BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ TP.HCM
KHOA LUẬT
TIỂU LUẬN
Môn học: Pháp luật về phá sản, giải thể và giải quyết tranh chấp
trong kinh doanh
ĐỀ TÀI:
XỬ LÍ VÀ PHÂN CHIA TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP BỊ
PHÁ SẢN
Giảng viên hướng dẫn: Th.s Nguyễn Minh Nhựt
Danh sách nhóm 14:
1. Kiều Thị Ngọc Tri
2. Dương Thị Thúy Nga
3. Phạm Thị Thúy Vy
4. Lê Nguyễn Huyền Trân
5. Nguyễn Thị Hà Trang
6. Nguyễn Minh Luân
7. Trà Minh Thông
8. Nguyễn Quang Nhật
9. Nguyễn Trần Tiến Hồng Phú
TP. Hồ Chí Minh, ngày 01 tháng 12 năm 2018
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU........................................................................................................................................
NỘI DUNG............................................................................................................................................
I – KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP............................................................
1. Khái niệm về phá sản doanh nghiệp..............................................................................................
2. Thủ tục phá sản doanh nghiệp.......................................................................................................
II – XỬ LÝ VÀ PHÂN CHIA TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP PHÁ SẢN.................................
1. Xử lý tài sản của doanh nghiệp phá sản......................................................................................
2. Phân chia tài sản của doanh nghiệp phá sản................................................................................
III – MỘT VÀI Ý KIẾN CỦA NHÓM THỰC HIỆN ĐỀ TÀI..........................................................
1. Ý kiến của nhóm về vấn đề xử lý tài sản của doanh nghiệp phá sản.........................................
2. Ý kiến của nhóm về vấn đề phân chia tài sản của doanh nghiệp phá sản..................................
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................................
LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, phá sản doanh nghiệp là hiện tượng kinh tế - xã hội tồn tại khách quan.
Về thực chất doanh nghiệp cũng chỉ là một thực thể xã hội và như vậy cũng giống như thực thể xã hội
khác, doanh nghiệp cũng có quá trình sinh ra, phát triển và diệt vong. Bên cạnh đó nền kinh tế thị trường
với đa dạng hình thức sở hữu tư liệu sản xuất, đa dạng thành phần kinh tế, nhiều loại hình doanh nghiệp
song song cùng tồn tại. Các loại hình doanh nghiệp đều tự chủ về tài chính, bình đẳng và tự do kinh
doanh trong khuôn khổ pháp luật. Trong nền kinh tế này, lợi nhuận luôn là mục đích tối cao mà mọi
doanh nghiệp hướng tới, là cơ sở cho sự tồn tại của mỗi doanh nghiệp đồng thời cũng là động lực cơ bản
thúc đẩy sự cạnh tranh nhằm tối đa hoá lợi nhuận. Do vậy cạnh tranh là một quy luật khách quan. Dưới sự
tác động của quy luật cạnh tranh, một số doanh nghiệp mạnh dần lên chiếm lĩnh thị trường, một số doanh
nghiệp khác yếu dần đi, sản xuất kinh doanh đình đốn, nợ nần dẫn tới việc mất khả năng chi trả các nghĩa
vụ tài chính và thực chất lâm vào tình trạng phá sản. Theo thống kê của nghân hàng thế giới, tỉ lệ rủi ro
của các doanh nghiệp là một phần tư, có nghĩa là cứ thành lập một trăm doanh nghiệp thì sẽ có khoảng
hai mươi lăm doanh nghiệp bị phá sản thậm chí có những doanh nghiệp bị phá sản ngay sau khi mới
thành lập.
Một trong những vấn đề cần thiết sau khi một doanh nghiệp phá sản đó là xử lý và phân chia tài sản.
Chính vì vậy mà nhóm nghiên cứu đã chọn đề tài “Xử lý và phân chia tài sản của doanh nghiệp” để
nghiên cứu tìm hiểu rõ hơn vấn đề này.
Trong quá trình thảo luận và biên soạn, còn một số mặt thiếu sót và hạn chế mong được sự góp ý của
giảng viên. Đồng thời trong quá trình làm bài, nhóm nghiên cứu xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ và chỉ
dẫn tận tình của Thầy Nguyễn Minh Nhựt.
Xin chân thành cảm ơn!
4
NỘI DUNG
I – KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP
1. Khái niệm về phá sản doanh nghiệp
∗
Khái niệm phá sản
Cũng giống như một thực thể sống “có sinh, có tử”, doanh nghiệp cũng có chu kỳ sống của nó. Theo
các nhà kinh tế, chu kỳ sống của doanh nghiệp trải qua bốn giai đoạn tiêu biểu là: khởi nghiệp, tăng
trưởng, bão hòa và suy thoái. Nếu bước qua giai đoạn tăng trưởng, nhà quản trị không biết “nhìn xa trông
rộng” và dự liệu những tình huống xấu xảy ra để kịp thời đối phó thì doanh nghiệp sẽ bước vào thời kỳ
suy thoái. Tính chu kỳ này cũng cho thấy sự suy vong và phá sản có thể là một giai đoạn sẽ xảy ra với bất
cứ một doanh nghiệp nào.
Về nguồn gốc, thuật ngữ “phá sản” được diễn đạt bằng từ “bankruptcy” hoặc “banqueroute” mà nhiều
người cho rằng từ này bắt nguồn từ chữ “Banca Rotta” trong tiếng La Mã cổ, trong đó banca có nghĩa là
chiếc ghế dài, còn rotta có nghĩa là bị gãy. Banca rotta có nghĩa là “băng ghế bị gãy”. Cũng có ý kiến cho
rằng, từ “phá sản” bắt nguồn từ chữ ruin trong tiếng La tinh, có nghĩa là sự “khánh tận”.
Ở Việt Nam, có nhiều thuật ngữ được sử dụng như: phá sản, vỡ nợ, khánh tận… Từ điển tiếng Việt
định nghĩa từ “phá sản” là lâm vào tình trạng tài sản chẳng còn gì và thường là vỡ nợ do kinh doanh bị
thua lỗ, thất bại; “vỡ nợ” là lâm vào tình trạng bị thua lỗ, thất bại liên tiếp trong kinh doanh, phải bán hết
tài sản mà vẫn không đủ để trả nợ. Như vậy, trong cách hiểu thông thường, khái niệm phá sản là để chỉ
cho một sự việc đã rồi, sự việc “phải bán hết tài sản mà vẫn không đủ trả nợ”.
Từ điển Luật học định nghĩa phá sản là tình trạng một chủ thể (cá nhân, pháp nhân) mất khả năng
thanh toán nợ đến hạn. Theo quan điểm này, khái niệm phá sản chỉ mới xác định được một tình trạng có
thể xảy ra đối với các chủ thể bị lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán. Nói cách khác, “phá sản”
được hiểu tương đương với “mất khả năng thanh toán”.
Trong Bộ luật Thương mại năm 1972 của Việt Nam Cộng hòa có hai khái niệm được sử dụng là khánh
tận và phá sản. Theo Điều 864 của Bộ luật này “Thương gia ngưng trả nợ có thể, đương nhiên hoặc theo
đơn xin của trái chủ, bị toà tuyên án khánh tận”. Điều 1008 Bộ luật Thương mại năm 1972 quy định
5
“những thương gia ở trong tình trạng khánh tận hay thanh toán tư pháp sẽ bị truy tố về tội phá sản đơn
thường hay phá sản gian trá tùy theo các trường hợp được dự liệu tại các điều kế tiếp”. Như vậy “khánh
tận là tình trạng một thương gia đã ngưng trả nợ” hay nói cách khác, khái niệm “khánh tận” trong Bộ luật
Thương mại năm 1972 được hiểu tương đương như khái niệm “mất khả năng thanh toán”. Trong khi đó,
khái niệm “phá sản” được dùng “cho những trường hợp thương gia phạm vào những hình tội được luật dự
liệu trong sự diễn tiến thủ tục khánh tận” và từ này (phá sản) là để chỉ cho một loại tội phạm.
Trong tiếng Anh, khái niệm phá sản và mất khả năng thanh toán được diễn đạt dưới những thuật ngữ
bankruptcy, insolvency. Hai thuật ngữ này có khi được sử dụng như là những từ đồng nghĩa. Tuy vậy, có
tác giả cho rằng, insolvency là khái niệm liên quan đến tình trạng tài chính, trong khi đó bankruptcy lại là
khái niệm thuần tuý pháp lý.
Cụ thể, từ insolvency (được dịch sát nghĩa tương đương trong tiếng Việt là mất khả năng thanh toán)
là để chỉ một tình trạng tài chính của doanh nghiệp. Tình trạng này có thể xác định theo phương thức
dựa trên cân đối tài sản – nợ cho thấy tài sản còn lại không đủ để thanh toán nợ (được gọi là “bal ancesheet” insolvency) hoặc dựa vào việc doanh nghiệp không còn khả năng thanh toán nợ đã đến hạn khi chủ
nợ có yêu cầu (được gọi là “cash-flow” insolvency). Khi một doanh nghiệp bị mất khả năng thanh toán
(insolvency) thì nó có thể được thực hiện các thủ tục phục hồi (reorganazation) hoặc bị thanh lý
(liquidation, winding-up).
Từ bankruptcy thì được hiểu như là thủ tục pháp lý để giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán.
Ở Hoa Kỳ, thuật ngữ bankruptcy được sử dụng cho cả thủ tục phá sản áp dụng cho cá nhân hoặc
doanh nghiệp. Tuy vậy, trong pháp luật của Anh, bankruptcy là để chỉ cho thủ tục phá sản cá nhân còn đối
với phá sản các công ty thì thuật ngữ được sử dụng là insolvency.
Như vậy, từ các phân tích trên đây có thể thấy về mặt pháp lý, khái niệm “phá sản” có thể được hiểu
theo hai khía cạnh sau đây:
Một là, phá sản là tình trạng một tổ chức kinh doanh bị mất khả năng thanh toán và bị cơ quan nhà
nước (thông thường là tòa án) ra quyết định tuyên bố phá sản. Hậu quả của quyết định này là sự chấm dứt
hoạt động của doanh nghiệp.
Hai là, phá sản là thủ tục pháp lý liên quan đến một tổ chức kinh doanh để giải quyết tình trạng mất
khả năng thanh toán của tổ chức đó. Thủ tục pháp lý này được quy định bởi Luật phá sản và pháp luật có
liên quan, được tiến hành từ khi có dấu hiệu tổ chức kinh doanh đó lâm vào tình trạng mất khả năng
thanh toán (insolvency) và quá trình giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán được thực hiện có thể
đưa đến những hệ quả khác nhau là phục hồi tổ chức kinh doanh (reorganization) hoặc thanh lý tài sản và
chấm dứt hoạt động của tổ chức kinh doanh (liquidation hoặc winding-up).
Trong pháp luật Việt Nam, cả Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 và Luật Phá sản năm 2004 đều
không đưa ra định nghĩa về phá sản mà sử dụng khái niệm “tình trạng phá sản”. Nếu áp dụng vào quan
niệm của phần đông người dân, khái niệm lâm vào tình trạng phá sản dễ gây ra sự “hiểu nhầm” là doanh
nghiệp “lâm vào tình trạng tài sản chẳng còn gì”. Tuy vậy, các luật phá sản của Việt Nam vừa nêu đều có
6
các quy định nhằm phục hồi doanh nghiệp chứ không chỉ có các quy định về tuyên bố phá sản và thanh lý
doanh nghiệp. Do vậy, khái niệm tình trạng phá sản chưa phản ánh đầy đủ nội hàm như được quy định
trong các luật này.
Khác với các văn bản luật phá sản trước đây của Việt Nam đều không đưa ra định nghĩa cho khái niệm
phá sản, Luật Phá sản năm 2014, điều 4, khoản 2 đã đưa ra một định nghĩa pháp lý về phá sản, theo đó,
“Phá sản là tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và bị tòa án nhân dân ra
quyết định tuyên bố phá sản”. Khái niệm này đã tiếp cận phá sản dưới góc độ là một quyết định của tòa
án chứ không phải là quá trình ban hành ra quyết định đó (thủ tục phá sản).
∗ Mất khả năng thanh toán và phá sản
Về mặt pháp lý, một doanh nghiệp sau khi được đăng ký kinh doanh là có tư cách của một chủ thể
kinh doanh để thực hiện các hoạt động kinh doanh trên thị trường. Tư cách chủ thể kinh doanh chỉ có thể
chấm dứt khi doanh nghiệp bị giải thể hoặc bị phá sản. Nếu giải thể là một thủ tục hành chính do cơ quan
hành chính thực hiện hoặc chấp thuận trong quá trình giám sát việc giải thể, thì thủ tục phá sản lại là một
thủ tục “đặc biệt”. Tuy nhiên, thủ tục này với kết quả là ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp bị phá sản
chỉ có nghĩa là xác nhận một tình trạng đã sẵn có từ trước. Theo Lê Tài Triển, Luật thương mại Việt Nam
dẫn giải (quyển II), Kim Lai ấn quán, Sài Gòn, 1973, về bản chất pháp lý “Bản án khánh tận không tạo ra
một tình trạng pháp lý mới nào hết, chỉ chính thức công nhận một tình trạng cũ mà thôi”. Chính vì vậy,
doanh nghiệp mất khả năng thanh toán là căn cứ để tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản. Quyết định
này của tòa án gây hậu quả xấu về nhiều mặt cho nhiều đối tượng, nhất là cho con nợ, ảnh hưởng xấu đến
danh dự, uy tín của nhà kinh doanh trên thương trường, đồng thời hạn chế quyền quản lý tài sản và quyền
tự chủ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của họ. Chính vì vậy, xác định “mất khả năng thanh toán” có
ý nghĩa quan trọng bởi nếu nhà lập pháp đưa căn cứ xác định không hợp lý sẽ gây hại không những cho
từng thương nhân cụ thể, cho các chủ nợ mà còn cho cả nền kinh tế nói chung.
Về cơ bản, cả trong học thuật lẫn trong pháp luật nhiều nước đều xác định tình trạng mất khả năng
thanh toán là tình trạng con nợ không trả được các khoản nợ. Theo định nghĩa tại Điều 2 Luật mất khả
năng thanh toán (phá sản) của Liên bang Nga năm 2002 thì: “Tình trạng phá sản là tình trạng con nợ
không có khả năng thỏa mãn một cách đầy đủ các yêu cầu của chủ nợ đối với các nghĩa vụ trả tiền hoặc
các món nợ phải trả khác”. Luật phá sản của Nhật Bản ban hành ngày 25/4/1922 không đưa ra khái niệm
chung về tình trạng phá sản mà chỉ đưa ra cơ sở của việc phá sản nói chung và cơ sở của việc phá sản
công ty nói riêng. Điều 126 Luật phá sản Nhật Bản quy định:
“1. Khi một người mắc nợ không thể trả được nợ thì tòa sẽ ra quyết định tuyên bố người đó phá sản
theo đơn đề nghị.
2. Khi một người mắc nợ ngừng trả tiền thì người đó được coi là không thể trả được nợ.”
7
Như vậy, ở Nhật Bản, cơ sở để nhận định việc con nợ đã lâm vào tình trạng phá sản, có thể bị tòa án
tuyên bố phá sản là việc con nợ đã không thanh toán được các món nợ đến hạn của mình”.
Tuy nhiên, thế nào là “không có khả năng thanh toán được các khoản nợ” là nội dung không chỉ gây
tranh luận trong giới học thuật mà còn được ghi nhận có ít nhiều sự khác biệt trong pháp luật ở các nước
khác nhau. Thậm chí, trong cùng một nước, nội dung này ở mỗi thời kỳ khác nhau cũng có cách hiểu
khác nhau. Về lý thuyết có thể sử dụng một, hoặc phối hợp một số tiêu chí khác nhau để xác định tình
trạng phá sản. Các tiêu chí thông thường có thể được sử dụng là:
-
Xác định tình trạng phá sản theo tiêu chí định lượng: theo tiêu chí này, một doanh nghiệp bị coi là mất
khả năng thanh toán khi không thanh toán được một món nợ đến hạn có giá trị tối thiểu được luật phá sản
ấn định. Ví dụ Luật phá sản Singapore năm 1999 quy định con nợ sẽ bị áp dụng thủ tục phá sản khi không
trả được số nợ đến hạn ít nhất là 5.000 đô la Singapore (Theo Luật sửa đổi năm 2005 là 10.000 đô la).
Theo Luật mất khả năng thanh toán của Liên bang Nga năm 2002 thì số tiền đó đối với pháp nhân là
không dưới 100.000 rúp và đối với cá nhân là không dưới 10.000 rúp. Có thể nói việc sử dụng tiêu chí
định lượng để xác định tình trạng “mất khả năng thanh toán” có tác dụng giảm các đối tượng cần áp dụng
các quy định của luật phá sản. Bởi vì nếu các khoản nợ của doanh nghiệp bị mất khả năng thanh toán là
quá nhỏ thì không cần thiết phải tiến hành thủ tục phá sản phức tạp, mất nhiều thời gian và tốn kém. Cơ
quan giải quyết phá sản chỉ mở thủ tục phá sản đối với các doanh nghiệp có khoản nợ đạt ngưỡng áp dụng
luật phá sản. Tuy nhiên, nếu chỉ quan tâm tới yếu tố định lượng sẽ bộc lộ hạn chế khi không đánh giá
được chính xác tình trạng tài chính của doanh nghiệp mắc nợ vì doanh nghiệp có thể mất khả năng thanh
toán nhất thời do những nguyên nhân khác nhau. Việc bị mở thủ tục phá sản có thể tạo ra sức ép doanh
nghiệp buộc phải bán tài sản của mình với mức giá quá thấp hoặc buộc phải tham gia vào những thỏa hiệp
có tính chất bất bình đẳng trước sức ép của chủ nợ. Chính vì vậy, nếu chỉ đơn thuần dựa vào tiêu chí này
thì việc xác định mức nợ đến bao nhiêu mới bị mở thủ tục phá sản thật sự khó đạt được sự thuyết phục.
Điều này cũng xảy ra tại Việt Nam trong quá trình dự thảo và góp ý cho Luật Phá sản (sửa đổi) thay thế
cho Luật Phá sản năm 2004 (Sửa đổi Luật Phá sản: Nợ 200 triệu là… phá sản).
-
Xác định tình trạng phá sản theo tiêu chí kế toán: Theo tiêu chí này thì việc xác định một doanh nghiệp
lâm vào tình trạng phá sản được thực hiện thông qua sổ sách kế toán của doanh nghiệp mắc nợ. Doanh
nghiệp bị coi là lâm vào tình trạng phá sản nếu như số liệu kế toán của doanh nghiệp cho thấy tổng giá trị
tài sản nợ lớn hơn tổng giá trị tài sản có. So với tiêu chí định lượng thì tiêu chí kế toán dường như đánh
giá chính xác hơn tình trạng tài chính thực tế của doanh nghiệp, đồng thời dựa vào tiêu chí này có thể thu
hẹp hơn phạm vi những đối tượng có thể bị áp dụng luật phá sản. Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào tiêu chí kế
toán cũng bộc lộ hạn chế là việc mở thủ tục phá sản doanh nghiệp chỉ đặt ra khi tổng giá trị tài sản còn lại
của doanh nghiệp nhỏ hơn khoản nợ. Điều này cũng đòi hỏi trước khi mở thủ tục phá sản, tòa án phải có
kết quả kiểm toán và thực hiện phép thử về khả năng thanh toán. Trên thực tế, có những doanh nghiệp do
sự mất cân đối nghiêm trọng giữa tài sản cố định và tài sản lưu động làm cho xét về mặt kế toán thì tài
sản còn lại đủ, thậm chí thừa để trả nợ, nhưng xét về mặt thực tế họ lại khó có thể thanh toán nợ do những
8
tài sản cố định của họ thiếu tính thanh khoản, không thể dễ dàng chuyển đổi thành tiền mặt. Nếu không có
giải pháp cứu chữa kịp thời thì khả năng doanh nghiệp bị phá sản có thể xảy ra. Đây là hạn chế lớn nếu
chỉ áp dụng theo tiêu chí này.
-
Xác định tình trạng phá sản theo tiêu chí “dòng tiền”: Tiêu chí này quan tâm đến tính tức thời của việc trả
nợ, quan tâm đến dòng tiền (cash flow) của doanh nghiệp khi đánh giá khả năng thanh toán. Với cách xác
định dựa trên tính tức thời của việc trả nợ, tiêu chí này không quan tâm đến tài sản hiện có của doanh
nghiệp có đủ để trả nợ hay không. Việc quy định về tình trạng phá sản như vậy dựa trên triết lý có nợ thì
phải thanh toán. Việc doanh nghiệp bị ngưng trả nợ có thể bị suy đoán là bị lâm vào tình trạng phá sản.
Căn cứ vào tiêu chí này thì luật phá sản có thể áp dụng cho cả đối với các doanh nghiệp có thể còn nhiều
tài sản có nhưng không thể trả nợ do chưa thể “hiện kim” số tài sản của mình.
So với hai tiêu chí định lượng và kế toán đã nêu ở trên, tiêu chí “định tính” cho phép một thủ tục phá
sản có thể được mở ra sớm hơn. Điều này phù hợp với quan niệm hiện đại của luật phá sản là ngày càng
có xu hướng tạo điều kiện cho doanh nghiệp được phục hồi thay vì tuyên bố phá sản. Vì vậy, muốn tạo
điều kiện phục hồi doanh nghiệp bị khó khăn thì cần “định bệnh” từ sớm. Đây cũng là giải pháp tốt hơn
cho việc bảo vệ quyền lợi của các chủ nợ, bản thân doanh nghiệp mắc nợ, người lao động và cả xã hội,
tránh nguy cơ phải tuyên bố phá sản doanh nghiệp, từ đó tránh đi những hậu quả không mong muốn trong
vụ phá sản như thất nghiệp, phá sản dây chuyền…
Ở Việt Nam, việc xác định tình trạng “mất khả năng thanh toán” đã được pháp luật quy định khá khác
biệt nhau trong các văn bản pháp luật về phá sản. Ở những giai đoạn khác nhau, pháp luật Việt Nam có
khi chỉ sử dụng một tiêu chí để xác định tình trạng phá sản hoặc có khi lại phối hợp nhiều tiêu chí.
Đối với quan điểm chỉ sử dụng một tiêu chí thì tiêu chí dòng tiền được sử dụng thường xuyên hơn.
Điều này thấy xuất hiện trong quy định của Luật Phá sản năm 2004. Điều 3 của Luật xác định “Doanh
nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì
coi là lâm vào tình trạng phá sản”. Như vậy, Luật Phá sản năm 2004 đã không quan tâm đến giá trị khoản
nợ là bao nhiêu, việc ngừng trả nợ là bao lâu và liệu giá trị tài sản còn lại có đủ để thanh toán nợ hay
không để xác định tình trạng mất khả năng thanh toán. Quy định này của Luật Phá sản năm 2004 về cơ
bản là tương đồng với quy định tại Bộ luật Thương mại năm 1972, theo đó: “Thương gia ngưng trả nợ có
thể đương nhiên hoặc theo đơn xin của trái chủ, bị tòa án tuyên án khánh tận” (Điều 864).
Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 của Việt Nam cũng đã khẳng định bản chất của phá sản là tình
trạng con nợ không trả được nợ đến hạn khi ghi nhận tại Điều 2 rằng: “Doanh nghiệp lâm vào tình trạng
phá sản là doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh sau khi đã áp dụng các
biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn mất khả năng thanh toán nợ đến hạn”. Tuy nhiên, Nghị định số
189/CP ngày 23/12/1994 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 lại bổ
sung thêm tiêu chí có tính chất “định lượng” để xác định tình trạng phá sản. Điều 3 Nghị định số 189/CP
đưa ra 3 điều kiện để xác định tình trạng phá sản là:
9
-
Kinh doanh bị thua lỗ trong hai năm liên tiếp đến mức không trả được các khoản nợ đến hạn, không trả
-
đủ lương cho người lao động theo thoả ước lao động và hợp đồng lao động trong ba tháng liên tiếp.
Doanh nghiệp phải áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết để khắc phục tình trạng mất khả năng thanh
-
toán nợ đến hạn.
Sau khi đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn gặp khó khăn, không khắc phục được tình
trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn.
Thực tế thi hành Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 cho thấy việc quy định tiêu chí xác định doanh
nghiệp lâm vào tình trạng phá sản như nêu trên là quá muộn vì khi đã thua lỗ không thanh toán được nợ
đến hạn sau khi đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết, thì lúc đó doanh nghiệp hầu như không còn
tài sản gì, thậm chí còn không đủ để trang trải chi phí phá sản nên Luật Phá sản đã được sửa đổi theo
hướng có thể mở thủ tục phá sản sớm hơn bằng cách sử dụng yếu tố “dòng tiền”, quan tâm đến tính tức
thời của việc trả nợ như vừa phân tích ở trên.
Việc sử dụng phối hợp nhiều tiêu chí để xác định tình trạng mất khả năng thanh toán không chỉ có ở
Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 mà còn thấy quy định tại Luật Phá sản năm 2014. Theo quy định
của Luật này, “Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp, hợp tác xã không
thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán”. Tuy
nhiên, việc định lượng ở đây chỉ dừng lại thời gian trễ hạn thanh toán mà không quan tâm đến giá trị của
các khoản nợ. Điều này cho thấy Luật Phá sản năm 2004 và Luật Phá sản năm 2014 của Việt Nam đều đã
quan tâm đến bản chất của tình trạng mất khả năng thanh toán.
Như vậy, bản chất của “tình trạng mất khả năng thanh toán” là việc con nợ không có khả năng thanh
toán các khoản nợ đến hạn của mình. Về cơ bản, khi con nợ ngừng trả nợ thì coi như là đã lâm vào tình
trạng mất khả năng thanh toán và lúc đó, các chủ nợ đã có cơ sở pháp lý để làm đơn yêu cầu tòa án thụ lý
và giải quyết vụ việc phá sản. Tuy nhiên, tùy quan điểm của mỗi quốc gia và ở mỗi thời kỳ khác nhau,
đặc biệt là tùy thuộc vào mục tiêu của luật phá sản là bảo vệ chủ nợ hay con nợ, có đặt mục tiêu phục hồi
doanh nghiệp hay không mà luật pháp các nước, trong những giai đoạn khác nhau có thể đưa ra tiêu chí
cụ thể để xác định tình trạng phá sản là khác nhau.
Theo chúng tôi, để hiểu được khái niệm phá sản cần hiểu được bản chất của quá trình, “mất khả năng
thanh toán” là chỉ một tình trạng xảy ra đối với doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp rơi vào tình trạng này thì
thủ tục phá sản có thể sẽ được tiến hành. Thủ tục phá sản là một thủ tục về pháp lý nhằm giải quyết tình
trạng mất khả năng thanh toán. Nếu kết quả giải quyết không thể đưa doanh nghiệp thoát khỏi tình trạng
mất khả năng thanh toán thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền (tòa án) sẽ ra quyết định tuyên bố phá sản
doanh nghiệp.
Tuy nhiên, quy định về căn cứ xác định tình trạng mất khả năng thanh toán trong Luật Phá sản năm
2014 còn cứng nhắc. Bởi lẽ, để xác định tình trạng mất khả năng thanh toán, doanh nghiệp phải thỏa mãn
10
đầy đủ các dấu hiệu mà pháp luật nêu bao gồm: (1) doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ thanh toán,
(2) trong thời hạn ba tháng. Luật nhiều nước thường đưa ra nhiều trường hợp khác nhau để xác định tình
trạng mất khả năng thanh toán. Ví dụ, Điều 2 Luật Phá sản Trung Quốc năm 2007 quy định: Trong trường
hợp doanh nghiệp là pháp nhân không thể trả hết các khoản nợ và tài sản củadoanh nghiệp đó không đủ
để trả hết các khoản nợ, hoặc rõ ràng doanh nghiệp không có khả năng trả nợ, các khoản nợ sẽ được thanh
lý theo quy định của Luật này.
Trường hợp doanh nghiệp thuộc trong các trường hợp quy định tại các khoản trên hoặc doanh nghiệp
rõ ràng đã đánh mất khả năng trả nợ, có thể trải qua tổ chức lại theo quy định của Luật này”.
Như vậy, Luật Phá sản Trung Quốc xác định tình trạng phá sản khi thuộc vào các trường hợp sau đây:
-
Doanh nghiệp không trả hết nợ và tài sản sản còn lại không đủ để trả nợ
Doanh nghiệp không trả hết nợ và doanh nghiệp rõ ràng không trả được nợ.
Luật mất khả năng thanh toán năm 1986 của Vương quốc Anh cũng có quy định tương tự. Theo Điều
123 Luật mất khả năng thanh toán 1986 quy định “(1) một công ty không có khả năng thanh toán nợ khi:
(a) nợ của chủ nợ số tiền vượt quá 750 bảng, đến hạn thanh toán và chủ nợ đã gửi văn bản đòi nợ đến
công ty yêu cầu công ty thanh toán số nợ đến hạn, nhưng công ty không thanh toán được hoặc không thỏa
thuận được với chủ nợ trong thời hạn 3 tuần, hoặc
(b) đối với Anh và xứ Wale, nếu không trả nợ một phần hoặc toàn bộ cho chủ nợ theo phán quyết,
quyết định hoặc chỉ thị của bất kỳ tòa án nào, hoặc
(c) đối với Scotland, nếu thời hạn để thanh toán nợ theo quyết định buộc trả nợ của tòa án hoặc buộc
thanh toán trái phiếu hoặc chứng nhận không trả nợ đã hết mà con nợ không thực hiện việc thanh toán
(d) đối với Bắc Ai len, bằng chứng xác nhận không tuân thủ phán quyết buộc công ty phải trả nợ, hoặc
(e) nếu chứng minh cho tòa án thấy rằng công ty không có khả năng thanh toán khi các khoản nợ đến
hạn.
(2) một công ty cũng được xem như không có khả năng thanh toán nợ nếu chứng minh được với tòa án
rằng giá trị tài sản của công ty ít hơn tổng số nợ của công ty có tính đến các khoản nợ chưa đến hạn”.
Như vậy, Luật của Anh xác định một doanh nghiệp mất khả năng thanh toán theo một trong hai trường
hợp:
-
Không thanh toán được nợ đến hạn như quy định tại khoản 1 Điều 123.
Giá trị tài sản nhỏ hơn khoản nợ.
Trong khi đó, Luật Phá sản năm 2014 của Việt Nam mới chỉ quan tâm đến “không có khả năng thanh
toán được nợ” mà chưa quy định việc mất khả năng thanh toán do mất cân đối về tài chính (giá trị tài sản
nhỏ hơn khoản nợ).
Thực tế cho thấy, nhiều doanh nghiệp đã rơi vào tình trạng “không có khả năng thanh toán nợ” do mất
cân đối về tài chính.
2. Thủ tục phá sản doanh nghiệp
11
∗ Khái niệm thủ tục phá sản
Trong tiếng Việt, thủ tục là những việc cụ thể phải làm theo một trật tự quy định, để tiến hành một
công việc có tính chất chính thức. Theo Nguyễn Văn Thâm và Võ Kim Sơn (Nguyễn Văn Thâm, Võ Kim
Sơn, Thủ tục hành chính, lý luận và thực tiễn, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr. 11), thủ tục có
nghĩa là phương thức hay cách thức giải quyết công việc theo một trình tự nhất định. Như vậy, thủ tục phá
sản được hiểu là trình tự từng bước tiến hành giải quyết việc phá sản theo quy định của pháp luật.
Thừa nhận hoạt động của Nhà nước diễn ra theo ba hoạt động chính là lập pháp, hành pháp và tư pháp
thì tương ứng với nó là ba loại thủ tục cho các hoạt động của Nhà nước là thủ tục lập pháp, thủ tục hành
chính và thủ tục tư pháp. Thủ tục lập pháp là thủ tục xây dựng Hiến pháp, luật và các văn bản quy phạm
pháp luật khác. Thủ tục hành chính là thủ tục giải quyết các công việc mang tính chất chấp hành và điều
hành, còn thủ tục tư pháp là thủ tục xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hành chính do tòa án tiến hành.
Đối với vấn đề phá sản, trong bối cảnh cạnh tranh thì hiện tượng phá sản là một hiện tượng có tính
khách quan, mang tính quy luật “có cạnh tranh thì sẽ có phá sản”. Một khi xảy ra tình trạng phá sản, Nhà
nước phải tham gia giải quyết việc phá sản. Việc Nhà nước giao cho cơ quan nào trong bộ máy nhà nước
để thực hiện nhiệm vụ giải quyết việc phá sản chỉ là sự phân công trong bộ máy nhà nước.
Tại đa số các nước có luật phá sản, thủ tục phá sản đối với các doanh nghiệp được tiến hành bởi tòa
án. Chính vì thế, trong các tài liệu khoa học pháp lý hiện nay của Việt Nam phổ biến quan niệm rằng, thủ
tục phá sản là thủ tục tư pháp bởi vì nó được tiến hành bởi tòa án. Theo giáo trình Luật Kinh tế của
Trường Đại học Luật Hà Nội xuất bản năm 2000 thì thủ tục phá sản là “một thủ tục thuần túy tư pháp, do
tòa án có thẩm quyền tiến hành theo những quy định chặt chẽ của pháp luật phá sản”.
Quan niệm thủ tục phá sản là thủ tục thuần túy tư pháp là không hoàn toàn chính xác, bởi lẽ thủ tục tư
pháp chính là thủ tục thực hiện quyền tư pháp, một trong ba nhánh quyền lực. Quyền tư pháp là quyền xét
xử và vì vậy, thủ tục tư pháp thuần túy là thủ tục xét xử các vụ án hình sự, dân sự và hành chính. Có lẽ vì
lý do này mà trong giáo trình Luật Thương mại cũng của chính Trường Đại học Luật Hà Nội xuất bản sáu
năm sau chỉ giữ lại quan điểm là thủ tục phá sản là thủ tục tư pháp mà không còn cụm từ thuần túy nữa và
hướng lý giải cho quan điểm thủ tục phá sản là thủ tục tư pháp của các tác giả giáo trình này “là hoạt
động do cơ quan nhà nước duy nhất là tòa án có thẩm quyền tiến hành theo những quy định chặt chẽ của
pháp luật phá sản”. Cũng theo cách lý giải tương tự, sách Luật Kinh tế Việt Nam do Lê Minh Toàn chủ
biên cũng cho rằng “thủ tục phá sản một doanh nghiệp do cơ quan có thẩm quyền duy nhất là tòa án và vì
vậy về cơ bản thủ tục phá sản là một thủ tục được diễn ra theo một trình tự tư pháp”. Tác giả này nhấn
mạnh rằng “đáng lưu ý là thủ tục phá sản là thủ tục tư pháp đặc biệt vì phá sản doanh nghiệp về bản chất
không phải là một vụ án và do đó nó không được thụ lý để xét xử như một vụ án thông thường”.
12
Như vậy, có thể nhận thấy lý do mà đại đa số các tài liệu, giáo trình viết về thủ tục phá sản tại Việt
Nam cho rằng thủ tục phá sản là thủ tục tư pháp chỉ bởi vì đây là thủ tục được tiến hành bởi tòa án. Song
cũng đã có ít nhiều sự nhận xét rằng đây là một thủ tục tư pháp đặc biệt vì nó không phải là một vụ án và
không tiến hành thủ tục giống như giải quyết một vụ án.
Tuy nhiên, trong trường hợp phá sản một số tổ chức đặc biệt, trong đó có tổ chức tín dụng, thì tại một
số nước, tòa án không được giao để giải quyết vụ việc phá sản. Vậy liệu rằng thủ tục phá sản có còn là thủ
tục tư pháp hay không? Chúng tôi cho rằng, không thể xem thủ tục phá sản là thủ tục tư pháp nếu cơ quan
tiến hành thủ tục này không phải là tòa án. Điển hình cho quốc gia không thực hiện việc phá sản ngân
hàng thương mại theo thủ tục tư pháp là Hoa Kỳ và Canada. Tại các quốc gia này, thủ tục phá sản ngân
hàng thương mại được tiến hành bởi cơ quan bảo hiểm tiền gửi và là thủ tục hành chính.
Một quốc gia điển hình cho việc hành chính hóa thủ tục phá sản ngân hàng thương mại là Anh. Cho
đến trước năm 2009, việc giải quyết phá sản các ngân hàng ở Anh đều chỉ tuân thủ theo Luật Phá sản năm
1986 vì người Anh quan niệm rằng phá sản là thủ tục tư pháp nhằm xét xử hành vi của người bị phá sản.
Tuy vậy, sau cuộc khủng hoảng tài chính ở Hoa Kỳ và châu Âu năm 2008, nước Anh đã bổ sung chế độ
giải quyết đặc biệt đối với các ngân hàng mất khả năng thanh toán. Chế độ này được thực hiện với vai trò
quan trọng của cơ quan quản lý ngành ngân hàng và thực hiện theo thủ tục hành chính. Chỉ khi thủ tục áp
dụng chế độ đặc biệt (SRR) không thành công thì mới chuyển sang thủ tục thanh lý tại tòa án.
Như vậy, có thể khẳng định, thủ tục phá sản không nhất thiết buộc phải giao cho tòa án phụ trách, bởi
vậy, ngoài nguyên tắc chung phá sản là một thủ tục tư pháp, trong nhiều trường hợp đặc biệt, ví dụ đối với
ngân hàng thương mại, công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm… việc giải quyết phá sản có thể bao gồm
nhiều thủ tục hành chính. Việc lựa chọn giải quyết phá sản theo thủ tục nào tùy thuộc vào điều kiện và
truyền thống của mỗi quốc gia.
∗ Bản chất của thủ tục phá sản
Thủ tục phá sản là một thủ tục đòi nợ tập thể
Trong quá trình thực hiện hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp tiến hành các hoạt động trao đổi,
mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ đã xuất hiện các hình thức mua chậm, trả dần hoặc vay mượn với
những cam kết sẽ hoàn trả theo thời gian. Các khoản vay mượn này có thể được đảm bảo hoặc không
được bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp mắc nợ. Những rủi ro trong kinh doanh có thể đưa đến
doanh nghiệp không thanh toán được các khoản nợ. Trong tình huống này, đối với các khoản nợ có bảo
đảm thì chủ nợ có quyền yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ. Trường hợp khoản nợ không có bảo
đảm, chủ nợ có thể yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền (tòa án, cơ quan thi hành án) ban hành các
quyết định cưỡng chế bán tài sản của doanh nghiệp để thu hồi nợ. Đây chính là cách đòi nợ thông thường
và được tiến hành một cách trực tiếp giữa chủ nợ và doanh nghiệp mắc nợ. Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp
13
mắc nợ có nhiều chủ nợ và tài sản còn lại của doanh nghiệp mắc nợ không đủ thanh toán cho tất cả các
chủ nợ này thì việc đòi nợ một cách trực tiếp theo cách thức vừa nêu trở nên kém hiệu quả. Sự kém hiệu
quả này thể hiện ở hai khía cạnh. Thứ nhất, việc tranh đua đòi nợ giữa các chủ nợ có thể dẫn đến phá hủy
tài sản của doanh nghiệp, làm giảm sút giá trị tài sản của doanh nghiệp mắc nợ và từ đó ảnh hưởng xấu
đến khả năng thu hồi nợ của các chủ nợ. Thứ hai, nếu không có thủ tục phá sản thì các chủ nợ chỉ có thể
đòi nợ theo cách riêng lẻ giữa các chủ nợ với con nợ. Việc đòi nợ riêng lẻ (có thể tự mình đòi nợ trực tiếp
hoặc đòi nợ thông qua các vụ việc kiện tại tòa án) làm phát sinh chi phí đòi nợ cao (ví dụ các loại chi phí
như theo dõi việc đòi nợ của các chủ nợ khác với con nợ, chi phí cho việc giám sát thận trọng về tình
trạng tài chính của người đi vay và khả năng thanh toán, chi phí cạnh tranh với các chủ nợ khác để cố
gắng có được các thông tin cần thiết phục vụ cho việc đòi nợ thành công…). Các chi phí này có thể được
giảm thiểu bởi việc có luật về phá sản như là một sự thỏa thuận thống nhất từ trước về việc đòi nợ tập thể.
Như vậy, dưới áp lực của việc hiệu quả kinh tế, luật phá sản hình thành như là một phương thức để các
chủ nợ có thể đòi nợ theo một trật tự với chi phí xã hội thấp nhất, hiệu quả nhất. Với mục tiêu tối đa hóa
giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp mắc nợ và thanh toán tài sản công bằng giữa các chủ nợ, luật phá
sản được hình thành nhằm mục đích giúp cho các chủ nợ đòi nợ từ doanh nghiệp mắc nợ, thông qua vai
trò của một thiết chế nhà nước có thẩm quyền (có thể là tòa án hoặc một cơ quan nhà nước đặc biệt) để
đòi nợ tập thể. Chính vì vậy, thủ tục phá sản có bản chất là một thủ tục đòi nợ đặc biệt.
Thủ tục phá sản là một thủ tục giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán
Ban đầu, luật phá sản đặt mục tiêu đáp ứng nhu cầu đòi nợ của các chủ nợ với chi phí thấp nhất. Vì
vậy thủ tục phá sản theo luật phá sản được xem như là một thủ tục đòi nợ đặc biệt. Tương ứng với nó, xét
ở khía cạnh các chủ nợ thì đây cũng là cách thanh toán nợ đặc biệt. Tuy nhiên, trong quá tìm kiếm giải
pháp tối đa hóa giá trị tài sản phá sản và tối ưu hóa khả năng thu hồi nợ cho các chủ nợ, các cuộc đàm
phán giữa chủ nợ và các con nợ đã diễn ra. Trong quá trình đó, vấn đề tối đa hóa giá trị kinh tế của các tài
sản phá sản đã được đặt ra như là một trong những mục tiêu chính. Tuy vậy, việc định giá các tài sản phá
sản trong bối cảnh của vụ việc phá sản đang diễn ra có thể thấp hơn so với giá trị thực do các tâm lý e
ngại việc thu mua tài sản phá sản (ví dụ: xem việc mua tài sản phá sản là xui xẻo). Việc thanh lý hàng loạt
các tài sản phá sản cùng lúc dẫn đến giá bán thấp hơn so với giá mà những người mua thông thường có
nhu cầu mua đưa ra. Điều này có thể là do “không có hoặc có rất ít người mua tiềm năng bên ngoài với
thông tin kịp thời và chính xác về tình trạng thực sự của vấn đề và triển vọng tương lai của doanh nghiệp
hoặc khi quá trình tìm kiếm và phát triển người mua bên ngoài, bản thân nó sẽ rất tốn kém”. Trong những
trường hợp như vậy, tổ chức lại doanh nghiệp thay vì thanh lý doanh nghiệp mất khả năng thanh toán là
cần thiết để giúp các chủ nợ thu được giá trị cao nhất từ các tài sản phá sản. Đối với các chủ nợ, mở thủ
tục phá sản vẫn giữ nguyên giá trị là một thủ tục đòi nợ đặc biệt. Chỉ có điều để đòi được nợ, người ta
không nhất thiết phải thanh lý tài sản của doanh nghiệp mắc nợ, mà trong rất nhiều trường hợp, việc tái
phục hồi doanh nghiệp mắc nợ mà thành công sẽ đạt được hiệu quả đòi nợ tối ưu hơn cho các chủ nợ.
14
Chính vì thế, luật phá sản, đứng ở góc độ của doanh nghiệp mắc nợ đã phát triển theo hướng là luật về
giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán cho doanh nghiệp mắc nợ.
Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện đại, sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các doanh nghiệp, vai trò của
doanh nghiệp đối với nền kinh tế, đặc biệt là các doanh nghiệp hoạt động trong các ngành nghề kinh
doanh đặc biệt, sự chấm dứt hoạt động của các doanh nghiệp này gây ra những hậu quả lớn cho xã
hội. Luật phá sản hiện đại hướng có xu thế vượt trội là hướng đến việc tái tổ chức các doanh nghiệp bị
mất khả năng thanh toán hơn là tuyên bố phá sản.Việc tuyên bố phá sản đối với các doanh nghiệp chỉ đặt
ra khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán thuộc vào trường hợp không thể thực hiện phục hồi hoặc đã
tiến hành thủ tục phục hồi nhưng không thành công. Vì lý do này mà ngày nay, ở một số nước, luật phá
sản đã được đổi tên gọi thành Luật về giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán.
Thực trạng của việc Luật Phá sản hiện đang thực thi kém tại Việt Nam, có thể nói cũng một phần do
nhận thức chưa chính xác về Luật Phá sản. Trong một cuộc khảo sát nhanh của chúng tôi nhận thức về
phá sản được thực hiện đối với 300 sinh viên năm thứ nhất thuộc khóa 41 của Trường Đại học kinh tế TP.
Hồ Chí Minh cho thấy, có đến 77% sinh viên được khảo sát cho rằng doanh nghiệp phá sản là doanh
nghiệp có tài sản không đủ để trả nợ và đến 96% sinh viên cho rằng thủ tục phá sản là thủ tục kết thúc
một doanh nghiệp. Điều này cho thấy nhận thức của người dân nói chung không coi phá sản là một sự
“hủy diệt có tính sáng tạo” mà đồng nghĩa phá sản với chấm dứt hoạt động của một doanh nghiệp. Pháp
luật phá sản là thủ tục giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán với những sự ưu tiên phục hồi doanh
nghiệp đã được ghi nhận trong các văn bản pháp luật của Việt Nam – vẫn là điều khá xa lạ đối với người
dân.
Do đó, theo chúng tôi, ngoài việc tăng cường giáo dục nhằm nâng cao nhận thức đúng và đầy đủ về
phá sản và thủ tục phá sản, tên văn bản luật cần được sửa đổi thành Luật Giải quyết tình trạng mất khả
năng thanh toán thay cho Luật Phá sản để tránh cái nhìn sai lệch về Luật Phá sản do giới hạn ngôn ngữ
gây ra những hiểu lầm không đáng có đối với đạo luật này.
II – XỬ LÝ VÀ PHÂN CHIA TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP PHÁ SẢN
1. Xử lý tài của doanh nghiệp phá sản
∗ Xử lý tài sản bảo đảm của doanh nghiệp
Vấn đề xử lý tài sản bảo đảm của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và doanh nghiệp,
hợp tác xã bị mở thủ tục phá sản đối với chủ nợ có bảo đảm được quy định tại Điều 41 và Điều 53 Luật
Phá sản 2014.
15
Tòa án nhân dân tối cao vừa ban hành Công văn 152/TANDTC-PC, ngày 19/7/2017, về giải quyết
tranh chấp hợp đồng tín dụng và xử lý nợ xấu, đánh dấu một trong những bước chuyển biến đầu tiên của
hệ thống tư pháp trong nỗ lực hiện thực hóa Nghị quyết số 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của
các tổ chức tín dụng vừa được quốc hội thông qua.
Tại Công văn, Tòa án nhân dân tối cao đã có hướng dẫn cụ thể về cách thức xử lý tài sản đảm bảo của
doanh nghiệp phá sản. Theo đó, trong trường hợp doanh nghiệp vay bị phá sản, tổ chức tín dụng yêu cầu
Tòa án xử lý cả tài sản bảo đảm của bên thứ ba thì Tòa án từ chối và đề nghị khởi kiện tại một vụ án khác.
Tuy nhiên, khi đã có quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp, Toà án tối cao tiếp tục khởi kiện yêu
cầu xử lý tài sản bảo đảm của bên thứ ba nhằm thu hồi vốn thì có Toà án chấp thuận thụ lý và giải quyết,
có Toà án lại không thụ lý với lý do nghĩa vụ (khoản nợ) không còn tồn tại (do doanh nghiệp không còn
tồn tại và theo luật đã được xoá nợ). Điều này đã tước bỏ quyền hợp pháp và gây thiệt hại cho tổ chức tín
dụng.
Nhằm giải quyết vướng mắc nêu trên, đồng thời làm rõ hơn về phương thức xử lý của các Thẩm phán
khi xử lý các vụ việc liên quan đến tài sản bảo đảm của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán
và doanh nghiệp, hợp tác xã bị mở thủ tục phá sản đối với chủ nợ có bảo đảm, tại Điểm 9 văn bản số
152/TANDTC-PC TANDTC đã nêu rõ, trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án nhân dân có
thẩm quyền thụ lý vụ việc phá sản, các Tòa án nhân dân phải thực hiện các nội dung sau:
-
Một là, tạm đình chỉ việc giải quyết vụ việc dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động có liên quan đến
nghĩa vụ tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán là một bên đương sự. Thủ tục tạm
-
đình chỉ được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Hai là, tách và tạm đình chỉ giải quyết phần dân sự trong vụ án hình sự, hành chính liên quan đến nghĩa
vụ tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán là một bên đương sự. Thủ tục tách và
-
tạm đình chỉ được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự, tố tụng hành chính.
Ba là, tạm đình chỉ việc xử lý tài sản bảo đảm của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán đối
với các chủ nợ có bảo đảm.
Trong trường hợp sau khi mở thủ tục phá sản, Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản đề
xuất Thẩm phán về việc xử lý khoản nợ có bảo đảm đã được tạm đình chỉ theo quy định tại khoản 3 Điều
41 của Luật Phá sản năm 2014 thì văn bản số 152/TANDTC-PC hướng dẫn Thẩm phán phải xem xét và
xử lý như sau:
-
Thứ nhất, xử lý đối với tài sản bảo đảm theo Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ nếu tài sản bảo đảm được sử
-
dụng để thực hiện thủ tục phục hồi kinh doanh;
Thứ hai, xử lý theo thời hạn quy định trong hợp đồng đối với hợp đồng có bảo đảm đã đến hạn nếu không
thực hiện thủ tục phục hồi kinh doanh hoặc tài sản bảo đảm không cần thiết cho việc thực hiện thủ tục
phục hồi kinh doanh. Đối với hợp đồng có bảo đảm chưa đến hạn thì trước khi tuyên bố doanh nghiệp,
hợp tác xã phá sản, Tòa án nhân dân đình chỉ hợp đồng và xử lý các khoản nợ có bảo đảm.
Trong trường hợp tài sản bảo đảm có nguy cơ bị phá hủy hoặc bị giảm đáng kể về giá trị thì Quản tài
viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản đề nghị Thẩm phán cho xử lý ngay tài sản bảo đảm đó theo
quy định tại khoản 3 Điều 53 Luật Phá sản năm 2014, cụ thể:
16
Đối với khoản nợ có bảo đảm được xác lập trước khi Tòa án nhân dân thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục
phá sản được thanh toán bằng tài sản bảo đảm đó. Trường hợp giá trị tài sản bảo đảm không đủ thanh toán
số nợ thì phần nợ còn lại sẽ được thanh toán trong quá trình thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã;
nếu giá trị tài sản bảo đảm lớn hơn số nợ thì phần chênh lệch được nhập vào giá trị tài sản của doanh
nghiệp, hợp tác xã.
Đồng thời, việc xử lý tài sản bảo đảm theo quy định tại điểm b khoản 1, quy định cho trường hợp
không thực hiện thủ tục phục hồi kinh doanh hoặc tài sản bảo đảm không cần thiết cho việc thực hiện thủ
tục phục hồi kinh doanh thì xử lý theo thời hạn quy định trong hợp đồng đối với hợp đồng có bảo đảm đã
đến hạn. Đối với hợp đồng có bảo đảm chưa đến hạn thì trước khi tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá
sản, Tòa án nhân dân đình chỉ hợp đồng và xử lý các khoản nợ có bảo đảm. Việc xử lý khoản nợ có bảo
đảm theo quy định tại khoản 3 Điều 35;
Tại khoản 2 Điều 53 Luật Phá sản năm 2014 quy định trường hợp tài sản bảo đảm có nguy cơ bị phá
hủy hoặc bị giảm đáng kể về giá trị thì Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản đề nghị
Thẩm phán cho xử lý ngay tài sản bảo đảm đó theo quy định tại khoản 3 Điều 35, Luật Phá sản năm 2014
được thực hiện như sau:
-
Thứ nhất, đối với khoản nợ có bảo đảm được xác lập trước khi Tòa án nhân dân thụ lý đơn yêu cầu mở
-
thủ tục phá sản được thanh toán bằng tài sản bảo đảm đó;
Thứ hai, trường hợp giá trị tài sản bảo đảm không đủ thanh toán số nợ thì phần nợ còn lại sẽ được thanh
toán trong quá trình thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã; nếu giá trị tài sản bảo đảm lớn hơn số
nợ thì phần chênh lệch được nhập vào giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã.
Đối với tranh chấp tài sản trước khi có quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác phá sản
-
Tòa án nhân dân đang giải quyết vụ việc phá sản phải xem xét, tiến hành phần tách phần tài sản đang có
tranh chấp với tài sản không có tranh chấp của doanh nghiệp. Đối với phần tài sản có tranh chấp, thì
không tiến hành giải quyết với thủ tục phá sản của doanh nghiệp mà tách ra để giải quyết bằng vụ án khác
-
theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Khi tiến hành tách tài sản đang tranh chấp thành một vụ án khác thì phải được thông báo theo quy định
tại khoản 1 Điều 43 Luật phá sản 2014 như sau:
“1. Quyết định mở thủ tục phá sản của Tòa án nhân dân phải được gửi cho người nộp đơn, doanh
nghiệp mất khả năng thanh toán, chủ nợ, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, cơ quan thi hành án dân sự,
cơ quan thuế, cơ quan đăng ký kinh doanh nơi doanh nghiệp có trụ sở chính và đăng trên Cổng thông tin
đăng ký doanh nghiệp quốc gia, Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân và 02 số báo địa phương
liên tiếp nơi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán có trụ sở chính.”
Sau khi có quyết định, bản án có liệu lực của Tòa án nhân dân có thẩm quyền về giải quyết phần tài
sản có tranh chấp đã được tách riêng nói trên, thì Tòa án nhân dân đang tiến hành xử lý phá sản của doanh
nghiệp như sau:
17
-
Nếu trước khi có quyết định tuyên bố phá sản thì tài sản được nhập vào tài sản của doanh nghiệp.
Nếu đã có quyết định tuyên bố phá sản thì tài sản được phân chia theo quyết định tuyên bố phá sản trước
đó.
Khi doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản thì Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản đại
diện cho doanh nghiệp tham gia giải quyết tranh chấp về tài sản.
Đối với tranh chấp tài sản trong quá trình thi hành quyết định tuyên bố doanh nghiệp phá sản:
Sau khi có quyết định tuyên bố doanh nghiệp phá sản, mà việc thực hiện việc thanh lý tài sản theo
quyết định đó có tranh chấp hoặc không thể thi hành được thì Chấp hành viên, quản tài viên, doanh
nghiệp quản lý, thanh lý tài sản, người tham gia thủ tục phá sản đề nghị Tòa án nhân dân đã giải quyết vụ
việc phá sản xem xét lại, trong vòng 10 ngày, kể từ ngày nhận đơn đề nghị thì Tòa án nhân dân xem xét
và có thể ra các quyết định sau:
-
Không chấp nhận đề nghị xem xét lại, việc không chấp nhận phải được thanh lập văn bản trả lời
cho người có đơn yêu cầu. Nếu người nộp đơn không đồng ý với văn bản không chấp nhận đề nghị của
Tòa án có thẩm quyền thì có quyền kháng nghị quyết định tuyên bố doanh nghiệp phá sản. thủ tục kháng
nghị quyết định tuyên bố doanh nghiệp, phá sản được quy định tại Điều 111, Điều 112, Điều 113 Luật phá
-
sản 2014
Chuyển đơn đề nghị đến người có thẩm quyền để xem xét, kháng nghị quyết định tuyên bố doanh
nghiệp theo quy định pháp luật
Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản đại diện cho doanh nghiệp tham gia giải quyết
tranh chấp về tài sản.
∗ Về thanh lý tài sản :
Trong những trường hợp sau, Thẩm phán ra quyết định thanh lý tài sản của doanh nghiệp bị yêu cầu
mở thủ tục phá sản:
-
Doanh nghiệp đã được áp dụng các biện pháp phục hồi kinh doanh nhưng vẫn không phục hồi
được và không thanh toán được nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu;
-
Hội nghị chủ nợ không thành do chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp
không tham gia Hội nghị chủ nợ hoặc không có đủ số chủ nợ tham gia Hội nghị chủ nợ;
-
Hội nghị chủ nợ ra nghị quyết thông qua giải pháp dự kiến phục hồi hoạt động kinh doanh nhưng
doanh nghiệp không xây dựng phương án phục hồi hoạt động kinh doanh hoặc thực hiện không đúng
phương án phục hồi hoạt động kinh doanh.
18
Sau khi đã thanh toán các khoản nợ có bảo đảm bằng tài sản thế chấp hoặc cầm cố, việc phân chia,
thanh lý các tài sản còn lại của doanh nghiệp phá sản sẽ thực hiện theo quyết định của Thẩm phán theo
thứ tự ưu tiên sau:
-
Chi phí cho việc giải quyết phá sản doanh nghiệp;
-
Lương, trợ cấp, bảo hiểm xã hội của người lao động của doanh nghiệp;
-
Các khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho các chủ nợ trong danh sách chủ nợ theo nguyên tắc
luật định.
∗ Tổ Quản lý, thanh lý tài sản.
Tổ quản lý, thanh lý tài sản được lập để quản lý, giám sát việc sử dụng tài sản của doanh nghiệp sau
khi có quyết định mở thủ tục phá sản doanh nghiệp và chịu trách nhiệm trước thẩm phán về việc thực
hiện quyền và nghĩa vụ của mình.
Quy trình thanh lý tài sản được thực hiện theo trình tự: Thành lập Hội đồng thanh lý tài sản; sau đó, Hội
đồng thanh lý tài sản sẽ đánh giá chất lượng, giá trị còn lại của tài sản sau thời gian doanh nghiệp sử
dụng; quyết định thanh lý tài sản theo hình thức bán hoặc bán đấu giá tài sản; và lập Biên bản thanh lý tài
sản sau khi tiến hành thanh lý. Cụ thể:
Bước 1: Thành lập Hội đồng thanh lý tài sản.
Chủ doanh nghiệp ra quyết định thanh lý tài sản công ty, trong đó thành lập hội đồng thanh lý tài sản,
bao gồm các thành viên trong công ty và trường hợp cần thiết cần có cán bộ kỹ thuật có chuyên môn liên
quan đến tài sản cần thanh lý.
Hội đồng thanh lý tài sản có nhiệm vụ thống kê lại số lượng, phân loại tài sản, thu thập các giấy tờ, hồ
sơ kỹ thuật có liên quan đến tài sản; đồng thời, kiểm tra đánh giá chất lượng còn lại của tài sản, từ đó xác
định giá trị tài sản và tổ chức, thực hiện việc thanh lý tài sản.
Bước 2: Kiểm tra, đánh giá chất lượng và giá trị còn lại của tài sản
Để đánh giá chất lượng còn lại của tài sản, hội đồng thanh lý có thể dựa trên các yếu tố như: sổ theo
dõi chế độ bảo hành, những hỏng hóc gặp phải trong quá trình sử dụng và số lần bảo trì, sửa chữa tài sản;
mức độ tiêu hao nhiên liệu; và mức độ cần thiết của tài sản đó.
Dựa trên đánh giá chất lượng còn lại, Hội đồng thanh lý cần xác định giá trị còn lại của tài sản. Sau đó,
lựa chọn hình thức thanh lý đối với từng loại tài sản.
Trường hợp việc xác định giá trị tài sản quá phức tạp, Hội đồng thanh lý không đủ khả năng hoặc thời
gian để thực hiện thì có thể thuê tổ chức thẩm định giá tài sản thực hiện việc thẩm định giá tài sản.
Hình thức thanh lý có thể lựa chọn một trong ba hình thức sau tùy thuộc loại hình doanh nghiệp,
nguồn vốn chủ sở hữu và nguồn vốn tạo lập tài sản:
-
Bán chỉ định, hoặc thông báo bán công khai;
Bán đấu giá tài sản.
19
Bước 3: Bán tài sản
Tùy từng loại tài sản cũng như hình thức bán tài sản cần phải tuân thủ theo quy định của pháp luật
tương ứng: luật doanh nghiệp, luật dân sự, luật thương mại và luật đấu giá tài sản. Hội đồng thanh lý tài
sản có thể thành tập tổ bán tài sản, hoặc thuê tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp trường hợp thực hiện bán
đấu giá tài sản.
Lưu ý: Việc mua bán tài sản doanh nghiệp cần phải được lập thành hợp đồng mua bán, và có xuất hóa
đơn.
Sau khi hoàn tất việc bán tài sản, khoản thu từ hoạt động thanh lý tài sản sẽ được dùng để thực hiện
thanh toán khoản nợ và nghĩa vụ tài chính còn lại của doanh nghiệp giải thể (nếu có). Phần còn lại sau khi
thực hiện xong nghĩa vụ và hoàn tất thanh toán khoản nợ, sẽ được chia cho các thành viên công ty theo tỷ
lệ phần vốn góp.
2. Phân chia tài sản của doanh nghiệp phá sản
Thứ tự phân chia tài sản của doanh nghiệp bị phá sản là một nội dung chủ yếu của thủ tục phá sản
doanh nghiệp.
Bởi lẽ phá sản doanh nghiệp không chỉ là căn cứ để chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp mà còn có
một nội dung rất quan trọng là thanh lý tài sản và các khoản nợ, các nghĩa vụ tài sản khác của doanh
nghiệp. Tuy nhiên, khi Tòa án ra quyết định tuyên bố phá sản thì tài sản của doanh nghiệp không phải
được giải quyết một cách tùy tiện mà phải tuân theo thứ tự nhất định được pháp luật quy định:
Các khoản nợ có bảo đảm được xác lập trước khi Tòa án nhân dân thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá
sản được thanh toán bằng tài sản bảo đảm đó; nếu giá trị tài sản có bảo đảm không đủ thanh toán số nợ thì
phần nợ còn lại sẽ được thanh toán trong quá trình thanh lý tài sản của doanh nghiệp; nếu giá trị của tài
sản có bảo đảm lớn hơn số nợ thì phần trách nhiệm chênh lệch được nhập vào giá trị tài sản của doanh
nghiệp. Vậy các khoản nợ có bảo đảm sẽ có hai trường hợp như sau:
-
Trường hợp giá trị tài sản bảo đảm nhỏ hơn số nợ: phần nợ còn lại chuyển thành nợ không có bảo đảm;
-
Trường hợp giá trị tài sản bảo đảm lớn hơn số nợ: phần chênh lệch được nhập vào giá trị tài sản của
doanh nghiệp, hợp tác xã để giải quyết các khoản nợ khác.
Căn cứ Luật phá sản 2014, điều 53 quy định như sau:
“Điều 53. Xử lý khoản nợ có bảo đảm
20
1. Sau khi mở thủ tục phá sản, Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản đề xuất Thẩm
phán về việc xử lý khoản nợ có bảo đảm đã được tạm đình chỉ theo quy định tại khoản 3 Điều 41 của
Luật này, Thẩm phán xem xét và xử lý cụ thể như sau:
a) Trường hợp tài sản bảo đảm được sử dụng để thực hiện thủ tục phục hồi kinh doanh thì việc xử lý
đối với tài sản bảo đảm theo Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ;
b) Trường hợp không thực hiện thủ tục phục hồi kinh doanh hoặc tài sản bảo đảm không cần thiết cho
việc thực hiện thủ tục phục hồi kinh doanh thì xử lý theo thời hạn quy định trong hợp đồng đối với hợp
đồng có bảo đảm đã đến hạn. Đối với hợp đồng có bảo đảm chưa đến hạn thì trước khi tuyên bố doanh
nghiệp, hợp tác xã phá sản, Tòa án nhân dân đình chỉ hợp đồng và xử lý các khoản nợ có bảo đảm. Việc
xử lý khoản nợ có bảo đảm theo quy định tại khoản 3 Điều này.
2. Trường hợp tài sản bảo đảm có nguy cơ bị phá hủy hoặc bị giảm đáng kể về giá trị thì Quản tài
viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản đề nghị Thẩm phán cho xử lý ngay tài sản bảo đảm đó theo
quy định tại khoản 3 Điều này.
3. Việc xử lý tài sản bảo đảm theo quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều này được thực hiện
như sau:
a) Đối với khoản nợ có bảo đảm được xác lập trước khi Tòa án nhân dân thụ lý đơn yêu cầu mở thủ
tục phá sản được thanh toán bằng tài sản bảo đảm đó;
b) Trường hợp giá trị tài sản bảo đảm không đủ thanh toán số nợ thì phần nợ còn lại sẽ được thanh
toán trong quá trình thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã; nếu giá trị tài sản bảo đảm lớn hơn
số nợ thì phần chênh lệch được nhập vào giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã.”
Sau khi xử lý nợ có bảo đảm thì tài sản của doanh nghiệp phá sản được phân chia theo điều 54, Luật
phá sản 2014:
“Điều 54. Thứ tự phân chia tài sản
1. Trường hợp Thẩm phán ra quyết định tuyên bố phá sản thì tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã
được phân chia theo thứ tự sau:
a) Chi phí phá sản;
b) Khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với người lao động, quyền lợi
khác theo hợp đồng lao động và thoả ước lao động tập thể đã ký kết;
21
c) Khoản nợ phát sinh sau khi mở thủ tục phá sản nhằm mục đích phục hồi hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp, hợp tác xã;
d) Nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước; khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho chủ nợ trong danh
sách chủ nợ; khoản nợ có bảo đảm chưa được thanh toán do giá trị tài sản bảo đảm không đủ thanh toán
nợ.
2. Trường hợp giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã sau khi đã thanh toán đủ các khoản quy
định tại khoản 1 Điều này mà vẫn còn thì phần còn lại này thuộc về:
a) Thành viên hợp tác xã, hợp tác xã thành viên;
b) Chủ doanh nghiệp tư nhân;
c) Chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên;
d) Thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, cổ đông của công ty cổ phần;
đ) Thành viên của Công ty hợp danh.
3. Nếu giá trị tài sản không đủ để thanh toán theo quy định tại khoản 1 Điều này thì từng đối tượng
cùng một thứ tự ưu tiên được thanh toán theo tỷ lệ phần trăm tương ứng với số nợ.”
Chi phí phá sản: chi phí phá sản là khoản tiền mà doanh nghiệp phải thanh toán khi Tòa án thực hiện
các quy trình để mở thủ tục phá sản doanh nghiệp. Việc phá sản doanh nghiệp phải tuân theo thủ tục tố
tụng, vì vậy, chi phí phá sản phải được ưu tiên thực hiện.
Khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với người lao động, quyền lợi
khác theo hợp đồng lao động và thỏa ước lao động tập thể đã ký kết. Việc chi trả các khỏan nợ trên được
ưu tiên, bởi lẽ, quyền lợi của người lao động là điều được quan tâm và chú trọng bởi người lao động là
người chịu nhiều thiệt thòi khi doanh nghiệp bị phá sản và có thể thấy đây cũng là đối tượng yếu thế hơn
so với các đối tượng khác.
Khoản nợ phát sinh sau khi mở thủ tục phá sản nhằm mục đích phục hồi hoạt động kinh doanh. Phục
hồi hoạt động kinh doanh là không thể thiếu đối với thủ tục phá sản, vì vậy, sau khi mở thủ tục phá sản,
có những khoản nợ phát sinh nhằm mục đích phục hồi hoạt động kinh doanh thì đây cũng là một trong
những nghĩa vụ được ưu tiên thanh toán.
Nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước; khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho chủ nợ trong danh sách
chủ nợ; khoản nợ có bảo đảm chưa thanh toán do tài sản bảo đảm không đủ để trả nợ.
22
Sau khi đã thanh toán đủ các khoản nợ trên mà doanh nghiệp vẫn còn tài sản thì phần còn lại sẽ được
chia cho chủ doanh nghiệp tư nhân đối với doanh nghiệp tư nhân; chủ sở hữu công ty đối với công ty
TNHH một thành viên; các thành viên công ty TNHH hai thành viên trở lên; cổ đông công ty cổ phần;
thành viên công ty hợp danh. Điều đó là đảm bảo quyền lợi cho các chủ nợ và người lao động.
Nếu giá trị tài sản không đủ để thanh toán theo quy định nêu trên thì từng đối tượng cùng một thứ tự
ưu tiên được thanh toán theo tỷ lệ phần trăm tương ứng với số nợ. Như vậy là không có sự ưu tiên trong
thanh toán mà phải phân bổ thanh toán theo tỷ lệ tương ứng.
III. MỘT SỐ Ý KIẾN CỦA NHOM THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1. Ý kiến của nhóm về vấn đề xử lí tài sản của doanh nghiệp phá sản
Theo quy định tại khoản 7, Điều 4 Luật Phá sản năm 2014 thì “Quản tài viên là cá nhân hành nghề
quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán trong quá trình giải
quyết phá sản”. Để đảm bảo Quản tài viên thực hiện tốt chức năng trên, Luật đã có nhiều quy định về
điều kiện hành nghề, quyền và nghĩa vụ cũng như trách nhiệm pháp lý của Quản tài viên. Theo đó, đội
ngũ này có nhiệm vụ xác minh, thu thập, quản lý tài liệu, chứng cứ; lập bảng kê tài sản, danh sách chủ nợ;
ngăn chặn việc bán, chuyển giao tài sản mà không được phép của thẩm phán... Quản tài viên bắt đầu tham
gia vụ việc khi được thẩm phán chỉ định và kết thúc khi chấp hành viên thi hành xong quyết định tuyên
bố phá sản doanh nghiệp. Quy định về quản tài viên trong Luật Phá sản năm 2014 được kỳ vọng sẽ giúp
quá trình thanh lý, xử lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản nhanh hơn. Vậy nhưng, trên thực
tế, quá trình thực thi chức trách của quản tài viên đang gặp nhiều khó khăn. Chúng tôi sẽ nêu ra thực tiễn
và vướng mắc của quản tài viên trong quá trình hoạt động hành nghề qua đó đóng góp những ý kiến,
phương hướng hoàn thiện pháp luật về quản tài viên đối với chức năng, quyền và nghĩa vụ, cũng như
trách nhiệm pháp lý nhằm hỗ trợ và tạo điều kiện tốt hơn cho quản tài viên trong quá trình hoạt động hành
nghề.
Theo quy định tại khoản 7 Điều 4 Luật Phá sản năm 2014, thì quản tài viên là cá nhân hành nghề quản
lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán trong quá trình giải quyết phá
sản. Để bảo đảm quản tài viên thực hiện tốt chức năng trên, pháp luật quy định về điều kiện hành nghề,
quyền và nghĩa vụ cũng như trách nhiệm của quản tài viên. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động hành
nghề của quản tài viên trên thực tế còn nhiều khó khăn, vướng mắc cần có cơ chế cụ thể để hoạt động đạt
hiệu quả.
a) Giai đoạn tiếp nhận vụ việc phá sản
23
Theo quy định tại Điều 45 Luật Phá sản năm 2014, thì trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày ra
quyết định mở thủ tục phá sản, thẩm phán có trách nhiệm chỉ định quản tài viên hoặc doanh nghiệp quản
lý, thanh lý tài sản. Trong văn bản chỉ định quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản phải có
nội dung tạm ứng chi phí quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản. Về vấn đề này có một số
khó khăn, vướng mắc sau:
Việc bán tài sản để bảo đảm chi phí phá sản
Theo khoản 3 Điều 23 Luật Phá sản năm 2014, thì: “Tòa án nhân dân giao cho quản tài viên, doanh
nghiệp quản lý, thanh lý tài sản bán một số tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán
để bảo đảm chi phí phá sản. Việc định giá, định giá lại và bán tài sản được thực hiện theo quy định tại các
điều 122, 123 và 124 của Luật này”.
Về vấn đề này cần làm rõ, Tòa án nhân dân giao cho quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài
sản bán một số tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán để bảo đảm chi phí phá sản
kể từ thời điểm nào? Đồng thời, cần có văn bản hướng dẫn cách thức lựa chọn tài sản để bán, phương
thức bán tài sản, chi phí định giá tài sản, cách thức quản lý tiền thu được từ việc bán tài sản trong trường
hợp này.
Về quản lý tiền tạm ứng chi phí phá sản
Trong một số trường hợp, người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải nộp tiền tạm ứng chi phí
phá sản hoặc Tòa án nhân dân giao cho quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản bán một số
tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán để bảo đảm chi phí phá sản. Tuy nhiên, hiện
chưa có quy định hướng dẫn về việc quản lý số tiền tạm ứng chi phí phá sản này. Theo pháp luật hiện
hành, thì Tòa án nhân dân sẽ mở tài khoản tại ngân hàng để nhận tiền tạm ứng chi phí. Tuy nhiên, pháp
luật chưa quy định cụ thể Tòa án sẽ phải mở tài khoản riêng cho từng vụ việc phá sản hay mở tài khoản
chung cho tất cả các vụ việc phá sản?
Về chỉ định quản tài viên
Chưa quy định rõ số lượng quản tài viên được chỉ định cho mỗi vụ việc. Vì vậy, cần làm rõ, trong
trường hợp thẩm phán chỉ định quản tài viên thì số lượng quản tài viên được chỉ định là bao nhiêu? Trong
trường hợp quản tài viên chỉ định doanh nghiệp quản lý và thanh lý tài sản, thì doanh nghiệp này được cử
bao nhiêu quản tài viên để thực hiện vụ việc?
Trong trường hợp thẩm phán chỉ định nhiều hơn một quản tài viên, doanh nghiệp quản lý và thanh lý
tài sản tham gia vụ việc phá sản, thì nhiệm vụ, quyền hạn của các quản tài viên, doanh nghiệp quản lý và
thanh lý tài sản được quy định như thế nào? Các quản tài viên, doanh nghiệp quản lý và thanh lý tài sản
phối hợp thực hiện các công việc hay mỗi người được phân công một nhóm công việc cụ thể, riêng biệt
và tự mình chịu trách nhiệm đối với việc mình được phân công?
b) Công việc của doanh nghiệp quản lý và thanh lý tài sản sau khi nhận chỉ định tham gia vụ việc phá
sản đến khi Tòa án tuyên bố doanh nghiệp phá sản
24
Sau khi được chỉ định là doanh nghiệp quản lý và thanh lý tài sản của vụ việc phá sản, doanh nghiệp
quản lý và thanh lý tài sản phải thực hiện một số công việc liên quan đến các biện pháp bảo toàn tài sản,
hội nghị chủ nợ… cho đến khi Tòa án tuyên bố doanh nghiệp phá sản. Về các công việc này, có một số
vướng mắc như:
Theo quy định tại khoản 1 Điều 65 Luật Phá sản năm 2014, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận
được quyết định mở thủ tục phá sản, doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán phải tiến hành
kiểm kê tài sản và xác định giá trị tài sản đó; trong trường hợp cần thiết thì phải có văn bản đề nghị thẩm
phán gia hạn, nhưng không quá hai lần, mỗi lần không quá 30 ngày. Việc xác định giá trị tài sản của
doanh nghiệp, hợp tác xã phải được thực hiện theo quy định của pháp luật. Như vậy, tổng thời gian cho
việc kiểm kê và xác định giá trị tài sản của doanh nghiệp tối đa không quá 90 ngày. Với thời gian ngắn
như trên, thì việc xác định giá trị tài sản của doanh nghiệp sẽ gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là đối với
doanh nghiệp có tài sản ở nhiều quốc gia khác nhau.
Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản sẽ tổ chức kiểm kê, xác định lại tài sản theo
quyết định của Tòa án nhân dân. Tuy nhiên, pháp luật chưa quy định thời hạn cụ thể thực hiện việc kiểm
kê, xác định lại tài sản của doanh nghiệp, dẫn đến khó khăn trong việc tổ chức hội nghị chủ nợ vì hội nghị
chủ nợ được triệu tập trong vòng 20 ngày kể từ ngày kết thúc việc kiểm kê tài sản (theo quy định tại
khoản 1 Điều 75 Luật Phá sản năm 2014). Như vậy, nếu việc kiểm kê, xác định lại giá trị tài sản này bị
kéo dài nhiều ngày, nhiều tháng sẽ ảnh hưởng rất lớn đến việc tổ chức hội nghị chủ nợ.
Trường hợp những chủ nợ tại nước ngoài của doanh nghiệp vì lý do địa lý xa xôi, khó khăn để tiếp cận
thông tin và một số lý do khác không do lỗi của chủ nợ, dẫn đến việc chủ nợ không được biết về việc phá
sản của doanh nghiệp để gửi giấy đòi nợ, thì pháp luật hiện tại chưa có quy định các biện pháp để bảo vệ
quyền lợi cho những chủ nợ này.
Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản có trách nhiệm xem xét giao dịch của doanh
nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán, nếu phát hiện giao dịch quy định tại khoản 1(các giao dịch
trong vòng 06 tháng trước ngày quyết định mở thủ tục phá sản) và khoản 2 (các giao dịch trong vòng 18
tháng trước ngày quyết định mở thủ tục phá sản) Điều 59 Luật Phá sản, thì đề nghị Tòa án nhân dân xem
xét tuyên bố giao dịch vô hiệu.
Đối với những doanh nghiệp mất khả năng thanh toán có quy mô lớn, có giao dịch ở nhiều quốc gia,
thì việc xem xét các giao dịch trong vòng 18 tháng là một khối lượng công việc vô cùng lớn, quản tài viên
sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong khi thực hiện công việc này. Mặt khác, đối với những giao dịch có dấu
hiệu vi phạm quy định tại Điều 59 Luật Phá sản, quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản sẽ
yêu cầu Tòa án nhân dân xem xét giao dịch vô hiệu. Một vụ án mà Tòa án nhân dân tuyên một giao dịch
vô hiệu có thể mất nhiều thời gian, điều này ảnh hướng đến thời hiệu thực hiện các công việc khác được
quy định tại Luật Phá sản.
Theo quy định là ngay sau khi mở thủ tục phá sản, quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài
sản đề xuất thẩm phán về việc xử lý khoản nợ có bảo đảm đã được tạm đình chỉ theo quy định (Điều 53
Luật Phá sản năm 2014). Vấn đề này cần phải quy định rõ thời hạn đề xuất và xử lý khoản nợ có bảo đảm
25