Tải bản đầy đủ (.doc) (35 trang)

Quy luật lượng và chất về vấn đề phát triển nguồn nhân lực ở việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (253.86 KB, 35 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
----------

BÀI TIỂU LUẬN
LỚP 58C.OT
NHÓM 1

Chủ đề : Quy luật Lượng và Chất về vấn đề phát
triển nguồn nhân lực ở Việt Nam.

Giáo viên h ướng dẫn : Trịnh Công Tráng



MỤC LỤC
Lời mở đầu-------------------------------------------------------------------------------- 2
I. Quan niệm của lượng và chất trong triết học Mac-lênin------------------------- 3
1. Chất là gì?------------------------------------------------------------------------- -- 3
2. Lượng là gì?-------------------------------------------------------------------------- 4
3. Quan hệ biện chứng giữa lượng và chất------------------------------------------ 5
a. Tiểu sử thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất------------------------ 5
b. Chất mới ra đời quy định lượng mới--------------------------------------------- 5
4. Ý nghĩa phượng pháp luận---------------------------------------------------------- 5
II. Sự phát triển nguồn nhân ở Việt Nam---------------------------------------------- 6
1. Khái niệm---------------------------------------------------------------------------- 6
a. Những nhận thức chung về ngồn nhân lực-------------------------------------- 6
b. Vai trò nguồn nhân lực chất lượng cao đối với sự phát triển kinh tế- xã hội
hiện nay----------------------------------------------------------------------------------- 10
2. Thực trạng nhân lực Việt Nam--------------------------------------------------- 10
3. Phương hướng và giải pháp về phát triển nhân lực Việt Nam--------------- 16


4. Ý nghĩa------------------------------------------------------------------------------ 24
III. Vận dụng quy luật lượng chất trong quá trình phát triển nguồn nhân lực
ở Việt Nam-------------------------------------------------------------------------------- 25
1. Những chuyển biến cơ bản-------------------------------------------------------- 25
2. Những sai lầm , hạn chế----------------------------------------------------------- 25
3. Thành công-------------------------------------------------------------------------- 26
4. Giải pháp---------------------------------------------------------------------------- 27
a. Đào tạo nguồn nhân lực phải là động lực cho sự đổi mới sáng tạo của một
quốc gia------------------------------------------------------------------------------------ 27
b. Một số giả pháp nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân ---------------- 30
5. Ý nghĩa thực tiễn------------------------------------------------------------------- 32
IV. Kết luận------------------------------------------------------------------------------- 33


LỜI MỞ ĐẦU
Trong đời sống hằng ngày, đằng sau các hiện tượng muôn hình muôn vẻ,
con người dần dần nhận thức được tính trật tự và mối quan hệ có tính lặp lại của
các hiện tượng, từ đó hình thành nên khái niệm “quy luật”. Với tư cách là phạm
trù của lý luận nhận thức, khái niệm “quy luật” là sản phẩm của khoa học, phản
ánh sự liên hệ của sự vật và tính chỉnh thể của chúng. Các quy luật của tự nhiên,
của xã hội cũng như của tư duy con người đều mang tính khách quan. Con người
không thể tạo ra hoặc tự xóa bỏ được quy luật mà chỉ nhận thức và vận dụng nó
trong thực tiễn. Quy luật từ những thay đổi về lượng dễ đến sự thay đổi về chất
được gọi là quy luật lượng-chất là một trong ba quy luật của phép biện chứng
duy vậ, nó cho biết phương thức của sự vận động và phát triển. Với tính chất đó
quy luật lượng và chất đã chiếm giữ vị trí quan trọng trong vai trò phương pháp
luận của triết học Mác- Lênin . Nhận thức được quy luật này có ý nghĩa rất quan
trọng trong hoạt động thực tiễn khi chúng ta xem xét các sự vật, hiện tượng. Quy
luật lượng - chất là vấn đề đã được nhiều nhà triết học từ trước đến nay rất quan
tâm, nhưng đến khi chủ nghĩa Mác ra đời thì quy luật này mới được trình bày

một cách khoa học, có hệ thống với các cơ sở lý luận đầy đủ nhất. Hiện nay cả
nước đang quan tâm đến vấn đề giáo dục, với mong muốn nước ta sớm có được
một nền giáo dục tiên tiến, đáp ứng yêu cầu phát triển ngày càng cao của đất
nước. Hơn nữa, phát triển nguồn nhân lực đang trở thành đòi hỏi bức thiết hàng
đầu trên chặng đường công nghiệp hóa hiện đại hóa hiện nay của đất nước. Thực
trạng nguồn nhân lực hiện nay khó cho phép tận dụng tốt nhất cơ hội đang đến
với đất nước. Không mau chóng khắc phục được yếu kém này, có nguy cơ khó
vượt qua những thách thức mới, sẽ kéo dài sự tụt hậu của đất nước với nhiều hệ
lụy nan giải. Cho nên hôm nay nhóm em sẽ trình bày về vấn đề “ Quy luật Lượng
và Chất trong vấn đề phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam:


NỘI DUNG
Quy luật Lượng và Chất về vấn đề phát triển
nguồn nhân lực ở Việt Nam.
I . Quan niệm của Lượng và Chất trong triết học Mác-Lênin:
1. Chất là gì:
Chất là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự
vật, hiện tượng, đó là sự thống nhất hữu cơ của những thuộc tính, những yếu tố
cấu thành sự vật, hiện tượng, nói lên sự vật, hiện tượng đó là gì, phân biệt nó với
các sự vật, hiện tượng khác. Mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới đều có những
chất vốn có, làm nên chính chúng. Nhờ đó chúng mới khác với các sự vật, hiện
tượng khác.
Chất có tính khách quan, là cái vốn có của sự vật, hiện tượng, do những thuộc
tính, những yếu tố cấu thành quy định. Thuộc tính của sự vật là những tính chất,
những trạng thái, những yếu tố cấu thành sự vật. Đó là những cái vốn có của sự
vật từ khi sự vật được sinh ra hoặc được hình thành trong sự vận động và phát
triển của nó. Tuy nhiên những thuộc tính vốn có của sự vật, hiện tượng chỉ được
bộc lộ ra thông qua sự tác động qua lại với các sự vật, hiện tượng khác.
Mỗi sự vật có rất nhiều thuộc tính trong đó mỗi thuộc tính lại biểu hiện một chất

của sự vật. Do vậy, mỗi sự vật có rất nhiều chất. Chất và sự vật có mối quan hệ
chặt chẽ, không tách rời nhau. Trong hiện thực khách quan không thể tồn tại sự
vật không có chất và không thể có chất nằm ngoài sự vật. Chất của sự vật được
biểu hiện qua những thuộc tính của nó. Nhưng không phải bất kỳ thuộc tính nào
cũng biểu hiện chất của sự vật. Thuộc tính của sự vật có thuộc tính cơ bản và
thuộc tính không cơ bản.
Những thuộc tính cơ bản được tổng hợp lại tạo thành chất của sự vật. Chính
chúng quy định sự tồn tại, sự vận động và sự phát triển của sự vật, chỉ khi nào
chúng thay đổi hay mất đi thì sự vật mới thay đổi hay mất đi. Những thuộc tính


của sự vật chỉ bộc lộ qua các mối liên hệ cụ thể với các sự vật khác. Sự phân chia
thuộc tính thành thuộc tính cơ bản và thuộc tính không cơ bản cũng chỉ mang
tính chất tương đối, tùy theo từng mối quan hệ. Chất của sự vật không những quy
định bởi chất của những yếu tố tạo thành mà còn bởi phương thức liên kết giữa
các yếu tố tạo thành, nghĩa là bởi kết cấu của sự vật. Trong hiện thực các sự vật
được tạo thành bởi các yếu tố như nhau, song chất của chúng lại khác nhau.
Mỗi sự vật có vô vàn chất: vì sự phân biệt giữa chất và thuộc tính chỉ có ý nghĩa
tương đối, song sự vật có vô vàn thuộc tính nên có vô vàn chất. Chất và sự vật
không tách rời nhau: chất là chất của sự vật, còn sự vật tồn tại với tính quy định
về chất của nó. Chất biểu hiện trạng thái tương đối ổn định của sự vật, là sự kết
hợp tương đối trọn vẹn, hoàn chỉnh, bền vững các thuộc tính của sự vật, làm cho
sự vật này không hòa lẫn với sự vật khác mà tách biệt cái này với cái khác. Chất
luôn gắn liền với lượng của sự vật.
Ví dụ: Một chiếc iphone có rất nhiều thuộc tính như nhắn tin, gọi điện, soạn thảo
văn bản; xem thời gian, ngày tháng, giải trí...
2.Lượng là gì:
Lượng là phạm trù triết học dùng để chỉ tính quy định vốn có của sự vật về mặt
số lượng, quy mô, trình độ, nhịp điệu của sự vận động và phát triển cũng như các
thuộc tính của sự vật, biểu hiện bằng con số các thuộc tính, các yếu tố cấu thành

nó. Lượng là cái khách quan, vốn có của sự vật, quy định sự vật ấy là nó. Lượng
của sự vật không phụ thuộc vào ý chí, ý thức của con người. Lượng của sự vật
biểu thị kích thước dài hay ngắn, số lượng nhiều hay ít, quy mô lớn hay nhỏ,
trình độ cao hay thấp, nhịp điệu nhanh hay chậm…
Trong thực tế lượng của sự vật thường được xác định bởi những đơn vị đo lượng
cụ thể như vận tốc của ánh sáng là 300.000 km trong một giây hay một phân tử
nước bao gồm hai nguyên tử hydro liên kết với một nguyên tử oxy,… bên cạnh
đó có những lượng chỉ có thể biểu thị dưới dạng trừu tượng và khái quát như
trình độ nhận thức tri của một người ý thức trách nhiệm cao hay thấp của một


công dân,... trong những trường hợp đó chúng ta chỉ có thể nhận thức được lượng
của sự vật bằng con đường trừu tượng và khái quát hoá.
Có những lượng biểu thị yếu tố kết cấu bên trong của sự vật (số lượng nguyên tử
hợp thành nguyên tố hoá học, số lượng lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội) có
những lượng vạch ra yếu tố quy định bên ngoài của sự vật (chiều dài, chiều rộng,
chiều cao của sự vật). Bản thân lượng không nói lên sự vật đó là gì, các thông số
về lượng không ổn định mà thường xuyên biến đổi cùng với sự vận động biến
đổi của sự vật, đó là mặt không ổn định của sự vật.
Ví dụ: Tính trừu tượng như: Dân tộc ta có lòng yêu nước nồng nàn.
3. Quan hệ biện chứng giữa chất và lượng:
a. Tiểu sử thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất:
Mọi sự vật của thế giới đều có mặt chất va lượng. Chúng là hai tính quy định
vốn có của sự vật và thống nhất hữu cơ với nhau trong giới hạn độ. Chất là mặt
tương đối ổn định , lượng là mặt biến đổi thường xuyên hơn. Trong giới hạn độ
của sinh vật không ngừng biến đổi , song chưa làm cho sự vật chuyển sang chất
mới. Lượng biến đổi đến mức vượt quá độ tới điểm nút thì phá vỡ chất cũ, chất
mới được hình thành.
b. Chất mới ra đời quyết định lượng mới:
Chất mới ra đời quy định lượng mới nó thể hiện ở quy mô mới, mức độ, nhịp

điệu mới của sự vật.
Những chất mới lại tiếp tục biến đổi đến một mức độ nào đó phá vỡ chất cũ chất
mới lại được hình thành.
Quá trình đó lặp đi lặp lại không ngừng tạo nên cách thức, cơ chế, hình thái của
sự phát triển là tõ sù thay đổi dần dần về lượng dẫn đến thay đổi về chất và
ngược lại
4.Ý nghĩa phương pháp luận:
Từ việc nghiên cứu quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những
thay đổi về chất và ngược lại có thể rút ra các kết luận có ý nghĩa phương pháp
luận sau đây :


- Sự vận động và phát triển của sự vật bao giờ cũng diễn ra bằng cách tích luỹ
dần dần về lượng đến một giới hạn nhất định, thực hiện bước nhảy để chuyển về
chất. Do đó, trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn, con người phải
biết từng bước tích luỹ về lượng để làm biến đổi về chất theo quy luật. Trong
hoạt động của mình, ông cha ta đã rút ra những tư tưởng sâu sắc như "tích tiểu
thành đại", "năng nhặt, chặt bị", "góp gió thành bão",... - Quy luật của tự nhiên
và quy luật của xã hội đều có tính khách quan. Song quy luật của tự nhiên diễn
ra một cách tự phát, còn quy luật của xã hội chỉ được thực hiện thông qua hoạt
động có ý thức của con người- Trong hoạt động con người còn phải biết vận
dụng linh hoạt các hình thức của bước nhảy. Sự vận dụng này tùy thuộc vào việc
phân tích đúng đắn những điều kiện khách quan và những nhân tố chủ quan, tùy
theo từng trường hợp cụ thể, từng điều kiện cụ thể hay quan hệ cụ thể. Mặt khác,
đời sống xã hội của con người rất đa dạng, phong phú do rất nhiều yếu tố cấu
thành Sự thay đổi về chất của sự vật còn phụ thuộc vào sự thay đổi phương thức
liên kết giữa các yếu tố tạo thành sự vật. Do đó, trong hoạt động phải biết cách
tác động vào phương thức liên kết giữa các yếu tố tạo thành sự vật trên cơ sở
hiểu rõ bản chất, quy luật, kết cấu của sự vật đó. Chẳng hạn, trên cơ sở hiểu biết
đúng đắn về gen, con người có thể tác động vào phương thức liên kết giữa các

nhân tố tạo thành gen làm cho gen biến đổi. Trong một tập thể cơ chế quản lý,
lãnh đạo và quan hệ giữa các thành viên trong tập thể ấy thay đổi có tính chất
toàn bộ thì rất có thể sẽ làm cho tập thể đó vững mạnh.
II. Sự phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam:
1. Khái niệm:
a.

Những

nhận

thức

chung

về

nguồn

nhân

lực:

Một quốc gia muốn phát triển thì cần phải có các nguồn lực của sự phát triển linh
tế như: tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học - công nghệ, con người … Trong
các nguồn lực đó thì nguồn lực con người là quan trọng nhất, có tính chất quyết
định trong sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của mọi quốc gia từ trước đến nay.
Một nước cho dù có tài nguyên thiên nhiên phong phú, máy móc kỹ thuật hiện
đại nhưng không có những con người có trình độ, có đủ khả năng khai thác các
nguồn lực đó thì khó có khả năng có thể đạt được sự phát triển như mong muốn.

Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và ngày nay trong công cuộc


hội nhập và phát triển nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,
dân chủ, văn minh”, Đảng ta luôn xác định: Nguồn lao động dồi dào, con người
Việt Nam có truyền thông yêu nước, cần cù, sáng tạo, có nền tảng văn hoá, giáo
dục, có khả năng nắm bắt nhanh khoa học và công nghệ là nguồn lực quan trọng
nhất

-

nguồn

năng

lực

nội

sinh.

Vậy

nguồn

nhân

lực




gì?

Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực. Theo Liên Hợp
Quốc thì “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng
lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân


của

đất

nước”.

Ngân hàng thế giới cho rằng: nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm
thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân. Như vậy, ở đây nguồn
lực con người được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác:
vốn

tiền

Theo

tổ

tệ,

công
chức


nghệ,
lao

tài

nguyên

động

thiên

nhiên.

tế

thì.

quốc

Nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả
năng

tham

gia

lao

động


.

Nguồn nhân lực được hiểu theo hai nghĩa: Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực là
nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người
cho sự phát triển. Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát
triển bình thường. Theo nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã
hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, bao gồm các nhóm dân cư
trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là
toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố
về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động.
Kinh tế phát triển cho rằng: nguồn nhân lực là một bộ phận dân số trong độ
tuổi quy định có khả năng tham gia lao động. nguồn nhân lực được biểu hiện trên
hai mặt: về số lượng đó là tổng số những người trong độ tuổi lao động làm việc
theo quy định của Nhà nước và thời gian lao động có thể huy động được từ họ;
về chất lượng, đó là sức khoẻ và trình độ chuyên môn, kiến thức và trình độ lành
nghề của người lao động. Nguồn lao động là tổng số những người trong độ tuổi
lao động quy định đang tham gia lao động hoặc đang tích cực tìm kiếm việc làm.
Nguồn lao động cũng được hiểu trên hai mặt: số lượng và chất lượng. Như vậy


theo khái niệm này, có một số được tính là nguồn nhân lực nhưng lại không phải
là nguồn lao động, đó là: Những người không có việc làm nhưng không tích cực
tìm kiếm việc làm, tức là những người không có nhu cầu tìm việc làm, những
người

trong

độ

tuổi


lao

động

quy

định

nhưng

đang

đi

học…

Từ những quan niệm trên, tiếp cận dưới góc độ của Kinh tế Chính trị có thể hiểu:
nguồn nhân lực là tổng hoà thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao
động xã hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao
động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử được vận dụng để sản xuất ra của cải
vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước.
Trong thời đại ngày nay, con người được coi là một '' tài nguyên đặc biệt '', một
nguồn lực của sự phát triển kinh tế. Bởi vậy việc phát triển con người, phát triển
Nguồn nhân lực trở thành vấn đề chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống phát triển
các nguồn lực. Chăm lo đầy đủ đến con người là yếu tố bảo đảm chắc chắn nhất
cho sự phồn vinh, thịnh vượng của mọi quốc gia. Đầu tư cho con người là đầu tư
có tinh chiến lược , là cơ sở chắc chắn nhất cho sự phát triển bền vững.
Cho đến nay, do xuất phát từ các cách tiếp cận khác nhau, nên vẫn có nhiều cách
hiểu khác nhau khi bàn về phát triển nguồn nhân lực. Theo quan niệm của Liên

hiệp quốc, phát triển nguồn nhân lực bao gồm giáo dục, đào tạo và sử dụng tiềm
năng con người nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao chất lượng
cuộc

sống.

nguồn

nhân

lực.

Có quan điểm cho rằng: Phát triển nguồn nhân lực: là gia tăng giá trị cho con
người, cả giá trị vật chất và tinh thần, cả trí tuệ lẫn tâm hồn cũng như kỹ năng
nghề nghiệp, làm cho con người trở thành người lao động có những năng lực và
phẩm chất mới, cao hơn, đáp ứng được những yêu cầu to lớn và ngày càng tăng
của

sự

phát

triển

kinh

tế

-




hội.

Một số tác giả khác lại quan niệm: Phát triển là quá trình nâng cao năng lực của
con người về mọi mặt: Thể lực, trí lực, tâm lực, đồng thời phân bổ, sử dụng, khai
thác và phát huy hiệu quả nhất nguồn nhân lực thông qua hệ thống phân công lao
động



giải

quyết

việc

làm

để

phát

triển

kinh

tế-




hội.

Từ những luận điểm trình bày trên, phát triển nguồn nhân lực của một quốc gia:
chính là sự biến đổi về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực trên các mặt thể
lực, trí lực, kỹ năng, kiến thức và tinh thần cùng với quá trình tạo ra những biến


đổi tiến bộ về cơ cấu nguồn nhân lực . Nói một cách khái quát nhất, phát triển
nguồn nhân lực chính là quá trình tạo lập và sử dụng năng lực toàn diện con
người vì sự tiến bộ kinh tế- xã hội và sự hoàn thiện bản thân mỗi con người.
Như vậy, phát triển nguồn nhân lực với nội hàm trên đây thực chất là đề cập đến
vấn đề chất lượng nguồn nhân lực và khía cạnh xã hội của nguồn nhân lực của
một

quốc

gia

Nguồn nhân lực chất lượng cao là khái niệm để chỉ một con người, một
người lao động cụ thể có trình độ lành nghề ( về chuyên môn, kỹ thuật) ứng với
một ngành nghề cụ thể theo tiêu thức phân loại lao động về chuyên môn, kỹ thuật
nhất định (Đại học, trên đại học, cao đẳng, lao động kỹ thuật lành nghề.
Giữa chất lượng NNL và NNL CLC có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong mối
quan hệ giữa cái chung và cái riêng. Nói đến chất lượng NNL là muốn nói đến
tổng thể NNL của một quốc gia, trong đó NNL CLC là bộ phận cấu thành đặc
biệt quan trọng, là nhóm tinh tuý nhất, có chất lượng nhất. Bởi vậy, khi bàn về
NNL CLC không thể không đặt nó trong tổng thể vấn đề chất lượng nguồn nhân
lực


nói

chung

của

một

đất

nước.

Nguồn nhân lực chất lượng cao là NNL phải đáp ứng được yêu cầu của thị
trường ( yêu cầu của các doanh nghiệp trong và ngoài nước), đó là: có kiến thức:
chuyên môn, kinh tế, tin học; có kỹ năng: kỹ thuật, tìm và tự tạo việc làm, làm
việc an toàn, làm việc hợp tác; có thái độ, tác phong làm việc tốt, trách nhiệm với
công

việc.

Như vậy, NNL CLC cao phải là những con người phát triển cả về trí lực và thể
lực, cả về khả năng lao động, về tính tích cực chính trị- xã hội, về đạo đức, tình
cảm trong sáng. Nguồn nhân lực chất lượng cao có thể không cần đông về số
lượng,

nhưng

phải

đi


vào

thực

chất.

Trong thế giới hiện đại, khi chuyển dần sang nền kinh tế chủ yếu dựa trên tri thức
và trong xu thế toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế, NNL đặc biệt là NNL
CLC ngày càng thể hiện vai trò quyết định của nó. Các lý thuyết tăng trưởng gần
đây chỉ ra rằng, một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh và ở mức cao phải dựa
trên ít nhất ba trụ cột cơ bản: áp dụng công nghệ mới, phát triển hạ tầng cơ sở
hiện đại và nâng cao chất lượng NNL. Trong đó động lực quan trọng nhất của sự
tăng trưởng kinh tế bền vững chính là những con người, đặc biệt là NNL CLC,


tức là những con người được đầu tư phát triển, có kỹ năng, kiến thức, tay nghề,
kinh nghiệm, năng lực sáng tạo nhằm trở thành “nguồn vốn - vốn con người, vốn
nhân lực”. Bởi trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động và cạnh tranh quyết
liệt, phần thắng sẽ thuộc về những quốc gia có NNL CLC, có môi trường pháp lý
thuận lợi cho đầu tư, có môi trường chính trị- xã hội ổn định.
b. Vai trò nguồn nhân lực chất lượng cao đối với sự phát triển kinh tế- xã hội
ta

hiện

nay:

Mối quan hệ giữa nguồn lao động với phát triển kinh tế thì nguồn lao động luôn
luôn đóng vai trò quyết định đối với mọi hoạt động kinh tế trong các nguồn lực

để

phát

triển

kinh

tế.

Theo nhà kinh tế người Anh , William Petty cho rằng lao động là cha, đất đai

mẹ của mọi của cải vật chất; C.Mác cho rằng con người là yếu tố số một của
LSX. Trong truyền thống VN xác định ''Hiền tài là nguyên khí của quốc gia ".
Nhà tương lai Mỹ Avill Toffer nhấn mạnh vai trò của lao động tri thức, theo ông
ta "Tiền bạc tiêu mãi cũng hết, quyền lực rồi sẽ mất; Chỉ có trí tuệ của con người
thì khi sử dụng không những không mất đi mà còn lớn lên" ( Power Shift-Thăng
trầm quyền lực- Avill Toffer).
2. Thực trạng nhân lực Việt Nam:
Vấn đề nguồn nhân lực thực chất là vấn đề con người. Xây dựng nguồn nhân
lực Việt Nam tức là xây dựng con người Việt Nam có đủ tầm vóc, tố chất, tiêu
chuẩn, tài đức, đủ sức đảm đương công việc được giao.
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) vừa công bố dân số Việt Nam là 87 triệu người,
xếp thứ 13 trên thế giới về dân số. Theo tính toán của Quỹ Dân số Liên hiệp
quốc, đến giữa thế kỷ XXI, dân số Việt Nam có thể đạt ngưỡng 100 triệu người.
Ngân hàng thế giới (WB) đánh giá chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam hiện
nay đạt 3,79 điểm (thang điểm 10), xếp thứ 11 trong số 12 nước ở châu Á tham
gia xếp hạng. Chỉ số cạnh tranh nguồn nhân lực Việt Nam đạt 3,39/10 điểm và
năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam xếp thứ 73/133 nước được xếp
hạng. Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam hiện nay là 75.



Nguồn nhân lực từ nông dân: Nông dân Việt Nam chiếm khoảng hơn 61
triệu 433 nghìn người, bằng khoảng 73% dân số của cả nước. Cả nước có khoảng
113.700 trang trại, 7.240 hợp tác xã nông, lâm nghiệp, thủy sản; có 217 làng
nghề, 40% sản phẩm từ các ngành, nghề của nông dân được xuất khẩu đến hơn
100 nước. Như vậy, so với trước đây, nông thôn nước ta đã có những chuyển biến
tích cực.
Tuy nhiên, nguồn nhân lực trong nông dân ở nước ta vẫn chưa được khai thác,
chưa được tổ chức đầy đủ. Người nông dân chẳng có ai dạy nghề trồng lúa. Họ
đều tự làm. Đến lượt con cháu họ cũng tự làm. Có người nói rằng, nghề trồng lúa
là nghề dễ nhất, không cần phải hướng dẫn cũng có thể làm được. Ở các nước
phát triển, họ không nghĩ như vậy. Mọi người dân trong làng đều được hướng
dẫn tỷ mỷ về nghề trồng lúa trước khi lội xuống ruộng. Hiện có từ 80 đến 90%
lao động nông, lâm, ngư nghiệp và những cán bộ quản lý nông thôn chưa được
đào tạo. Điều này phản ánh chất lượng nguồn nhân lực trong nông dân còn rất
yếu kém. Sự yếu kém này đẫ dẫn đến tình trạng sản xuất nông nghiệp nước ta
vẫn còn đang trong tình trạng sản xuất nhỏ, manh mún, sản xuất theo kiểu truyền
thống, hiệu quả sản xuất thấp. Việc liên kết "bốn nhà" (nhà nước, nhà nông, nhà
khoa học, nhà doanh nghiệp) hiện đang còn là hình thức.
Tình trạng đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp, làm cho một bộ phận lao động
ở nông thôn dôi ra, không có việc làm. Từ năm 2000 đến năm 2007, mỗi năm
nhà nước thu hồi khoảng 72 nghìn ha đất nông nghiệp để phát triển công nghiệp,
xây dựng đô thị.
Chính vì nguồn nhân lực trong nông thôn chưa được khai thác, đào tạo, cho
nên một bộ phận nhân dân ở nông thôn không có việc làm ở các khu công
nghiệp, công trường. Tình trạng hiện nay là các doanh nghiệp đang thiếu nghiêm
trọng thợ có tay nghề cao, trong khi đó, lực lượng lao động ở nông thôn lại dư
thừa rất nhiều; chất lượng lao động rất thấp.
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do khâu tổ chức lao động và quy

hoạch lao động trong nông thôn chưa tốt. Chính sách đối với nông nghiệp, nông
dân, nông thôn chưa đồng bộ, chưa mang tínhkhuyến khích và tính cạnh tranh.
Nguồn nhân lực từ công nhân: Về số lượng giai cấp công nhân Việt Nam
hiện nay có khoảng 10 triệu người (kể cả khoảng 500 nghìn công nhân đang làm


việc ở nước ngoại, tại trên 40 nước và vùng lãnh thổ với hơn 30 nhóm ngành
nghề ở nước ngoài và 2 triệu hộ lao động kinh doanh cá thể). Số công nhân có
trình độ cao đẳng, đại học ở Việt Nam có khoảng 150 nghìn người. Nhìn chung,
công nhân có tay nghề cao chiếm tỷ lệ thấp so với đội ngũ công nhân nói
chung.
Cả nước, tính đến năm 2007, có 262 trường dạy nghề, 599 trung tâm dạy
nghề. Trường trung cấp công nghiệp đến năm 2008 là 275. Theo số liệu mới
thống kê được, tính đến cuối năm 2010, cả nước có 123 trường cao đẳng dạy
nghề, 303 trường trung cấp nghề; 810 trung tâm dạy nghề; hơn 1.000 cơ sở khác
có tham gia dạy nghề. Dạy nghề trình độ trung cấp từ 75,6 nghìn tăng lên 360
nghìn người; có khoảng 600 nghề có nhu cầu đào tạo. Đến cuối năm 2010, cả
nước có 123 trường cao đẳng dạy nghề; 303 trường trung cấp nghề; 810 trung
tâm dạy nghề, hơn 1.000 cơ sở khác có tham gia dạy nghề. Dạy nghề trình độ
trung cấp từ 75,6 nghìn tăng lên 360 nghìn người.
Trong các ngành nghề của công nhân, tỷ lệ công nhân cơ khí và công nhân
làm việc trong các nhà máy, xí nghiệp công nghiệp nặng còn rất thấp, khoảng
20% trong tổng số công nhân của cả nước, trong khi đó, công nhân trong các
ngành công nghiệp nhẹ, chế biến thực phẩm lại chiếm tỷ lệ cao, khoảng 40%.
Vì đồng lương còn thấp, công nhân không thể sống trọn đời với nghề, mà phải
kiêm thêm nghề phụ khác như đi làm xe ôm trong buổi tối và ngày nghỉ, làm
nghề thủ công, buôn bán thêm, cho nên đã dẫn đến tình trạng nhiều người vừa là
công nhân, vừa không phải là công nhân.
Nhìn chung, qua hơn 25 năm đổi mới, cùng với quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước, giai cấp công nhân nước ta đã có những chuyển biến tích

cực, tăng nhanh về số lượng, đa dạng về cơ cấu, chất lượng được nâng lên từng
bước. Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam, việc làm và đời sống
của giai cấp công nhân ngày càng được cải thiện. Bên cạnh đó, sự phát triển của
giai cấp công nhân chưa đáp ứng được yêu cầu về số lượng, chất lượng, kỹ năng
nghề nghiệp; thiếu nhiều các chuyên gia kỹ thuật, công nhân lành nghề; tác
phong công nghiệp và kỷ luật lao động còn nhiều hạn chế; phần lớn công nhân
xuất thân từ nông dân, chưa được đào tạo cơ bản và có hệ thống. "Địa vị chính trị
của giai cấp công nhân chưa thể hiện đầy đủ"1.


Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do quá trình phát triển kinh tế - xã hội
trong quá trình đổi mới đã mở ra một giai đoạn lịch sử mới trong sự phát triển
của giai cấp công nhân Việt Nam. Bên cạnh đó, những hạn chế, yếu kém trong
phát triển kinh tế - xã hội ảnh hưởng không nhỏ đến việc làm, đời sống, tâm tư,
tình cảm của công nhân; những chính sách về giai cấp công nhân tuy đã ban
hành, nhưng chưa sát hợp với tình hình thực tế của giai cấp công nhân. Trong các
doanh nghiệp và người sử dụng lao động, không ít trường hợp còn vi phạm chính
sách đối với công nhân và người lao động.
Nguồn nhân lực từ trí thức, công chức, viên chức: Nếu tính sinh viên đại
học và cao đẳng trở lên được xem là trí thức, thì đội ngũ trí thức Việt Nam trong
những năm gần đây tăng nhanh. Riêng sinh viên đại học và cao đẳng phát triển
nhanh: năm 2000, cả nước có 899,5 nghìn người; năm 2002: 1.020,7 nghìn
người; năm 2003: 1.131 nghìn người; năm 2004: 1.319,8 nghìn người. Năm
2005: 1,387,1 nghìn người; năm 2006 (mới tính sơ bộ: prel): 1,666, 2 nghìn
người,… Cả nước có khoảng 14 nghìn tiến sĩ và tiến sĩ khoa học; 1.131 giáo sư;
5.253 phó giáo sư; 16 nghìn người có trình độ thạc sĩ; 30 nghìn cán bộ hoạt động
khoa học và công nghệ; 52.129 giảng viên đại học, cao đẳng, trong đó có
49% của số 47.700 có trình độ thạc sĩ trở lên, gần 14 nghìn giáo viên trung cấp
chuyên nghiệp, 11.200 giáo viên dạy nghề và 925 nghìn giáo viên hệ phổ thông;
gần 9.000 tiến sĩ được điều tra, thì có khoảng 70% giữ chức vụ quản lý và 30%

thực sự làm chuyên môn. Đội ngũ trí thức Việt Nam ở nước ngoài, hiện có
khoảng 300 nghìn người trong tổng số gần 3 triệu Việt kiều, trong đó có khoảng
200 giáo sư, tiến sĩ đang giảng dạy tại một số trường đại học trên thế giới.
Số trường đại học tăng nhanh. Tính đến đầu năm 2007, Việt Nam có 143
trường đại học, đại học, học viện 2; 178 trường cao đẳng; 285 trường trung cấp
chuyên nghiệp và 1.691 cơ sở đào tạo nghề. Cả nước hiện có 74 trường và khối
trung học phổ thông chuyên với tổng số 47,5 nghìn học sinh tại 63/64 tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương và 7 trường đại học chuyên. Tỷ lệ học sinh trung học
phổ thông chuyên so với tổng dân số của cả nước đạt 0,05%, còn chiếm rất thấp
so với thế giới.
Các cơ sở giáo dục ngoài công lập ngày càng phát triển. Vào năm học 20072008, cả nước có gần 6 nghìn cơ sở giáo dục mầm non, 95 trường tiểu học, 33


trường trung học cơ sở, 651 trường trung học phổ thông, 308 cơ sở dạy nghề, 72
trường trung cấp chuyên nghiệp và 64 trường cao đẳng, đại học là các cơ sở giáo
dục ngoài công lập.
Số học sinh, sinh viên học tại các cơ sở giáo dục ngoài công lập ngày càng
tăng. Năm học 2007-2008, tỷ lệ học sinh, sinh viên ngoài công lập là 15,6% (năm
2000 là 11,8%), trong đó, tỷ lệ học sinh phổ thông là 9%, học sinh trung cấp
chuyên nghiệp là 18,2%, học nghề là 31,2%, sinh viên cao đẳng, đại học là
11,8%.
Cả nước có 1.568/3.645 học sinh đọat giải trong kỳ thi học sinh giỏi quốc gia
trung học phổ thông năm học 2007-2008.
Đầu năm 2008, Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam đã trình lên Thủ tướng
Chính phủ Việt Nam dự án đào tạo 20 nghìn tiến sĩ trong giai đoạn 2007-2020 ở
cả trong nước và ngoài nước.
Nhà nước đã dành một khoản ngân sách chi cho giáo dục và đào tạo là 76.200
tỷ đồng, chiếm 20% tổng chi ngân sách nhà nước, tăng 14,1% so với thực hiện
năm 2007.
Bên cạnh nguồn nhân lực là trí thức trên đây, nguồn nhân lực là công chức,

viên chức (cũng xuất thân từ trí thức) công tác tại các ngành của đất nước cũng
tăng nhanh:
Tổng số công chức, viên chức trong toàn ngành xuất bản là gần 5 nghìn
người làm việc tại 54 nhà xuất bản trong cả nước (trung ương 42, địa phương
12).
Tổng số nhà báo của cả nước là 14 nghìn phóng viên chuyên nghiệp và hàng
nghìn cán bộ, kỹ sư, nghệ sĩ, nhân viên làm việc trong các cơ quan báo chí và
hàng chục nghìn người khác là cộng tác viên, nhân viên, lao động tham gia các
công đoạn in ấn, tiếp thị quảng cáo, phát hành, làm việc tại 687 cơ quan báo chí,
hơn 800 báo, tạp chí, báo điện tử, đài phát thanh, truyền hình.
Đội ngũ công chức, viên chức của ngành thuế Việt Nam hiện có gần 39 nghìn
người; ngành hải quan của Việt Nam là 7.800 người, ngành kho bạc là 13.536
người.
Tính đến tháng 6-2005, đội ngũ cán bộ nghiên cứu, hoạch định chính sách
pháp luật của các cơ quan trung ương là 824 người, trong đó có 43 tiến sĩ luật


(chiếm 5,22%), 35 tiến sĩ khác (chiếm 4,25%), 89 thạc sĩ luật (chiếm 10,08%),
43 thạc sĩ khác (chiếm 5,22%), 459 đại học luật (chiếm 55,70%), 223 đại học
khác (chiếm 27,06%), 64 người có 2 bằng vừa chuyên môn luật, vừa chuyên môn
khác (chiếm 7,77%),… Cả nước có 4.000 luật sư (tính ra cứ 1 luật sư trên 24
nghìn người dân).
Trí thức, công chức, viên chức trong các ngành nghề khác của các cơ quan
trung ương và địa phương cũng tăng nhanh.
Tổng nhân lực các hội, liên hiệp hội, viện, trung tâm (NGO) hiện có 52,893
người.
Bên cạnh sự tăng nhanh từ nguồn nhân lực trí thức, công chức, viên chức đã
dẫn ra trên đây, thấy rằng, ở Việt Nam hiện nay, chất lượng nguồn nhân lực từ trí
thức, công chức, viên chức còn yếu kém và bất cập. Đa số công chức, viên chức
làm việc trong các cơ quan công quyền chưa hội đủ những tiêu chuẩn của một

công chức, viên chức như trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học,
ảnh hưởng nhiều đến chất lượng công việc. Có 63% tổng số sinh viên tốt nghiệp
ra trường chưa có việc làm; không ít đơn vị nhận người vào làm, phải mất 1-2
năm đào tạo lại. Trong số 37% sinh viên có việc làm, thì cũng không đáp ứng
được công việc. Bằng cấp đào tạo ở Việt Nam chưa được thị trường lao động
quốc tế thừa nhận. Năm 2007, số sinh viên tốt nghiệp đại học là 161.411 người.
Theo ước tính, mỗi tấm bằng đại học, người dân bỏ ra 40 triệu đồng, còn nhà
nước đầu tư khoảng 30 triệu đồng. Như vậy, với tỷ lệ 63% số sinh viên ra trường
chưa có việc làm, cho thấy kinh phí đầu tư của sinh viên thất nghiệp (161.411
sinh viên x 63% x 70 triệu), ít nhất thất thoát 7.117 tỷ đồng (trong đó, 4.067 tỷ
đồng của dân và 3.050 tỷ đồng của nhà nước).
Việt Nam có khoảng 2,6 triệu người có trình độ đại học trở lên. Con số này có
thể nói tương đương với 2,6 triệu trí thức nước nhà.
Nói tóm lại, nguồn nhân lực từ nông dân, công nhân, trí thức (trong đó có
công chức, viên chức) ở Việt Nam, nhìn chung, còn nhiều bất cập. Sự bất cập này
đã ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển kinh tế - xã hội. Trong những năm đổi mới,
kinh tế đất nước tuy có tăng từ 7,5 đến 8%, nhưng so với kinh tế thế giới thì còn
kém xa. Theo báo cáo của Ngân hàng thế giới (WB) và tập đoàn tài chính quốc tế


(IFC), công bố ngày 26-9-2007, kinh tế Việt Nam xếp thứ 91/178 nước được
khảo sát.
Có thể rút ra mấy điểm về thực trạng nguồn nhân lực ở Việt Nam:
- Nguồn nhân lực ở Việt Nam khá dồi dào, nhưng chưa được sự quan tâm
đúng mức, chưa được quy hoạch, chưa được khai thác, chưa được nâng cấp, còn
đào tạo thì chưa đến nơi đến chốn, nhiều người chưa được đào tạo.
- Chất lượng nguồn nhân lực chưa cao, dẫn đến tình trạng mâu thuẫn giữa
lượng và chất.
- Sự kết hợp, bổ sung, đan xen giữa nguồn nhân lực từ nông dân, công nhân,
trí thức,… chưa tốt, còn chia cắt, thiếu sự cộng lực để cùng nhau thực hiện sự

nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Có thể đánh giá tổng quát về nhân lực Việt Nam hiện nay là số lượng đông,
chất lượng không đông, thể hiện là tay nghề thấp, chưa có tác phong công
nghiệp, chưa có những tổng công trình sư, kỹ sư, nhà khoa học thật sự giỏi; chưa
có những chuyên gia giỏi; chưa có những nhà tư vấn, nhà tham mưu giỏi; chưa
có những nhà thuyết trình giỏi; chưa có những nhà lãnh đạo, nhà quản lý giỏi.
Báo chí nước ngoài bình luận người Việt Nam khá thông minh, rất nhanh nhạy
trong việc nắm bắt và tiếp thu cái mới. Tiếc rằng, lại chưa được khai thác đầy đủ,
đào tạo chưa bài bản, điều đó ảnh hưởng đến chất lượng nhân lực và ảnh hưởng
đến sự phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam.
3. Phương hướng và giải pháp về phát triển nhân lực Việt Nam:
Về những giải pháp phát triển nhân lực Việt Nam đến năm 2020 đã được thể
hiện trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 và được thông qua tại
Đại hội XI của Đảng (tháng 1-2011). Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam
thời kỳ 2011-2020 đã được Chính phủ thông qua trong Quyết định số 579/QĐTTg, ngày 19-4-2011. Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 20112020 cũng đã được Thủ tướng Chính phủ ký tại Quyết định 1216/QĐ-TTg, ngày
22-7-2011. Đó là những văn bản pháp lý quan trọng có tính định hướng để phát
triển nhân lực Việt Nam đến năm 2020, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước.
Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một bước đột phá chiến
lược, yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ,


cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, tạo lợi thế cạnh tranh,
bảo đảm đưa nền kinh tế của đất nước phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả.
Phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011-2020 nhằm đưa nhân lực đất nước
trở thành nền tảng và lợi thế quan trọng nhất để tạo sự phát triển bền vững, ổn
định xã hội, hội nhập quốc tế. Xây dựng nhân lực chất lượng cao có nghĩa là xây
dựng đội ngũ nhân lực khoa học và công nghệ, nhất là các chuyên gia, tổng công
trình sư, kỹ sư đầu ngành, công nhân có tay nghề cao, có trình độ chuyên môn kỹ thuật tương đương với các nước tiên tiến trong khu vực, có đủ năng lực
nghiên cứu, tiếp nhận, chuyển giao và đề xuất những giải pháp khoa học, công

nghệ, kỹ thuật, giải quyết những vấn đề cơ bản của sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước; xây dựng đội ngũ doanh nhân quản lý doanh nghiệp, có
khả năng tổ chức, khả năng cạnh tranh; xây dựng hệ thống các cơ sở đào tạo
nhân lực tiên tiến, hiện đại, đa dạng, cơ cấu ngành nghề đồng bộ; xây dựng sự
nghiệp giáo dục tiên tiến, hiện đại và một xã hội học tập toàn diện để tạo nguồn
nhân lực chất lượng cao.
Theo Quyết định số 1216/QĐ, ngày 22-7-2011 của Thủ tướng Chính phủ, về
việc phê duyệt quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011-2020, thì
trong 10 năm tới cần tăng nhanh tỷ lệ nhân lực qua đào tạo trong nền kinh tế với
cơ cấu hợp lý. Tổng số nhân lực qua đào tạo năm 2015 là khoảng 30,5 triệu
người (chiếm khoảng 55,0% trong tổng số 55 triệu người làm việc trong nền kinh
tế đất nước) và năm 2020, có khoảng gần 44 triệu người (chiếm khoảng 70,0%
trong tổng số gần 63 triệu người làm việc trong nền kinh tế). Trong tổng số nhân
lực qua đào tạo, số nhân lực đào tạo qua hệ thống dạy nghề đến năm 2015 có
khoảng 23,5 triệu người (tăng 77%). Đến năm 2020 có khoảng 34,4 triệu người
(bằng 78,5%). Số nhân lực đào tạo qua hệ thống giáo dục - đào tạo đến năm 2015
có khoảng 7 triệu người (bằng 23%), đến năm 2020 có khoảng 9,4 triệu người
(bằng 21,5%).
Về cơ cấu bậc đào tạo, năm 2015, số nhân lực qua đào tạo ở bậc sơ cấp nghề
khoảng 18 triệu người, chiếm khoảng 59% tổng số nhân lực đã qua đào tạo của
nền kinh tế; bậc trung cấp khoảng 7 triệu người (khoảng 23%); bậc cao đẳng gần
2 triệu người (khoảng 6%); bậc đại học khoảng 3,3 triệu người (khoảng 11%);
bậc trên đại học khoảng 200 nghìn người (khoảng 0,7%). Năm 2020, số nhân lực


đào tạo ở bậc sơ cấp nghề khoảng gần 24 triệu người (khoảng 54%) tổng số nhân
lực qua đào tạo của nền kinh tế; bậc trung cấp nghề khoảng gần 12 triệu người
(khoảng 27%); bậc cao đẳng hơn 3 triệu người (khoảng 7%); bậc đại học khoảng
5 triệu người (khoảng 11%) và bậc trên đại học khoảng 300 nghìn người (khoảng
0,7%).

Phát triển nhân lực đến năm 2020 của các ngành, lĩnh vực, khu vực như công
nghiệp; xây dựng; dịch vụ; nông, lâm, ngư nghiệp; giao thông vận tải; tài
nguyên, môi trường; du lịch; ngân hàng; tài chính; công nghệ thông tin; năng
lượng hạt nhân; đào tạo nhân lực để đi làm việc ở nước ngoài đã được quy định
cụ thể trong Quyết định 1216.
Nhân lực chủ thể cũng đã được định hình: Cán bộ lãnh đạo là những người
đứng đầu cấp trưởng và phó của các cơ quan trung ương: Đảng, Quốc hội, Chính
phủ, các tổ chức chính trị - xã hội cấp trung ương; cơ quan đảng, hội đồng nhân
dân, ủy ban nhân dân, các sở, ban, ngành và tương đương; đoàn thể và các tổ
chức chính trị - xã hội cấp tỉnh, thành phố, trực thuộc trung ương.
Đến năm 2015, tổng số cán bộ lãnh đạo của cả nước có khoảng 200 nghìn
người, trong đó, số người có trình độ cử nhân đến thạc sĩ, tiến sĩ là hơn 120 nghìn
người. Đến năm 2020 có khoảng 220 nghìn người, trong đó, số người có trình độ
từ cử nhân đến thạc sĩ, tiến sĩ là 147 nghìn người.
Tổng số lãnh đạo các cấp cần bồi dưỡng từ năm 2011 đến năm 2015 là
khoảng 20 nghìn người; từ năm 2016 đến năm 2020 khỏng 15 nghìn người.
Đội ngũ công chức, viên chức của cả nước đến năm 2015 có khoảng 5,3 triệu
người, trong đó, số công chức, viên chức có trình độ cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ
khoảng 2,8 triệu người, chiếm khoảng 52% trong tổng số đội ngũ công chức,
viên chức của cả nước. Đến năm 2020, số công chức, viên chức của cả nước có
khoảng 6 triệu người, trong đó, số công chức, viên chức có trình độ cử nhân, thạc
sĩ, tiến sĩ có khoảng 3,8 triệu người, chiếm khoảng 63% trong tổng số đội ngũ
công chức, viên chức của cả nước.
Tỷ lệ công chức, viên chức cần bồi dưỡng, nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ
từ năm 2011 đến năm 2015 khoảng 20%; thời kỳ 2016-2020 khoảng 15% tổng số
công chức, viên chức.


Đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ đến năm 2015 tăng lên khoảng 103
nghìn người, trong đó, số người có trình độ trên đại học khoảng 28 nghìn người.

Đến năm 2020 có khoảng 154 nghìn cán bộ khoa học, công nghệ, trong đó, số
người có trình độ trên đại học khoảng 40 nghìn người.
Về đội ngũ giáo viên, giảng viên trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng và đại
học đến năm 2015, số giáo viên, giảng viên bậc trung cấp chuyên nghiệp có
khoảng 38 nghìn người, trong đó, có khoảng 30% có trình độ thạc sĩ trở lên; số
giáo viên, giảng viên bậc cao đẳng khoảng 33,5 nghìn người, trong đó khoảng
6% tổng số giáo viên, giảng viên có trình độ tiến sĩ; số giáo viên, giảng viên bậc
đại học khoảng 62,1 nghìn người, trong đó, số người có trình độ tiến sĩ khoảng
23%. Đến năm 2020, số giáo viên, giảng viên bậc trung cấp chuyên nghiệp
khoảng 48 nghìn người, trong đó, khoảng 38,5% có trình độ thạc sĩ trở lên; số
giáo viên, giảng viên bậc cao đẳng khoảng 44,2 nghìn người, trong đó, tỷ lệ giáo
viên, giảng viên có trình độ tiến sĩ khoảng 8%; số giáo viên, giảng viên bậc đại
học khoảng 75,8 nghìn người, trong đó, số giáo viên, giảng viên có trình độ tiến
sĩ khoảng 30%.
Về đội ngũ giáo viên, giảng viên dạy nghề đến năm 2015, số giáo viên, giảng
viên dạy nghề các bậc khoảng 51 nghìn người, trong đó, giáo viên, giảng viên
cao đẳng nghề khoảng 13 nghìn người; giáo viên, giảng viên trung cấp nghề
khoảng 24 nghìn người; giáo viên, giảng viên sơ cấp nghề khoảng 14 nghìn
người. Đến năm 2020, số giáo viên, giảng viên dạy nghề các bậc khoảng 77
nghìn người, trong đó, giáo viên, giảng viên cao đẳng nghề là 28 nghìn người;
giáo viên, giảng viên trung cấp nghề khoảng 31 nghìn người; giáo viên, giảng
viên sơ cấp nghề khoảng 28 nghìn người.
Về đội ngũ cán bộ y tế đến năm 2015, tổng số cán bộ y tế có khoảng 385
nghìn người, trong đó, số bác sĩ khoảng từ 74 - 75 nghìn người (đạt 41 cán bộ y
tế/10 nghìn dân, trong đó, đạt khoảng 8 bác sĩ/10 nghìn dân). Đến năm 2020,
tổng số cán bộ y tế có khoảng 500 nghìn người, trong đó, số bác sĩ khoảng từ 96 97 nghìn người (đạt 52 cán bộ y tế/10 nghìn dân, trong đó, đạt khoảng 10 bác
sĩ/10 nghìn dân).
Đội ngũ cán bộ văn hóa, thể thao đến năm 2015 có khoảng 88 nghìn người.
Đến năm 2020 có khoảng 113 nghìn người, trong đó, lĩnh vực văn hóa năm 2015



khoảng 57 nghìn người và năm 2020 khoảng 75 nghìn người; lĩnh vực thể thao
năm 2015 khoảng 22 nghìn người và năm 2020 khoảng 28 nghìn người.
Về đội ngũ cán bộ tư pháp đến năm 2020 cần bổ sung thêm khoảng 700 chấp
hành viên, khoảng 1.300 thẩm tra viên, thẩm tra viên chính, khoảng 4.300 đến
4.500 thư ký thi hành án, 1.600 kế toán. Đến năm 2020, ngành tư pháp cần bổ
sung thêm khoảng 18 nghìn luật sư và khoảng 2 nghìn công chứng viên, đào tạo
cán bộ pháp luật cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ (mỗi doanh nghiệp cần từ 1
đến 2 cán bộ pháp luật). Các cơ quan tư pháp địa phương đến năm 2020 cần
khoảng 17 nghìn người.
Về đội ngũ cán bộ tòa án đến năm 2020 cần bổ sung khoảng 1 nghìn người
mỗi năm, trong đó có khoảng 500 thẩm phán. Như vậy, nhu cầu nhân lực của
ngành tòa án đến năm 2020 là khoảng 22 nghìn cán bộ, công chức.
Về đội ngũ doanh nhân đến năm 2015, cả nước có khoảng từ 1,5 đến 2 triệu
người. Tỷ lệ doanh nhân có trình độ cử nhân, kỹ sư, thạc sĩ, tiến sĩ chiếm khoảng
78% tổng số đội ngũ doanh nhân. Đến năm 2020, cả nước có khoảng từ 2,5 đến 3
triệu doanh nhân. Tỷ lệ doanh nhân có trình độ cử nhân, kỹ sư, thạc sĩ, tiến sĩ
chiếm khoảng 80% trong tổng số đội ngũ doanh nhân.
Nhân lực để phát triển của các ngành kinh tế biển; nhân lực của các lực lượng
vũ trang; nhân lực các vùng kinh tế - xã hội (vùng trung du và miền núi phía bắc,
vùng đồng bằng sông Hồng, vùng bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung, vùng
Tây Nguyên, vùng đông Nam Bộ, vùng đồng bằng sông Cửu Long) đều đã được
quy hoạch tổng thể.
Quy mô đào tạo trong các trường đại học, cao đẳng năm 2020 có khoảng 3,4 3,9 triệu sinh viên. Tỷ lệ sinh viên vào năm 2020 là từ 350 - 400 người/trên 1 vạn
dân.
Mạng lưới trường đại học và cao đẳng vào năm 2020 sẽ có tổng cộng 573
trường, trong đó, 259 trường đại học và 314 trường cao đẳng. Trong giai đoạn
2011-2015 sẽ thành lập thêm 158 trường (70 trường đại học và 88 trường cao
đẳng).
Về mạng lưới trường cao đẳng nghề, trường trung cấp nghề, trung tâm dạy

nghề (gọi chung là cơ sở dạy nghề): Đến năm 2015 có 190 trường cao đẳng nghề,
trong đó, có 60 trường ngoài công lập; 300 trường trung cấp nghề, trong đó, có


100 trường ngoài công lập; 920 trung tâm dạy nghề, trong đó có 320 trung tâm
ngoài công lập. Đến năm 2020 có khoảng 230 trường cao đẳng nghề, trong đó, có
80 trường ngoài công lập; 310 trường trung cấp nghề, trong đó có 120 trường
ngoài công lập; 1.050 trung tâm dạy nghề, trong đó có 350 trung tâm ngoài công
lập.
Tổng vốn đầu tư cho phát triển nhân lực đến năm 2020 (gồm giáo dục và đào
tạo; dạy nghề; y tế; chăm sóc sức khỏe,...) khoảng 2.135 nghìn tỷ VNĐ, chiếm
12% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.
 Để thực hiện những chỉ tiêu trên, cần có những giải pháp:
-Phải xác định cho rõ nguồn nhân lực là tài nguyên quý giá nhất của Việt Nam
trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nước. Một đất nước rất ít tài nguyên
thiên nhiên như ở Việt Nam, cần phải lấy nguồn nhân lực làm tài nguyên thay
thế, gọi là tài nguyên nguồn nhân lực, hoặc tài nguyên con người. Muốn vậy,
phải làm cho mọi người thấy rõ vai trò và trách nhiệm đào tạo và sử dụng nhân
lực, biến thách thức và chất lượng nhân lực thành lợi thế cạnh tranh trên phương
diện toàn cầu. Đây là nhiệm vụ của toàn xã hội, mang tính xã hội; là trách nhiệm
của các cấp lãnh đạo, quản lý, của nhà trường, của doanh nghiệp, của gia đình
cũng như của bản thân mỗi người lao động. "Đây chính là thể hiện quan điểm
phát triển con người, phát triển kinh tế - xã hội vì con người và do con người, là
một trong những nội dung cơ bản của phát triển bền vững".
- Mở cuộc vận động sâu rộng trong toàn xã hội về nhân lực Việt Nam phục vụ sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Phát động phong trào thi đua yêu
nước tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, góp
phần giúp cho mọi người hiểu rõ về các chính sách phát triển nhân lực. Vận động
các doanh nghiệp tham gia đào tạo nhân lực để sử dụng với chất lượng ngày càng
cao.

- Xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về nhân lực, việc làm, giáo
dục, đào tạo, chính sách tiền lương, khen thưởng, đãi ngộ; chính sách trọng dụng
chuyên gia, tham mưu, kỹ sư, tổng công trình sư, nhà thiết kế, phát minh, gọi
chung là nhân tài, chính sách về môi trường, điều kiện, phương tiện làm việc;
chính sách việc làm, thu nhập, bảo hiểm, bảo trợ xã hội; chính sách cho các cơ


quan khoa học NGO. Tổ chức tốt việc việc thực hiện các chính sách đó. Cải cách
chế độ tiền lương cho đội ngũ giáo viên, giảng viên, có chế độ ưu đãi cho người
học.
- Đổi mới quản lý nhà nước về phát triển nhân lực; hoàn thiện bộ máy quản lý
phát triển nhân lực nhằm nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhân lực;
đổi mới phương pháp giáo dục, quản lý nhân lực, thấu tình đạt lý, nhìn rõ đúng
sai, kịp thời rút kinh nghiệm về quản lý nhân lực. Tổ chức bộ máy quản lý nhân
lực từ trung ương đến địa phương. Nhân sự cho bộ máy này phải là những
chuyên gia giỏi về nghiên cứu nhân tài, nhân lực trong và ngoài biên chế nhà
nước. Làm rõ chức năng, nhiệm vụ của bộ máy này là tư vấn, tham mưu, đề xuất;
thu thập, phân tích các số liệu về nguồn nhân lực ở tất cả các ngành, các cấp.
- Tiến hành điều tra, khảo sát thường xuyên về nhân lực và chất lượng nhân lực ở
tất cả các ngành, các cấp, địa phương và cả nước;bảo đảm cân đối cung - cầu
nhân lực để phát triển kinh tế - xã hội trong phạm vi cả nước và trong từng
ngành, từng cấp.
- Đổi mới đào tạo và dạy nghề theo hướng hiện đại, phù hợp với hoàn cảnh Việt
Nam, đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước và hội nhập quốc tế, chủ yếu là
hội nhập kinh tế quốc tế.
- Đổi mới quản lý nhà nước về đào tạo và dạy nghề từ trung ương đến địa
phương; tổ chức hợp lý hệ thống cấp bậc đào tạo; thực hiện phân cấp quản lý đào
tạo giữa bộ, ngành, địa phương; quy hoạch lại mạng lưới các trường đại học, cao
đẳng, trung cấp nghề, trung tâm dạy nghề. Khuyến khích thành lập các trường đại
học, cao đẳng tư thục tại các nơi có điều kiện, góp phần đẩy nhanh số lượng và

chất lượng nguồn nhân lực được đào tạo.
- Đổi mới cách xây dựng nền giáo dục, đào tạo phục vụ nhu cầu xã hội; thực hiện
đúng yêu cầu học để làm việc, giúp nước, giúp dân; xây dựng cơ sở đào tạo theo
hướng đào tạo đến đâu sử dụng đến đó.
- Xây dựng hệ thống quốc gia để kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục và đào
tạo; xử lý việc thực hiện quy hoạch phát triển nhân lực trên phạm vi cả nước, bảo
đảm phát triển hài hòa, cân đối.
- Bảo đảm và huy động nguồn vốn cho phát triển nhân lực; đẩy mạnh xã hội hóa
để tăng cường các nguồn vốn cho phát triển nhân lực.


- Đẩy mạnh hợp tác quốc tế để phát triển nguồn nhân lực và chuyên giao công
nghệ hiện đại về Việt Nam.
- Nâng cao hơn nữa đến chất lượng con người và chất lượng cuộc sống. Chất
lượng con người, trước hết, phải tính đến vấn đề chất lượng sinh nở. Ngành y tế
phải có những quy định cụ thể về chất lượng sinh nở như kiểm tra sức khỏe, bệnh
tật, tính di truyền và vợ chồng quan hệ để sinh con,…, trước khi chính quyền cấp
giấy đăng ký giá thú. Hiện nay, tại Việt Nam, đang có tình trạng đẻ vô tội vạ, đẻ
không tính toán, cân nhắc, nhất là ở nông thôn, làm cho những đứa con sinh ra bị
còi cọc, không phát triển được trí tuệ. Thậm chí có những người bị nhiễm chất
độc da cam mà vẫn đẻ ra những đứa con dị tật. Có người tính rằng, tại Việt Nam,
cứ 10 đứa trẻ sinh ra, có 1 người bị dị tật bẩm sinh. Vì vậy, phải tăng cường chất
lượng hoạt động của các cơ quan chức năng.
Khi có chất lượng con người, phải tính đến chất lượng cuộc sống, có nghĩa là
phải nuôi dưỡng về vật chất và tinh thần của con người sinh ra, bảo đảm cho họ
có thể lực dồi dào, trí tuệ minh mẫn. Về vấn đề này, Việt Nam còn kém xa so với
nhiều nước.
-Nhà nước xây dựng chiến lược nguồn nhân lực gắn với chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; xác định thật rõ xây
dựng nguồn nhân lực là trách nhiệm của các nhà hoạch định chính sách và tổ

chức thực hiện chính sách, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị.
-Để xây dựng chất lượng con người phải có sự gắn kết với chất lượng cuộc sống
xã hội; có sự gắn kết chặt chẽ giữa xã hội - nhà trường - gia đình để tạo ra nguồn
nhân lực chất lượng cao trong tương lai.
-Hằng năm, Nhà nước cần tổng kết về lý luận và thực tiễn về nguồn nhân lực ở
Việt Nam, đánh giá đúng mặt được, mặt chưa được, kịp thời rút ra những kinh
nghiệm, trên cơ sở đó mà phát huy mặt tốt, khắc phục mặt chưa tốt.
Chính phủ và các cơ quan chức năng phải có chính sách, biện pháp kết hợp
thật tốt giữa đào tạo và sử dụng trong tổng thể phát triển kinh tế của đất nước,
đáp ứng có hiệu quả nguồn lao động có chất lượng cao cho yêu cầu phát triển của
nền kinh tế.
Nói tóm lại, nếu không làm tốt vấn đề tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho
đất nước, thì khó lòng đạt được mục tiêu đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành


×