PHÒNG GDĐT CHÂU PHÚ
TRƯỜNG TIỂU HỌC A ĐÀO HỮU CẢNH
BÁO CÁO
KẾT QUẢ THỰC HIỆN SÁNG KIẾN
ỨNG DỤNG PHẦN MỀM EXCEL VÀO VIỆC ĐÁNH
GIÁ, XẾP LOẠI HỌC SINH THEO THÔNG TƯ 22 Ở
TRƯỜNG TIỂU HỌC A ĐÀO HỮU CẢNH
Người thực hiện: Nguyễn Thanh Phong
Năm học: 2017-2018
1
2
PHÒNG GDĐT CHÂU PHÚ
TRƯỜNG TH A ĐÀO HỮU CẢNH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BÁO CÁO
Kết quả thực hiện sáng kiến Ứng dụng Phần mềm Excel vào việc Đánh giá,
xếp loại học sinh theo thông tư 22 ở trường Tiểu học A Đào Hữu Cảnh.
I. Sơ lược lí lịch tác giả:
- Họ và tên:
Nguyễn Thanh Phong
Nam
- Ngày tháng năm sinh: 03/04/1972
- Nơi thường trú: Ấp Hưng Thới, xã Đào Hữu Cảnh, huyện Châu Phú,
tỉnh An Giang.
- Điện thoại:
0982.111.636
- E-mail:
- Chức vụ hiện nay:
Phó Hiệu trưởng
- Đơn vị công tác:
Trường Tiểu học A Đào Hữu Cảnh.
II. Sơ lược tình hình đơn vị:
1. Thuận lợi:
Trường TH A Đào Hữu Cảnh là một trường trường thuộc vùng trong của
huyện Châu Phú, giao thông tương đối thuận lợi, hạ tầng kĩ thuật tương đối hoàn
chỉnh. Mạng viễn thông, thông tin liên lạc phát triển khá tốt.
Nhân dân trên địa bàn đa số là nông dân, một số sông bằng nghề mua
bán và làm dịch vụ.
Cơ sở vật chất, cảnh quan trường học khang trang đầy đủ, đảm bảo tốt
cho nhu cầu dạy và học.
2. Khó khăn:
Thu nhập của Giáo viên còn nhiều hạn chế, đời sông của giáo viên còn
khó khăn.
Một số giáo viên của trường lớn tuổi nên khả năng ứng dụng công nghệ
thông tin vào quản lí và dạy gặp nhiều khó khăn.
Tên sáng kiến kinh nghiệm: Ứng dụng Phần mềm Excel vào việc
Đánh giá, xếp loại học sinh theo thông tư 22 ở trường Tiểu học A Đào Hữu
Cảnh.
Lĩnh vực: Quản lí giáo dục
III. Mục đích, yêu cầu của sáng kiến kinh nghiệm:
1. Thực trạng ban đầu trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:
1.1. Thuận lợi:
- Nhà trường đã sớm đầu tư trang thiết bị để đưa ứng dụng Công nghệ
thông tin vào đổi mới quản lý và phương pháp dạy và học từ nhiều năm nay.
Phong trào ứng dụng Công nghệ thông tin đưa vào quản lý trường học, giảng
dạy và học tập đã thu hút được sự chủ động tiếp thu kiến thức một cách tích cực
của CB-GV-NV và học sinh.
3
- Trường hiện có 3 máy vi tính, 1 projector, và nối mạng Internet cho 3
máy tính phục vụ nhà trường, phục vụ giảng dạy của giáo viên và học tập của
học sinh.
- Nhà trường luôn tạo điều kiện, động viên giáo viên học tập nâng cao
trình độ Tin học.
- Giáo viên đã tự trang bị cho mình máy tính cá nhân và Laptop đạt
100%.
- Trường thành lập được một tổ chuyên hỗ trợ anh em giáo viên trong
việc ứng dụng công nghệ thông tin và quản lí và dạy học.
1.2. Về khó khăn:
- Kiến thức cơ bản về CNTT đối với phần lớn CB-GV-NV còn quá mới
mẻ, gây lúng túng cho một số giáo viên, nhất là người lớn tuổi.
- Giáo viên chỉ quen thao tác với Microsoft Word còn phần mềm Excel
vẫn còn là một điều mới mẻ với một số giáo viên, ngại mất nhiều thời gian, cũng
như số liệu trong bảng tính Excel.
- Giáo viên rất nhọc nhằn với việc ghi chép nhận xét đánh giá học sinh.
- Hàng năm học sinh phải bỏ ra một số tiền để mua Sổ Liên lạc, giáo
viên phải tự bỏ tiền túi bù cho những học sinh khó khăn không có tiền mua Sổ
liên lạc.
2. Sự cần thiết phải áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:
2.1. Cơ sở thực tiễn:
Như chúng ta đã biết, sự phát triển nhanh của ngành khoa học và công
nghệ đã đem lại những thành tựu to lớn trong mọi hoạt động của con người. Đối
với ngành giáo dục và đào tạo, việc ứng dụng CNTT chính là việc sử dụng các
dịch vụ về CNTT (phần mềm và các thiết bị kỹ thuật) để hỗ trợ cho quản lý dạy
và học. Về mặt lý luận và thực tiễn, ứng dụng CNTT góp phần tích cực nâng cao
hiệu quả của công tác quản lý, dạy học. Về góc độ thông tin, bản chất của công
tác quản lý là thu thập và xử lý các thông tin. Về quá trình dạy học, con đường
nhận thức đúng đắn cũng đã được khẳng định: trực quan sinh động - tư duy trừu
tượng - thực tiễn. Việc ứng dụng CNTT tác động vào bản chất của cả hai nội
dung: quản lý và dạy học. Đặc biệt việc ứng dụng CNTT giúp tăng cường kênh
tiếng và kênh hình – tăng tính trực quan, góp phần rất tích cực vào việc đổi mới
phương pháp quản lý và dạy học hiện nay.
Vì vậy việc ứng dụng CNTT vào trường học là việc làm cần thiết và
đúng đắn. Chính vì thế trong năm học này tôi quyết định chọn đề tài “Ứng dụng
Phần mềm Excel vào việc Đánh giá, xếp loại học sinh theo thông tư 22 ở
trường Tiểu học A Đào Hữu Cảnh.” để làm đề tài nghiên cứu.
2.2. Cơ sở lí luận :
Quán triệt và thực hiện tinh thần công văn số 21/SGDĐT-TVTB ngày
06/09/2017 về việc hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ CNTT và công tác năm học
2017-2018 của Sở GDĐT An Giang, công văn số 1102/HD-PGDĐT ngày
25/08/2017 của Phòng GDĐT Châu Phú về việc Hướng dẫn nhiệm vụ năm học
4
2017-2018 và công văn số 1060/PGDĐ-TVTB ngày 06/09/2017 về việc hướng
dẫn nhiệm vụ công nghệ thông tin và công tác Thư viện-Thiết bị năm học 20172018.
Tập trung đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, quản
lý. Bản thân tôi tập trung nghiên cứu, khuyến khích và động viên đội ngũ sử
dụng CNTT trong quá trình giảng dạy, đánh giá, xếp loại học sinh. Có thể nói
việc vận dụng những ứng dụng của CNTT đã đem lại những hiệu quả đáng
khích lệ trong quá trình quản lý và giảng dạy tại trường TH A Đào Hữu Cảnh
trong năm 2017– 2018.
Đối với công tác quản lý giáo dục tại nhà trường, việc vận dụng CNTT
đã tạo ra một phương thức làm việc mới nhẹ nhàng trong việc thực hiện hồ sơ sổ
sách và báo cáo. Tất cả đội ngũ giáo viên đều nhận thấy việc áp dụng những
thành tựu CNTT vào quá trình thực hiện nhiệm vụ giáo dục là một việc làm vô
cùng cần thiết và hợp lý.
3. Nội dung của sáng kiến:
3.1. Vận dụng CNTT vào quá trình chỉ đạo và quản lý nhà trường:
- Ngay từ đầu năm học, BGH nhà trường đã quán triệt với đội ngũ tinh
thần làm việc và xin ý kiến việc áp dụng phần mềm Excel vào việc đánh giá xếp
loại học sinh do bản thân tôi thiết kế. Trong phiên họp, tôi đã trình bày chi tiết
những thuận lợi, tiện dụng mà phần mềm mang lại. Cũng như một vài yêu cầu
cơ bản của việc áp dụng phần mềm này.
- BGH công khai địa chỉ mail của từng thành viên trong tổ hỗ trợ công
nghệ thông tin của trường để khi cần, giáo viên có thể chủ động liên hệ, trao đổi
công việc. Qua việc thực hiện trao đổi thông tin, bản thân đã nắm bắt được tâm
tư, nguyện vọng, cũng như những trăn trở, khó khăn của một số giáo viên, để
động viên và chia sẻ thêm trong quá trình thực hiện chương trình. Từ đó phần
nào giải tỏa những khó khăn, vướng mắc từ phía giáo viên, đồng thời tạo cho đội
ngũ có sự tin tưởng hơn đối với BGH nhà trường.
Vài hình ảnh về phần mềm “Đánh giá Xếp loại Học sinh”.
5
6
7
8
9
10
11
12
- Việc sử dụng phần mềm Đánh giá, xếp loại học sinh do bản thân thiết
kế rất đơn giản, ngay cả đối với những người không thành thạo lắm Excel.
- Trước khi sử dụng, bản thân người dùng cần đọc “HDSD” (Hướng dẫn
sử dụng) chỉ có 01 trang A4, hướng dẫn chi tiết, gần gũi, dễ thực hiện.
- Tiếp đến, người dùng kê khai “Trang bia” những thông tin cần thiết về
cá nhân. Sau đó sang trang “LLHS” nhập danh sách học sinh theo mẫu. Chương
trình sẽ tự thống kê: Sĩ số học sinh, số nữ, độ tuổi học sinh. Phần học tên học
sinh được nhập tự động sang các trang “Đánh giá-Xếp loại” khác trong phần
mềm. Điều nay giúp tiết kiệm được rất nhiều thời gian, công sức và độ chính
xác cho việc công tác thống kê và báo cáo số liệu sau khi kiểm tra.
- Giáo viên có thể đánh giá, xếp loại học sinh bất kì thời điểm nào. Khi
cần đánh giá chỉ việc mở phần mềm lên, vào trang môn cần đánh giá, Clik, chọn
“Mức đạt được” của học sinh, nhập nhận xét môn học cho học sinh sau đó lưu
lại (Save, hoặc Save as). Nếu các môn có điểm kiểm tra thì nhập thêm điểm
Kiểm tra vào.
Ví dụ: Nhập môn Tiếng Việt
Giáo viên chỉ cần Clik, chọn “T, H, C”, nhập điểm kiểm tra, nhập nhận
xét môn học.
- Sau mỗi kì kiểm tra, giáo viên nhập nhận xét đánh giá, xếp loại học
sinh ở tất cả các môn và Save File từng kì kiểm tra.
- Đối với các môn học chuyên, giáo viên chuyên có nhiệm vụ nhận xét,
đánh giá, xếp loại môn học của mình và gửi File về cho GVCN nhập vào File
nhận xét, đánh giá xếp loại của lớp.
- Những thông tin GVCN nhập riêng từng môn sẽ được tự động liên kêt
với nhau và xuất ra bảng tổng hợp “Đánh giá-xếp loại” cuối kì kiểm tra.
- Sau GVCN chỉ việc in “PLL” (Phiếu Liên lạc), kí tên và gửi cho gia
đình học sinh. Công việc in ấn cũng vô cùng tiện lợi và dễ dàng. GVCN chỉ cần
nhập STT học sinh trong danh sách lớp vào ô STT và ra lệnh in.
Nhập STT học sinh
13
Chương trình cũng tự động Tổng hợp Đánh giá, xếp loại học sinh theo
từng kì.
Cuối cùng GVCN lớp gửi File “Đánh giá, xếp loại học sinh” của lớp
mình theo từng kì về BGH kiểm tra và lưu trữ.
Mức độ khả thi:
Những điều kiện cần thiết để áp dụng giải pháp:
+ Giáo viên cần có kiến thức cơ bản về tin học văn phòng.
+ Bản thân phải có máy vi tính, máy in.
Chương trình chạy được trên tất cả mọi hệ điều hành Windows.
Tất cả mọi người đều có thể áp dụng được.
IV. Hiệu quả đạt được:
- Có thể nói từ đầu năm học 2017 – 2018 đến nay, bản thân tôi tập trung
vận động, khuyến khích và động viên đội ngũ sử dụng CNTT trong quá trình
giảng dạy và quản lí lớp học, trường Tiểu học A Đào Hữu Cảnh đã có những
bước chuyển biến khá tích cực, việc vận dụng CNTT trong quản lý đã giúp cho
BGH và các bộ phận trong nhà trường liên hệ và phối hợp nhịp nhàng hơn với
nhau. Thông tin nhanh, chính xác, nguồn tài nguyên phong phú, đa dạng đã phần
nào giảm bớt cường độ lao động cho người quản lý và nhân viên văn phòng.
- Hoạt động giảng dạy của nhà trường đều có sự đổi mới tích cực về
phương pháp. Giáo viên đã chủ động đầu tư cho công tác giảng dạy nhiều hơn.
Tất cả những hoạt động này đều đạt được hiệu quả như mong muốn.
- Số liệu báo cáo thực hiện nhanh chóng chính xác và kịp thời.
- Việc tổ chức các hoạt động giáo dục chính trị tư tưởng cho đội ngũ giáo
viên và học sinh toàn trường cũng gặp nhiều thuận lợi.
- Với những kết quả đã đạt được khi vận dụng CNTT trong thực tiễn đã
chứng minh xu thế hội nhập của nhà trường nhằm thực hiện tốt mục tiêu và
14
nhiệm vụ trong năm học 2017–2018. Với những nền tảng cơ bản này, nhà
trường sẽ nổ lực không ngừng để phát huy hơn nữa vai trò của CNTT trong công
tác Quản lý và thực hiện nhiệm vụ chuyên môn. Bên cạnh đó nhà trường sẽ tiếp
tục bồi dưỡng về nhận thức tư tưởng, kiến thức và kỹ năng cơ bản về CNTT cho
đội ngũ để các bộ phận và các cá nhân có thể ứng dụng vào công việc của mình
sao cho hiệu quả nhất.
V. Mức độ ảnh hưởng:
- Với chương trình này thì mọi người, mọi vùng miền đều có thể thực
hiện được.
- Với những yêu cầu cơ bản về tin học văn phòng, thì việc sử dụng phần
mềm vào quản lí, dạy học, Đánh giá-Xếp loại học sinh là hoàn toàn khả thi.
VI. Kết luận:
- Việc ứng dụng CNTT vào công tác quản lí, dạy học sẽ mang lại lợi ích
vô cùng to lớn. Bản thân mỗi CB-GV-NV cần phải tự nổ lực, trau dồi và bổ sung
kiến thức về CNTT thông qua nhiều kênh khác nhau để nâng cao công tác quản
lí, giảng dạy vào giáo duc, nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới của Giáo dục nước
nhà, thực hiện thành công việc xây dựng đất nước, hoàn thành công cuộc “Công
nghiệp hóa-Hiện đại hóa” đất nước trong thời kì mới.
- BGH cần truyền đạt tinh thần UDCNTT trong mọi hoạt động đến tất cả
các thành viên trong hội đồng sư phạm. Chứng minh cụ thể những hiệu quả mà
UDCTT mang lại trong quá trình công tác.
- Hãy luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi để đội ngũ hoàn thành nhiệm vụ
được giao với hiệu quả cao nhất.
- Có kế hoạch đầu tư, bồi dưỡng để đội ngũ tự tin, mạnh dạn vận dụng
UDCNTT trong công việc.
- Nhân rộng các gương điển hình ứng CNTT trong giảng dạy, công tác,
để đội ngũ học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm thông qua các tiết thao giảng, chuyên
đề, hội thảo…
- CBQL luôn là người bạn đồng hành, sẵn sàng chia sẻ, học hỏi tất cả
những thành viên trong nhà trường.
Trên đây là một số kinh nghiệm nhỏ trong công tác chỉ đạo và quản lý
ứng dụng công nghệ thông tin trong trường tiểu học. Đã giúp tôi vận dụng vào
công tác chỉ đạo UDCNTT vào quản lí, dạy học hiện nay và những năm tiếp
theo. Tôi nghĩ, với kinh nghiệm này được áp dụng nhiều tại đơn vị và cũng có
thể áp dụng ở những đơn vị trường tiểu học khác.
Tôi cam đoan những nội dung báo cáo trên là đúng sự thật.
Xác nhận của đơn vị áp dụng sáng kiến
Người viết sáng kiến
15