NHỮNG BÀI THAM LUẬN
HƯỞNG ỨNG NGÀY PHÁP LUẬT NĂM 2017
____________________
1. UBND PHƯỜNG ĐÔ VINH, THÀNH PHỐ PHAN RANG -THÁP
CHÀM. THAM LUẬN: Những thuận lợi khó khăn và đề xuất giải pháp thực
hiện có hiệu quả trong công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật đến
người dân tại cơ sở.
Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật là một trong những công tác
mà Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm. Nhiệm vụ công tác tuyên truyền, phổ biến
giáo dục được xem là cầu nối đưa các chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà
nước đến với các tầng lớp nhân dân. Nhằm xây dựng ý thức pháp luật cho cán bộ
công chức, Nhân dân, có niềm tin vào pháp luật và chấp hành pháp luật.
Chính vì thế địa phương đã chủ động xây dựng kế hoạch tuyên truyền, phổ biến
giáo dục pháp luật hàng năm để tuyên truyền phổ biến các văn kiện của Đảng, pháp
luật của Nhà nước, các Đề án; Chương tŕnh; Kế hoạch về phổ biến giáo dục của
UBND tỉnh, Sở Tư pháp, UBND Thành phố Phan Rang-Tháp Chàm. Trong thời gian
qua Đảng ủy chỉ đạo chính quyền và các Ban, ngành đoàn thể phối hợp đẩy mạnh
thực hiện công tác tuyên truyền phổ biến, giáo dục đạt được một số kết quả:
- Củng cố đội ngũ tuyên truyền viên, cộng tác viên về công tác phổ biến giáo dục
pháp luật từ phường đến khu phố, cơ bản là đủ số lượng và từng bước nâng cao chất
lượng.
- Các văn bản quy phạm pháp luật đã được phổ biến nhất là liên quan đến đất đai
là khâu giải phóng mặt bằng thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư, đăng ký cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất…, địa phương đã tổ chức mở Hội nghị tuyên
truyền cho Đảng viên, cán bộ cốt cán, công chức, viên chức và quần chúng nhân dân
về Luật đất đai; Bộ Luật dân sự. Mời trực tiếp báo cáo viên cấp tỉnh về truyền đạt
những vấn đề thiết thực nhất, tạo niềm tin và đáp ứng nhu cầu tìm hiểu pháp luật của
cán bộ và Nhân dân.
- Hàng tháng, hàng tuần, địa phương đã cập nhật những văn bản mới nhất để triển
khai phổ biến cho cán bộ công chức, viên chức vào các buổi sáng đầu giờ, 03
buổi/tuần, vào thứ 2, thứ 4, thứ 6.
- Từ đó tạo niềm tin về hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, công
chức, viên chức và Nhân dân. Từng bước được nâng lên, góp phần hạn chế những
hành vi vi phạm pháp luật, nhất là tệ nạn xã hội, kịp thời giải quyết các mâu thuẫn
tranh chấp tại cộng đồng dân cư, giảm bớt tình trạng khiếu nại, khiếu kiện, tố cáo
vượt cấp…, tiết kiệm thời gian và chi phí của công dân; giữ gìn trật tự an toàn xã
hội, thúc đẩy nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội tại địa phương. Nâng cao hiệu lực
pháp luật và hiệu quả quản lý Nhà nước bằng pháp luật.
1
Bên cạnh những kết quả đạt được công tác phổ biến, giáo dục pháp luật còn
có những khó khăn hạn chế đó là:
- Địa bàn rộng, dân trí đông, sống rãi rác, chủ yếu bằng nghề nông, với tổng diện
tích đất tự nhiên là: 3.033,92ha, có 4.178 hộ/16.503 nhân khẩu, chiếm 0,77% (bao
gồm: dân tộc Chăm, Hoa, Rắc Lây, Tày, Nùng). Tôn giáo có 640 hộ/2.843 khẩu theo
các tín đồ tôn giáo (đạo Phật, Thiên Chúa, Tin lành, Cao đài…), trong đó đạo phật là
chủ yếu chiếm trên 50% tín đồ Tôn giáo).
- Nhận thức, ý thức trách nhiệm và sự phối hợp của các Ban, ngành đoàn thể về
công tác tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật còn nhiều hạn chế, kỹ năng tuyên
truyền chưa thu hút được người nghe, chưa tương xứng với vị trí, vai trò và tầm
quan trọng của công tác tuyên truyền.
- Đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác phổ biến, giáo dục tại địa phương
thật sự chưa có. Hầu hết kiêm nhiệm, chưa thật sự toàn tâm, toàn ý đầu tư thời gian
và trí tuệ cho công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục.
- Kinh phí, cơ sở vật chất, phương tiện dành cho công tác tuyên truyền phổ biến
giáo dục pháp luật còn hạn chế, dẫn đến hiệu quả giáo dục chưa cao, chưa đáp ứng
yêu cầu tăng cường hiệu quả pháp luật trong đời sống xã hội.
- Một số người dân chưa chấp hành tốt pháp luật. Thực tế tại địa bàn phường Đô
Vinh dự án mở rộng nâng cấp đường Minh Mạng và đường Phan Đăng Lưu, một số
hộ dân hạn chế hiểu biết về pháp luật nên cố tình không giao mặt bằng đất bị thu hồi
làm cho dự án thi công chậm. Địa phương cùng với cơ quan có thẩm quyền đã nhiều
lần ban hành những văn bản và giải thích cho các hộ, sau đó mới chấp hành giao đất.
Nhiệm vụ và giải pháp trong thời gian tới:
Để nâng cao hiểu biết pháp luật của cán bộ và công chức, viên chức và Nhân dân
trong phường, hạn chế vi phạm pháp luật, hình thành thói quen sống và làm việc
theo Hiến pháp và pháp luật trong thời gian tới hoạt động tuyên truyền, phổ biến
giáo dục pháp luật cần thực hiện tốt các giải pháp sau:
- Kiện toàn đội ngũ báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật, đảm bảo
số lượng và chất lượng.
- Tập huấn, bồi dưỡng và nâng cao kiến thức pháp luật cho chính đội ngũ này,
trang bị thêm kỹ năng cần thiết để họ có khả năng vận dụng kiến thức, phương pháp
tuyên truyền vào những nhóm đối tượng cụ thể và phù hợp hơn.
- Tích cực, chủ động tuyên truyền đúng đối tượng theo quy định của Luật phổ
biến, giáo dục pháp luật.
Cụ thể: Nội dung của Luật hôn nhân và gia đình, Luật phòng chống bạo lực gia
đình, thì đối tượng được tuyên truyền ở đây phải gồm cả nam và nữ, nhất là những
người thường xuyên có hành vi bạo lực. Nhưng thực tế là đối tượng đến nghe các
luật này toàn là phụ nữ, đàn ông rất ít tham gia.
2
- Đổi mới, kết hợp sử dụng nhiều hình thức tuyên truyền phù hợp. Điều quan
trọng nhất là hình thức tuyên truyền, phổ biến giáo dục, pháp luật phải phù hợp với
đối tượng thì mới mang lại hiệu quả của hoạt động tuyên truyền.
Ví dụ như: tuyên truyền Luật đất đai; Bộ luật dân sự thì hầu hết nhân dân tham
gia rất nhiều, vì liên quan đến quyền lợi, thiết thực của họ, nhất là nói đến quy trình
thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất hỗ trợ đền bù tái định
cư….
- Tăng cường kinh phí cho hoạt động tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật là
rất cần thiết để cho hoạt động ngày có hiệu quả hơn.
- Đảng ủy, chính quyền, Mặt trận và các ban ngành đoàn thể, BQL khu phố quan
tâm, phối hợp với nhau để thực hiện tốt hơn nữa việc tuyên truyền cho cán bộ công
chức và nhân dân trong phường hiểu và thực hiện tốt nghĩa vụ của một công dân và
gia đđ́nh tại nơi cư trú./.
2. BAN DÂN TỘC. THAM LUẬN: Báo cáo kinh nghiệm và kết quả công tác
tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về giảm thiểu tt́nh trạng tảo hôn và
hôn nhân cận huyết thống trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số
Tỉnh Ninh Thuận có 6 huyện, 01 thành phố với 65 xã, phường, thị trấn; có 01
huyện nghèo Bác Ái theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ–CP; có 37 xã khu vực thuộc
vùng dân tộc và miền núi, trong đó 14 xã khu vực III, 22 xã khu vực II và 01 xã khu
vực I; có 124 thôn dân tộc và miền núi. Dân số toàn tỉnh có 678.116 khẩu, trong đó
đồng bào dân tộc thiểu số có 161.010 khẩu, chiếm 23.74%. Đồng bào dân tộc thiểu
số (DTTS) đa số sinh sống tập trung theo cụm dân cư (thôn, khu phố), chiếm phần
lớn là đồng bào Chăm và đồng bào Raglai. Đồng bào Chăm sống tập trung ở vùng
đồng bằng, sinh sống chủ yếu bằng nghề nông nghiệp và chăn nuôi gia súc, gia
cầm...; có truyền thống văn hóa lâu đời, mang đậm nét bản sắc dân tộc, cc̣òn lưu giữ
nhiều công trình văn hóa vật thể và phi vật thể có giá trị lớn như: Tháp Pô Klong
Girai, Tháp Pôrômê, Tháp Ḥa Lai,..; Đồng bào Raglai, K’ho, Churu sống chủ yếu ở
vùng miền núi, khu vực đặc biệt khó khăn, canh tác nương rẫy, năng suất chất lượng
sản phẩm cây trồng, vật nuôi chưa cao.
Tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống không chỉ đi ngược với thuần phong, mỹ
tục của người Việt mà còn vi phạm pháp luật và nguy hại hơn là để lại cho gia đình,
xã hội và thế hệ tương lai những hệ lụy khôn lường. Kết hôn sớm làm mất đi cơ hội
học tập, việc làm, cơ hội cải thiện điều kiện sống và chăm sóc sức khỏe của bà mẹ
và trẻ em, đặc biệt hôn nhân cận huyết thống ảnh hưởng nghiêm trọng đến giống nòi,
phát triển trí tuệ, chất lượng dân số và nguồn nhân lực vùng dân tộc thiểu số.
Nhằm ngăn ngừa, đẩy lùi tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống vùng
dân tộc thiểu số, ngày 14 tháng 4 năm 2015 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết
định số 498/QĐ-TTg, phê duyệt Đề án “Giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân
cận huyết thống trong vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2015-2025”.
3
Để triển khai thực hiện tốt Quyết định số 498/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ;
Ban Dân tộc cơ quan thường trực Ban chỉ đạo Đề án tham mưu Ủy ban nhân tỉnh
Ninh Thuận ban hành Kế hoạch số 3874/KH-UBND ngày 05/10/2015 của UBND
tỉnh về thực hiện Đề án “Giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống
trong vùng dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận giai đoạn 2015-2020 (giai
đoạn I)”; Kế hoạch số 2975/KH-BCĐ ngày 28/7/2016 về tổ chức triển khai thực
hiện Đề án “Giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống vùng đồng
bào DTTS trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận” năm 2016; Kế hoạch số 3625/KH-BCĐ
ngày 01/9/2017 của Ban Chỉ đạo về Tổ chức triển khai thực hiện Đề án “Giảm thiểu
tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng dân tộc thiểu số” trên địa
bàn tỉnh Ninh Thuận năm 2017.
Để triển khai thực hiện có hiệu quả các Kế hoạch của UBND tỉnh; hằng năm Ban
Dân tộc đã xây dựng và ban hành các Kế hoạch triển khai thực hiện Đề án giảm
thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng dân tộc thiểu số trên
địa bàn tỉnh, trong đó tập trung đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, vận động
đồng bào DTTS nhằm nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của xã hội, cộng đồng
và người dân tộc thiểu số trong thực hiện các quy định của pháp luật về hôn nhân và
gia đình. Tạo sự đồng thuận trong xã hội, nhằm ngăn ngừa tình trạng tảo hôn và hôn
nhân cận huyết thống, góp phần nâng cao chất lượng dân số và nguồn nhân lực vùng
dân tộc thiểu số.
Kết quả triển khai thực hiện năm 2016 và 2017 đã đạt được như sau:
- Ban Dân tộc phối hợp với Sở Tư pháp và các địa phương mở 14 lớp tuyên
truyền phổ biến pháp luật tại 14 xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số, có gần 1.400
người tham dự; nội dung tuyên truyền phổ biến về công tác dân tộc và chính sách
dân tộc, Luật Hôn nhân và gia đình; Luật Bình đẳng giới; 01 lớp tập huấn cho 73
người có Uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số; Phối hợp với Đài Phát thanh và
Truyền hình tỉnh xây dựng 02 phóng sự, phát bằng hai tiếng (phổ thông và Raglai)
phản ánh những vấn đề nổi cộm về nạn tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống ở vùng
dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh.
- Thành lập 02 Câu lạc bộ “Giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết
thống” tại xã Phước Thắng và xã Phước Chính huyện Bác Ái; mỗi Câu lạc bộ gồm
40 thành viên, do đồng chí Phó Chủ tịch UBND xã làm Chủ nhiệm câu lạc bộ; tổ
chức tập huấn cho các thành viên câu lạc bộ về nội dung phương pháp tuyên truyền,
phổ biến cung cấp thông tin pháp luật về Dân số, Hôn nhân và gia đđ́nh, Xử lý vi
phạm hành chính, hình sự liên quan đến tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống, đặc
biệt là các hành vi bị nghiêm cấm trong Luật hôn nhân và gia đình; chú trọng tuyên
truyền về tác hại, hậu quả và hệ lụy do tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống mang
lại; để tạo sự hiểu biết, nâng cao nhận thức cho các bậc cha mẹ, các cặp vợ chồng
trong độ tuổi sinh đẻ, trẻ vị thành niên, thanh niên, đặc biệt là các đối tượng có nguy
cơ hoặc là nạn nhân của tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống. Hướng dẫn triển khai
các hoạt động phù hợp với các yếu tố về văn hóa, giới, lứa tuổi và dân tộc để tuyên
4
truyền, phổ biến, nâng cao nhận thức, vận động xóa bỏ những hủ tục lạc hậu, ngăn
ngừa, hạn chế tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống …
Ban Dân tộc đã phối hợp với các cơ quan liên quan biên soạn 4.960 cuốn tài liệu
Sổ tay hỏi đáp pháp luật về Hôn nhân và gia đình để cung cấp cho đội ngũ cán bộ
làm công tác dân tộc, Lãnh đạo UBND xã, các hội đoàn thể xã; Trưởng thôn, người
có uy tín trong đồng bào DTTS ở 37 xã miền núi vùng đồng bào dân tộc thiểu số và
124 thôn vùng dân tộc thiểu số nhằm nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi, tăng
cường khả năng tiếp cận thông tin và huy động sự tham gia của cộng đồng, nhất là
đồng bào DTTS sinh sống trên địa bàn khu vực đặc biệt khó khăn có nguy cơ tảo
hôn và hôn nhân cận huyết thống cao, qua đó góp phần giảm thiểu và tiến tới ngăn
chặn tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong đồng bào dân tộc thiểu
số.
Trong thời gian tới, Ban Dân tộc sẽ tiếp tục phối hợp với các cơ quan đơn vị liên
quan và UBND các xã đặc biệt khó khăn tổ chức các lớp tuyên truyền về tảo hôn và
hôn nhân cận huyết thống cho đồng bào DTTS theo Kế hoạch; xây dựng pano tuyên
truyền tại các xã vùng đồng bào DTTS; biên soạn cung cấp sổ tay tài liệu hỏi đáp
pháp luật về hôn nhân và gia đình, về tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống; tổng kết
đánh giá hoạt động các Câu lạc bộ và nhân rộng mô hình; đồng thời phối hợp với
Đài Phát thanh và Truyền hình tỉnh xây dựng phóng sự, tin, bài tuyên truyền, phổ
biến pháp luật về hôn nhân và gia đình, về tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống, tập
trung phản ánh những mặt trái, hệ lụy, hậu quả do tảo hôn và hôn nhân cận huyết gây
ra cũng như những hậu quả pháp lý bất lợi đối với người thực hiện hành vi vi phạm
pháp luật về hôn nhân và gia đình, nhằm ngăn ngừa, tiến tới chấm dứt tình trạng tảo
hôn và hôn nhân cận huyết thống trong đồng bào dân tộc thiểu số, góp phần nâng
cao chất lượng dân số và nguồn nhân lực vùng dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh.
Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về giảm thiểu tình tảo hôn và hôn nhân
cận huyết thống trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong thời gian qua đã đạt
được một số kết quả thiết thực: Nâng cao nhận thức của cán bộ, Nhân dân, nhất là
đồng bào dân tộc thiểu số được nâng lên, ý thức chấp hành pháp luật có nhiều
chuyển biến tích cực; từng bước ngăn ngừa, giảm dần tình trạng tảo hôn và hôn nhân
cận huyết thống trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được qua thực hiện vẫn còn những khó
khăn hạn chế đó là:
- Tập tục tảo hôn của đồng bào dân tộc thiểu số đã có từ lâu đời nên rất khó khăn
trong việc truyền thông vận động;
- Trình độ mặt bằng dân trí còn thấp, công tác truyền thông gặp nhiều khó khăn;
5
- Kinh tế đồng bào dân tộc còn gặp nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo
còn cao ảnh hưởng đến việc học và nuôi dạy con nên tình trạng các em bỏ học sớm,
thất học vẫn còn xảy ra dẫn đến kết hôn sớm.
Bài học kinh nghiệm:
- Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền và sự phối
hợp của các cấp, các ngành trong công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật
về giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng đồng bào
dân tộc thiểu số.
- Chú trọng tập huấn nâng cao năng lực cho cán bộ, công chức tham gia thực
hiện Đề án, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số để có biện
pháp, kỹ năng phổ biến tuyên truyền dễ hiểu, phù hợp với đối tượng là người dân tộc
thiểu số;
- Đa dạng hóa các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật về giảm thiểu tình
trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số,
chú trọng các hình thức hiệu quả, phù hợp với đặc điểm kinh tế xã hội, trình độ dân
trí của đồng bào các dân tộc thiểu số (như: Mở các lớp tập huấn tại xã; thành lập
Câu lạc bộ giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống; biên soạn tài
liệu hỏi – đáp ngắn gọn dễ hiểu).
Một số giải pháp thực hiện trong thời gian tới như sau:
Thứ nhất: Tăng cường phối hợp với các Sở, ban, ngành đoàn thể và Ủy ban nhân
dân các huyện, thành phố triển khai thực hiện có hiệu quả các chính sách dân tộc;
các hoạt động tuyên truyền, vận động đồng bào dân tộc thiểu số thực hiện đường lối,
chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước, việc thực hiện các quy định của Pháp luật
hôn nhân và gia đình; Chỉ đạo các địa phương vùng dân tộc thiểu số và miền núi tiến
hành điều tra thực trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống tại địa bàn.
Thứ hai: Tăng cường công tác phối hợp giữa các Sở, ngành và địa phương đưa
một số giải pháp chế tài vào các Hương ước, quy ước; tổ chức ký cam kết không vi
phạm tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống giữa hộ gia đình với thôn, giữa thôn với
UBND xã.
Thứ ba: Tiếp tục duy trì CLB giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận
huyết thống tại xã đã thực hiện mô hình điểm; nhân rộng mô hình Câu lạc bộ “Tư
vấn tiền hôn nhân và gia đình trẻ” trên toàn tỉnh.
Thứ tư: Tăng cường sự phối hợp các hội, đoàn thể nhằm vận động hội viên giúp
đỡ nhau phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng một gia đình ấm no, hạnh
phúc và tiến bộ; đấu tranh bài trừ các tệ nạn xã hội; tăng cường công tác giáo dục
trong nhà trường về hậu quả, tác hại của tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống, đồng
thời đấu tranh chống những quan điểm lạc hậu ngay từ trong gia đình mình và trong
cộng đồng dân cư để khắc phục, bài trừ tệ nạn này.
6
Thứ năm: Tổ chức các lớp tập huấn triển khai Mô hình Giảm thiểu tình trạng tảo
hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng đồng bào DTTS./.
3. PHÒNG TƯ PHÁP HUYỆN THUẬN NAM. THAM LUẬN: Củng cố xây
dựng nguồn lực phục vụ công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật tại
địa phương; khó khăn, hạn chế và giải pháp thực hiện
Công tác chỉ đạo, củng cố quán triệt thực hiện tuyên truyền phổ biến giáo
dục pháp luật
Phòng Tư pháp huyện tham mưu UBND huyện ban hành Quyết định số 598/QĐUBND ngày 25/5/2017 của UBND huyện về việc kiện toàn và công nhận 16 Báo
cáo viên pháp luật cấp huyện, có đủ tiêu chuẩn theo quy định tại khoản 2, Điều 35
Luật Phổ biến, giáo dục pháp luậ. Đồng thời, UBND huyện chỉ đạo UBND các xã
trong huyện thường xuyên thực hiện việc kiện toàn đội ngũ Tuyên truyền viên pháp
luật và Hòa giải viên ở cơ sở. Đến nay, trên địa bàn huyện có 149 Tuyên truyền viên
pháp luật được công nhận, đảm bảo đủ tiêu chuẩn và khả năng tuyên truyền, phổ
biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ và Nhân dân tại địa phương. Công tác bồi dưỡng
và nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ làm công tác PBGDPL được quan
tâm, chú trọng.
Sự cần thiết phải tổ chức, xây dựng đội ngũ báo cáo viên pháp luật.
- Báo cáo viên pháp luật là chức danh để chỉ những người làm công tác tuyên
truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đến các đối tượng là cán bộ, công chức, viên
chức, đảng viên và Nhân dân. Báo cáo viên pháp luật được coi như là người phát
ngôn, thông tin chính thống của Đảng và Nhà nước.
- Xuất phát từ những ưu thế đặc trưng của công tác tuyên truyền, là người cung
cấp thông tin, phổ biến, giải thích các quan điểm đường lối, chủ trương, chính sách
của Đảng và Nhà nước trên các lĩnh vực, để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác
tuyên truyền báo cáo viên pháp luật phải thực hiện thông tin hai chiều, nắm bắt và
hướng dẫn dư luận xã hội.
Về phương thức hoạt động
- Phương thức hoạt động còn nặng về tuyên truyền một chiều, như in đĩa CD, các
văn luật, chưa chú trọng gắn truyền đạt với đối thoại, trao đổi, truyền tải trực tiếp
những thông tin cần thiết phục vụ công tác tư tưởng đối với các đối tượng. Chất
lượng công tác tuyên truyền còn hạn chế, chưa đáp ứng nhu cầu của cán bộ và Nhân
dân, tính thuyết phục chưa cao.
Tồn tại, hạn chế
- Một số địa phương chưa chú trọng đến công tác củng cố, kiện toàn lực lượng
tuyên truyền viên pháp luật chưa phát huy vai trò, còn thiếu nhiệt tình, thiếu kỹ năng
trong công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật. Nhận thức về pháp luật và
ý thức tuân thủ pháp luật của người dân còn hạn chế.
7
- Việc áp dụng công nghệ, thông tin trong công tác tuyên truyền còn thấp, do đó
chưa gây được hiệu ứng sinh động qua các hình ảnh, tin tức được lồng ghép trong
nội dung tuyên truyền, không gây được sự quan tâm, chú ý của người dân;
- Hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật tuy có đổi mới, đa dạng nhưng chưa
đồng đều.
- Kinh phí, cơ sở vật chất, phương tiện làm việc dành cho công tác phổ biến, giáo
dục pháp luật ở cấp xã nhìn chung còn rất hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu của
công tác này.
Nguyên nhân
- Cấp ủy và chính quyền một số địa phương chưa thật sự quan tâm tạo điều kiện
để đẩy mạnh công tác phổ biến giáo dục pháp luật, chưa coi trọng công tác phổ biến,
giáo dục pháp luật là một bộ phận của công tác chính trị tư tưởng; công tác cán bộ
không ổn định, thường xuyên bị thay đổi; Công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã mặc
dù đã được kiện toàn nhưng hầu như chưa hoàn toàn chủ động xây dựng kế hoạch
thực hiện được nhiệm vụ, chủ yếu mới thực hiện thông qua các buổi hòa giải và phối
hợp thực hiện khi có yêu cầu;
- Lực lượng tuyên truyền viên pháp luật ở cơ sở còn hạn chế về kiến thức pháp
luật và khả năng truyền đạt, chưa được trang bị đủ tài liệu cần thiết, hơn nữa chế độ
cho tuyên truyền viên cấp xã chưa có nên đôi lúc thiếu nhiệt tình công tác; công tác
động viên, khen thưởng, nhân rộng các điển hình tiên tiến chưa thường xuyên, kịp
thời;
- Cách thức tuyên truyền chủ yếu trực tiếp bằng miệng, chưa có sự hỗ trợ áp dụng
công nghệ, thông tin.
Bài học kinh nghiệm
- Trước hết, công tác tuyên truyền phải được sự quan tâm, chỉ đạo của cấp ủy
chính quyền mà trực tiếp là đồng chí bí thư cấp ủy, Chủ tịch UBND xã, Thủ trưởng
các cơ quan, đơn vị, Các cấp ủy đảng phải thường xuyên quán triệt, nâng cao nhận
thức cho cán bộ, đảng viên, các cấp, các ngành về vị trí, vai trò của công tác tuyên
truyền trong tình hình mới;
- Đối với công tác tuyên truyền miệng. Trong quá tŕnh thực hiện nhiệm vụ tuyên
truyền, chủ thể công tác tuyên truyền phải chủ động nắm bắt thông tin từ phía đối
tượng tuyên truyền, từ đó lựa chọn nội dung, hình thức, phương pháp tuyên truyền
cho phù hợp.
- Công tác tuyên truyền phải được thực hiện một cách thường xuyên, liên tục,
bám sát tình hình thực tiễn cuộc sống tại nơi tổ chức tuyên truyền;
- Tăng cường phối hợp với Đài phát thanh tại địa phương, mở trang tin, phát
thanh lặp lại nhiều lần đối với những nội dung liên quan đến quyền, nghĩa vụ của
người dân;
8
- Tăng cường áp dụng công nghệ, thông tin vào công tác tuyên truyền.
KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT
- Sở Tư pháp thường xuyên tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ làm
công tác tuyên truyền Phổ biến giáo dục pháp luật và cung cấp các tài liệu tuyên
truyền phù hợp với tình hình ở địa phương. Hàng năm tổ chức kiểm tra, tổng kết rút
kinh nghiệm, mở các hội thi báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật.
- Tham mưu UBND tỉnh bố trí kinh phí hợp lý để triển khai thực hiện các nội
dung cho công tác tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn huyện,
quan tâm đến việc mua sắm các trang thiết bị để phục vụ cho công tác tuyên truyền.
4. BỘ CHỈ HUY QUÂN SỰ TỈNH. THAM LUẬN: Mô hình “ Tổ tư vấn tâm
lý-pháp lý quân nhân” phát huy hiệu quả. Thông tin thành lập, cách làm, đánh
giá kết quả để chia sẻ kinh nghiệm.
Thời gian qua, mặc dù tình hình trong nước và trên địa bàn tỉnh có nhiều thành
tựu vượt bậc; nhưng, trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, đặc biệt
là sự bùng nổ về thông tin mạng, sự lan nhanh của các trang “mạng xã hội”; sự
xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội ít nhiều đã tác động
đến đội ngũ cán bộ, chiến sĩ, nhất là quân nhân có tuổi đời còn trẻ.
Dưới sự lãnh đạo của cấp ủy, chỉ huy các cấp; sự đoàn kết thống nhất của đội ngũ
cán bộ, chiến sĩ, lực lượng vũ trang tỉnh đã vươn lên là lá cờ đầu trong thực hiện
nhiệm vụ quân sự, quốc phòng. Đó chính là kết quả của việc duy trì nghiêm túc công
tác giáo dục, rèn luyện bộ đội; còn là hiệu quả của việc nắm bắt, giải quyết kịp thời
tâm tư, tình cảm của người lính, mà một trong những biện pháp hữu hiệu là duy trì
hoạt động của các “Tổ tư vấn tâm lý – pháp lý quân nhân”.
Nói về mô hình này, xin được tóm gọn như sau: năm 2012, Bộ chỉ huy quân sự
tỉnh đã chỉ đạo cơ quan chuyên môn xây dựng Hướng dẫn về việc thành lập và hoạt
động của các “Tổ tư vấn”. Ban đầu, toàn lực lượng vũ trang tỉnh xác định 02 đơn vị
làm điểm là Trung đoàn Bộ binh địa phương (BBĐP) 896 và Ban CHQS tp. Phan
Rang – Tháp Chàm, đến nay trong toàn lực lượng vũ trang đã thành lập được 19 “Tổ
tư vấn”/17 đầu mối đơn vị trực thuộc (Tổng quân số là 95 đồng chí; Mỗi tổ từ 05 –
09 đồng chí, do đ/c Chính trị viên phó hoặc cán bộ có kỹ năng giao tiếp, am hiểu về
tâm lý lứa tuổi, hiểu biết về pháp luật làm Tổ trưởng).
Bên cạnh đó, theo yêu cầu ngày càng cao đối với việc xây dựng Quân đội cách
mạng, chính quy; để hoạt động của các “Tổ tư vấn” ngày càng có hiệu quả, Đảng ủy
– Bộ chỉ huy quân sự tỉnh đã chỉ đạo các cơ quan, đơn vị xây dựng kế hoạch và tổ
chức hoạt động cụ thể, kịp thời kiện toàn, bổ sung thành viên bảo đảm số lượng và
chất lượng đúng yêu cầu khi thành lập.
Quá trình hoạt động, các Tổ thường xuyên bám sát nhiệm vụ chính trị của đơn vị,
chủ động gần gũi bộ đội, thông qua nhiều hình thức (trao đổi với cán bộ đơn vị, qua
các chiến sĩ uy tín, nhận xét của gia đình, địa phương, và kết quả thực hiện nhiệm
9
vụ) để nắm bắt tình hình, phát hiện và có cách thức tư vấn hiệu quả để quân nhân có
nhận thức và hành động đúng đắn, qua đó giúp họ yên tâm công tác, gắn bó xây
dựng cơ quan, đơn vị.
Đặc biệt, một số đơn vị đã mạnh dạn vận dụng sáng tạo các hình thức như: tư vấn
qua điện thoại, qua hộp thư điện tử… Thông tin liên hệ với thành viên của “Tổ tư
vấn” (Số điện thoại, địa chỉ email) được niêm yết công khai để cán bộ, chiến sĩ trao
đổi, tâm tư được thuận tiện.
Đối với những vấn đề cần định hướng chung, “Tổ tư vấn” tham mưu cho lãnh
đạo, chỉ huy tổ chức đối thoại dân chủ; thường xuyên liên hệ với cấp ủy, chính
quyền địa phương và gia đình quân nhân để nắm tình hình, nhất là việc chấp hành
pháp luật, kỷ luật, các mối quan hệ nam – nữ, vấn đề kinh tế… để có biện pháp tiếp
cận phù hợp, kịp thời giáo dục, thuyết phục, giải quyết. Do vậy, mỗi khi quân nhân
gặp chuyện khúc mắc đều chủ động chia sẻ những tâm tư, tình cảm hoặc phản ánh
những vấn đề cần giải quyết với thành viên “Tổ tư vấn”.
Từ những biện pháp trên, Đảng ủy – Bộ CHQS tỉnh còn chỉ đạo cấp ủy, chỉ huy
các cơ quan, đơn vị trong lực lượng vũ trang hướng dẫn, trực tiếp giúp đỡ các “Tổ tư
vấn” duy trì việc tiếp túc, nắm bắt tình hình thông qua các hình thức hoạt động của
các tổ chức đoàn, hội phụ nữ, tham gia các buổi tọa đàm, sinh hoạt tập thể quân nhân
tại đơn vị trung bình 01 lần/tháng; cùng với việc duy trì nghiêm chế độ “Mỗi tuần
học một điều luật”, “Ngày pháp luật” hoạt động của các “Tổ tư vấn” đã kịp thời định
hướng, tham mưu cấp trên giải quyết các trường hợp nảy sinh tư tưởng của bộ đội
trong toàn lực lượng vũ trang.
Hoạt động của “Tổ tư vấn tâm lý, pháp lý quân nhân” trong Quân đội được xem
là một trong những công cụ sắc bén giúp cấp ủy, chính ủy, chính trị viên và người
chỉ huy nắm chắc tình hình diễn biến tư tưởng, tâm lý của bộ đội; là biện pháp góp
phần khắc phục và đi đến chấm dứt tình trạng quân nhân vi phạm kỷ luật. Xuất phát
từ ý nghĩa này, Đảng ủy – Bộ CHQS tỉnh thời gian tới sẽ tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo
duy trì có hiệu quả hoạt động của mô hình; đồng thời nghiên cứu và phát triển thêm
nhiều hình thức mới để phù hợp với thực tiễn xã hội và yêu cầu nhiệm vụ./.
5. CÔNG AN TỈNH. THAM LUẬN: Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo
dục pháp luật tại xă trọng điểm, phức tạp về an ninh, trật tự; đề xuất các giải
pháp công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật đạt hiệu quả tại địa bàn
này.
Phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) là một trong những công tác quan trọng
trong đời sống xã hội, nhất là trong thời kỳ xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN;
PBGDPL là cầu nối, phương tiện không thể thiếu trong việc nâng cao nhận thức
pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật của cán bộ, Nhân dân. Chủ tịch
Hồ Chí Minh từng kêu gọi “Mọi người dân Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của
mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công việc
xây dựng nhà nước”. Trong công cuộc đổi mới, xây dựng nhà nước pháp quyền Việt
10
Nam XHCN, của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, công tác PBGDPL ngày
càng được quan tâm, coi trọng nhiều hơn ở các cấp, các ngành và thể hiện rõ hơn vai
trò, tầm quan trong của công tác PBGDPL, góp phần phát huy vai trò và hiệu lực,
hiệu quả của pháp luật để quản lý xã hội, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh
tế, hội nhập quốc tế, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, thực hiện quyền
con người, quyền tự do, dân chủ của công dân; củng cố các chuẩn mực đạo đức, xây
dựng niềm tin, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật của mọi công dân.
Nhận thức được tầm quan trọng và vai trò, ý nghĩa của công tác PBGDPL trong
đời sống XH nói chung và nhiệm vụ bảo vệ ANQG, bảo đảm TTATXH nói riêng,
trong thời gian qua, bám sát quan điểm, chủ trương, chính sách, pháp luật về
PBGDPL, Công an tỉnh đã tổ chức thực hiện có hiệu quả công tác PBGDPL theo
chức năng, nhiệm vụ được giao, cụ thể như sau:
Tình hình, kết quả thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật tại
các xã trọng điểm phức tạp về ANTT
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 28/47 xã trọng điểm, phức tạp về ANTT, nhận thức
được tầm quan trọng của nhiệm vụ bảo đảm ANTT, phục vụ phát triển kinh tế - xã
hội (KTXH) ở địa phương. Với mục tiêu từng bước làm “trong sạch” địa bàn, giữ
vững ANTT ngay tại cơ sở, Công an tỉnh đã chỉ đạo triển khai đồng bộ các biện pháp
công tác, trong đó có công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL).
- Quá trình tổ chức hoạt động PBGDPL, luôn xác định mục tiêu hướng đến là
thông tin tuyên truyền đến được với đối tượng cần tuyên truyền, qua đó góp phần
làm chuyển biến về nhận thức và hành vi xử sự của đối tượng tuyên truyền, nhất là
đối với cán bộ, Nhân dân ở địa bàn phức tạp về ANTT, do đó hoạt động tuyên
truyền, PBGDPL có sự linh hoạt, đa dạng về nội dung, hình thức thực hiện. Thực
tiễn Công an tỉnh thực hiện hầu hết các hình thức tuyên truyền, PBGDPL như thông
qua hội nghị, giao ban, tin, bài qua chuyên mục “Truyền hình an ninh Ninh Thuận”,
cung cấp tài liệu, đề cương, tờ rơi, băng rôn, khẩu hiệu, hình ảnh, phóng sự, tuyên
truyền gắn với phát động phong trào toàn dân bảo vệ ANTQ và hoạt động của lực
lượng Cảnh sát khu vực; thông qua hoạt động của các mô hình tự quản về ANTT ở
cơ sở; phối hợp họp dân kiểm điểm đối tượng vi phạm pháp luật ở cơ sở, gọi hỏi,
giáo dục cá biệt, ký cam kết không vi phạm pháp luật về ANTT và hoạt động xử lý
vi phạm pháp luật của các lực lượng chức năng…. Trong năm 2017 đã chỉ đạo các
lực lượng chức năng, Công an các huyện, thành phố phối hợp tổ chức 87 buổi họp
dân để tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về an toàn giao thông, phòng
chống tội phạm, phòng chống ma túy, tệ nạn xã hội; vận động nhân dân tự giác, tích
cực tham gia các mô hình tự quản về ANTT tại địa phương có khoảng 15.350 lượt
người tham dự; phối hợp tổ chức 18 buổi tuyên truyền, giáo dục và ký cam kết thực
hiện nghiêm túc Nghị định 36 của Chính phủ về quản lý và sử dụng các loại pháo và
Pháp lệnh quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ; phối hợp tuyên
truyền, phổ biến pháp luật về an toàn giao thông cho hơn 15.803 giáo viên, học sinh
các trường THCS, THPT trên địa bàn; thực hiện 34 Chương trình truyền hình An
11
ninh Ninh Thuận; 34 chương trình phát thanh An ninh Ninh Thuận; thông báo
phương thức, thủ đoạn hoạt động của tội phạm đến cơ sở, gửi 434 lượt tin, bài đăng
trên các phương tiện thông tin đại chúng phản ánh về tình hình, kết quả bảo đảm
ANTT, gương người tốt, việc tốt để tuyên truyền, cổ động Nhân dân tham gia đấu
tranh, trấn áp các loại tội phạm, bài trừ tệ nạn xă hội.
- Nhằm thực hiện có trọng tâm, trọng điểm, huy động được hệ thống chính trị và
Nhân dân cùng tham gia thực hiện, công tác PBGDPL đã được gắn liền với các nội
dung công tác khác như:
(1) Thực hiện chuyển hóa địa bàn trọng điểm, phức tạp về ANTT, Công an tỉnh
đã tham mưu Ban chỉ đạo Phòng chống tội phạm (BCĐ PCTP) tỉnh xây dựng kế
hoạch và triển khai thực hiện ở 7 địa bàn xã, phường, trong đó có 6 xã thuộc các
huyện. Qua 2 năm sơ kết đã có sự chuyển biến tích cực, cụ thể: có 6/7 địa bàn có số
vụ phạm pháp hình sự giảm; có 5/7 địa bàn không xảy ra các vụ phạm tội về ma túy;
có 5/7 địa bàn không xảy ra và 2/7 địa bàn giảm về số vụ vi phạm pháp luật về kinh
tế; có 4/7 địa bàn không xảy ra và 2/7 địa bàn giảm về số vụ vi phạm pháp luật về
môi trường so với trước khi thực hiện kế hoạch chuyển hóa địa bàn.
(2) Phát động phong trào toàn dân bảo vệ ANTQ, gắn với thực hiện tiêu chí 19 về
Chương tŕnh mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, xây dựng khu dân cư, cụm
liên kết an toàn về ANTT, duy trì thực hiện Quy chế phối hợp bảo đảm ANTT khu
vực giáp ranh; đào tạo, bồi dưỡng tăng cường năng lực hoạt động của lực lượng
tham gia bảo đảm ANTT ở cơ sở để làm nòng cốt trong tuyên truyền, phổ biến và
thực thi pháp luật. Điển hình như: tổ chức phát động toàn dân tham gia xây dựng
vùng đồng bào Công giáo an toàn về an ninh, trật tự ở địa bàn xã Phước vinh, Ninh
Phước và xã Hộ Hải, Ninh Hải: đã in 11 băng rôn với nội dung tuyên truyền, vận
động Nhân dân tham gia xây dựng xã và các thôn an toàn về ANTT, xây dựng vùng
đồng bào Công giáo an toàn về ANTT để tuyên truyền trực quan tại trụ sở UBND xã
và Ban quản lý các thôn. Biên soạn tình hình, phương thức, thủ đoạn hoạt động của
các loại tội phạm và tệ nạn xã hội để Ban văn hóa xã và các thôn thông báo từ 1 đến
2 lần mỗi ngày trên hệ thống loa phát thanh; biên soạn tài liệu tuyên truyền để phục
vụ cho việc tổ chức họp dân tuyên truyền, phát động toàn dân tham gia đấu tranh,
phòng chống tội phạm phù hợp với địa bàn từng thôn. Tranh thủ các chức sắc, Linh
mục, Bí thư chi bộ, Trưởng Ban quản lý các thôn để phối hợp khảo sát kỹ lưỡng đặc
điểm, tình hình ở từng khu dân cư, từng Giáo xứ, trao đổi cung cấp thông tin để xây
dựng đề cương tuyên truyền phù hợp với yêu cầu, nguyện vọng, phong tục, tập quán
sinh hoạt của Nhân dân, kết hợp ghi nhận, phân tích, tập hợp kiến nghị cấp có thẩm
quyền giải quyết các kiến nghị, đề xuất chính đáng của các ngành, đoàn thể và Nhân
dân địa phương. Chỉ đạo lực lượng Cảnh sát cơ động tiến hành hành quân dã ngoại,
lao động giúp dân, tuần tra bảo đảm ANTT và trật tự, an toàn giao thông trên địa bàn
xã Hộ Hải trong thời gian 04 ngày, vệ sinh phát quang tại trường học, nạo vét kênh
mương nội đồng, giao lưu văn hóa văn nghệ, thể dục, thể thao. Tổ chức tập huấn một
số kiến thức cơ bản về công tác quản lý hành chính về TTXH cho cán bộ, công chức,
12
viên chức của các xã (Phước Vinh 25 người, Hộ Hải 58 người); phối hợp hướng dẫn
UBND xã thành lập các Đội chữa cháy Dân phòng ở các thôn và tổ chức tập huấn
kiến thức cơ bản về PCCC cho cán bộ, công chức, viên chức xã và thành viên Đội
chữa cháy Dân phòng (Phước Vinh có 42 người, Hộ Hải 22 người); thành lập và tổ
chức ra mắt mô hình “Xứ đạo bình yên” tại các giáo xứ Thanh Điền, xã Hộ Hải và
giáo xứ Phước An, Liên Sơn và Bảo Vinh của xã Phước Vinh. Tổ chức 03 lớp tập
huấn, bồi dưỡng pháp luật, nghiệp vụ cho Công an xã; thành lập 21 tổ công tác địa
bàn ở các xã phức tạp, trọng điểm nhằm nâng cao năng lực, hỗ trợ công tác bảo đảm
ANTT và tham gia phổ biến, tuyên truyền pháp luật ở cơ sở.
Một số kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn
Một là: phải có sự quan tâm, chỉ đạo và kiểm tra thường xuyên, kịp thời của cấp
ủy, chính quyền nói chung và cấp ủy, lãnh đạo Công an các cấp nói riêng, thể hiện
bằng chương trình, kế hoạch cụ thể, có trọng tâm, trọng điểm, thiết thực, phù hợp
với yêu cầu nhiệm vụ chính trị ở từng thời điểm, từng đối tượng và từng địa bàn cụ
thể, không máy móc, dập khuôn, dàn trải. Bên cạnh đó phải có sự phối hợp chặt chẽ,
thường xuyên giữa lực lượng Công an với các cơ quan, ban ngành, tổ chức đoàn thể,
nhà trường trong tổ chức hoạt động tuyên truyền, PBGDPL. Đây là nhân tố quan
trọng có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả, tác dụng của công tác này.
Hai là: Công tác tuyên truyền, PBGDPL ở địa bàn trọng điểm, phức tạp về ANTT
phải gắn liền với công tác thi hành pháp luật của các cấp, các ngành và thực hiện có
hiệu quả nhiệm vụ phát triển KT-XH, chính sách an sinh xã hội để ngày càng nâng
cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân. Kết hợp chặt chẽ công tác phổ biến,
giáo dục pháp luật với công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, văn hóa truyền
thống, phong tục, tập quán tốt đẹp của của dân tộc, lồng ghép công tác phổ biến,
giáo dục pháp luật với việc tuyên truyền, vận động thực hiện các phong trào, các
cuộc vận động khác do Đảng, Nhà nước tổ chức, phát động. Đồng thời cán bộ, đảng
viên phải thật sự nêu gương trong việc tuân thủ, chấp hành pháp luật trong thực thi
nhiệm vụ, cũng như đời sống hằng ngày, nhằm tạo sự đồng thuận, huy động cả hệ
thống chính trị và trong mọi tầng lớp nhân dân tham gia.
Ba là: Mỗi địa bàn có đặc điểm tình hình khác nhau, do đó trước khi thực hiện
hoạt động PBGDPL phải chuẩn bị kỹ lưỡng, chu đáo về nội dung, hình thức, biện
pháp thực hiện để thu hút được sự quan tâm, giúp đỡ, đồng tình của cán bộ, Nhân
dân.
Một số giải pháp trong thời gian tiếp theo
- Tiếp tục đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật ở địa
bàn trọng điểm, phức tạp về ANTT theo chương trình, kế hoạch hằng năm của Công
an tỉnh, chú trọng việc phối hợp với cấp ủy, chính quyền cơ sở và các cơ quan, đoàn
thể có liên quan trong quá trình thực hiện bảo đảm phù hợp, thiết thực.
- Tiếp tục tham mưu Ban chỉ đạo phòng, chống tội phạm, tệ nạn xã hội và xây
dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc tỉnh chỉ đạo thực hiện có hiệu quả
13
Kế hoạch số 176/KH-BCĐ ngày 24/7/2017 về triển khai, thực hiện Đề án chuyển
hóa địa bàn trọng điểm, phức tạp về trật tự, an toàn xã hội đến năm 2020, gắn với
các chủ trương, chính sách khác liên quan đến nhiệm vụ bảo đảm ANTT ở cơ sở.
- Đẩy mạnh phong trào toàn dân bảo vệ ANTQ, gắn với công tác dân vận, thực
hiện tiêu chí 19 về Chương tŕnh mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và
phong trào toàn dân xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở./.
6. HUYỆN THUẬN BẮC. THAM LUẬN: Những khó khăn vướng mắc
trong việc tổ chức các lớp tập huấn (nhất là việc tham dự Hội nghị tập huấn
chuyên sâu công tác hòa giải ở cơ sở); nguyên nhân và đề xuất giải pháp thực
hiện.
Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) có vị trí, vai trò đặc biệt quan
trọng, là khâu đầu tiên của hoạt động thi hành pháp luật và là nhiệm vụ của cả hệ
thống chính trị nhằm bảo đảm quyền được thông tin về pháp luật của công dân. Với
nhiệm vụ, quyền hạn được giao thực hiện chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân
dân huyện quản lý nhà nước về công tác PBGDPL trên địa bàn huyện, trong thời
gian qua, phòng Tư pháp đã tích cực, chủ động triển khai thực hiện các nhiệm vụ
được giao và đạt được nhiều kết quả, góp phần đáng kể vào sự nghiệp phát triển kinh
tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của huyện và của từng địa phương.
Công tác chỉ đạo điều hành
Trên cơ sở Kế hoạch số 385/KH-HĐPHPBGDPL ngày 04/02/2017 của Hội đồng
phối hợp PBGDPL tỉnh về triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật năm
2017, Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật huyện ban hành Kế hoạch số
05/KH-HĐPHPBGDPL ngày 20/02/2017 về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật
năm 2017 triển khai trên địa bàn huyện.
Phòng Tư pháp tham mưu Ủy ban nhân dân huyện ban hành Kế hoạch số 27/KHUBND ngày 07/02/2017 về việc thực hiện “Ngày pháp luật” năm 2017; Kế hoạch số
35/KH-UBND ngày 13/02/2017 về việc triển khai thi hành Bộ Luật dân sự năm
2015; Kế hoạch số 77/KH-UBND ngày 14/3/2017 về việc triển khai Luật Ngân sách
Nhà nước, Luật Phí và Lệ phí năm 2015; Kế hoạch số 107/KH-UBND ngày
12/4/2017 về việc phát động thi đua thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo
dục pháp luật năm 2017 và Kế hoạch số 125/KH-UBND ngày 27/4/2017 về việc tổ
chức tập huấn chuyên sâu công tác ḥa giải ở cơ sở năm 2017.
Công tác tổ chức thực hiện
Được sự quan tâm lănh chỉ đạo sâu sát của Thường trực huyện ủy, Ủy ban nhân
dân huyện, hướng dẫn hỗ trợ tích cực về chuyên môn của Sở Tư pháp cùng với sự
phối kết hợp của các Ban, ngành, Mặt trận, hội, đoàn thể và Ủy ban nhân dân các xã.
Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật được đẩy mạnh, đổi mới nội
dung, hình thức, phương pháp; nhiều văn bản, chính sách pháp luật mới được phổ
biến triển khai đến cơ quan, đơn vị, cán bộ, công chức và Nhân dân đầy đủ kịp thời;
14
công tác sinh hoạt pháp luật từng bước được các cơ quan, đơn vị quan tâm tổ chức
thường xuyên, liên tục, chất lượng nội dung sinh hoạt pháp luật nâng lên rõ nét, đảm
bảo thời gian quy định.
Công tác tổ chức Hội nghị triển khai tập huấn các quy định pháp luật, đặc biệt là
các chính sách pháp luật mới do Quốc hội ban hành có hiệu lực thi hành trong năm
2015, 2016 cũng được tổ chức chức triển khai thực hiện theo kế hoạch; điển hình
như Hội nghị triển khai thi hành Bộ Luật dân sự năm 2015; Hội nghị tập huấn
chuyên sâu công tác hòa giải cơ sở năm 2017.
Công tác tổ chức Hội nghị cũng được lănh đạo quan tâm chỉ đạo thực hiện
nghiêm túc bảo đảm, từ khâu xây dựng kế hoạch, phát hành giấy mời thành phần
tham dự hội nghị, lập dự trù kinh phí, chuẩn bị nội dung chương tŕnh đến điều kiện
vật chất trang thiết bị cần thiết phục vụ hội nghị. Các cơ quan, đơn vị rất quan tâm
đến hoạt động phổ biến triển khai các quy định chính sách của Nhà nước, cử thành
phần tham dự hội nghị đảm bảo số lượng theo yêu cầu.
Cơ quan Thường trực Hội đồng tham mưu Ủy ban nhân dân huyện kinh phí hỗ
trợ xăng xe cho các đại biểu tham dự hội nghị không hưởng lương từ ngân sách nhà
nước, trích từ nguồn kinh phí được cấp cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật
hàng năm, để động viên khích lệ tinh thần và nâng cao vai trò trách nhiệm.
Tuy nhiên bên cạnh những mặt đạt được, vẫn còn một số khó khăn, nguyên
nhân hạn chế trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện như sau:
Tổ chức Hội nghị tập huấn chuyên sâu công tác hòa giải cơ sở cho đội ngũ hòa
giải viên cơ sở trên địa bàn huyện theo kế hoạch của Sở Tư pháp tỉnh, kết quả đại
biểu tham dự hội nghị chưa đảm bảo số lượng theo yêu cầu.
Vai trò người đứng đầu trong công tác quản lý nhà nước ở cơ sở một số nơi chưa
toàn diện, công tác chỉ đạo chưa chặt chẽ, còn lỏng lẻo, thiếu kiểm tra giám sát, đôn
đốc nhắc nhỡ; cán bộ phụ trách được giao nhiệm vụ mặc dù có thông báo nội dung,
thời gian, địa điểm tổ chức hội nghị đến đội ngũ được triệu tập nhưng không theo
dõi, kiểm tra đôn đốc nhắc nhỡ, dẫn đến số lượng tham dự hội nghị không đạt yêu
cầu (Phước Chiến);
Đội ngũ hòa giải viên cơ sở đa số là người đồng bào dân tộc thiểu số, địa bàn cư
trú cách xa trung tâm hành chính của huyện nơi tổ chức hội nghị, điều kiện đi lại khó
khăn, tập trung lo kinh tế gia đình nên chưa quan tâm công tác bồi dưỡng nâng cao
kiến thức bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ.
Kinh phí cấp cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, so với số lượng công
việc phải bảo đảm thực hiện trong một năm công tác còn hạn chế, để hoạt động có
hiệu quả cơ quan thường trực phải chủ động xây dựng kế hoạch lựa chọn nội dung
phù hợp, cần thiết tham mưu triển khai mở hội nghị, chứ không triển khai đại trà và
chuyển triển khai bằng hình thức khác, có như vậy mới đảm bảo được nguồn kinh
phí hoạt động đủ trong một năm.
15
Một số giải pháp nâng cao chất lượng tổ chức Hội nghị, tập huấn công tác
phổ biến, giáo dục pháp luật trong thời gian tới
- Đối với những Hội nghị mà có số lượng tham dự chưa đảm bảo. Cơ quan chủ trì
tiến hành tổ chức họp nghe báo cáo kết quả tổ chức triển khai hội nghị, việc phối
hợp thông báo triệu tập thành phần tham dự của cơ sở, công tác theo dõi kiểm tra,
đôn đốc nhắc nhỡ rút kinh nghiệm…; tổ chức phê bình nhắc nhỡ những cán bộ thiếu
tinh thần trách nhiệm; đồng thời xây dựng kế hoạch phân công nhiệm vụ cụ thể cho
từng cơ quan, đơn vị, cán bộ trực tiếp thực hiện nhiệm vụ tổ chức hội nghị, có như
vậy thì mới nâng cao chất lượng tổ chức hội nghị.
- Tăng cường công tác tham mưu, đề xuất các cấp có thẩm quyền xem xét nâng
mức hỗ trợ kinh phí cho đối tượng tham gia hội nghị (đại biểu không hưởng lương từ
ngân sách nhà nước), có như vậy mới động viên khích lệ tinh thần tham dự hội nghị
đông đủ, đạt hiệu quả cao.
- Thông qua người đứng đầu, thủ trưởng cơ quan, đơn vị có liên quan thực hiện
đẩy mạnh xã hội hóa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua các tổ chức, cá
nhân có lòng hảo tâm trong và ngoài huyện để tạo nguồn lực cho hoạt động phổ
biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn huyện đạt hiệu quả./.
7. UBND HUYỆN NINH HẢI. THAM LUẬN: Công tác tổ chức sinh hoạt
Ngày Pháp luật cấp huyện, cấp xã thời gian qua, các giải pháp nâng cao chất
lượng tổ chức thực hiện Ngày Pháp luật định kỳ trong thời gian tới.
Tháng 6 năm 2012, Quốc hội nước Cộng hòa xă hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông
qua Luật số 14/2012/QH13 - Luật Phổ biến giáo dục pháp luật và có hiệu lực kể từ
ngày 01 tháng 01 năm 2013, Luật Phổ biến giáo dục pháp luật ra đời đã quy định và
khẳng định hơn nữa quyền được thông tin về pháp luật và trách nhiệm tìm hiểu, học
tập pháp luật của công dân; nội dung, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật; trách
nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền và các điều kiện bảo đảm cho
công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Tại Điều 8 của Luật quy định: “Ngày 09 tháng
11 hằng năm là Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Mục
đích của ngày này là nhằm tôn vinh Hiến pháp và pháp luật, giáo dục ý thức thượng
tôn pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức. Nhận thức rõ tầm quan trọng của
công tác phổ biến, giáo dục, pháp luật là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị
tư tưởng, là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị.
Công tác chỉ đạo, tuyên truyền
UBND huyện đã ban hành kế hoạch để triển khai thực hiện. Theo đó, UBND
huyện đã chỉ đạo các cơ quan đơn vị và UBND các xã, thị trấn triển khai thực hiện
các nội dung công việc theo đúng kế hoạch đã đề ra.
Kết quả triển khai thực hiện
16
UBND huyện tổ chức chào cờ và sinh hoạt “Ngày pháp luật” vào thứ 2 đầu tháng
cho cán bộ, công chức, viên chức khối UBND huyện 12 buổi/năm với 120 lượt
người tham dự/buổi, thời lượng sinh hoạt khoảng 45 phút/buổi. Thông qua buổi chào
cờ và sinh hoạt ngày pháp luật đã kịp thời phổ biến những văn bản pháp luật mới
đến cán bộ, công chức, viên chức để về sinh hoạt tại cơ quan, đơn vị bằng những
hình thức phù hợp tình hình tại đơn vị. Đã triển khai 02 Bộ luật, 05 Luật, 25 Nghị
định, 12 Thông tư, 16 Quyết định, 01 Chỉ thị, 01 Pháp lệnh đến toàn thể cán bộ,
công chức, viên chức khối UBND huyện.
Đối với UBND các xã – thị trấn tổ chức chào cờ sinh hoạt ngày pháp luật vào
thứ 2 đầu tháng, có xã tổ chức sinh hoạt vào thứ 2 đầu tuần cho toàn thể cán bộ,
công chức và những người hoạt động không chuyên trách có khoảng 45
người/buổi/xã tham dự. Sau buổi chào cờ Lãnh đạo UBND các xã, thị trấn triển khai
một số văn bản pháp luật mới trong tháng để tất cả cán bộ, công chức biết và thực
hiện.
UBND huyện thực hiện treo 02 băng rôn tuyên truyền ý nghĩa Ngày pháp luật nơi
trụ sở UBND huyện. Chỉ đạo đến các cơ quan, trường học, UBND các xã, thị trấn
treo băng rôn tuyên truyền thực hiện “Ngày pháp luật” Việt Nam năm 2017 từ ngày
06/11 đến ngày 11/11/2017 trước trụ sở làm việc.
Qua thực hiện Ngày Pháp luật tại đơn vị, nhận thức về pháp luật trong đội ngũ
cán bộ,công chức, viên chức đãược nâng lên, hiểu được mục đích, ý nghĩa của Ngày
Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam – ngày 09 tháng 11 hàng năm; việc
tổ chức “Ngày Pháp luật” đã giúp cho đội ngũ cán bộ, công chức biết tôn vinh, khẳng
định vị trí, vai trò của Hiến pháp, pháp luật trong quản lý đất nước và kiến tạo sự
phát triển xã hội, bảo vệ quyền con người, quyền công dân; giáo dục ý thức thượng
tôn Hiến pháp, pháp luật cho cán bộ, công chức, viên chức toàn huyện.
Để nâng cao chất lượng tổ chức thực hiện Ngày pháp luật định kỳ hàng
tháng trong thời gian tới UBND huyện cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ
sau:
Có thể khẳng định “Ngày Pháp luật” sẽ là một hình thức tuyên truyền, phổ biến
giáo dục pháp luật rất hiệu quả, bởi pháp luật quy định cho “Ngày pháp luật” được
triển khai dưới nhiều hình thức khác nhau. Với các hình thức đa dạng “Ngày Pháp
luật” sẽ giúp cho những chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước đến gần với
người dân hơn và dễ dàng đi vào cuộc sống.
“Ngày Pháp luật” sẽ góp phần nâng cao nhận thức của người dân về vai trò của
luật pháp trong đời sống xã hội và mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền của
Đảng và Nhà nước ta.
Thông qua sinh hoạt “Ngày Pháp luật” đã phổ biến, tuyên truyền đến cán bộ,
công chức và người dân những văn bản pháp luật mới ban hành. Bên cạnh đó, các
cán bộ làm công tác tuyên truyền pháp luật còn giải đáp những thắc mắc của người
dân liên quan đến các lĩnh vực pháp luật, từ đó giúp người dân hiểu được các quy
17
định luật pháp và tuân thủ thực hiện. Bên cạnh đó, “Ngày Pháp luật” còn là cơ hội để
người dân tham gia thể hiện sự hiểu biết của mình về pháp luật và có những góp ý
tham gia vào công tác xây dựng luật,…Có thể khẳng định “Ngày Pháp luật” thực sự
có ý nghĩa đối với hoạt động xây dựng chính sách, pháp luật.
Hạn chế, nguyên nhân
Việc triển khai tuyên truyền các văn bản pháp luật của các xã, thị trấn đôi lúc
chưa thực hiện nghiêm túc. Đội ngũ tuyên truyền viên pháp luật các xã, thị trấn có
mặt còn hạn chế, còn kiêm nhiệm và chưa thực sự chủ động thực hiện công tác phổ
biến, giáo dục pháp luật, vẫn còn trông chờ vào sự chỉ đạo, hướng dẫn của cấp trên.
Một số nơi, lãnh đạo chính quyền địa phương chưa quan tâm về công tác tuyên
truyền, sinh hoạt ngày pháp luật, tổ chức còn theo hình thức.
Đội ngũ báo cáo viên pháp luật cấp huyện đa phần là Thủ trưởng của các cơ
quan, đơn vị và do bận công việc quản lý chuyên môn nên việc triển khai các văn
bản pháp luật đều giao cho phòng Tư pháp huyện nên dẫn đến sự phối hợp giữa các
cấp, các ngành tuyên truyền các văn bản pháp luật mang lại hiệu quả chưa cao, triển
khai tuyên truyền các văn bản luật mới còn chậm. Việc cập nhật các văn bản pháp
luật mới còn khó khăn.
Phương hướng nhiệm vụ năm 2018
Tiếp tục phát huy cơ chế phối hợp hoạt động của các thành viên Hội đồng
PBGDPL huyện. Đưa công tác PBGDPL vào hoạt động thường xuyên của các cơ
quan, đoàn thể; vận động toàn thể cán bộ, công chức, Nhân dân tham gia vào công
tác phổ biến giáo dục pháp luật của huyện.
Tiếp tục duy trì thực hiện có hiệu quả việc chào cờ sinh hoạt “Ngày pháp luật”, cập
nhật kịp thời các văn bản pháp luật và các văn bản hướng dẫn thi hành để kịp thời
chuyển tải đến cán bộ, công chức và Nhân dân biết và thực hiện.
Thường xuyên củng cố đội ngũ báo cáo viên pháp luật cấp huyện và tuyên truyền
viên pháp luật cấp xă.
Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật sâu rộng trong cán bộ và
Nhân dân địa phương như lồng ghép vào các cuộc họp dân, tổ chức hội nghị, sinh
hoạt chuyên đề…, Triển khai kịp thời các văn bản pháp luật mới và những quy định
pháp luật có liên quan trực tiếp đến đời sống nhân dân, đưa pháp luật vào cuộc sống
để nâng cao ý thức chấp hành pháp luật trong cán bộ, công chức và Nhân dân nhằm
đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế trong tình hình mới, góp phần đảm bảo an
ninh, trật tự - an toàn xã hội./.
8. UBND HUYỆN NINH PHƯỚC. THAM LUẬN: Có nhiệu Tộc, Họ trên
địa bàn huyện thành lập các mô hình tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật
đạt hiệu quả. Đánh giá các mô hình này và giải pháp cần nhân rộng.
Huyện Ninh Phước có 08 xã, 01 thị trấn (08 xã: Phước Vinh, Phước Sơn, Phước
Hải, An Hải, Phước Thái, Phước Hậu, Phước Thuận, Phước Hữu và 01 thị trấn
18
Phước Dân); có 66 thôn, khu phố. Diện tích tự nhiên: 342,3 km 2 , dân số 130.615
người (trong đó: dân tộc Kinh có 87.802 người chiếm 30,53%; dân tộc Răclay có
2.415 người chiếm 1,85%; số còn lại gồm dân tộc Hoa và số dân tộc khác. Toàn
huyện có 168 tộc họ, trong đó: 100 mô hình tộc họ tự quản, 68 tộc họ có quy ước về
ANTT (Phước Dân 36 tộc họ, Phước Thái 38 tộc họ, Phước Hữu 36 tộc họ,
Phước Thuận 08 tộc họ, An Hải 07 tộc họ, Phước Hải 11 tộc họ, Phước Hậu 29
tộc họ, Phước Vinh 02, Phước Sơn 01 tộc họ).
Kết quả mô hình tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật trong tộc họ năm
2017, như sau:
Thứ nhất về Công tác chỉ đạo, triển khai thực hiện
Thực hiện Kế hoạch số 385/KH-HĐPBGDPL ngày 14/2/2017 của Hội đồng phổ
biến, giáo dục pháp luật tỉnh Ninh Thuận. Ngay từ đầu với trách nhiệm là cơ quan
thường trực Hội đồng PHPBGDPL huyện (Phòng Tư pháp) đã xác định công tác
TTPBGDPL gắn với việc học tập làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là
nhiệm vụ chính trị có ý nghĩa rất quan trọng. Phòng Tư pháp là cơ quan thường trực
Hội đồng PHGDPL huyện đã chủ động ban hành Kế hoạch số 01/KH-PHPBGDPL
ngày 06/3/2017 về xây dựng Kế hoạch tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật
năm 2017, Kế hoạch số 02/KH-PHPBGDPL ngày 06/3/2017 xây dựng Kế hoạch
phát động thi đua về công tác PBGDPL năm 2017 trên địa bàn huyện. Chỉ đạo các
cơ quan, đơn vị của huyện là thành viên HĐPHPBGDPL huyện và các xã, thị trấn
xây dựng kế hoạch cụ thể, trọng tâm để triển khai nhiệm vụ công tác TTPBGDPL
năm 2017 của cơ quan, đơn vị, địa phương cho phù hợp. Ngoài ra, cơ quan thường
trực HĐPHPBGDPL huyện phối hợp với Hội Liên hiệp Phụ nữ ban hành kế hoạch tổ
chức tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật trên địa bàn huyện Ninh Phước; Phối
hợp với Hội Nông dân ban hành kế hoạch tổ chức tuyên truyền, phổ biến pháp luật
về giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến đất đai cho cán bộ, hội viên nông dân xã
Phước Hữu và xã An Hải năm 2017.
Hội đồng PHPBGDPL huyện thường xuyên quan tâm công tác củng cố và kiện
toàn. Hiện nay, huyện Ninh Phước có 25 cán bộ, công chức được công nhận là Báo
cáo viên pháp luật cấp huyện. Đồng thời, UBND huyện chỉ đạo UBND các xã, thị
trấn thường xuyên thực hiện việc kiện toàn đội ngũ Tuyên truyền viên và Hòa giải
viên cấp xã. Theo đó, trên địa bàn huyện có 113 Tuyên truyền viên pháp luật và kiện
toàn lại 66 Tổ Hòa giải/66 thôn, khu phố với 565 hòa giải viên trên toàn huyện.
Được sự quan tâm lãnh, chỉ đạo của Hội đồng PHPBGDPL tỉnh, Sở Tư pháp,
Huyện ủy, UBND huyện đã chủ động phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, ban, ngành
và UBND các xã, thị trấn tổ chức triển khai thực hiện tốt công tác tuyên truyền, phổ
biến giáo dục pháp luật trong cán bộ và Nhân dân với nhiều nội dung văn bản pháp
luật mới như : Bộ Luật Dân sự có hiệu lực từ ngày 01/01/2017, Luật Đất đai…
Ngoài ra, cũng thường xuyên tổ chức phổ biến các văn bản pháp luật có liên quan
thiết thực đến đời sống hàng ngày của Nhân dân, nhất là trong các câu lạc bộ, các
19
Chi bộ, Tổ, nhóm, các mô hình Tộc họ, mô hình Tự quản, các vị Chức sắc, Tộc
trưởng và những người có uy tín trong thôn, khu phố như: Luật Tín ngưỡng tôn giáo,
Khiếu nại, tố cáo, Hôn nhân và gia đình, Phòng chống Bạo lực gia đình, Bình đẳng
giới; Phòng chống các tệ nạn xã hội… thông qua nhiều hình thức: Sinh hoạt Ngày
Pháp luật theo Chỉ thị số 33/2010/CT-UBND ngày 27/12/2010 của Ủy ban nhân dân
tỉnh về việc triển khai thực hiện” Ngày pháp luật”, hội nghị, họp dân, hội thi, tọa
đàm và lồng ghép sinh hoạt của hội/đoàn thể, sinh hoạt trong cộng đồng dân cư,
trong tộc họ, các câu lạc bộ, các Chi hội, Tổ, nhóm và hệ thống truyền thanh của các
thôn.
Thứ hai về kết quả mô hình tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật trong
tộc họ
Nhìn chung công tác tuyên truyền, phổ biến GDPL trong năm 2017 trên địa bàn
huyện nói chung và trong các mô hình Tộc họ nói riêng có nhiều chuyển biến rõ nét
trên các lĩnh vực như:
+ Lĩnh vực kinh tế:
Đã có nhiều mô hình nổi bật trong sản xuất nông nghiệp như: vận động Nhân dân
chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ đất lúa sang trồng các loại cây có sức chịu hạn cao và
tưới nước tiết kiệm với diện tích 430,12 ha, mô hình rau an toàn 250 ha tại xã An
Hải; Mô hình sản xuất theo hướng Viet Gap trên cây táo, cây nho, chăn nuôi Dê, cừu
vỗ béo tại xã Phước Thuận, Phước Hậu, Phước Vinh; Mô hình “ Chăn nuôi heo
hướng trang trại” tại thôn Tà Dương, xã Phước Thái; Mô hình “ Gia trại gà đẻ trứng”
tại thôn Phước An, Bảo Vinh xã Phước Vinh với quy mô 120.000 con/ trại/115.000
trứng/ ngày- đêm. Điển hình Tộc họ Đàng Tiện có 30 hộ/150 nhân khẩu ở thôn
Hoài Trung, xã Phước Thái, có hộ ông Lưu Văn Nhạc đã kết hợp mô hình Sản
xuất nông nghiệp-Chăn nuôi- Dịch vụ thu nhập 350 triệu đồng/năm đã trừ chi
phí. Ngoài ra, các Tộc họ ở xã Phước Thuận, đã vận động người thân và Nhân dân
tham gia đóng góp hiến 3000 m2 đất để bê tông kênh mương nội đồng, làm đường
bê tông nội thôn và xây dựng trạm bơm tại thôn Phước Khánh; xã Phước Hữu vận
động 09 hộ dân hiến 3000 m2 đất để bê tông 03 tuyến đường nội và 02 tuyến đường
nội thôn…
+ Lĩnh vực văn hóa- xã hội, y tế, giáo dục:
Nổi bật mô hình “ Thu gom và xử lý rác thải”, mô hình “ 5 không, 3 sạch”, Phụ
nữ tiết kiệm, Hủ gạo tình thương tại 09 xã, thị trấn do Hội Phụ nữ huyện phát động;
Mô hình vì đàn em thân yêu, thắp sáng đường quê. Đồng hành với thanh niên lập
nghiệp và Tuổi trẻ chung tay xây dựng Nông thôn mới do Huyện đoàn phát động;
Mô hình nông dân sản xuất giỏi giúp nhau phát triển kinh tế “ Vườn- Ao- Chuồng”
do hội Nông dân huyện phát động; Phong trào người Việt Nam ưu tiên dùng hàng
Việt Nam; Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa khu dân cư do
Ủy ban MTTQVN huyện phát động. Vân động Nhân dân tại các xã Phước Hữu,
Phước Hậu, Phước Thái, Phước Dân ký cam kết không nuôi heo thả rông.
20
Mô hình Khuyến học, khuyến tài của Tộc họ Kút Minh Pui tại thôn Hữu Đức ,
xã Phước Hữu có 57 hộ/ 316 nhân khẩu đã vận động đóng góp quỹ hơn 150 triệu
đồng; Tộc họ Kut Má Tom tại thôn Hoài Trung, xã Phước Thái có 165 hộ/ 523 nhân
khẩu đã vận động đóng góp gây quỹ hơn 165 triệu đồng; Tộc họ Trượng Văn Điền
có 25 hộ/120 nhân khẩu ở thôn Hiếu Lễ, xã Phước Hậu đã vận động đóng góp quỹ “
Trao tình thương, ươm mầm trí thức” để giúp nhau phát triển kinh tế xã hội, hỗ trợ
cho các học sinh, sinh viên hiếu học…
+ Lĩnh vực An ninh- Quốc Phòng:
Có 100 mô hình Tộc họ tự quản đã xây dựng quy ước về ANTT. Có 13 tổ liên gia
tự quản/26 thành viên về ANTT ở thôn Hoài Ni xã Phước Thái; 46 tổ Nhân dân tự
quản; 41 tổ an ninh xung kích/236 thành viên; 2 cụm liên kết an toàn về ANTT ở xã
An Hải và thị trấn Phước Dân gồm 20 thành viên. Ngoài ra các Tộc họ kết hợp với
địa phương tham gia vận động người thân và Nhân dân tham gia ký cam kết đảm
bảo trật tự ATGT; phong trào BVATTQ; Đấu tranh tố giác tội phạm đạt 95% và
Thanh niên lên đường nhập ngũ đạt 100%. Điển hình như mô hình Tộc họ Bá
Bình Lợi; Tộc hộ Đàng Năng Hòa tại thôn Hoài Ni, xã Phước Thái và mô hình
tự quản ATGT, đọan đường tự quản của 07 Tộc họ ở thôn Phú Nhuận xã Phước
Thuận, thôn Thái Hòa xã Phước Thái… Qua đó đã góp phần tác động tích cực
đến phát triển kinh tế- xã hội, các chỉ tiêu, nhiệm vụ đề ra đều hoàn thành, kinh tế
tiếp tục tăng trưởng cao, hoàn thành xây dựng chương trình nông thôn mới. Hoạt
động văn hóa- xã hội, y tế, giáo dục, cải cách hành chính tiếp tục chuyển biến tích
cực, thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội; Hoàn thành tốt nhiệm vụ Quân sự, Quốc
phòng, ANTT cơ bản giữ vững ổn định. Thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở, Quy
ước, Hương ước và bản cam kết trong cộng đồng dân cư. Công tác Hòa giải ở cơ sở
cũng chuyển biến rõ nét kết quả hòa giải thành đạt từ 70%-80%.
Đạt được những kết quả đó trước hết nhờ sự quan tâm chỉ đạo thường xuyên, kịp
thời của Hội đồng PHPBGDPL tỉnh, Sở Tư pháp, Huyện ủy, UBND huyện , sự chủ
động tham mưu, phối hợp tổ chức thực hiện của các cơ quan, Ban, ngành, đoàn thể.
Các thành viên Hội đồng được duy trì, tích cực chủ động phổ biến, tuyên truyền,
giáo dục pháp luật. Báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật được kịp
thời củng cố kiện toàn, được tập huấn về kỹ năng, trang bị tài liệu phục vụ cho công
tác tuyên truyền tại địa phương. Nội dung tuyên truyền có trọng tâm, trọng điểm
luôn bám sát nhiệm vụ kinh tế- chính trị tại địa phương và gắn với việc học tập làm
theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, nhiều văn bản mới ban hành được triển khai
kịp thời; hình thức tuyên truyền đa dạng, phong phú như: phát thanh trên hệ thống
loa, sinh hoạt, hội họp, tọa đàm… thông qua hoạt dộng hòa giải ở cơ sở, các câu lạc
bộ, chi hội, Tổ, nhóm, các mô hình tộc họ, các vị Chức sắc… . qua đó đã góp phần
thực hiện tốt chủ trương của Đảng, chính sách Pháp luật Nhà nước nhằm nâng cao
nhận thức hiểu biết, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật của cán bộ và Nhân
dân./.
21
9. SỞ LAO ĐỘNG THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI. THAM LUẬN: Tuyên
truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về quyền lợi, nghĩa vụ của người lao động
và người sử dụng lao động trong các doanh nghiệp (nhất là quyền được thông
tin pháp luật); đánh giá thuận lợi, khó khăn và đề xuất giải pháp thực hiện.
Tuyên truyên phổ biến pháp luật lao động cho người sử dụng lao động, người lao
động để cho mọi người hiểu, biết và thực hiện đúng pháp luật lao động nhằm hạn
chế các tranh chấp lao động và đình công, xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn
định và tiến bộ trong doanh nghiệp là nhiệm vụ rất cần thiết, vì lao động phổ thông
là chủ yếu, chưa qua các trường lớp đào tạo, kiến thức về pháp luật lao động còn hạn
chế, chưa biết tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của mình khi tham
gia quan hệ lao động.
Thủ tướng Chính phủ ban hành:
- Quyết định số 31/2009/QĐ-TTg ngày 24/02/2009 về việc phê duyệt Đề án
Tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho người lao động và người sử dụng lao động
trong các loại hình doanh nghiệp từ 2009 đến 2012 (Đề án 31);
- Tiếp tục thực hiện Đề án 31 giai đoạn 2 (2013-2016), theo chỉ đạo tại Công văn
số 2717/LĐTBXH-PC ngày 08/8/2012 của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội.
- Thực hiện Đề án 31 giai đoạn 3 (2017-2021), theo chỉ đạo tại Công văn số
2291/LĐTBXH-PC ngày 09/6/2017 của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội.
Công tác tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh:
- Quyết định số 2293/QĐ-UBND và Quyết định số 2294/QĐ-UBND ngày
14/10/2011 về việc thành lập Ban chỉ đạo và Quy chế hoạt động của Ban chỉ đạo giải
quyết tranh chấp lao động và đình công cấp tỉnh;
- Kế hoạch số 5179/KH-UBND ngày 08/12/2011 về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số
22-CT/TW ngày 05/6/2008 của Ban Bí thư Trung ương về tăng cường công tác lãnh
đạo, chỉ đạo việc xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong doanh
nghiệp;
- Công văn số 5528/UBND-VX ngày 22/11/2012 về hỗ trợ người lao động
không đủ điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp bị mất việc làm trong doanh nghiệp
có chủ bỏ trốn;
- Kế hoạch số 2370/KH-UBND ngày 27/5/2013 về triển khai thực hiện Bộ Luật
Lao động 2012.
- Kế hoạch số 2395/KH-UBND ngày 28/05/2013 về tuyên truyền, phổ biến pháp
luật cho người lao động và người sử dụng lao động trong các loại hình doanh
nghiệp, hợp tác xã giai đoạn II (2013 - 2016) trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận;
- Quyết định số 1248/QĐ-UBND ngày 14/6/2013 về việc thành lập Ban chỉ đạo
thực hiện Đề án “Tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho người lao động và người sử
22
dụng lao động trong các loại hình doanh nghiệp giai đoạn II (2013-2016) trên địa
bàn tỉnh;
- Kế hoạch số 3494/KH-UBND ngày 24/8/2017 về tiếp tục thực hiện Đề án tuyên
truyền, phổ biến pháp luật cho người lao động và người sử dụng lao động trong các
loại hình doanh nghiệp giai đoạn 2017-2021 trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận.
- Kế hoạch số 1335/KH-UBND ngày 13/4/2017 về việc triển khai công tác phát
triển đối tượng tham gia và giảm nợ Bảo hiểm xã hội - Bảo hiểm y tế - Bảo hiểm
thất nghiệp trong các doanh nghiệp.
- Quyết định số 1042/QĐ-UBND ngày 14/5/2013 ban hành Quy chế phối hợp
hướng dẫn, theo dõi và kiểm tra việc thực hiện các quy định về lao động, tiền lương,
bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp đối với người lao động tại các doanh nghiệp
có chủ doanh nghiệp bỏ trốn.
Sở Lao động- Thương binh và Xã hội có văn bản chỉ đạo:
- Công văn số 3409 /SLĐTBXH-LĐTL ngày 22/11/2013 về việc hướng dẫn các
doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh thực hiện đăng ký thang, bảng lương theo Nghị định
số 49/2013/NĐ-CP ngày 14/5/2013 của Chính phủ.
- Công văn số 1053/SLĐTBXH-LĐTLBHXH ngày 18/5/2016 về việc hướng dẫn
các huyện, thành phố thực hiện các quy định về lao động giúp việc gia đình.
- Phối hợp với Bảo hiểm xã hội tỉnh triển khai đến các doanh nghiệp hoạt động
trên địa bàn tỉnh về thực hiện Nghị định số 76/2017/NĐ-CP ngày 30/6/2017 của
Chính phủ và Thông tư số 18/2017/TT-BLĐTBXH ngày 30/6/2017 của Bộ Lao
động- Thương binh và Xã hội.
Tổ chức hội nghị tập huấn:
- Về tuyên truyền phổ biến pháp luật :
Hàng năm, Sở Lao động- Thương binh và Xã hội tổ chức in ấn tài liệu và tập
huấn giới thiệu các quy định mới của pháp luật về lao động và các văn bản pháp quy
hướng dẫn dưới luật, bao gồm:
+ Bộ luật Lao động, Luật Việc làm, Luật An toàn vệ sinh lao động và Luật Bảo
hiểm xã hội và các Nghị định của Chính phủ, Thông tư của Bộ Lao động-TBXH
quy định nội dung:
+ Hợp đồng lao động, Tiền lương; đối thoại doanh nghiệp; Bảo hiểm xã hội, Bảo
hiểm thất nghiệp; mức lương tối thiểu chung; tối thiểu vùng; triển khai Nghị định
hướng dẫn Lao động người nước ngoài; xử phạt hành chính về hành vi vi phạm pháp
luật lao động và vi phạm trong lĩnh vực Bảo hiểm xã hội.
Số người được tuyên truyền, phổ biến pháp luật lao động thực hiện trong các năm
(2009 - 2017): Có 908 doanh nghiệp/1.100 lượt người tham dự; cụ thể: (năm 2009
có 43 doanh nghiệp/83 người tham dự; năm 2010 có 55 doanh nghiệp/78 người
tham dự; năm 2011 có 168 doanh nghiệp/232 người tham dự; năm 2012 có 112
23
doanh nghiệp/120 người tham dự; năm 2014 có 117 doanh nghiệp /131 người tham
dự; năm 2015 có 143 doanh nghiệp/180 người tham dự; năm 2016 có 150 doanh
nghiệp/150 người tham dự; năm 2017 có 120 đơn vị/126 người tham dự).
Bên cạnh đó hàng năm đã tổ chức trả lời, giải đáp thắc mắc nhiều lượt đơn khiếu
nại, kiến nghị bằng điện thoại và bằng văn bản chuyển đến. Thường xuyên tổ chức
trả lời, đối thoại trên các phương tiện thông tin đại chúng như Đài Phát thanhTruyền hình tỉnh, Báo Ninh Thuận, trang Web của Sở, đáp ứng được nguyện vọng
của người lao động và người sử dụng lao động. Riêng năm 2017 phối hợp với Vụ
Bảo hiểm xã hội của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội và Bảo hiểm xã hội tỉnh
tổ chức hướng dẫn trên 150 doanh nghiệp về các chính sách bảo hiểm xã hội sẽ triển
khai thực hiện trong năm 2018.
- Tiếp nhận Thỏa ước lao động tập thể (2009-2017) là 202 lượt doanh nghiệp.
- Tiếp nhận Nội quy lao động: (2009 – 2017) là 149 lượt doanh nghiệp.
- Về công tác an toàn vệ sinh lao động(ATVSLĐ):
+ Tổ chức huấn luyện: Thực hiện trong các năm (2013 - 2017) là 38 lớp/3.003
người, cụ thể năm 2013 tổ chức 13 lớp/ 1.209 người; năm 2014 có 09 lớp/ 621
người; năm 2015 tổ chức 05 lớp/ 290 người; năm 2016 tổ chức 7 lớp/650 người;
năm 2017 tổ chức 4 lớp/233 người.
+ Tổ chức hội thảo công tác an toàn vệ sinh lao động vào năm 2013 với 110
người tham dự là đại diện lãnh đạo của các sở, ngành, doanh nghiệp trên địa bàn
tỉnh.
+ Từ năm 2009- 2017 đã tổ chức triển khai tuần lễ quốc gia An toàn vệ sinh lao
động – Phòng chống cháy nỗ và tháng hành động ATVSLĐ cho trên 5.600 lượt
doanh nghiệp, số công nhân tham dự lễ mít tin phát động hưởng ứng 6.060 người.
+ Năm 2017, Sở Lao động-TBXH phối hợp với Ban Quản lý khu công nghiệp tổ
chức hội thi An toàn vệ sinh lao động trong khu công nghiệp có 5 đơn vị tham gia
hội thi và tham gia cổ vũ đội thi có trên 100 người là đại diện lãnh đạo, người lao
động trong các doanh nghiệp.
Tổ chức kiểm tra (định kỳ hoặc đột xuất) việc chấp hành pháp luật lao động và
các pháp luật khác liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp về quyền, nghĩa vụ của
người lao động, người sử dụng lao động qua đó kịp thời chấn chỉnh những sai sót
trong việc tổ chức thực hiện pháp luật về lao động tại các doanh nghiệp, kết quả thực
hiện các năm (2012 - 2017) là 317 doanh nghiệp; trong đó: kiểm tra việc chấp hành
pháp luật Lao động, Công đoàn, Bảo hiểm xã hội 142 doanh nghiệp; kiểm tra an
toàn vệ sinh lao động 61 doanh nghiệp; Thanh tra chính sách lao động 114 doanh
nghiệp);
- Tổ chức số doanh nghiệp tự kiểm tra (qua phiếu tự kiểm tra) trong các năm
(2012- 2017) hơn 1.000 lượt doanh nghiệp.
24
- Tổ chức kiểm tra việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý người nước ngoài làm
việc tại các doanh nghiệp trên tỉnh Ninh Thuận, trong các năm (2012- 2016) là 84
lượt doanh nghiệp (cụ thể năm 2012 kiểm tra 20 doanh nghiệp, năm 2013 kiểm tra
16 doanh nghiệp, năm 2014 kiểm tra 18 doanh nghiệp, năm 2015 kiểm tra 14 doanh
nghiệp, năm 2016 kiểm tra 16 doanh nghiệp).
- Tổ chức hội nghị đối thoại giữa cơ quan nhà nước và doanh nghiệp: Hàng năm
Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo 3 cơ quan: Sở Lao động-Thương binh và Xã hội, Liên
đoàn lao động tỉnh, Bảo hiểm xã hội tỉnh tổ chức đối thoại trực tiếp với doanh
nghiệp và các Sở ngành liên quan, nhằm đánh giá tình hình thực hiện về pháp luật
Lao động, Bảo hiểm xã hội, Công đoàn tại các doanh nghiệp. Qua hội nghị đã tháo
gỡ các khó khăn vướng mắc tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hoạt động có hiệu
quả, thực hiện trong các năm (2012 – 2017) có 721 lượt doanh nghiệp tham dự, cụ
thể: năm 2012 có 70 doanh nghiệp tham dự/200 doanh nghiệp được mời; năm 2013
có 62 đơn vị tham dự/212 đơn vị được mời; năm 2014 có 100 đơn vị tham dự/320
đơn vị được mời; năm 2015 có 144 đơn vị tham dự/331 đơn vị được mời; năm 2016
có 95 đơn vị tham dự/320 đơn vị được mời; năm 2017: Dự kiến tổ chức vào ngày
15/11/2017, với 250 doanh nghiệp tham gia).
- Tổng kinh phí thực hiện:
+ Kinh phí tuyên truyền phổ biến pháp luật theo Đề án 31 cho người lao động và
người sử dụng lao động, tổng kinh phí là 133 triệu đồng (chi tiết năm 2012 là
9.000.000đ, năm 2013 là 4.000.000đ, năm 2014 là 15.000.000đ, năm 2015 là
30.000.000đ, năm 2016 là 30.000.000 đ; năm 2017 là 45.000.000 đ).
+ Kinh phí thông qua chương trình an toàn vệ sinh lao động, tổng kinh phí 04
năm là 2.042 tỷ đồng (chi tiết năm 2012 là 782.000.000 đ, năm 2013 là
630.000.000đ, năm 2014 là 285.000.000đ, năm 2015 là 255.000.000đ, năm 2016 là
90.000.000đ).
Qua thực hiện công tác tuyên truyền đã dần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật
của người lao động cũng như người sử dụng lao động, chế độ, quyền lợi của người
lao động được nâng lên. Kết quả tích cực trên cho thấy công tác tuyên truyền phổ
biến pháp luật là cần thiết và mang lại hiệu quả thiết thực, góp phần giúp các doanh
nghiệp ổn định sản xuất kinh doanh, thực hiện an sinh xã hội, giảm số lượng khiếu
nại, thắc mắc.
Những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện:
Đạt được:
Trong các năm qua, việc tuyên truyền phổ biến pháp luật cho người lao động và
người sử dụng lao động, dưới sự lãnh đạo chỉ đạo của Tỉnh uỷ và Ủy ban nhân dân
tỉnh, Sở Lao động- Thương binh và Xã hội hàng năm đã tổ chức thực hiện nhiều nội
dung: Tập huấn cho các doanh nghiệp về các chính sách, pháp luật lao động mới ban
hành; tổ chức các hội nghị đối thoại giữa cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp
25