ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT
(Logo Trường)
TÊN ĐỀ TÀI KHÓA LUẬN
THỰC HIỆN QUYỀN TRANH TỤNG CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG
DÂN SỰ
Ngành:
Luật học
Chuyên ngành: Luật dân sự
Niên khóa:
2014 - 2018
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
SINH VIÊN TH ỰC HI ỆN: TR ẦN TH Ị HOA MAI
NG ƯỜI H ƯỚNG D ẪN
: TH.S LÊ TH Ị THÌN
Thừa Thiên Huế, năm 2018
1
Đề tài: THỰC HIỆN QUYỀN TRANH TỤNG CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG BỘ
LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ NĂM 2015
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan : Khoá luận tốt nghiệp với đề tài “ Thực hiện quyền
tranh tụng của đương sự trong bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 ” là
công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, không sao chép của bất c ứ ai.
Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về công trình nghiên cứu của riêng mình!
Huế, ngày 02 tháng 5 năm 2018
Người cam đoan
Trần Thị Hoa Mai
MỤC LỤC
M Ở ĐẦ U
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tranh tụng là một hoạt động tố tụng quan trọng, đây là quyền tố tụng
của đương sự, cũng đồng thời là nguyên tắc cơ bản, xuyên suốt của ho ạt
động tố tụng dân sự, nhằm bảo đảm sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ
của các chủ thể tham gia tố tụng dân sự. Nhận thấy rằng, chỉ khi trong quá
trình tố tụng có sự tranh tụng, đương sự mới có các điều kiện pháp lý để
trình bày ý kiến, đưa ra những chứng cứ, tài liệu, lập luận đ ể ch ứng minh
cho yêu cầu của mình là có căn cứ, từ đó bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của mình liên quan đến vụ án. Trên cơ sở đánh giá chứng cứ và các ý kiến
tranh luận của các bên tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử mới có điều kiện
cân nhắc, xem xét để ra quyết định đúng đắn, khách quan, toàn diện, chính
xác và đúng pháp luật, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người
tham gia tố tụng.
2
Xác định được tầm quan trọng của hoạt động tranh tụng, Ngh ị quy ết
số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung
ương Đảng nêu rõ: “Việc phán quyết của Toà án phải căn c ứ chủ y ếu vào
kết quả tranh tụng tại phiên tòa”. Tiếp đó, trong chiến lược cải cách t ư
pháp đến năm 2020, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 c ủa Bộ
Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng một lần nữa yêu cầu: “Nâng cao
chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp, chất l ượng tranh t ụng t ại
tất cả các phiên tòa xét xử, coi đây là hoạt động đột phá của các c ơ quan t ư
pháp…”, và Nghị quyết số 37/NQ-QH13 ngày 23 tháng 11 năm 2012 của
Quốc hội khoá XIII tiếp tục khẳng định: “Toà án nhân dân tối cao ch ỉ đ ạo
các Toà án tiếp tục đẩy mạnh việc tranh tụng tại phiên toà”.
Trên cơ sở đó, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (Bộ luật tố tụng dân
sự năm 2015) quy định về bảo đảm quyền tranh luận trong tố tụng dân s ự
theo hướng quy định cụ thể, rõ ràng, chi tiết và trách nhiệm của c ơ quan
tiến hành tố tụng trong việc bảo đảm quyền tranh tụng trong xét x ử cũng
như quyền được tranh tụng của đương sự, người bảo vệ quyền và l ợi ích
hợp pháp của đương sự. Để tìm hiểu rõ hơn về thực hiện quyền tranh
tụng của đương sự, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp c ủa đ ương
sự cũng như góp phần bảo đảm hoạt động tố tụng tại toà án, tác gi ả h ọn
đề tài: “thực hiện quyền tranh tụng của đương sự trong bộ luật tố tụng
dân sự năm 2015”
2. Tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài
Quá trình xây dựng Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 và sau khi B ộ
luật tố tụng dân sự năm 2004 được ban hành và có hiệu l ực đã có m ột s ố
công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này nh ư sau:
Nhà pháp luật Việt – Pháp (18/01/2002). Một số nội dung về nguyên
tắc tố tụng xét hỏi và tranh tụng. Kinh nghiệm của Pháp trong vi ệc tuy ển
chọn, bồi dưỡng và bổ nhiệm Thẩm phán, Hà Nội.
3
Nguyễn Thị Thu Hà (2002). Tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm, một số
vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật
Hà Nội.
Nguyễn Công Bình (2003). Vấn đề tranh tụng trong tố tụng dân sự,
Tạp chí luật học số 6/2003.
Trần Văn Độ (2004). Bản chất của tranh tụng tại phiên tòa, Tạp chí
khoa học Pháp Lý số 4/2004.
Mai Bộ (2004). Nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự, Web của
Tòa án nhân dân tối cao.
Quá trình xây dựng Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và sau khi B ộ
luật tố tụng dân sự năm 2015 được ban hành và có hiệu l ực đã có m ột s ố
công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này nh ư sau:
Trịnh Văn Chung (2016). Nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng dân sự
Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội.
3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là làm rõ được nh ững v ấn đề lý luận
cũng như làm rõ nội dung, ý nghĩa của các quy định pháp luật về quy ền
tranh tụng của đương sự; chỉ ra những điểm phù h ợp v ới đ ời s ống xã h ội
và những điểu phải bổ sung các quy định của pháp luật về quyền tranh
tụng của đương sự, từ đó đề xuất một số giải pháp góp ph ần hoàn thi ện
pháp luật Dân sự Việt Nam về quyền tranh tụng của đương s ự. Đồng th ời
giúp các cơ quan áp dụng pháp luật trong việc nhận thức đúng đ ắn và toàn
diện khi giải quyết các tranh chấp trong tố tụng dân sự.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được các mục tiêu đề trên, sinh viên phải hoàn thành
các nhiệm vụ sau:
4
- Trình bày và làm rõ các quy định của pháp luật về quy ền tranh
tụng của đương sự.
- Trình bày và làm rõ các quy định của pháp luật về quy ền tranh
tụng của đương sự theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện
hành.
- Đánh giá những điểm còn hạn chế, thiếu sót của pháp luật t ố
tụng Dân sự về quyền tranh tụng của đương sự. Từ đó, đưa ra
một số đề xuất nhằm góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật
Tố tụng Dân sự về quyền tranh tụng.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1.
Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu về nội dung quyền tranh tụng của đ ương
sự.
4.2.
Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu về nội dung thực hiện quyền tranh tụng
của đương sự tại Việt Nam theo quy định của Bộ luật tố tụng dân s ự năm
2015, cụ thể như sau:
- Phạm vi thời gian: đề tài tập trung nghiên cứu các nguyên tắc này từ
đến ngày 30/4/2018
-
Phạm vi địa bàn nghiên cứu: địa bàn cả nước.
Phạm vi về không gian: (là việc giới hạn các vấn đề nghiên cứu trong
khóa luận
5. Phương pháp nghiên cứu
Tác giả nghiên cứu tiếp cận từ cơ sở quy định của pháp luật, tham
khảo các công trình nghiên cứu. Từ đó, phân tích đánh giá nh ững k ết qu ả
thu được nhằm đưa ra kết luận của sinh viên nghiên c ứu v ề đ ề tài đang
5
thực hiện. Như vậy, việc nghiên cứu được tiến hành dựa trên các ph ương
pháp sau:
Phương pháp phân tích được sử dụng trong chương 1 và chương 2,
nhằm phân tích những quy định của pháp luật về quyền tranh
tụngPhương pháp so sánh được sử dụng trong chương 3, nh ằm so sánh các
quy phạm pháp luật trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 v ới Bộ luật t ố
tụng dân sự năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011; so sánh pháp lu ật Vi ệt
Nam với pháp luật một số quốc gia trên thế gi ới, từ đó rút ra nh ững ưu
điểm và hạn chế của Quyền tranh tụng của đương sự trong Bộ luật t ố
tụng dân sự năm 2015.
Phương pháp đánh giá, quy nạp được sử dụng chương 3 đ ể đánh giá
quy phạm pháp luật về quyền tranh tụng của đương sự. T ừ đó, đ ề xu ất
một số kiến nghị, giải pháp nhằm giải quyết những vấn đề còn t ồn t ại,
hướng tới hoàn thiện quyền tranh tụng của đương s ự nh ằm bảo đ ảm
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
6.
Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết thúc, phần nội dung của đề tài khoá lu ận
bao gồm 3 chương như sau:
Chương 1. một số vấn đề lý luận và quy định của pháp lu ật v ề
quyền tranh tụng của đương sự trong bộ luật tố tụng dân năm 2015
Chương 2. Thực trạng pháp luật và một số giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả thực hiện quyền tranh tụng của đương sự theo pháp
luật tố tụng dân sự hiện hành.
CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP
LUẬT VỀ QUYỀN TRANH TỤNG CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG BỘ LUẬT TỐ
TỤNG DÂN NĂM 2015
1.1.
Lý luận chung về quyền tranh tụng của đương sự
1.1.1. Khái niệm quyền tranh tụng của đương sự
6
Thứ nhất, khái niệm tranh tụng
Cuộc sống phát triển, mối quan hệ giữa người với người được xác
lập ngày càng nhiều. Tuy nhiên, không phải trong mọi m ối quan hệ các ch ủ
thể đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, vì vậy việc x ảy ra
tranh chấp là điều không thể tránh khỏi. Để giải quyết tranh chấp, các ch ủ
thể thường tìm đến các phương thức giải quyết khác nhau nh ư hoà giải,
thương lượng, trọng tài, toà án, trong đó một số tranh chấp đòi hỏi bắt
buộc các chủ thể phải giải quyết bằng con đường kh ởi ki ện ra toà án. T ố
tụng dân sự là một phương thức giải quyết tranh chấp hiệu quả và th ường
được các bên tranh chấp tìm đến. Để bảo vệ quyền và lợi ích của mình, các
đương sự cần phải thực hiện quyền tranh tụng nhằm đưa ra các ch ứng c ứ,
chứng minh. Tranh tụng là nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân s ự, đ ồng
thời cũng chính là quyền của đương sự.
Khái niệm tranh tụng được biết đến ngay từ nh ững th ời đại xa x ưa
của xã hội loài người. Phương thức giải quyết tố tụng đã được áp d ụng t ừ
thời kỳ Hy lạp cổ đại. Ở thời đấy, nguyên cáo bị cáo đã được phép nh ờ
người thân của mình bào chữa trước tòa án. Sau đó nó được đ ưa vào La Mã
với tên gọi “thủ tục hỏi đáp liên tục”. Cùng với thời gian, tranh tụng tiếp tục
được kế thừa, phát triển và từng bước được khẳng định và đến nay nó
được áp dụng hầu hết ở các nước thuộc hệ thống luật lục địa cũng nh ư hệ
thống luật án lệ1.
Cho đến nay vẫn chưa có khái niệm chính thống v ề th ế nào là tranh
tụng. Về mặt lập pháp, khái niệm tranh tụng chưa được chính th ức ghi
nhận hoặc giải thích trong các văn bản quy phạm pháp luật của n ước ta
được ban hành cho đến nay. Ở Việt Nam, hiện nay vẫn còn nhiều cách hi ểu
khác nhau về khái niệm này. Dưới góc độ ngôn ngữ học, theo Hán – Việt từ
điển thì tranh tụng được hiểu là: “bàn cãi tìm ra lẽ phải”2. Còn theo Đại từ
1 Nhà pháp luật Việt - Pháp (2002), Một số nội dung về nguyên tắc tố tụng xét hỏi và tranh tụng.
Kinh nghiệm của Pháp trong việc tuyển chọn, bồi dưỡng, bổ nhiệm, quản lý Thẩm phán, Hà Nội, tr.
2.
2 Thiều Chửu (1993), Hán – Việt từ điển, nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, tr 621.
7
điển tiếng Việt thì tranh tụng có nghĩa là “kiện tụng”3, là một phần tố tụng
của phiên tòa, được tiến hành sau khi kết thúc phần xét h ỏi.
Bên cạnh đó, theo từ điển Luật học thì tranh tụng được hiểu nh ư
sau : “Tranh tụng là hoạt động tố tụng được thực hiện bở các bên tham gia
tố tụng, có quyền bình đẳng với nhau trong việc thu thập, đưa các bên tham
gia tố tụng, có quyền bình đẳng với nhau trong việc thu thập, đưa ra ch ứng
cứ để bảo vệ các quan điểm và lợi ích của mình, phản bác lại các quan đi ểm
và lợi ích của phía đối lập” 4. Với cách giải thích này, thì tranh tụng chính là
hoạt động tố tụng, một phần của quá trình giải quy ết vụ kiện dân sự theo
đó các đương sự bình đẳng với nhau trong việc đưa ra các yêu c ầu, các
chứng cứ và chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích h ợp pháp c ủa mình,
phản bác lại các quan điểm và lợi ích mà bên đối lập đưa ra. Khái niệm này
khẳng định tranh tụng là hoạt động tố tụng, tuy nhiên v ới cách hi ểu này
chưa phân biệt được hoạt động tranh tụng với những hoạt động tố t ụng
khác, đồng thời cũng thiếu đi vai trò rất quan trọng của Tòa án.
Bên cạnh các khái niệm tranh tụng trong tố tụng dân sự đã nêu ở
trên thì còn có rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm này, ch ẳng
hạn như :
Theo Vấn đề tranh tụng trong tố tụng dân sự được đăng trên tạp chí
luật học số 6/2003 của tác giả Nguyễn Công Bình thì tác gi ả cho r ằng :
“Tranh tụng trong tố tụng dân sự được hiểu là một phương thức tố tụng để
đương sự bảo về quyền lợi của mình, tòa án xác định sự thật khách quan
của vụ án”5. Có thể thấy, với quan điểm này thì khái niệm tranh tụng được
hiểu là một phương thức tố tụng mà trên cơ sở phương th ức này thì đương
sự sử dụng để bảo vệ quyền lợi của mình, cũng trên cơ sở đó tòa án có căn
cứ để xác định sự thật khách quan của vụ án. Tuy nhiên, quan đi ểm này
3 Trung tâm ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam Bộ giáo dục và đào tạo (1998), Đại từ điển tiếng Việt, NXB Văn hóa –
thông tin, Hà Nội, tr.1686.
4 Viện khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp (2006), Từ điển luật học, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội, tr.807-808.
5 Nguyễn Công Bình (2003), Vấn đề tranh tụng trong tố tụng dân sự, Tạp chí luật học số 6/2003.
8
chưa cụ thể bởi theo cách hiểu này thì chưa xác định được nh ững đ ặc
điểm của tranh tụng để phân biệt với những phương pháp tố tụng khác.
Một quan điểm khác cho rằng : “Tranh tụng là việc các bên đương sự
đưa ra chứng cứ, các căn cứ pháp lý, lập luận, tranh luận, đối đáp v ới nhau
nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của mình và tòa án chủ yếu dựa trên k ết quả
tranh tụng giữa các bên để ra phán quyết giải quyết vụ án, vụ việc dân sự” 6.
Theo quan điểm này thì tranh tụng chỉ là việc các bên đương s ự đ ưa ra
chứng cứ pháp lý, lập luận, tranh luận, đối đáp với nhau nhằm bảo v ệ
quyền và lợi ích của mình nhằm bảo vệ quy ền và lợi ích của mình đ ồng
thời dựa trên kết quả tranh tụng giữa các bên mà tòa án đưa ra phán quy ết
giải quyết vụ án, vụ việc dân sự. Quan điểm này đã chỉ ra được những đặc
điểm của tranh tụng tuy nhiên lại không nêu được bản chất của tranh
tụng, đó là tranh tụng chỉ diễn ra trong quá trình giải quy ết vụ án dân s ự
chứ không có trong quá trình giải quyết việc dân sự, hoạt động tranh t ụng
phải được chứng kiến, ghi nhận bởi Tòa án.
Bên cạnh đó, cũng có quan điểm dựa trên đặc thù của tố tụng dân s ự
là các chủ thể tham gia tố tụng và chủ thể tiến hành tố tụng cùng nhau xác
định sự thật khách quan trên cơ sở xem xét đánh giá khách quan, toàn diện
và đầy đủ các chứng cứ, tài liệu, các tình tiết khác nhau của v ụ án và đ ối
chiếu với các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Theo quan đi ểm này
tranh tụng được hiểu theo hai nghĩa, đó là: nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Theo nghĩa rộng, tranh tụng là một quá trình được bắt đầu từ khi các
đương sự thực hiện quyền khởi kiện và kết thúc khi bản án, quyết định của
Tòa án. Như vậy, hiểu theo nghĩa rộng thì quá trình tranh t ụng này sẽ bao
gồm toàn bộ các giai đoạn khởi kiện, thụ lý vụ án, chuẩn bị xét xử,xét x ử sơ
thẩm, phúc thẩm và cả giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm. 7
6 Viện khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp (2004), Một số vấn đề về tranh tụng trong Tố tụng dân sự, thông tin khoa
học pháp lý, Hà Nội, tr 19.
7 Trường Đại học Luật Hà Nội (2011), Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Tranh tụng trong tố tụng dân sự
Việt Nam trước yêu cầu cải cách tư pháp,TS Nguyễn Thị Thu Hà chủ nhiệm Đề tài, tr 6.
9
Theo nghĩa hẹp: tranh tụng là sự đối đáp, đấu tranh gi ữa các bên
đương sự với nhau về chứng cứ, yêu cầu và phản đối yêu c ầu c ủa m ỗi bên
để từ đó nhằm chứng minh cho đối phương và Tòa án rằng yêu cầu và phản
đối yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp 8.
Quan điểm này đã đưa ra được hai góc nhìn khác nhau về tranh tụng
theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Tuy nhiên, tranh tụng không đồng nghĩa v ới
quá trình giải quyết vụ án mà là hoạt động được diễn ra trong quá trình
đó.
Từ những phân tích trên, có thể định nghĩa tranh tụng trong tố tụng
dân sự như sau: “Tranh tụng trong tố tụng dân sự là phương pháp giải
quyết tranh chấp dân sự tại Tòa án, diễn ra trong quá trình tố tụng, theo đó
các bên đương sự xuất trình, trao đổi chứng cứ, lỹ lẽ, căn cứ pháp lý và ph ản
bác yêu cầu đối lập trước Tòa án để chứng minh, biện luận cho yêu cầu của
mình nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và Tòa án d ựa trên
kết quả tranh tụng giữa các bên để đưa ra phán quyết giải quyết vụ án, v ụ
việc dân sự”.
Như vậy, tranh tụng trong tố tụng dân sự là một loại tranh t ụng
trong tố tụng, bao hàm cả hoạt động tranh tụng tr ước khi m ở phiên tòa,
tranh tụng tại phiên tòa và tranh trụng sau khi có quyết định giải quy ết v ụ
án dân sự. Vì tố tụng dân sự là quá trình giải quy ết v ụ án dân s ự cho nên
tranh tụng trong tố tụng dân sự là tranh tụng trong quá trình gi ải quy ết v ụ
án dân sự có thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc
Thứ hai, khái niệm quyền tranh tụng
Trên cơ sở phân tích khái niệm tranh tụng ở trên, có th ể th ấy tranh
tụng là phương thức giải quyết tranh tụng diễn ra trong quá trình t ố t ụng
được thực hiện bởi đương sự. Theo đó, đây là quyền của đương s ự, đ ương
sự có quyền xuất trình, trao đổi chứng cư, lý lẽ, căn c ứ pháp lý, ph ản bác
8 Trường Đại học Luật Hà Nội (2011), Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Tranh tụng trong tố tụng dân sự
Việt Nam trước yêu cầu cải cách tư pháp,TS Nguyễn Thị Thu Hà chủ nhiệm Đề tài, tr 6.
10
yêu cầu trước Tòa án nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cua mình.
Như vậy, có thể hiểu quyền tranh tụng của đương sự trong tố tụng dân s ự
như sau:
“Quyền tranh tụng của đương sự trong tố tụng dân sự là quyền tố
tụng của đương sự trong quá trình tố tụng được xuất trình, trao đổi chứng
cứ, lỹ lẽ, căn cứ pháp lý và phản bác yêu cầu đối lập trước Tòa án đ ể ch ứng
minh, biện luận cho yêu cầu của mình nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của mình.”
Thứ ba, khái niệm tranh tụng trong tố tụng dân sự
Tranh tụng trong tố tụng dân sự là một loại tranh tụng trong tố tụng,
bao hàm cả hoạt động tranh tụng trước khi mở phiên tòa, tranh lu ận t ại
phiên tòa và tranh trụng sau khi có quyết định giả quyết vụ án dân s ự. Vì t ố
tụng dân sự là quá trình giải quyết vụ án dân sự cho nên tranh tụng trong
tố tụng dân sự là tranh tụng trong quá trình giải quyết vụ án dân s ự có th ời
điểm bắt và thời điểm kết thúc. Tranh tụng trong tố tụng dân s ự là m ột
quá trình xác định sự thật khách quan về vụ án được bắt đầu từ khi có yêu
cầu khởi kiện, thụ lý và kết thúc khi bản án, quyết định có hiệu l ực pháp
luật, theo đó các chủ thể tham gia tố tụng được đưa ra ch ứng c ứ, lý lẽ, căn
cứ pháp lý để chứng minh, biện luận để bảo vệ quy ền, l ợi ích h ợp pháp
của mình trước Tòa án theo những trình tự, thủ tục do pháp lu ật t ố t ụng
dân sự quy định.
Xuất phát từ lý luận trên cho thấy tranh tụng trong tố tụng dân s ự
chính là thể hiện bản chất dân chủ và nhân đạo nhằm bảo vệ các quy ền
con người. Thông qua quá trình tranh tụng giúp Tòa án hiểu rõ yêu cầu c ủa
các đương sự, có được các chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý đ ể xác định chân
lý khách quan của vụ kiện trên cơ sở đó Tòa án giải quy ết các yêu c ầu của
đương sự, xác lập lại cho đúng các quan hệ pháp lu ật dân s ự mà các bên
tham gia hoặc những quan hệ mà pháp luật điều ch ỉnh về quy ền và nghĩa
vụ của các bên khi có sự kiện pháp lý xẩy ra, xác định đúng các quy ền,
11
nghĩa vụ của mỗi bên theo quy định của pháp luật. Trên c ơ s ở c ủa tranh
tụng trong tố tụng dân sự, các đương sự được th ực hiện đầy đủ các quy ền
tố tụng dân sự đồng thời bảo đảm cho các chủ thể tham gia tố tụng quyền
bình đẳng tức là tạo ra khả năng để các chủ thể nói chung và các đ ương s ự
nói riêng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án.
Tranh tụng trong tố tụng dân sự còn là một bảo đảm cơ bản cho một
nền công lý trong sạch, trung thực và công bằng…, do đó tranh t ụng không
chỉ bảo đảm sự công bằng, bình đẳng về mặt pháp lý cho m ọi cá nhân, t ổ
chức mà còn tạo điều kiện cho việc đạt được sự bình đ ẳng, công b ằng v ề
thực tế của các cá nhân, tổ chức đó.
1.1.2. Đặc điểm thực hiện quyền tranh tụng của đương sự
Việc thực hiện quyền tranh tụng của đương sự có các đặc đi ểm nh ư
sau:
Thứ nhất, quyền tranh tụng của đương sự là quyền tố tụng của đương
sự được thực hiện bởi đương sự, người đại diện và người bảo vệ quy ện
lợi của đương sự
Tranh tụng diễn ra trong quá trình tố tụng, theo đó đ ương s ự sẽ xu ất
trình, trao đổi chứng cứ, lỹ lẽ, căn cứ pháp lý để chứng minh, biện lu ận cho
yêu cầu của mình đồng thời phản bác yêu cầu đối lập trước Tòa án. Để
thực hiện những điều này, bản thân đương sự phải có quyền, do đó quy ền
tranh tụng của đương sự là quyền của đương sự được thực hiện trong quá
trình tố tụng.
Trong tố tụng dân sự, các đương sự có thể là chủ thể của quan hệ
pháp luật tranh chấp hoặc có thể là người đưa ra yêu cầu, khiếu n ại, h ọ là
người biết rõ nguyên nhân, điều kiện phát sinh tranh chấp. Do đó, h ọ hi ểu
rõ bản chất các chứng cứ, chứng minh nên họ dễ dàng đ ưa ra nh ững lý lẽ,
căn cứ pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp c ủa mình. Tuy nhiên
không phải đương sự nào cũng đủ khả năng nhận thức, kỹ năng và th ời
gian để có thể tự mình thực hiện quyền tranh tụng, do đó vi ệc th ực hiện
12
quyền tranh tụng thông qua người đại diện, người bảo vệ quy ền l ợi cho
đương sự thường được đương sự lựa chọn.
Thứ hai, thực hiện quyền tranh tụng phải tuân theo pháp luật
Luật tố tụng dân sự là Hoạt động tố tụng dân sự của Tòa án và các ch ủ
thể tham gia tố tụng dân sự trong một quy trình tố tụng ph ải tuân theo
Pháp luật tố tụng. Pháp luật tố tụng dân sự là cơ sở pháp lý c ủa ho ạt
động tố tụng dân sự, vì vậy khi thực hiện quy ền và nghĩa vụ của mình các
chủ thể tham gia vào quá trình tranh tụng phải tuân theo đúng hình th ức,
trình tự, thủ tục và thời hạn do pháp luật quy định. Việc tuân th ủ đúng
trình tự, thủ tục và thời hạn do pháp luật quy định nhằm mục đích đ ể cho
việc điều hành công lý được phân minh, có hiệu quả và bảo đ ảm quy ền, l ợi
ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức.
Thứ ba, quá trình thực hiện quyền tranh tụng được công khai, trực ti ếp
và thực hiện bằng lời nói
Tại phiên tòa, các bên đương sự được trực tiếp trình bày các yêu c ầu,
đưa ra các chứng cứ, lý lẽ, căn cứ pháp lý bằng lời nói. Vi ệc các bên đ ương
sự trực tiếp trình bày, tranh luận bằng lời nói là một yếu tố quan trọng đ ể
đảm bảo tính khách quan, trung thực trong lời khai của họ, giúp H ội đ ồng
xét xử giải quyết các yêu cầu của đương sự, ra các quyết định chính xác
nhất về việc giả quyết vụ án. Những chứng cứ, tài liệu nào đó n ếu không
được trực tiếp thẩm tra công khai tại phiên tòa đều không đ ược dùng làm
căn cứ cho quyết định của Tòa án.
1.1.3. Ý nghĩa của việc thực hiện quyền tranh tụng của đương
sự
Trong quá trình thực hiện việc tranh tụng, các đương sự, ng ười đại
diện của đương sự đều được bình đẳng, chủ động và công khai đ ưa ra các
chứng cứ, căn cứ pháp lý và đối đáp nhau để làm rõ khách quan c ủa v ụ án
dân sự. Tòa án là cơ quan tiến hành tố tụng đóng vai trò giám sát quá trình
tranh tụng, sử dụng kết quả tranh tụng của các bên đ ể giải quy ết v ụ án
13
dân sự một cách khách quan, công bằng và đúng pháp luật. Nh ư v ậy, có th ể
rút ra ý nghĩa của việc thực hiện quyền tranh tụng của đương sự nh ư sau:
Thứ nhất, việc thực hiện quyền tranh tụng của đương tạo cơ hội cho
các bên đương sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp c ủa họ tr ước Tòa án.
Với việc thực hiện quyền tranh tụng, các đương sự có điều kiện trong việc
trình bày, đưa ra chứng cứ, lý lẽ chứng minh cho quy ền và l ợi ích h ợp pháp
của mình. Hơn nữa, tranh tụng cũng buộc các đ ương s ự ph ải n ỗ l ực, tích
cực hơn trong việc tham gia tố tụng. Kết quả tranh tụng là c ơ s ở đ ể Tòa án
quyết định giải quyết vụ án nên đương sự phải tìm mọi cách để thu th ập
chứng cứ và tìm ra căn cứ pháp lý để chứng minh cho yêu c ầu của mình là
có căn cứ và hợp pháp, bác bỏ yêu cầu của đương sự phía bên kia.
Thứ hai, việc thực hiện quyền tranh tụng của đương sự góp phần
đảm bảo cho bản án, quyết định của Tòa án đã tuyên là có căn c ứ và h ợp
pháp. Tranh tụng không những tạo điều kiện cho đương sự th ực hiện
quyền và nghĩa vụ của mình mà qua quá trình tranh tụng Tòa án xác đ ịnh
được sự thật khách quan của vụ án dân sự. Trên cơ s ở đó, Tòa án gi ải
quyết được yêu cầu của các đương sự, xác định đúng các quy ền và nghĩa vụ
của mỗi bên theo quy định của pháp luật. Vì khi đ ương sự th ực hiện đ ược
đầy đủ các quyền tố tụng dân sự của mình như quyền và l ợi ích h ợp pháp
của mình, quyền được biết chứng cứ do Tòa án thu th ập, quy ền yêu cầu
Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời , quyền được t ự bảo vệ hoặc
nhờ người khác bảo vệ, quyền tranh luận tại phiên tòa… thì các tình ti ết
của vụ án được làm sáng tỏ, Tòa án có đầy đủ chứng cứ để giải quy ết v ụ
án dân sự một cách chính xác, công minh và đúng pháp lu ật.
Thứ ba, thực hiện quyền tranh tụng của đương sự giúp cho mọi công
dân hiểu biết thêm pháp luật, củng cố thêm lòng tin vào chế độ, vào đ ường
lối, chính sách và pháp luật của Đảng và Nhà n ước. Trên c ơ s ở đó, góp ph ần
vào việc giáo dục và nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật và các quy tắc c ủa
14
cuộc sống xã hội của Nhân dân, tạo điều kiện cho việc c ủng c ố tr ật t ự
pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa.
1.1.4. Lịch sử hình thành và phát triển quyền tranh t ụng theo
pháp luật Việt Nam
Giai đoạn từ năm 1945 đến trước năm 2005
Với thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám, nhà n ước Việt Nam dân
chủ cộng hòa ra đời đã đánh dấu một bước ngoặt lớn trong l ịch s ử n ước ta,
đó là nhà nước của dân, do dân và vì dân, tất c ả quy ền l ực thu ộc v ề nhân
dân. Để xây dựng, củng cố chính quyền, Nhà n ước ta đã ban hành nhi ều
văn bản pháp luật nhằm bảo vệ các quy ền, lợi ích của đ ương sự. Có th ể k ể
đến Sắc lệnh số 34/SL ngày 24/01/1946; Sắc lệnh số 52/SL ngày
17/4/1946; Sắc lệnh số 69/SL ngày 18/6/1949…
Bước vào những năm 50, nước ta đã có cuộc cải cách t ư pháp nh ằm
phát triển chế độ dân chủ nhân dân, đó là việc ban hành Sắc lệnh s ố 85/SL
ngày 22/5/1950 về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng, trong đó quy
định Luật sư được tham gia tố tụng để bảo vệ quyền lợi cho đương sự tạo
điều kiện cho đương sự thực hiện quyền tranh tụng bảo vệ quy ền và l ợi
ích hợp pháp của mình.
Các quy định trong các văn bản pháp luật nhà n ước Việt Nam dân ch ủ
công hòa ban hành đã thể hiện chủ trương của Đảng và Nhà n ước trong
việc mở rộng dân chủ trong tố tụng dân sự, phát huy vai trò tích c ực c ủa
các bên và của Luật sư.
Năm 1954, với chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Gi ơ-Ne-Vơ về
việc lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết đã đánh dấu th ắng l ợi c ủa
cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Miền Bắc hoàn toàn giải phóng
tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục kháng chiến đ ể
giành độc lập thống nhất đất nước. Ở miền Nam chính quy ền Ngụy quy ền
trong một thời gian dài vẫn áp dụng những văn bản pháp luật cũ th ời Pháp
thuộc. Đến ngày 20/12/1972, chính quyền Ngụy quy ền ban hành Bộ lu ật
15
dân sự, quyền nhờ Luật sư, tôn thuộc, ti thuộc, vợ chồng, anh em, đồng
thừa kế và đồng hội viên thay mặt (Điều 50); đồng th ời Bộ luật này cũng
quy định đương sự có nghĩa vụ chứng minh, đó là “ Người nào viện dẫn một
sự kiện thuận lợi cho mình, có trách nhiệm dẫn chứng. Đối phương muốn
phủ nhận tín lực của sự kiện được chứng minh phải xuất trình bằng cớ
tương phản” (Điều 56). “Nếu không có đủ bằng cứ theo luật về chủ trương
của mình, đương sự sẽ bị bác khước về những khoản không chứng minh
được” (Điều 58) và đặc biệt Bộ luật đã quy định quá trình giải quy ết v ụ
kiện phải qua tranh tụng. Như vậy, các quy định pháp luật v ầ tranh t ụng
trong tố tụng dân sự của chính quyền Ngụy quy ền có tiến bộ h ơn so v ới
pháp luật tố tụng thời Pháp thuộc, tuy nhiên chưa có quy đ ịnh về quy ền và
nghĩa vụ của các đương sự thể hiện được nguyên tắc tranh tụng trong giải
quyết vụ kiện, cũng như chưa có những bảo đảm cho tranh tụng được th ực
hiện trên thực tế.
Ở miền Bắc, Hiến pháp năm 1959 và Luật tổ ch ức Tòa án nhân dân
năm 1960 được ban hành làm nền móng cho việc xây d ựng m ột thi ết ch ế
xét xử xã hội chủ nghĩa. Nhiều văn bản pháp luật ra đời quy định cụ th ể về
nghĩa vụ chứng minh của đương sự, vai trò của Luật s ư, về s ự vô tư, khách
quan của Thẩm phán trong khi xét xử và tranh luận tại phiên tòa. Thông t ư
số 39/NCPL ngày 20/01/1972 của Tòa án nhân dân tối cao h ướng d ẫn v ề
việc thụ lý, di lý, xếp và tạm xếp những việc kiện về hôn nhân và gia đình,
tranh chấp về dân sự có hướng dẫn như sau:
“Sau khi nguyên đơn đưa đơn kiện, Tòa án nhân dân phải cho bị đơn và
người dự sự biết nội dung đơn kiện và yêu cầu của nguyên đơn, nếu xét
thấy cần thiết và không có hại cho việc hòa giải thì Tòa án nhân dân có th ể
cho nguyên đơn, bị đơn và người dự sự xem hoặc sao chép đơn và lời khai
của nhau. Sau khi biết được những yêu cầu và những chứng c ứ c ủa nh ững
đương sự khác, mỗi đương sự đều có thể nộp hoặc đến khai trước Tòa án
nhân dân để trình bày những lý lẽ và chứng cứ nhằm xác đ ịnh ho ặc bác b ỏ
16
một phần hay toàn bộ những yêu cầu đó, đồng thời cũng có quyền đề xu ất
những lý lẽ và chứng cứ yêu cầu của mình”.
Thông tư số 06/TT-TATC ngày 25/02/1974 đã quy định thêm về
quyền yêu cầu và nghĩa vụ chứng minh như sau: “Các đương sự (nguyên
đơn, bị đơn và người dự sự) có quyền đề xuất những yêu c ầu và có nhi ệm
vụ trình bày những chứng cứ, lỹ lẽ để chứng minh cho những yêu c ầu và b ảo
vệ những quyền lời hợp pháp của mình”.
Ngoài ra, Thông tư sau 16/TT-TATC ngày 27/9/1974 quy định:
“Viện kiểm sát nhân dân, bị cáo (nguyên đơn, bị đơn trong các vụ kiện
dân sự) và những người khác tham gia tố tụng có quy ền tranh lu ận v ề
chứng cứ cũng như về việc áp dụng pháp luật, đường lối, chính sách xét x ử
sơ thẩm. Công văn quy định quyền và nghĩa vụ của nh ững người tham gia
tố tụng được đề xuất chứng cứ và yêu cầu về biện pháp khẩn cấp tạm
thời; được đề xuất những câu hỏi trong khi Tòa án thẩm vấn và được tham
gia tranh luận, cụ thể:
“Được Tòa án nhân dân cho xem hoặc sao chép đơn từ, tài liệu c ủa các
đương sự khác, nhân chứng, giám định viên… nếu nhận thấy việc đó cần
thiết cho đương sự chuẩn bị chứng cứ, lý lẽ để bảo vệ nhưng quyền lợi như
họ.
Được đề xuất yêu cầu, bổ sung yêu cầu hoặc thay đổi yêu cầu c ủa vụ
kiện.
Được đề xuất chứng cứ và những yêu cầu về điều tra hoặc về biện
pháp khẩn cấp tạm thời được Tòa án nhân dân giải quyết.
Được đề xuất những câu hỏi trong khi Tòa án nhân dân thẩm vấn được
tham gia cuộc tranh luận…”.
Bên cạnh đó, Công văn còn xác định rõ trách nhiệm c ủa Tòa án nhân
dân trong việc bảo đảm cho các đương sự thực hiện quy ền bình đ ẳng
trong tố tụng; phân biệt giữa xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa, trình t ự,
thủ tục tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm.
17
Sau khi giải phòng miền Nam, thống nhất đất nước, Nhà n ước ta đã
thông qua Hiến pháp năm 1980, tại Điều 133 Hiến pháp quy đ ịnh: “Tổ
chức Luật sư được thành lập để giúp bị cáo và các đương sự khác v ề m ặt
pháp lý”. Trên cơ sở đó, Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1981 quy định:
“Các đương sự có quyền nhờ Luật sư bảo vệ quyền lợi của mình ” (Điều 9).
Tiếp đó, Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1988 khẳng định các đ ương s ự
không những có quyền nhờ Luật sư được ban hành ngày 18/12/1987 t ạo
cơ sở cho việc hình thành và phát triển của đội ngũ Luật s ư ở Vi ệt Nam,
phát huy vai trò của Luật sư trong tư vấn và tham gia tố tụng.
Có thể thấy rằng, trong giai đoạn này nhiều văn bản pháp lu ật t ố t ụng
dân sự đã được ban hành nhằm phát huy và đề cao quy ền và nghĩa v ụ
chứng minh của các đương sự và Luật sư. Nhiều quy định tiến bộ về quy ền
bình đẳng trong tố tụng, trao đổi chứng cứ, lý lẽ, tranh lu ận t ại phiên tòa,
trách nhiệm của Tòa án nhân dân trong việc bảo đảm quy ền và lợi ích h ợp
pháp của các đương sự được ghi nhận,
Kế thừa và phát triển các quy định về tố tụng dân sự của giai đoạn
trước, ngày 29/11/1989 Hội đồng nhà nước đã thông qua Pháp l ệnh T ố
tụng giải quyết các vụ án dân sự. Pháp lệnh đã đánh dấu b ước phát tri ển
của pháp luật tố tụng dân sự, quy định một cách có hệ th ống về trình t ự,
thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, nghĩa vụ chứng minh của đương sự, vị
trí, vai trò của người bảo vệ quyền lợi của đương sự. Tại Điều 3 Pháp lệnh
Tố tụng giải quyết các vụ án dân sự quy định:
“Đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền lợi của
mình. Tóa án có nhiệm vụ xem xét mọi tình tiết của v ụ án và khi cần thi ết
có thể thu thập thêm chứng cứ để bảo đảm cho việc giải quy ết các v ụ án
được chính xác”.
Pháp lệnh cũng quy định rõ quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự
trong đó:
18
“Các đương sự có quyền bình đẳng trong việc cung cấp chứng c ứ để
bảo vệ quyền lợi của mình; được biết chứng cứ do bên kia cung cấp; yêu
cầu Tòa án tiến hành biện pháp điều tra cần thiết, quyết định biện pháp
khẩn cấp tạm thời; tham gia hòa giải; tham gia phiên tòa; yêu cầy thay đổi
Thẩm phán, hội thẩm nhân dân, kiểm sát viên, thư ký Tòa án, ng ười giám
định, người phiên dịch; đề xuất với Tòa án những vấn đề cần hỏi của người
khác; tham gia tranh luận tại phiên tòa; kháng cáo b ản án, quy ết đ ịnh c ủa
Tòa án” (Điều 20).
Ngoài ra, tại Điều 51 Pháp lệnh đã quy định về thủ tục tranh luận tại
phiên tòa như sau:
“1. Sau khi Hội đồng xét xử kết thúc việc xét hỏi, các đương sự, ng ười đ ại
diện của đương sự, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người đại di ện
tổ chức xã hội khởi kiện về lợi ích chung trình bày ý kiến của mình về đánh
giá chứng cứ, đề xuất hướng giải quyết vụ án. Người tham gia tranh lu ận
có quyền đáp lại ý kiến của người khác, nhưng chỉ được phát bi ểu một l ần
đối với mỗi ý kiến mà mình không đồng ý. Nếu thấy cần thiết thì H ội đồng
xét xử cho phát biểu thêm. Sau đó kiểm sát viên trình bày ý ki ến v ề h ướng
giải quyết vụ án.
2- Nếu qua tranh luận mà thấy cần xem xét thêm chứng cứ thì Hội đồng xét
xử có thể quyết định xét hỏi lại và tranh luận lại”.
Hiến pháp năm 1992 được thông qua đã tiếp tục kh ẳng đ ịnh các
quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân cũng như tổ chức Luật sư được
thành lập để giúp các đương sự bảo vệ quyền và l ợi ích h ợp pháp c ủa
mình. Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1992, tại Điều 9 quy định: “Tòa
án bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo, quyền bảo vệ quyền và lợi ích h ợp
pháp của các đương sự”. Để đáp ứng những chuyển biến to lớn về mọi mặt
trong đời sống xã hội , chủ động hội nhập kinh tế khu v ực và thế gi ới, pháp
lệnh Luật sư năm 2001 ra đời đã tạo cơ sở pháp lý cho s ự phát tri ển c ủa
19
đội ngũ Luật sư chuyên nghiệp có phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên
môn, phát huy vai trò của Luật sư trong tư vẫn và tham gia t ố t ụng.
Giai đoạn này đã có nhiều quy định về những vấn đề thuộc n ội dung
của nguyên tắc tranh tụng và những vấn đề liên quan đến quyền tranh
tụng của đương sự.
Từ năm 2005 đến nay
Thực hiện mục tiêu của Đảng về cải cách tổ chức, hoạt động của các
cơ quan tư pháp theo hướng mở rộng tranh tụng, Bộ Chính trị đã ban hành
Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 về một số nhiệm vụ trọng
tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới. Trên cơ s ở đổi m ới của Đ ảng,
từ thực trạng pháp luật tố tụng dân sự và thực tiễn xét xử các vụ việc dân
sự, ngày 27/5/2004, Quốc hội nước Cộng hòa xã h ội ch ủ nghĩa Vi ệt Nam
đã thông qua Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 có hiệu l ực t ừ ngày
01/01/2005.
Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 ra đời đã đánh dấu một b ước phát
triển của các quy định liên quan đến vấn đề tranh tụng trong tố tụng dân
sự. Mặc dù trong các nguyên tắc của pháp luật tố tụng dân s ự mà B ộ lu ật
nêu ra chưa có quy định nào về áp dụng nguyên tắc tranh tụng nh ưng n ội
dung của hoạt động tranh tụng trong tố tụng dân s ự đã đ ược đề c ập khá
cụ thể và chi tiết. Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 đã có nh ững quy đ ịnh
liên quan đến quá trình tranh tụng như quy định về nghĩa v ụ cung c ấp
chứng cứ và chứng minh của người khởi kiện; quyền phản tố của bị đ ơn,
quyền yêu cầu độc lập của người có quy ền và nghĩa vụ liên quan… Nghĩa
vụ chứng của đương sự được đề cao hơn trước, trong trường hợp xét th ấy
chứng cứ trong hồ sơ chưa đủ cơ sở để giải quyết thì Thẩm phán yêu cầu
đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ và Tòa án ch ỉ hổ tr ợ đ ương s ự thu
thập chứng cứ trong trường hợp đương sự không thể tự mình thu th ập
được chứng cứ và có đơn yêu cầu hoặc trong trường h ợp do pháp lu ật quy
định. Bên cạnh đó, việc quy định thủ tục tranh luận tại phiên tòa theo
20
hướng Tòa án không được hạn chế thời gian tranh luận của đ ương s ự mà
phải tạo điều kiện cho người tham gia tranh luận trình bày hế ý kiến c ủa
họ đã góp phần bảo đảm cho tranh tụng trong tố tụng dân sự có c ơ s ở th ực
hiện, đây là bước tiến quan trọng về kỹ thuật lập pháp so với các văn bản
pháp luật trước đây.
Tại kỳ họp thứ 9 ngày 29/3/2011, Quốc hội khóa XII đã thông qua
sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự, có hiệu l ực ngày
01/01/2012. Trong đạo luật này đã có nhiều quy định m ới liên quan đ ến
việc bảo đảm tranh tụng của các đương sự như: đương sự trong các vụ
việc dân sự có thêm quyền được trực tiếp đưa ra câu h ỏi v ới ng ười khác
về vấn đề liên quan đến vụ án khi được phép của Tòa án hoặc đề xuất v ới
Tòa án nhưng vấn đề cần hỏi với người khác; được đối chất với nhau hoặc
với người làm chứng. Đặc biệt, Điều 23a của Luật này ghi nhận nguyên tắc
bảo đảm tranh luận trong tố tụng dân sự:
“Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, Tòa án bảo đảm để các bên
đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện
quyền tranh luận để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự”.
Quy định này tạo hành lang pháp lý cho việc bảo đảm quy ền tranh
tụng của các chủ thể tranh tụng đặc biệt là đương sự. H ơn n ữa nó càng th ể
hiện rõ nét các nội dung của một nguyên tắc, đó là nguyên tắc tranh t ụng
trong tố tụng dân sự.
Cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013, Bộ luật tố tụng
dân sự năm 2015 đã dược Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 25/11/2015
và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/7/2016. Trong đó, đ ể thi hành kho ản
5 Điều 103 của Hiến pháp. Bộ luật tố túng dân s ự năm 2015 đã b ổ sung
quy định tại Điều 24, coi tranh tụng là một trong nh ững nguyên tắc c ơ bản
của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, cùng với đó là nhi ều quy đ ịnh m ới
khác nhằm đảm bảo cho nguyên tắc này được thực hiện có hiệu quả nh ư:
quy định rõ nội hàm của nguyên tắc này theo hướng Tòa án có trách nhi ệm
21
bảo đảm cho đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự th ực hiện
việc thu thập, giao nộp, cung cấp tài liệu, chứng cứ k ể từ khi Tòa án nh ận
đơn khởi kiện, đơn yêu cầu; trình bày, đối đáp, phát bi ểu quan đi ểm, l ập
luận về đánh giá chứng cứ và pháp luật áp dụng để bảo vệ yêu c ầu, quy ền,
lợi ích hợp pháp của mình hoặc bác bỏ yêu cầu của người khác. Được biết,
ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ do đương sự khác xuất trình ho ặc do
Tòa án thu thập; có nghĩa vụ gửi cho đương sự khác hoặc ng ười đ ại di ện
hợp pháp của họ bản sao đơn khởi kiện và tài liệu, ch ứng c ứ. Tòa án đi ều
hành việc tranh tụng, hỏi những vấn đề chưa rõ và căn cứ vào kết quả
tranh tụng để ra bản án, quyết định.
1.2.
Quy định của pháp luật về quyền tranh tụng của đương
sự
1.2.1. Nguyên tắc quyền tranh tụng trong xét xử
Hiến pháp năm 2013 đã quy định cụ thể, rõ ràng như sau: “Nguyên tắc
tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”9. Với quy định này, đây là một trong
những đổi mới đáng chú ý vì lần đầu tiên Hiến pháp đã ghi nh ận nguyên
tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử, phản ánh một bước tiến lớn, phù
hợp với tinh thần cải cách tư pháp của Nhà nước ta. Nguyên tắc quy ền
tranh tụng trong xét xử được thể hiện như sau:
Thứ nhất, các bên tranh tụng bình đẳng với nhau về quy ền đưa ra tài
liệu, chứng cứ, yêu cầu; đưa ra các luận điểm, luận cứ và luận ch ứng của
mình; bình đẳng trong đối đáp, tranh luận, chứng minh, bác bỏ quan đi ểm
lần nhau.
Để tranh tụng có hiệu quả thì các bên đương sự phải thực sự bình
đẳng với nhau và Tòa án phải đứng ở vị trí trung gian, độc lập, khách
quan, bảo đảm cho hai bên thực hiện quyền tranh tụng của mình. Nguyên
tắc bình đẳng này không chỉ được thể hiện tại phiên tòa mà còn ở các giai
9 Xem thêm khoản 5 Điều 103 Hiến pháp năm 2013
22
đoạn trước khi mở phiên tòa. Theo đó, nguyên tắc xác định trong suốt quá
trình tranh tụng, các bên đương sự đều có quyền bình đẳng trong việc đưa
ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ và đưa ra yêu cầu để làm rõ sự thật khách
quan của vụ án và Tòa án phải có trách nhiệm trong việc tạo điều ki ện cho
cho những chủ thể tranh tụng thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ c ủa mình
và hoạt động tranh tụng tiến hành trên cơ sở dân chủ, bình đẳng. T ại
phiên tòa, các chủ thể tranh tụng bình đẳng với nhau trên cơ sở đ ưa ra
quan điểm, tài liệu, chứng cứ, phân tích đánh giá để lập luận, đối đáp b ảo
vệ quan điểm của mình. Đảm bảo quyền bình đẳng trước Tòa án trong
việc thực hiện trong tụng thể hiện ở hai điểm: (i) pháp luật đảm bảo cho
các đương sự có các quyền bình đẳng với nhau ở các quy ền và nghĩa vụ
trong tố tụng dân sự; (ii) quyền bình đẳng của các đương sự đ ược đ ảm
bảo thực thi trên thực tế.
Thứ hai, bản án và quyết định của Tòa án phải căn cứ vào kết quả
tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét toàn diện các luận đi ểm, lu ận
cứ và luận chứng của các bên tranh tụng.
Việc tranh tụng chỉ là hình thức nếu kết quả tranh tụng không được
thể hiện trong bản án, quyết định của Tòa án. Việc quy định bản án, quy ết
định của Tòa án phải dựa vào kết quả kiểm tra, đánh giá ch ứng cứ và k ết
quả tranh tụng là một trong những điểm mới nổi bật trong quy đ ịnh v ề
nguyên tắc tranh tụng. Trên cơ sở có đủ các chủ thể tranh tụng cũng như
chứng cứ liên quan đến việc giải quyết vụ án, các bên sẽ tranh luận công
khai tại phiên tòa để bảo vệ quan điểm của mình; Tòa án ki ểm tra, đánh
giá chứng cứ và dựa trên kết quả tranh tụng tại phiên tòa để đ ưa ra k ết
luận cuối cùng. Bản án, quyết định của Tòa án phải căn cứ vào kết quả
tranh tụng tại phiên tòa.
23
Thứ ba, Tòa án có trách nhiệm bảo đảm các điều kiện, th ực thi các quy
định của pháp luật theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân s ự đ ể các bên
tham gia tranh tụng.
Tòa án với vai trò là trọng tài, trung gian trong xét xử, do đó trong quá
trình xét xử Tòa án có trách nhiệm đ ảm bảo cho đương sự được biết và
trình bày ý kiến về yêu cầu và chứng cứ của người khác đối v ới mình. Tòa
án phải đảm bảo thực hiện quyền tranh tụng của đương sự m ột cách bình
đẳng, công khai, đúng pháp luật.
Với các nội dung trên thì phạm vi điều ch ỉnh của nguyên tắc tranh
tụng chủ yếu là tại phiên toà xét xử vụ án; bắt đầu từ khi Tòa án m ở phiên
toà cho đến khi kết thúc phiên tòa và tập trung trong ph ần tranh lu ận c ủa
những người tham gia tranh tụng.
1.2.2. Chủ thể có quyền thực hiện quyền tranh tụng
Việc thực hiện quyền tranh tụng trong tố tụng dân s ự liên quan t ới
chủ thể là đương sự. Đương sự là chủ thể tham gia tranh tụng th ực hiện
quyền tranh tụng, là những chủ thể mang quyền, nghĩa v ụ t ố t ụng, tham
gia vào quá trình tranh tụng nhằm bảo vệ quy ền, lợi ích h ợp pháp c ủa
mình trước Tòa án. Do đó, quá trình tranh tụng luôn có sự tham gia của hai
bên đương sự, là những chủ thể tranh tụng giữ vai trò chủ động, quy ết
định kết quả tranh tụng. Bởi vì, họ tham gia tranh tụng xuất phát t ừ chính
yêu cầu bảo vệ quyền và lời ích của bản thân các đương sự. H ơn n ữa, các
vụ án dân sự chủ yếu phát sinh do có sự tranh ch ấp v ề quy ền và l ợi ích
giữa các đương sự. Do đó, việc xác định quyền và nghĩa vụ có t ồn t ại hay
không phải thuộc về các đương sự, người biết rõ nguyên nhân, đi ều ki ện
phát sinh ra tranh chấp vì nó không chỉ là con đường ngắn nh ất đ ể bi ết rõ
sự thật, mà còn làm các bên thỏa mãn hơn với kết quả được xác lập lại
theo đúng quy định của pháp luật. Đương s ự trong vụ án dân s ự g ồm:
nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Ngoài nguyên
đơn và bị đơn, tham gia vào thực hiện quyền tranh tụng còn có ng ười có
24
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Trong trường hợp này họ cũng là ch ủ th ể
thực hiện quyền tranh tụng, bởi vì họ cũng có lợi ích liên quan đến v ụ án,
tham gia tranh tụng để bảo vệ quyền lợi của mình.
Trên thực tế không phải đương sự nào cũng có điều kiện th ực hiện
tốt nhất quyền tranh tụng của mình nên việc th ực hiện quy ền tranh t ụng
của các đương sự này do người đại diện hoặc người bảo vệ quy ền và l ợi
ích hợp pháp của đương sự thực hiện. Người đại diện của đ ương s ự là
người thay mặt cho đương sự tham gia vào quá trình tranh t ụng v ới m ục
đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương s ự nh ư bảo v ệ quy ền l ợi
cho chính mình. Người đại diện có quyền và nghĩa vụ tố tụng c ủa đ ương
sự khi tham gia vào tranh tụng. Do đó, người đại diện có quy ền đ ược biết
tất cả chứng cứ, lý lẽ của bên đương sự đối ph ương và đ ược quy ền trình
bày ý kiến, đối đáp về những vấn đề mà đối ph ương có yêu cầu đ ối v ới
đương sự mà mình đại diện. Người đại diện của đương s ự ph ải có quy ền
bình đẳng với bên đương sự đối lập trước Tòa án trong việc th ực hiện
quyền tranh tụng.
Bên cạnh đó, không phải đương sự nào cũng có khả năng hi ểu bi ết và
kỹ năng để tự mình thực hiện tốt quyền tranh tụng. Do đó, trong tranh
tụng thì không thể thiếu một chủ thể quan trọng đó là ng ười bảo v ệ
quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Họ là người giúp đ ỡ đ ương sự v ề
mặt pháp lý, đồng thời tham gia tranh tụng để bảo vệ quy ền và lợi ích h ợp
pháp của đương sự. Người bảo vệ có vị trí pháp lý độc lập v ới đ ương s ự, có
các quyền và nghĩa vụ do pháp luật quy định ch ứ không b ị ràng bu ộc b ởi
quyền và nghĩa vụ của đương sự như người đại diện. Người bảo vệ quy ền
và lợi ích hợp pháp của đương sự bao gồm Luật s ư; Trợ giúp viên pháp lý
hoặc người tham gia trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp lu ật v ề tr ợ
giúp pháp lý; Đại diện của tổ chức đại diện tập thể lao động là ng ười b ảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động trong vụ vi ệc lao đ ộng
theo quy định của pháp luật về lao động, công đoàn; Công dân Việt Nam có
25