cơ sở dạy nghề trong nước tổ chức đào tạo, bồi
dưỡng kỹ năng nghề. Trong đó Trung ương thực hiện 392 người(trong đó: 198 nhà

giáo tại Malaysia; 194 nhà giáo tại Úc), các địa phương thực hiện là 209 người (trong
3 Quyết định số 43/2013/QĐ-TTg ngày 16/7/2013 về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu
tổ chức của Tổng cục Dạy nghề thuộc Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
4


đó: 142 nhà giáo tại Malaysia; 56 nhà giáo tại Hàn Quốc và 11 nhà giáo tại Đức). Chỉ
tính riêng năm 2015, Tổng cục Dạy nghề đã tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cho 2.020 lượt
nhà giáo trong và ngoài nước”. 4Kinh phí được cấp để xây dựng đội ngũ nhà giáo và
cán bộ quản lý dạy nghề (vốn sự nghiệp) giai đoạn 2011- 2015 là 785 tỷ đồng. Đặt biệt
là đào tạo số lượng giảng viên, người học nghề ở cấp độ quốc tế. Tuy nhiên so với mục
tiêu chiến lược dạy nghề thì thực tế trình độ kỹ năng nghề, trình độ ngoại ngữ, trình độ
tin học hiện tại chưa đáp ứng được cả về mặt số lượng và chất lượng nhất do vậy cần
đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng nhà giáo nhằm đáp ứng
được yêu cầu hội nhập khu vực ASEAN và quốc tế. Công tác đào tạo nâng cao trình
độ cho đội ngũ cán bộ quản lý được quan tâm hơn. Các lớp đào tạo bồi đưỡng nâng
cao năng lực quản lý thường xuyên được tổ chức, nhiều cán bộ quản lý giáo dục nghề
nghiệp đã tham gia các khóa đào tạo bồi dưỡng trong và ngoài nước.
Bên cạnh đó, các chính sách liên quan được ban hành như: Quy định chuẩn về
chuyên môn, nghiệp vụ và chế độ làm việc của nhà giáo dạy trình độ sơ cấp (Thông tư
số 40/2015/TT-BLĐTBXH ngày20/10/2015); Quy định về sử dụng, bồi dưỡng chuẩn
hóa, bồi dưỡng nâng cao đối với nhà giáo dạy trình độ sơ cấp (Thông tư số
41/2015/TT-BLĐTBXH ngày 20/10/2015); Nghị định số 113/2015/NĐ-CP ngày
9/10/2015 Quy định phụ cấp đặc thù, phụ cấp ưu đãi, phụ cấp trách nhiệm công việc
và phụ cấp nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm đối với nhà giáo trong các cơ sở GDNN
công lập.
Về tổ chức thực hiện việc kiểm định chất lượng dạy nghề và đánh giá, cấp
chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia:
Tổ chức thực hiện việc kiểm định chất lượng dạy Nghề
Đối với hệ thống dạy nghề, kiểm định chất lượng dạy nghề đã được triển khai

từ rất sớm ngay khi Luật Dạy nghề có hiệu lực. Hiện nay, Bộ trưởng Bộ Lao động Thương binh và Xã hội ban hành và từng bước hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp
luật về kiểm định chất lượng dạy nghề tạo khung pháp lý để triển khai các cơ sở dạy
nghề đảm bảo theo quy trình thống nhất, chặt chẽ. Bên cạnh đó, việc dự thảo các văn
bản hướng dẫn triển khi kiểm định chương trình cũng đã được tiến hành từ năm 2012
4 Báo cáo Giáo dục nghề nghiệp 2015
5


để chuẩn bị thực hiện việc kiểm định chương trình đào tạo theo Luật giáo dục nghề
nghiệp. “Tổng cục Dạy nghề đã xây dựng được đội ngũ gần 800 Kiểm định viên chất
lượng dạy nghề, 1/3 trong số đó đã có kinh nghiệm thực tiễn khi tham gia các đoàn
kiểm định chất lượng dạy nghề. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã tổ chức
kiểm định, công nhận kết quả kiểm định cho 175 cơ sở dạy nghề và công bố công khai
cho xã hội biết. Khoảng 300 trường cao đẳng nghề, trung cấp nghề và trung tâm dạy
nghề tổ chức thực hiện tự kiểm định hàng năm theo quy định cho thấy các cơ sở dạy
nghề từng bước đã nhận thức rõ vị trí vai trò của của hoạt động kiểm định”. 5
Hệ thống đảm bảo chất lượng dạy nghề
Kiểm định và đảm bảo chất lượng trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp : Trong
năm 2015, các hoạt động kiểm định và đảm bảo chất lượng của hệ thống giáo dục
nghề nghiệp có những phát hiện chính sau: “Số cơ sở dạy nghề thực hiện tự kiểm định
chất lượng dạy nghề tăng trong năm 2015 hơn so với các năm trước (343 cơ sở dạy
nghề) song vẫn còn 1.123 cơ sở dạy nghề chưa thực hiện tự kiểm định chất lượng và
nộp báo cáo về Tổng cục dạy nghề theo quy định”.6
Tiêu chuẩn kỹ năng nghề và đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia
Tính đến hết năm 2015 đã xây dựng được 195 bộ tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc
gia. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, so với mục tiêu của Chiến lược phát
triển dạy nghề, một số mục tiêu, nhiệm vụ chưa đạt yêu cầu, cụ thể về số lượng bộ tiêu
chuẩn được ban hành chưa đạt; số lượng người được đánh giá còn thấp; chưa có trung
tâm đánh giá kỹ năng cho nhà giáo. Tiến độ biên soạn tiêu chuẩn kỹ năng nghề nghiệp
quốc gia phụ thuộc vào các Bộ chủ trì; văn bản hướng dẫn luật chưa hoàn chỉnh; hoạt

động đánh giá, cấp chứng chỉ nghề quốc gia vẫn ở giai đoạn đầu, chưa thể mở rộng
nên chưa đẩy mạnh xây dựng ngân hàng đề thi; người lao động và người sử dụng lao
động tự nguyện tham gia vào hoạt động đánh giá, cấp chứng chỉ nghề quốc gia còn
hạn chế; cơ sở vật chất, trang thiết bị, dụng cụ tại các tổ chức đánh giá và số lượng cán
bộ quản lý đánh giá hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu đánh giá với số lượng lớn
người lao động; nhận thức của doanh nghiệp và người lao động chưa đúng mức về về
ý nghĩa và tầm quan trọng của hoạt động đánh giá kỹ năng nghề trong việc cung cấp
5,6 Báo cáo Giáo dục nghề nghiệp 2015
6
6


nguồn nhân lực kỹ thuật phục vụ phát triển bền vững kinh tế- xã hội. Sau 5 năm triển
khai thực hiện xây dựng, thực tế đặt ra yêu cầu cần phải có những rà soát, điều chỉnh
để các bộ tiêu chuẩn đáp ứng tốt hơn yêu cầu thực tiễn đồng thời có thể tham chiếu với
các bộ tiêu chuẩn kỹ năng nghề trong khu vực ASEAN và trên thế giới nhằm đáp ứng
yêu cầu hội nhập khu vực và quốc tế trong việc công nhận, thừa nhận lẫn nhau về
chứng chỉ kỹ năng nghề.
Về huy động, quản lý và sử dụng các nguồn lực phát triển dạy nghề; tổ chức,
chỉ đạo công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ và hợp tác quốc tế
trong lĩnh vực dạy nghề: Cho đến thời điểm hiện tại, Bộ Lao động – Thương binh và
Xã hội chỉ được tham gia vào quá trình lập dự toán, phân bổ dự toán ngân sách Nhà
nước cho lĩnh vực dạy nghề. “Năm 2015, chi ngân sách nhà nước cho lĩnh vực dạy
nghề là 224.826 tỷ đồng, chiếm khoảng 20% tổng chi ngân sách trong đó chi thường
xuyên giáo dục dạy nghề 184.070 tỷ, chi đầu tư phát triển giáo dục dạy nghề 33.756
tỷ”7. Chi ngân sách cho dạy nghề trong đó tập trung vào chi chương trình mục tiêu
quốc gia giai đoạn 2012-2015 cho 2 dự án là “Đổi mới và phát triển dạy nghề” và Dự
án “Đào tạo nghề cho Lao động nông thôn”.
Giai đoạn 2011 - 2015, Tổng cục Dạy nghề cùng phối hợp với địa phương đã
tích cực, chủ động triển khai thực hiện các hoạt động hợp tác quốc tế, thu hút các Dự

án vốn ODA. Thực hiện các chương trình hợp tác giữa Tổng cục Dạy nghề với Hội
đồng Anh và GIZ - TVET Việt Nam trong đảm bảo chất lượng dạy nghề và thu được
những kết quả tích cực, bước đầu hình thành mô hình khung hệ thống quản lý chất
lượng; các tài liệu, quy trình hướng dẫn xây dựng hệ thống và một số công cụ đảm bảo
chất lượng Luật Giáo dục nghề nghiệp số 74/2014/QH13 ngày 27 tháng 11 năm 2014
và Nghị định 48/2015/NĐ-CP ngày 15 tháng 05 năm 2015 đưa ra một số quy định chi
tiết về quyền và trách nhiệm của doanh nghiệp trong hoạt động giáo dục nghề nghiệp .
Chiến lược Phát triển Dạy nghề 2011-2020 đã đề ra những giải pháp gắn kết giữa dạy
nghề với thị trường lao động và sự tham gia trực tiếp của doanh nghiệp vào các hoạt
động đào tạo nghề hợp tác quốc tế trong lĩnh vực dạy nghề được tăng cường, đưa được
hàng trăm giáo viên dạy nghề đi đào tạo, bồi dưỡng; xây dựng nhiều chương trình và
giáo trình mới.
7 Quyết định số 3137/QĐ-BTC
7


Một số chính sách thực hiện quản lý nhà nước về dạy nghề
Tính đến 30/10/2013, đã có 155 văn bản quy phạm pháp luật, chính sách về dạy
nghề được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để hướng dẫn triển khai
thực hiện Luật Dạy nghề.
Về thẩm quyền ban hành: Có 11 văn bản do Chính phủ ban hành gồm 6 Nghị
định, 5 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, 141 văn bản do Bộ Lao động - Thương
binh và Xã hội ban hành và 3 văn bản liên tịch của các Bộ về lĩnh vực dạy nghề.
Về nội dung văn bản được ban hành: Có 73 văn bản quy định và hướng dẫn về
các lĩnh vực của hoạt động dạy nghề trong đó có 58 văn bản quy phạm pháp luật hiện
hành và 15 văn bản quy phạm pháp luật đã được sửa đổi, bổ sung, thay thế và 77 văn
bản quy định chương trình khung trong đó có 29 văn bản đã được thay thế cho 206
nghề đào tạo; 05 văn bản quy định môn học chung.
Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính
sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó.

Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tuỳ thuộc vào tính chất của
đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá”. Nói cách khác, chính sách công là
công cụ để thực hiện mục tiêu chính trị của nhà nước. Một số chính sách trong quản lý
nhà nước về dạy nghề như: Chính sách phát triển nghề nghiệp; Chính sách cho người
học trong lĩnh vực học nghề; Chính sách phân luồng học sinh sinh viên; Chính sách
đào tạo nghề cho người khuyết tật; Chính sách hỗ trợ đào tạo; Chính sách miễn, giảm
học phí, hỗ trợ chi phí học tập; Chính sách tài chínhmới; Chính sách học phí; Chính
sách nội trú đối với người học trong G; Một số chính sách khác về đào tạo nghề cho
người lao động; Chính sách phát triển trường nghề chất lượng cao; Chiến lược Phát
triển dạy nghề 2011 – 2020; Chính sách phát triển trường nghề chất lượng cao; …
Chính sách phát triển giáo dục nghề nghiệp Ngày 27/11/2014, tại kỳ họp thứ 8
Quốc hội khóa X III đã thông qua Luật Giáo dục nghề nghiệp với 8 chương, 79 Điều.
Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2015. Luật Giáo dục nghề nghiệp đã cấu trúc
lại hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam, làm thay đổi toàn diện hệ thống Giáo dục
nghề nghiệp hiện hành. Theo quy định của Luật Giáo dục 2005, Giáo dục nghề nghiệp
gồm trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề. Trong dạy nghề có các trình độ sơ cấp
nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề. Như vậy, hệ thống giáo dục Việt Nam có 2
trình độ cao đẳng và 2 trình độ trung cấp và do hai cơ quản nhà nước khác nhau quản

8


lý. Để đảm bảo tính thống nhất và tính hệ thống Luật Giáo dục nghề nghiệp quy định
Giáo dục nghề nghiệp bao gồm các trình độ sơ cấp, trung cấp và cao đẳng.
Một số điểm mới trong chính sách quản lý nhà nước ở Luật Giáo dục nghề
nghiệp: Đổi mới hệ thống Giáo dục nghề nghiệp. Luật Giáo dục nghề nghiệp thống
nhất các trình độ đào tạo, cơ sở giáo dục đào tạo của giáo dục phổ thông, Giáo dục
nghề nghiệp và giáo dục đại học; Đổi mới tên gọi các cơ sở Giáo dục nghề nghiệp; Đổi
mới về hình thức đào tạo; Đổi mới tuyển sinh; Đổi mới thời gian đào tạo trung cấp đối
với những người tốt nghiệp trung học cơ sở; Đổi mới chương trình đào tạo; Đổi mới

kiểm tra, thi và xét công nhận tốt nghiệp; Đổi mới chính sách với người học; Đổi mới
chính sách gắn kết cơ sở Giáo dục nghề nghiệp với doanh nghiệp; Đổi mới, nâng cao
tính tự chủ của cơ sở Giáo dục nghề nghiệp
Chính sách với nhà giáo: Luật Giáo dục nghề nghiệp quy định về các chức danh
đối với nhà giáo trong cơ sở Giáo dục nghề nghiệp (giảng viên, giảng viên chính,
giảng viên cao cấp; giáo viên, giáo viên chính, giáo viên cao cấp), quy định thang bảng
lương gắn với chức danh; quy định rõ chính sách tôn vinh (nhà giáo ưu tú, nhà giáo
nhân dân), kéo dài thời gian làm việc với những nhà giáo có trình độ, học hàm học vị,
có tay nghề cao. Nhà giáo giảng dạy tích hợp cả lý thuyết và thực hành được hưởng
phụ cấp ưu đãi nghề theo quy định của Chính phủ, Nhưng bên cạnh đó không ít những
bất cập của Nhà nước về các chính sách dành cho nhà giáo. Các chính sách đổi mới
đào tạo và bồi dưỡng cho giáo viên dạy nghề, các chính sách ban hành chưa thể hiện
sự đa dạng hóa trong đào tạo, bồi dưỡng đối với nhà giáo Giáo dục nghề nghiệp, chưa
gắn kết, huy động sự tham gia đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn của
các doanh nghiệp, các tổ chức đối với giáo viên dạy nghề. Bên cạnh đó, các chính sách
liên quan đến đào tạo, bồi dưỡng giáo viên còn thiếu cơ chế thu hút doanh nghiệp đào
tạo, bồi dưỡng giáo viên dạy nghề thực hành; Luật Dạy nghề mới chỉ quy định các
doanh nghiệp có nghĩa vụ tiếp nhận đối với người học nghề tại các cơ sở đào tạo nghề
có nhu cầu thực tập, chưa có quy định bắt buộc đối với doanh nghiệp trong việc tham
gia nâng cao trình độ kĩ năng cho giáo viên dạy nghề. Luật giáo dục nghề nghiệp đã
quy định trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc tiếp nhận giáo viên dạy nghề thực
hành, nhưng chưa quy định mức độ chịu trách nhiệm và chế tài xử lý cũng như quyền
lợi của doanh nghiệp với riêng vấn đề này.
9


Chính sách tăng cường thanh tra chuyên trách đối với các cơ quan, cơ sở đào
tạo nghề nghiệp. Theo điều 72 Luật Dạy nghề 2006, Cơ quan được giao thực hiện
trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp đưa ra chính sách thực hiện
chức năng thanh tra chuyên ngành trong công tác quản lí.

Các chính sách về xử lý các hành vi vi phạm. Tùy theo từng mức độ của các
hành vi trong khoản 1 Điều 73 Luật Dạy nghề 2006 quy định. Xử lí vi phạm chủ yếu là
phạt tiền theo nghị định 79/2015/NĐ – CP, dựa theo mức độ vi phạm từ bình thường
đến nghiêm trọng Các biện pháp khắc phục: Về biện pháp khắc phục hậu quả: Cá
nhân, tổ chức có các hành vi vi phạm nêu trên sẽ bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp
khắc phục hậu quả như thu hồi quyết định thành lập, cho phép thành lập cơ sở giáo
dục nghề nghiệp, tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp; buộc tiêu hủy
quyết định thành lập cơ sở giáo dục nghề nghiệp, tổ chức kiểm định chất lượng giáo
dục nghề nghiệp; buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi
phạm; buộc hủy bỏ quyết định trúng tuyển, trả lại cho người học số tiền đã thu và chịu
mọi chi phí hoàn trả; tước quyền sử dụng giấy chứng nhận đăng ký hoạt động giáo dục
nghề nghiệp, giấy chứng nhận đăng ký bổ sung hoạt động giáo dục nghề nghiệp có
thời hạn từ 01 tháng đến 03 tháng
Ngoài những nội dung nêu trên, Luật Giáo dục nghề nghiệp đã quy định về
nhiều nội dung quan trọng khác như đổi mới mục tiêu; đổi mới kiểm định chất lượng
đào tạo nghề nghiệp; đổi mới hoạt động hợp tác quốc tế, công nhận lẫn nhau giữa các
quốc gia về bằng, chứng chỉ đào tạo nghề nghiệp; về chính sách xã hội hóa,…
Qua những phân tích trên, chúng ta có thể thấy những mặt đạt được của
quản lý nhà nước về dạy nghề:
Thứ nhất, nhiều văn bản quy phạm pháp luật được ban hành, chính sách về dạy
nghề đã tạo hành lang pháp lý cho dạy nghề phát triển. Cơ chế, chính sách về các hoạt
động đầu tư phát triển dạy nghề cũng ngày càng chặt chẽ. Các văn bản hướng dẫn thi
hành Luật Dạy nghề nói trên được xây dựng và ban hành theo đúng trình tự, thủ tục và
thẩm quyền, đảm bảo yêu cầu về chất lượng văn bản, đã tạo nên một hệ thống pháp
luật về dạy nghề tương đối đồng bộ, thống nhất, góp phần thúc đẩy sự phát triển của
dạy nghề.
10


Thứ hai, công tác thanh tra, kiểm tra các hoạt động trong lĩnh vực dạy nghề đã

được cơ quan chức năng quan tâm và kiện toàn về tổ chức và cán bộ, đổi mới hoạt
động liên quan đến lĩnh vực dạy nghề.
Thứ ba, tổ chức bộ máy quản lý với chức năng nhiệm vụ rõ ràng, đã được kiện
toàn lại, đã hình thành hệ thống quản lí nhà nước về đào tạo nghề từ Trung ương đến
địa phương. Công tác quản lí nhà nước về đào tạo nghề các cấp đã được chú trọng
thông qua các chức năng được quy định, không bị gồng gánh lên nhau. Điểm sáng nhất
là việc quyết định tái thành lập Tổng cục Dạy nghề riêng biệt, cho thấy Nhà nước có
tầm nhìn rõ ràng trong vai trò quản lý về dạy nghề về lâu dài, đã hình thành hệ thống
quản lý nhà nước về dạy nghề từ Trung ương đến địa phương
Nguyên nhân của những kết quả trên là nhờ vào: Nhận thức và tầm nhìn đúng
đắn của Đảng, Nhà nước, toàn dân về dạy nghề. Một số chủ trương thực tiễn và bám
sát tình hình thực tế. Công tác quản lý nhà nước về dạy nghề được chú trọng, hoàn
thiện chặt chẽ và củng cố. Nhờ vào sự pháp triển của nền kinh tế của nước ta, từ đó
làm tiền đề quan trọng cho dạy nghề phát triển
Bên cạnh những mặt đạt được trong quá trình quản lý nhà nước về dạy nghề
đã được đề cập, thì quá trình quản lý cũng có một số hạn bao gồm:
Thứ nhất, các văn bản pháp luật liên quan đến dạy nghề tương đối nhiều là một
ưu điểm nhưng kèm theo đó là hệ thống pháp luật, đề án đưa vào còn vướng mắc.
Trong khi các văn bản quy phạm pháp luật là kim chỉ nam trong việc quản lý nhà nước
nên đều này sẽ làm ảnh hưởng lớn đến quá trình quản lý.
Thứ hai, nguồn vốn để đầu tư, phát triển, duy trì trong lĩnh vực này còn phụ
thuộc nhiều vào ngân sách nhà nước. Từ đó vô hình chung làm gánh nặng cho ngân
sách nhà nước, và thể hiện mặt yếu của công tác quản lý trong việc huy động nguồn
đầu tư và tài trợ cho lĩnh vực này
Thứ ba, nội dung, trong các văn bản luật, các chương trình, các chính sách về
thu hút người học chưa thật sự nhiều và chưa mang lại hiệu quả cao. Làm cho thực
trạng thừa trường dạy nghề nhưng lại thiếu học sinh từ đến dẫn đến thiếu nguồn lực

11



trong tương lai và ảnh hưởng đến mục tiêu chung của đất nước trong thời kì hội nhập
quốc tế hiện nay.
Cuối cùng là, đội ngũ quản lý chưa bám sát hoạt động thanh tra, kiểm tra. Dẫn
đến các đánh giá, kết luận về lĩnh vực dạy nghề không mang tính chính xác cao, đều
này sẽ làm cho việc xây dựng và thay đổi các đề án, chương trình, chính sách về lĩnh
vực dạy nghề gặp khó khăn
Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trên là do: Một số Bộ, ngành, địa phương
vẫn chưa nhận thức đúng mức về vai trò của dạy nghề trong việc đào tạo nhân lực kỹ
thuật là một trong những nhân tố quyết định thành công và phát triển bền vững kinh tế
- xã hội. Do vẫn còn sự phân công 2 cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục nghề
nghiệp nên dẫn tới khó khăn trong việc ban hành các thông tư hướng dẫn triển khai thi
hành Luật giáo dục nghề nghiệp. Hệ thống tổ chức, quản lý chưa theo kịp yêu cầu phát
triển sự nghiệp dạy nghề. Cơ quan quản lý dạy nghề bị thay đổi nhiều lần đã làm suy
yếu cả hệ thống dạy nghề và đội ngũ giáo viên dạy nghề. Luật Dạy nghề quy định về
nhiều vấn đề mới trong đào tạo nói chung và dạy nghề nói riêng, trong đó có nhiều nội
dung phức tạp cần phải có thời gian nghiên cứu, thử nghiệm sau đó mới hướng dẫn áp
dụng rộng rãi
3. Kiến nghị nhằm nâng cao công tác Quản lí nhà nước về dạy nghề
Một là, tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tuyên truyền, nâng cao nhận
thức của các cấp, các ngành, doanh nghiệp và xã hội về thực hiện chính sách về dạy
nghề. Đây là giải pháp quan trọng và có ý nghĩa hàng đầu của quản lý nhà nước về dạy
nghề, có nhận thức được tầm quan trọng của việc thực hiện chính sách mới cho phép
các cơ quan, chức năng, ban ngành, các tổ chức, lực lượng có những cách thức, biện
pháp trong tổ chức thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về thực hiện
chính sách. Tăng cường quán triệt chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
nước về phát triển nguồn nhân lực, về dạy nghề, học nghề; ưu tiên đầu tư phát triển
dạy và học nghề, coi dạy và học nghề là giải pháp đột phá trong chiến lược phát triển
kinh tế – xã hội, giải quyết việc làm và đảm bảo an sinh xã hội. Theo đó, cần tiếp tục
hoàn thiện cơ chế, chính sách đổi mới quản lý nhà nước trong thực hiện chính sách đào

tạo nghề cho thanh niên. Theo đó, cần tiếp tục hoàn thiện những văn bản, Chỉ thị,
12


hướng dẫn của Đảng, Nhà nước, về những chính sách về dạy nghề từ đó mà có những
định hướng trong công tác quản lý nhà nước về dạy nghề.
Hai là, huy động đầu tư vốn cho các trường, trung tâm hướng nghiệp dạy nghề.
Suy cho cùng vốn là nhân tố quyết định đến mọi thành công của công việc cũng như
việc thực hiện các chủ trương, chính sách khác, do vậy, đây là giải pháp mang tính
chiến lược ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện có hiệu quả chính sách về dạy nghề.
Vì vậy, để thực hiện biện pháp trên cần làm tốt việc xây dựng chính sách thu hút và
huy động vốn từ tư nhân trong nước để đầu tư, cũng như vốn từ nước ngoài, tiến hành
đào tạo nghề cho thanh niên; phát triển mạnh các loại hình doanh nghiệp, nhất là
doanh nghiệp tư nhân để giải quyết việc làm cho thanh niên.
Ba là, hoàn thiện và bổ sung nhiều chính sách về thu hút người học, các chính
sách liên kết với các doanh nghiệp trong việc nhận đầu ra trong các lĩnh vực có trong
dạy nghề, nên sát nhập các trường dạy nghề có cùng chức năng lại để dễ quản lý và
phù hợp với tình hình xu hướng học tập hiện nay để nâng cao công tác quản lý, nâng
cao chất lượng dạy và học.
Bốn là, tăng cường bám sát hoạt động thanh tra, kiểm tra trong việc thực hiện
các chính sách, các quy định, chỉ thị, kết quả thực hiện trong công tác quản lý nhà
nước về dạy nghề để có thể hoạch định, lên kế hoạch dài hạn và ngắn hạn cho phù hợp
với tình hình của đất nước nói chung và lĩnh vực dạy nghề nói riêng.

13


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Báo cáo Giáo dục nghề nghiệp 2015
2. Bùi Ngọc Thanh (13/04/2017) Quản lý nhà nước về dạy nghề. Khai thác từ

/>3. Chu Thanh Vân (02/06/2017), Phó Thủ tướng: Đánh giá thực trạng các trung
tâm dạy nghề, tránh 'lãng phí dài tập'. Khai thác từ: />4. Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2015
5. Quyết định số 43/2013/QĐ-TTg ngày 16/7/2013 về việc quy định chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Dạy nghề thuộc Bộ Lao động –
Thương binh và Xã hội
6. Quyết định số 3137/QĐ-BTC ngày 10/12/2014 của Bộ trưởng Bộ Tài chính
về việc công bố công khai số liệu dự toán ngân sách nhà nước năm 2015



×