Tải bản đầy đủ (.pdf) (32 trang)

Sáng kiến Toàn cầu về Trẻ em ngoài nhà trường

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.16 MB, 32 trang )

TẤT CẢ TRẺ EM ĐƯỢC ĐẾN TRƯỜNG VÀO 2015

Sáng kiến Toàn cầu về
Trẻ em ngoài nhà trường

HCM

Báo cáo phân tích của Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 12 năm 2013

Bộ giáo dục và Đào tạo
Sở giáo dục và Đào tạo
Thành Phố Hồ Chí Minh



Mục lục
1. Giới thiệu............................................................................................................................................................................................ 5
2. Các đặc điểm của trẻ em 5-14 tuổi của Thành phố Hồ Chí Minh................................................................................... 6
3. Trẻ em ngoài nhà trường.............................................................................................................................................................. 8
3.1 Trẻ em ngoài nhà trường độ tuổi 5 tuổi............................................................................................................................ 8
3.2 TENNT độ tuổi tiểu học........................................................................................................................................................... 9
3.3 Trẻ em ngoài nhà trường độ tuổi THCS...........................................................................................................................11
4. Trẻ em bỏ học..................................................................................................................................................................................13
4.1 Trẻ em độ tuổi tiểu học thôi học.......................................................................................................................................13
4.2 Trẻ em độ tuổi THCS thôi học.............................................................................................................................................14
5. Trẻ em đi học quá tuổi.................................................................................................................................................................16
6. Tóm tắt các phát hiện từ phân tích số liệu TĐTDS 2009..................................................................................................17
7. Rào cản và các vướng mắc.........................................................................................................................................................18
8. Khuyến nghị....................................................................................................................................................................................21
9. Kết luận.............................................................................................................................................................................................22


Phụ lục số liệu......................................................................................................................................................................................23

Danh mục bảng
Bảng 1: Phân bố dân số trẻ em 5-14 tuổi của Thành phố Hồ Chí Minh............................................................................ 5
Bảng 2: Dân số 5 – 14 tuổi của Thành phố Hồ Chí Minh......................................................................................................19
Bảng 3: Tỷ lệ trẻ em đi học độ tuổi 5 – 14 của Thành phố Hồ Chí Minh.........................................................................20
Bảng 4: Tỷ lệ em thôi học chia theo độ tuổi 5 – 14 tuổi.......................................................................................................21
Bảng 5: Tỷ lệ trẻ em ngoài nhà trường độ tuổi 5 – 14 của tp Hồ Chí Minh....................................................................22
Bảng 6: Tỷ lệ hộ nghèo năm 2008................................................................................................................................................23

TRẺ EM NGOÀI NHÀ TRƯỜNG
Nghiên cứu của Việt Nam

3


Danh mục hình
Hình 1: Trẻ em 5 tuổi đi học và ngoài nhà trường của Thành phố Hồ Chí Minh...........................................................9
Hình 2: Tỷ lệ trẻ em 5 tuổi ngoài nhà trường của Thành phố Hồ Chí Minh
chia theo các đặc điểm................................................................................................................................................................... 10
Hình 3: Tỷ lệ trẻ em độ tuổi tiểu học đi học và ngoài nhà trường của Thành phố Hồ Chí Minh......................... 11
Hình 4: Tỷ lệ trẻ em ngoài nhà trường độ tuổi tiểu học của Thành phố Hồ Chí Minh
chia theo một số đặc điểm............................................................................................................................................................ 12
Hình 5: Tỷ lệ trẻ em độ tuổi THCS đi học và TENNT độ tuổi THCS.................................................................................... 13
Hình 6: Tỷ lệ TENNT độ tuổi THCS chia theo các đặc điểm................................................................................................. 14
Hình 7: Tỷ lệ thôi học ở cấp tiểu học.......................................................................................................................................... 15
Hình 8: Tỷ lệ thôi học ở cấp tiểu học chia theo các đặc điểm........................................................................................... 15
Hình 9: Tỷ lệ thôi học ở cấp THCS................................................................................................................................................ 16
Hình 10: Tỷ lệ thôi học ở cấp THCS chia theo các đặc điểm............................................................................................... 17
Hình 11: Tỷ lệ học sinh độ tuổi THCS học tiểu học................................................................................................................ 17

Hình 12: Tỷ lệ trẻ em độ tuổi THCS học tiểu học chia theo các đặc điểm..................................................................... 18

4

TRẺ EM NGOÀI NHÀ TRƯỜNG
Nghiên cứu của Việt Nam


LỜI nói đầu
Báo cáo “Trẻ em ngoài nhà trường: Nghiên cứu của Việt Nam” được biên soạn để phục vụ công tác quản lý
giáo dục, lập kế hoạch, vận động chính sách nhằm thực hiện bình đẳng trong giáo dục cho mọi trẻ em, đặc
biệt là các nhóm trẻ em thiệt thòi. Báo cáo này cũng góp phần phục vụ công tác nghiên cứu và hoạch định
chính sách của các Bộ ngành và chính quyền địa phương và các cơ quan nghiên cứu có liên quan của Chính
phủ Việt Nam, đồng thời đáp ứng nhu cầu thông tin của các tổ chức quốc tế và các đơn vị có quan tâm khác
trong nỗ lực chung nhằm giảm thiểu số trẻ em ngoài nhà trường ở Việt Nam. UNICEF Việt Nam, UNICEF khu
vực Đông Á - Thái bình dương (UNICEF khu vực), Viện Thống kê của UNESCO (UIS) và nhóm công tác toàn cầu
đã hỗ trợ kỹ thuật và tài chính cho việc biên soạn dự thảo báo cáo này.
Nội dung và bố cục của Báo cáo được soạn thảo theo những hướng dẫn của Khung Khái niệm và Phương
pháp luận thuộc Sáng kiến toàn cầu về Trẻ em ngoài nhà trường của UNICEF và UNESCO. Nguồn số liệu duy
nhất của Báo cáo là Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam (TĐTDS) 2009.
Nhóm chuyên gia quốc tế khởi thảo Báo cáo này gồm: ông Muhammad Quamrul Hasan, chuyên gia tư vấn
độc lập, người thực hiện tất cả các phân tích về các số liệu định lượng quan trọng và viết Chương 2; bà Elaine
Furniss, chuyên gia tư vấn độc lập, người tập hợp và hệ thống hóa các thông tin để đưa vào báo cáo và viết
các chương còn lại.
Trong giai đoạn dự thảo, các đối tác của Chính phủ và các đối tác phát triển có liên quan đã đóng góp những
ý kiến rất bổ ích cho Báo cáo này. Tại Văn phòng UNICEF Việt Nam, Chương trình giáo dục do bà Mitsue
Uemura lãnh đạo đã hỗ trợ toàn diện cho việc chuẩn bị các thông tin cơ sở cho Báo cáo, soạn thảo Báo cáo,
đề xuất các ưu tiên cần thiết trong phần trình bày các phát hiện, và cung cấp những thông tin quý giá cho
các chuyên gia tư vấn. Tại Văn phòng khu vực của UNICEF ở Bangkok, ông Cliff Meyers, cố vấn giáo dục khu
vực và bà Tanaporn Perapate đã cung cấp những hỗ trợ hết sức quý giá. Dự thảo Báo cáo cũng đã nhận được

những ý kiến góp ý có giá trị của bà Elsa Duret, cố vấn giáo dục thuộc Cơ quan hợp tác phát triển, Đại sứ
quán Bỉ , UNESCO Việt Nam và Văn phòng UNESCO khu vực ở Bangkok.
Giai đoạn hoàn thiện Báo cáo đã được Vụ Kế hoạch-Tài chính, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) chủ trì, bắt
đầu từ tháng 10 năm 2012, phối hợp với UNICEF Việt Nam, với sự hỗ trợ kỹ thuật của ông Nguyễn Phong là
chuyên gia tư vấn của UNICEF. Quá trình hoàn thiện có sự tham gia đóng góp ý kiến của các Vụ/Cục/Viện
thuộc Bộ GD&ĐT, các cơ quan trung ương như Tổng cục Thống kê, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Hội
đồng Dân tộc của Quốc hội, đặc biệt với sự phối hợp hỗ trợ nhiệt tình của Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT, một số
Ủy ban Nhân dân cấp huyện/xã và các Ban ngành liên quan và một số trường tiểu học, trung học cơ sở và
trung học phổ thông của 6 tỉnh gồm Điện Biên, Ninh Thuận, Kon Tum, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Tháp
và An Giang. Sự tham gia của các đơn vị bao gồm rà soát số liệu, cung cấp thông tin về tình hình thực tế
liên quan đến trẻ em ngoài nhà trường ở địa phương, kinh nghiệm thực thi các chính sách hỗ trợ, góp ý nội
dung và hình thức báo cáo. Ngoài ra, các rào cản liên quan đến trẻ em bỏ học và có nguy cơ bỏ học đã được
kiểm chứng thực tế thêm thông qua phỏng vấn một số cha mẹ học sinh và chính các em học sinh đã bỏ học
hoặc đang có nguy cơ hoặc có ý định bỏ học ở 6 tỉnh trên. Trong giai đoạn hoàn thiện này, các số liệu trong
Chương 2 được tính lại theo cách tính tuổi của ngành GD&ĐT để số liệu từ nguồn TĐTDS 2009 có thể so sánh
được với số liệu của ngành GD&ĐT. Ở cuối giai đoạn hoàn thiện, Báo cáo đã nhận được những ý kiến góp
ý quý giá của Cliff Meyers, Cố vấn Giáo dục UNICEF Khu vực Đông Á - Thái bình dương, Chemba Raghavan,
chuyên gia Giáo dục, Friedrich Huebler, và Sheena Bell chuyên gia Viện thống kê UNESCO ở Canada.
Bộ Giáo dục và Đào tạo và UNICEF Việt Nam chân thành cám ơn các tổ chức và cá nhân đã tham gia biên soạn
và đóng góp cho việc hoàn thiện Báo cáo này.

TRẺ EM NGOÀI NHÀ TRƯỜNG
Nghiên cứu của Việt Nam

5


1. Giới thiệu
Báo cáo này phân tích trẻ em ngoài nhà trường (TENNT) của Thành phố Hồ Chí Minh ở độ tuổi mầm non 5
tuổi, tiểu học và trung học cơ sở, tức là những trẻ em từ 5-14 tuổi. TENNT gồm trẻ chưa bao giờ đi học hoặc

đã từng đi học nhưng đã bỏ học.
Báo cáo được biên soạn song song với Báo cáo nghiên cứu về TENNT của Việt Nam do Bộ Giáo dục và Đào tạo
chủ trì, với sự hỗ trợ của UNICEF và chuyên gia tư vấn, trong đó Thành phố Hồ Chí Minh là 1 trong 8 tỉnh được
phân tích chi tiết, gồm Lào Cai, Điện Biên, Ninh Thuận, Kon Tum, Gia Lai, TP. Hồ Chí Minh, An Giang và Đồng
Tháp.
Mục đích của báo cáo nhằm phân tích thực trạng về số lượng và các đặc điểm của trẻ em ngoài nhà trường
ở độ tuổi 5-14 tuổi và của trẻ em đang đi học mầm non 5 tuổi, tiểu học và trung học cơ sở nhưng có nguy cơ
bỏ học của Thành phố Hồ Chí Minh; phân tích các rào cản ngăn các em đến trường và các vướng mắc làm
hạn chế khả năng đến trường của các em. Báo cáo sẽ góp phần nâng cao nhận thức về TENNT, giúp cải thiện
công tác quản lý, lập kế hoạch giáo dục và đào tạo cũng như tăng cường vận động chính sách để giảm thiểu
TENNT, thực hiện quyền học tập của trẻ em nói chung và đặc biệt là trẻ em thiệt thòi.
Nội dung phân tích dựa trên mô hình Năm thành tố loại khỏi giáo dục trong Nghiên cứu toàn cầu về Trẻ em
ngoài nhà trường (TENNT) do Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF) và Viện Thống kê (UIS) của Tổ chức giáo
dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc (UNESCO) tiến hành.
Năm thành tố loại trừ bao gồm:
• Thành tố 1: Trẻ em trong độ tuổi mầm non không đi học mầm non hoặc tiểu học
• Thành tố 2: Trẻ em trong độ tuổi tiểu học không đi học tiểu học hoặc trung học
• Thành tố 3: Trẻ em trong độ tuổi trung học cơ sở không đi học tiểu học hay trung học
• Thành tố 4: Trẻ em đang học tiểu học nhưng có nguy cơ bỏ học
• Thành tố 5: Trẻ em đang họ trung học cơ sở nhưng có nguy cơ bỏ học
Ba thành tố đầu gồm những TENNT. Thành tố 1 gồm TENNT độ tuổi 5 tuổi. Thành tố 2 gồm TENNT độ tuổi
tiểu học. Thành tố 3 gồm TENNT độ tuổi trung học cơ sở (THCS).
Hai thành tố cuối gồm những trẻ em đang học tiểu học hoặc THCS, không phân biệt độ tuổi nhưng có nguy
cơ bỏ học.
Nguồn số liệu phục vụ phân tích được lấy từ cuộc Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam 2009 (TĐTDS
2009). Phần rào cản và khuyến nghị dựa trên khảo sát thực tế tại quận Bình Tân và tham vấn với các cấp quản
lý giáo dục, đại diện giáo viên, học sinh, cha mẹ học sinh và chính quyền địa phương ở Thành phố Hồ Chí
Minh tháng 3/2013.
Một số lưu ý về số liệu và những cân nhắc trong phân tích:
• TĐTDS 2009 đã đếm tất cả những người Việt Nam thường xuyên sinh sống trong lãnh thổ nước Cộng

hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam vào ngày 1/4/2009.
• Số liệu tuổi của dân số trong TĐTDS 2009 được công bố là tuổi tròn tại thời điểm 1/4/2009, tức là đủ 65
ngày tại ngày 1/4/2009 mới được tính là 1 tuổi. Cách tính tuổi này khác với cách tính tuổi theo năm sinh
của ngành Giáo dục, tức là tuổi hiện tại bằng năm hiện tại trừ năm sinh. Hai cách tính tuổi khác nhau
dẫn đến chênh lệch số liệu giữa hai ngành Thống kê và Giáo dục. Để khắc phục tình trạng này, tuổi trong
báo cáo này được tính theo năm sinh so với năm 2008, tức là tuổi sẽ tính bằng 2008 trừ đi năm sinh được
khai báo trong TĐTDS 2009. Như vậy trong báo cáo này trẻ em 5 tuổi là trẻ em khai báo sinh năm 2003
trong TĐTDS 2009; trẻ em 6-10 tuổi là trẻ em khai báo sinh năm 1998-2002 trong TĐTDS 2009, và trẻ em
11-14 tuổi là trẻ em khai báo sinh năm 1994-1997 trong TĐTDS 2009. Do đó các số liệu của trẻ em theo 3
độ tuổi này có thể so sánh với các số liệu học sinh tương ứng của ngành GD&ĐT năm học 2008-2009.

6

TRẺ EM NGOÀI NHÀ TRƯỜNG
Nghiên cứu của Việt Nam


• TĐTDS 2009 hỏi về tình trạng đi học bằng câu hỏi: “Hiện nay [TÊN] đang đi học, đã thôi học hay chưa bao
giờ đi học?” với 3 khả năng trả lời: “Đang đi học”, “Đã thôi học”, và “Chưa đi học”. Các câu trả lời cho câu
hỏi này là cơ sở để xác định tình trạng đi học trong Báo cáo này.
• Trong TĐTDS 2009 có 4 câu hỏi liên quan đến khuyết tật của 4 chức năng cơ bản: nhìn, nghe, vận động
(đi bộ) và ghi nhớ (tập trung chú ý). Những câu hỏi này hỏi các thành viên từ 5 tuổi trở lên trong hộ gia
đình. Người trả lời tự đánh giá và xếp câu trả lời vào 4 loại: “Không khó khăn”, “Khó khăn”, “Rất khó khăn”
và “Không thể”. Một người được xác định là “Khuyết tật” nếu một trong bốn chức năng trên được xếp vào
loại “Không thể”, hoặc được xác định là “Khuyết tật một phần” nếu một trong bốn chức năng trên được
đánh giá là “Khó khăn” hoặc “Rất khó khăn”, và được coi là “Không có khuyết tật” nếu 4 chức năng cơ bản
trên đều “Không khó khăn”.
• Tình trạng di cư được xác định bằng sự thay đổi chỗ ở trong khoảng thời gian 5 năm trước thời điểm
TĐTDS 2009. Một người được coi là “di cư” nếu thay đổi chỗ ở từ quận/huyện nọ sang quận/huyện kia ít
nhất 1 lần trong 5 năm trước thời điểm TĐTDS 2009. Khái niệm di cư như vậy phù hợp với thực tế đô thị

hoá ở Việt Nam, tức là người dân di cư từ khu vực nông thôn ra khu vực thành thị trong nội bộ một tỉnh
hoặc di cư từ tỉnh ít đô thị hoá hơn đến thành phố khác tỉnh đó.
Tuy nhiên, một hạn chế về số liệu ở đây là trong TĐTDS 2009 không có câu hỏi về mục đích di cư nên
không phân biệt được di cư do đi tìm việc làm ở thành phố hay di cư để tìm việc làm theo mùa, hay di cư
do thiên tai.
• Do TĐTDS 2009 không có số liệu về lao động trẻ em nên trong báo cáo này không phân tích về trẻ em
phải lao động.
• Khi phân tích theo các phân tổ chi tiết, các tổ có ít hơn hoặc bằng 50 quan sát (dân số) sẽ không được
đưa vào phân tích vì đây là một cỡ mẫu quá nhỏ. Khi đó tất cả các ô liên quan đến tổ này sẽ để trống. Tuy
nhiên, với các tổ có trên 50 quan sát nhưng không lớn lắm thì vẫn nên rất thận trọng khi rút ra những
kết luận suy rộng.
• Việt Nam có 54 dân tộc, trong đó dân tộc Kinh là dân tộc đa số và tất cả các dân tộc còn lại được coi là
dân tộc thiểu số.

2. Các đặc điểm của trẻ em 5-14 tuổi của Thành phố Hồ Chí Minh
Tại thời điểm TĐTDS 2009, tổng số trẻ em 5 tuổi tính đến năm 2008 (sinh năm 2003) ở Thành phố Hồ Chí
Minh là 110.015 em; tổng số trẻ em 6-10 tuổi tính đến năm 2008 (độ tuổi tiểu học, sinh năm 1998-2002) là
427.884 em, và tổng số trẻ em 11-14 tuổi tính đến năm 2008 (độ tuổi THCS, sinh năm 1994-1997) là 350.311
em (xem Bảng 1).
Tỉ số nam trên nữ của Thành phố Hồ Chí Minh ở cả ba độ tuổi bằng khoảng 52 nam trên 48 nữ. Các tỉ số này
cho thấy có sự mất cân bằng giới trong dân số thuộc độ tuổi đi học rất rõ ràng.
Khoảng 80% trẻ em 5-14 tuổi của Thành phố Hồ Chí Minh sống ở khu vực thành thị. Thành phố Hồ Chí Minh
có trên 92% trẻ em 5-14 tuổi là dân tộc Kinh; các dân tộc thiểu số khác chủ yếu gồm dân tộc Hoa, Khmer và
Chăm. Thành phố Hồ Chí Minh có dưới 2,7% trẻ em khuyết tật hoặc khuyết tật một phần, khoảng 97,3% số
trẻ em còn lại không khuyết tật. Trẻ em thuộc các gia đình di cư chiếm dưới 12,6% tổng số trẻ em.

TRẺ EM NGOÀI NHÀ TRƯỜNG
Nghiên cứu của Việt Nam

7



Bảng 1:

Phân bố dân số trẻ em 5-14 tuổi của Thành phố Hồ Chí Minh

Thành phố Hồ
Chí Minh

5

Tổng số (người)

110.015

Tuổi (người)

Giới tính (%)

Thành thị/ Nông
thôn (%)

Dân tộc (%)

8

6 – 10

5


11 – 14

427.884

350.311

110.015

6

93.368

7

88.209

8

94.203

9

82.051

10

70.052

11


85.156

12

86.122

13

89.015

14

90.018

Nam

51,54

52,37

52,33

Nữ

48,46

47,63

47,67


Thành thị

80,17

81,24

81,08

Nông thôn

19,83

18,76

18,92

Kinh

94,68

93,20

92,44

Tày

0,03

0,03


0,07

Mường

0,06

0,03

0,02

Khmer

0,14

0,13

0,25

Hoa

5,03

6,52

7,07

Chăm

0,06


0,06

0,07

Khác

0,01

0,04

0,07

TRẺ EM NGOÀI NHÀ TRƯỜNG
Nghiên cứu của Việt Nam


Thành phố Hồ
Chí Minh
Tình trạng
khuyết tật (%)

Di cư (%)

5

6 – 10

11 – 14

Khuyết tật


0,13

0,14

0,17

KT. Một phần

1,34

1,45

2,53

Không KT

98,52

98,41

97,29



12,63

11,45

11,46


Không

87,37

88,55

88,54

3. Trẻ em ngoài nhà trường
3.1. Trẻ em ngoài nhà trường độ tuổi 5 tuổi
Trẻ em ngoài nhà trường độ tuổi 5 tuổi gồm trẻ em 5 tuổi không đi học mầm non 5 tuổi hoặc tiểu học (đi
trước tuổi).
Tại thời điểm TĐTDS 2009, Thành phố Hồ Chí Minh có 110.015 trẻ em 5 tuổi tính đến năm 2008 (sinh năm
2003), trong đó 86,34% đi học và 13,66% ngoài nhà trường. Số TENNT 5 tuổi của Thành phố Hồ Chí Minh là
15.026 em. Tỷ lệ TENNT 5 tuổi của Thành phố Hồ Chí Minh cao hơn mức 12,19% của cả nước và cao thứ 6
trong 8 tỉnh (xem Hình 1).

Hình 1:

Trẻ em 5 tuổi đi học và ngoài nhà trường của Thành phố Hồ Chí Minh

100
90

12.19

11.54

13.66


22.30

16.13

7.32

18.11

15.89

22.71

80
70
60
50
40

83.87

87.81

86.34

Việt Nam

Tp. HCM

77.70


30

92.68

88.46

81.89

84.11
77.29

20
10
0

TENNT

Điện Biên

Lào Cai

Ninh Thuận Kon Tum

Gia Lai

Đồng Tháp An Giang

Đi học


TRẺ EM NGOÀI NHÀ TRƯỜNG
Nghiên cứu của Việt Nam

9


Hình 2 cung cấp thông tin bằng hình ảnh và số liệu về tỷ lệ trẻ em 5 tuổi ngoài nhà trường của Thành phố
Hồ Chí Minh chia theo các đặc điểm của trẻ em, gồm giới tính, nơi ở là thành thị hay nông thôn, dân tộc, tình
trạng khuyết tật và tình trạng di cư.

Tỷ lệ trẻ em 5 tuổi ngoài nhà trường của Thành phố Hồ Chí Minh chia theo các
đặc điểm

76
.9
6

Hình 2:

80
70

45
.9
1

60
50

24


9
.3

13

15

2
.4
13

.5

1

.0

8
22
.

13

15

.0

17


0

.4
3
17
.7
5

4

6

13

13

.2

.7

4
.2

13

14

13

.0


.6

20

5

6

69

30

.6

2

40

10

Giới tính

Thành thị
Nông thôn

Tình trạng
khuyết tật

g

ôn



Kh

Kh
u
KT yết
m tật
ột
ph
Kh ần
ôn
g
KT

ác
Kh

ăm

a

Dân tộc

Ch

Ho


er
m

ng

Kh


y

ườ


c

M

DT nh
kh
àc

Ki

ôn

th

ng




nh
Th
à

Tp.HCM

th



Nữ

Na

m

0

Di cư

Tỷ lệ TENNT 5 tuổi ở Thành phố Hồ Chí Minh của trẻ em trai cao hơn trẻ em gái, nhưng không đáng kể, tương
ứng bằng 14,05% so với 13,24%. Tương tự, tỷ lệ TENNT 5 tuổi của trẻ em ở khu vực thành thị cao hơn đôi chút
so với khu vực nông thôn, tương ứng là 13,76% và 13,24%. Tuy nhiên, tỷ lệ TENNT 5 tuổi của Thành phố Hồ
Chí Minh chênh lệch lớn hơn giữa dân tộc Kinh và các dân tộc khác, giữa khuyết tật và không khuyết tật, và
giữa có di cư và không di cư.
Tỷ lệ TENNT 5 tuổi của các dân tộc khác cao hơn 1,3 lần so với dân tộc Kinh, tương ứng là 17,75% so với
13,43%, trong đó dân tộc Khmer có tỷ lệ TENNT 5 tuổi cao nhất, cao hơn 3 lần dân tộc Kinh, tiếp đến là dân
tộc Chăm cao hơn gần 2 lần dân tộc Kinh.
Tỷ lệ TENNT 5 tuổi khuyết tật có mẫu nhỏ nên không được phân tích. Tỷ lệ TENNT ở trẻ 5 tuổi khuyết tật một

phần cao gần gấp đôi so với trẻ cùng độ tuổi không khuyết tật, tương ứng là 24,62% so với 13,42%. Trẻ em 5
tuổi trong các gia đình di cư có tỷ lệ TENNT cao hơn gần 1,2 lần so với các gia đình không di cư, tương ứng là
15,51% so với 13,39%.

3.2. TENNT độ tuổi tiểu học
Trẻ em ngoài nhà trường độ tuổi tiểu học bao gồm trẻ ở độ tuổi 6-10 tuổi không đi học tiểu học hoặc THCS
(đi học trước tuổi).
Tại thời điểm TĐTDS 2009, Thành phố Hồ Chí Minh có 427.884 trẻ em 6-10 tuổi tính đến năm 2008 (sinh năm
1998-2002), trong đó 97,65% đi học tiểu học hoặc THCS và 2,35% ngoài nhà trường (xem Hình 3). Số TENNT
6-10 tuổi của Thành phố Hồ Chí Minh là 10.034 em. Tỷ lệ TENNT độ tuổi tiểu học của Thành phố Hồ Chí Minh
thấp hơn gần một nửa so với mức 3,97% của cả nước và thấp nhất trong 8 tỉnh.

10

TRẺ EM NGOÀI NHÀ TRƯỜNG
Nghiên cứu của Việt Nam


Hình 3:
100

Tỷ lệ trẻ em độ tuổi tiểu học đi học và ngoài nhà trường của Thành phố Hồ Chí Minh

3.97

2.35

96.03

97.65


90

9.55

15.75

8.08

5.80

91.91

94.20

12.42

4.46

7.54

80
70
60
50
40
30

90.45


84.25

87.58

95.54
92.46

20
10
0

Việt Nam

Tp. HCM

TENNT tiểu học

Lào Cai

Điện Biên Ninh Thuận Kon Tum

Gia Lai

Đồng Tháp An Giang

ANAR tiểu học

Ghi chú: ANAR Tiểu học là tỷ lệ trẻ em độ tuổi tiểu học đi học tiểu học hoặc trung học cơ sở.
Hình 4 cung cấp thông tin bằng hình ảnh và số liệu về tỷ lệ trẻ em độ tuổi tiểu học ngoài nhà trường của
Thành phố Hồ Chí Minh chia theo các đặc điểm của trẻ em, gồm độ tuổi, giới tính, nơi ở là thành thị hay nông

thôn, dân tộc, tình trạng khuyết tật và tình trạng di cư.
Tỷ lệ TENNT độ tuổi tiểu học tăng nhẹ theo độ tuổi, đồng nghĩa với tình trạng bỏ học của học sinh tiểu học
tăng nhẹ ở lớp cuối cấp.
Tỷ lệ TENNT độ tuổi tiểu học của Thành phố Hồ Chí Minh không có chênh lệch giữa nam và nữ. Tỷ lệ TENNT
độ tuổi tiểu học của khu vực nông thôn cao gấp gần 1,5 lần so với khu vực thành thị. Tỷ lệ TENNT độ tuổi tiểu
học của các dân tộc khác cao hơn gần 1,5 lần dân tộc Kinh, trong đó tỷ lệ TENNT độ tuổi tiểu học của dân tộc
Khmer rất cao, bằng 32,64%, tức là cứ 3 trẻ em Khmer độ tuổi tiểu học thì có 1 em không đi học, cao gấp 14
lần dân tộc Kinh. Tỷ lệ TENNT độ tuổi tiểu học của trẻ em khuyết tật rất cao, bằng 80,90%, của trẻ khuyết tật
một phần cao hơn 8 lần trẻ không khuyết tật, tương ứng là 16,13% so với 2,03%. Tỷ lệ TENNT độ tuổi tiểu học
của trẻ em di cư cao hơn 2 lần so với trẻ em không di cư, tương ứng là 4,85% và 2,02%.

TRẺ EM NGOÀI NHÀ TRƯỜNG
Nghiên cứu của Việt Nam

11


Hình 4:

Tỷ lệ trẻ em ngoài nhà trường độ tuổi tiểu học của Thành phố Hồ Chí Minh chia theo
một số đặc điểm
80
.9
0

90
80
70
60


32
.6
4

50
40

Tp.
HCM

Tuổi

Giới tính Thành thị/
Nông thôn

02

4.

2.
Kh Có
ôn
g

KT uyế
m t tậ
ột t
Kh phầ
ôn n
g

KT

2.

03

85

89
4.

74

Dân tộc

Kh

2.

K
DT inh
kh
ác

M y
ườ
n
Kh g
m
er

Ho
Ch a
ăm
Kh
ác

2.

27
3.
3
0. 9
00
6.

18
3.
05

29

39

2.


c

10


Th
à
Nô nh
ng thị
th
ôn

9

2.

8

Nữ

7

2.

6

Na
m

65
2.
28
3.
39


1.

16
3.

0

1.

2.

35

10

46

69

10

.9

4

20

16

.1


3

30

Tình trang
khuyết tật

Di cư

3.3. Trẻ em ngoài nhà trường độ tuổi THCS
Trẻ em ngoài nhà trường độ tuổi THCS bao gồm trẻ ở độ tuổi 11-14 tuổi không đi học THCS, hoặc không đi
học THPT (đi học trước tuổi) hoặc không đi học tiểu học (đi học quá tuổi).
Tại thời điểm TĐTDS 2009 Thành phố Hồ Chí Minh có 350.311 trẻ em độ tuổi THCS tính đến năm 2008 (sinh
năm 1994-1997), trong đó 87,40% đi học THCS hoặc THPT (ANAR THCS), 2,67% đi học tiểu học, và số còn lại
9,92% là ngoài nhà trường, tức là cứ 10 em ở độ tuổi THCS thì có 1 em không đi học (xem Hình 5). Tỷ lệ TENNT
độ tuổi THCS của Thành phố Hồ Chí Minh cao hơn 4 lần tỷ lệ TENNT độ tuổi tiểu học của chính Thành phố
Hồ Chí Minh (2,35%), thấp hơn một chút mức trung bình 11,17% của cả nước và thấp nhất trong 8 tỉnh. Số
TENNT độ tuổi THCS của Thành phố Hồ Chí Minh là 34.767 em.
Tại thời điểm TĐTDS 2009 Thành phố Hồ Chí Minh có 200 trẻ em độ tuổi THCS đi học nghề. Con số này rất
nhỏ nên không ảnh hưởng đến tỷ lệ TENNT độ tuổi THCS.

12

TRẺ EM NGOÀI NHÀ TRƯỜNG
Nghiên cứu của Việt Nam


Hình 5:
100


Tỷ lệ trẻ em độ tuổi THCS đi học và TENNT độ tuổi THCS

5.90

2.67

82.93

87.40

90

14.55

9.59

8.42

14.51

10.23

6.93

8.47

73.61

64.55


80
70
60
50

72.91

68.04

60.67

62.91

83.85

40
30
20
10
0

24.78
11.17

9.92

Việt Nam

Tp. HCM


Học tiểu học

Lào Cai

17.51
96.03

23.54

Điện Biên Ninh Thuận

ANAR THCS

22.58

Gia Lai

15.91

19.45

26.98

Kon Tum Đồng Tháp An Giang

TENNT tiểu học

Ghi chú: ANAR THCS là tỷ lệ trẻ em độ tuổi trung học cơ sở đi học trung học cơ sở hoặc trung học phổ thông
Hình 6 cung cấp thông tin bằng hình ảnh và số liệu về tỷ lệ trẻ em ngoài nhà trường độ tuổi THCS của Thành

phố Hồ Chí Minh chia theo các đặc điểm của trẻ em, gồm độ tuổi, giới tính, nơi ở là thành thị hay nông thôn,
dân tộc, tình trạng khuyết tật và tình trạng di cư.
Tỷ lệ TENNT độ tuổi THCS ở Thành phố Hồ Chí Minh tăng theo độ tuổi và tăng nhanh hơn độ tuổi tiểu học.
Điều này đồng nghĩa với tình trạng bỏ học tăng ở các lớp cuối cấp THCS, tương tự như đã diễn ra ở các lớp
cuối cấp tiểu học, nhưng với mức độ lớn hơn so với cấp tiểu học. Ở độ tuổi 14 có 17,20% TENNT, trong khi ở
độ tuổi 10 chỉ có 3,39% TENNT.
Tỷ lệ TENNT độ tuổi THCS có sự chênh lệch đáng kể giữa nam và nữ, giữa thành thị và nông thôn, giữa học
sinh khuyết tật và không khuyết tật và giữa học sinh có di cư và không di cư. Các chênh lệch này đều lớn hơn
độ tuổi tiểu học.
Tỷ lệ TENNT độ tuổi THCS ở trẻ em trai cao hơn trẻ em gái gần 1,2 lần, tương ứng là 10,66% so với 9,12%.
Tỷ lệ TENNT độ tuổi THCS ở khu vực nông thôn cao gần gấp đôi khu vực thành thị, tương ứng là 15,16% và
8,70%. Tỷ lệ TENNT độ tuổi THCS của dân tộc Hoa thấp hơn dân tộc Kinh, tương ứng là 8,63% so với 9,79%.
Dân tộc Khmer có tỷ lệ TENNT độ tuổi THCS cao nhất, cao hơn dân tộc Kinh hơn 7 lần. Dân tộc Tày và dân tộc
Chăm cũng có tỷ lệ TENNT độ tuổi THCS cao, tương ứng là 31,84% và 23,79%, cao hơn 2-3 lần dân tộc Kinh.
Trẻ em khuyết tật hoặc khuyết tật một phần có tỷ lệ TENNT cao hơn rất nhiều so với trẻ không khuyết tật. Tỷ
lệ TENNT ở độ tuổi THCS của các gia đình di cư cao hơn 3 lần các gia đình không di cư, tương ứng là 26,26%
so với 7,81%.

TRẺ EM NGOÀI NHÀ TRƯỜNG
Nghiên cứu của Việt Nam

13


Hình 6:

Tỷ lệ TENNT độ tuổi THCS chia theo các đặc điểm
92
.1
4


100

74
.4
4

90
80
70
53
.2
4

60
50

.8

81
7.

8.

9.

64

60


59
79
11
.

9.

00

Tuổi

Giới tính

Thành thị/
Nông thôn

Dân tộc

Kh Có
ôn
g

KT uyế
m t tậ
ột t
Kh phầ
ôn n
g
KT


Kh

Ki

c

9

DT nh
kh
ác

y
M
ườ
n
Kh g
m
er
Ho
Ch a
ăm
Kh
ác

0.

Tp.
HCM


8

Th
à
Nô nh
ng thị
th
ôn

7

Nữ

6

Na
m

0

16

6
.1
15

70
8.

12


.6
10

9.

7.

85

6

.8
6
17
36
10

92
3.

10

9.

20

.2

0


30

2

23
.7
9

26
.2
6

31
.8
4

40

Tình trang
khuyết tật

Di cư

4. Trẻ em bỏ học
Trẻ em bỏ học là một phần của TENNT. Do đó nghiên cứu các đặc điểm của trẻ bỏ học sẽ giúp hiểu về TENNT.
Trẻ em bỏ học được định nghĩa là trẻ em đã đi học năm vừa qua nhưng đến thời điểm điều tra không đi học,
mặc dù các em lẽ ra phải đi học. Bỏ học loại này là bỏ học một năm và để tính toán được thì cần có số liệu trẻ
đi học trong hai năm liên tiếp.
TĐTDS 2009 không có số liệu về bỏ học như vậy, nhưng có số liệu về trình độ học vấn của trẻ em ngoài nhà

trường, thôi học và học quá tuổi nên các số liệu này sẽ được sử dụng để phân tích trẻ em có nguy cơ bỏ học,
trong đó số liệu thôi học sẽ thay thế cho bỏ học.
Trẻ em thôi học trong mục này gồm những em độ tuổi tiểu học 6-10 tuổi, hoặc độ tuổi THCS 11-14 tuổi (tính
đến năm 2008) trước đó đã từng đi học, nhưng tại thời điểm TĐTDS 2009 không đi học.

4.1. Trẻ em độ tuổi tiểu học thôi học
Theo Hình 7, Thành phố Hồ Chí Minh có tỷ lệ trẻ em độ tuổi tiểu học thôi học bằng 1,10%, thấp nhất trong 8
tỉnh được chọn và thấp hơn mức bình quân 1,16% của cả nước.

14

TRẺ EM NGOÀI NHÀ TRƯỜNG
Nghiên cứu của Việt Nam


Hình 7:

Tỷ lệ thôi học ở cấp tiểu học

3.50
3.10

3.00
2.55

2.45

2.50

2.12


1.92

2.00
1.50

1.16

1.86

1.76

1.10

1.00
0.50
0.00

Việt Nam

Tp. HCM

Điện Biên

Lào Cai

Ninh Thuận Kon Tum

Gia Lai


Đồng Tháp An Giang

Hình 8 cung cấp thông tin bằng hình ảnh và số liệu về tỷ lệ thôi học độ tuổi tiểu học của Thành phố Hồ Chí
Minh chia theo các đặc điểm của trẻ em, gồm độ tuổi, giới tính, nơi ở là thành thị hay nông thôn, dân tộc,
tình trạng khuyết tật và tình trạng di cư.

Hình 8:

Tỷ lệ thôi học ở cấp tiểu học chia theo các đặc điểm

14

.1

6

9
8
7

22

6

8.

5

Tp.
HCM


Tuổi

Kh Có
ôn
g

0.
89

2.

79

4.
0
05

1.
3

1.

6

63
1.

Ki


DT nh
kh
ác

M y
ườ
n
Kh g
m
er
Ho
Ch a
ăm
Kh
ác
Kh
KT uyế
m t tậ
ột t
p
Kh hầ
ôn n
g
KT

0.
00
0.
00


1.
06

55
1.

1.
00

1.
11
1.
09
Giới tính


c

10

Th
à
Nô nh
ng thị
th
ôn

8 9

m


7

Nữ

6

Na

0

0.
37
0.
51
0.
74
1.
58
2.

1.
10

1

76

2


3.

63

4.

3

4

89

4

Thành thị/
Nông thôn

Dân tộc

Tình trang
khuyết tật

Di cư

Tỷ lệ trẻ em độ tuổi tiểu học thôi học của Thành phố Hồ Chí Minh tăng nhanh theo độ tuổi. Càng ở độ tuổi
cuối cấp thì tỷ lệ trẻ em độ tuổi tiểu học thôi học càng cao. Tỷ lệ trẻ em độ tuổi tiểu học thôi học của nam và
nữ tương đương nhau, nhưng có sự chênh lệch đáng kể giữa nông thôn và thành thị, giữa các nhóm dân tộc,
của các em khuyết tật và không khuyết tật, và nhóm di cư và không di cư.
Tỷ lệ trẻ em độ tuổi tiểu học thôi học ở nông thôn cao gấp 1,6 lần ở thành thị, tương ứng là 1,55% so với
1,00%. Tỷ lệ trẻ em độ tuổi tiểu học thôi học của dân tộc Khmer cao nhất, bằng 14,16%, gấp 14 lần dân tộc

Kinh. Dân tộc Chăm cũng có tỷ lệ trẻ em độ tuổi tiểu học thôi học cao, bằng 3,63%, cao hơn dân tộc Kinh 3
lần. Tỷ lệ trẻ em độ tuổi tiểu học thôi học của các em khuyết tật hoặc khuyết tật một phần đều cao hơn nhiều
các em không khuyết tật.

TRẺ EM NGOÀI NHÀ TRƯỜNG
Nghiên cứu của Việt Nam

15


Tỷ lệ trẻ em độ tuổi tiểu học thôi học của nhóm di cư cao gấp 3 lần nhóm không di cư, tương ứng là 2,79% so
với 0,89%.

4.2. Trẻ em độ tuổi THCS thôi học
Thành phố Hồ Chí Minh có tỷ lệ trẻ em độ tuổi THCS thôi học bằng 9,07%, cao hơn 8 lần tỷ lệ trẻ em độ tuổi
tiểu học thôi học của chính Thành phố Hồ Chí Minh (1,10%), thấp nhất trong 8 tỉnh được chọn và thấp hơn
mức bình quân 9,47% của cả nước.(xem Hình 9).

Hình 9:

Tỷ lệ thôi học ở cấp THCS
24.14

25
20

14.08

15
10


9.47

9.07

Việt Nam

Tp. HCM

12.78

18.10

Điện Biên

Lào Cai

12.92

17.88

17.31

5
0

Ninh Thuận Kon Tum

Gia Lai


Đồng Tháp An Giang

Hình 10 cung cấp thông tin bằng hình ảnh và số liệu về tỷ lệ thôi học độ tuổi THCS của Thành phố Hồ Chí
Minh chia theo các đặc điểm của trẻ em, gồm độ tuổi, nơi ở là thành thị hay nông thôn, giới tính, dân tộc,
tình trạng khuyết tật và tình trạng di cư.
Tỷ lệ trẻ em độ tuổi THCS thôi học của Thành phố Hồ Chí Minh tăng theo độ tuổi. Càng ở độ tuổi cuối cấp thì
tỷ lệ trẻ em độ tuổi THCS thôi học càng cao. Tỷ lệ trẻ em độ tuổi 14 (lớp 9) thôi học là 16,06%. Tỷ lệ trẻ em độ
tuổi lớp 9 thôi học cao hơn độ tuổi lớp 5 thôi học gần 6 lần.
Thành phố Hồ Chí Minh có tỷ lệ trẻ em độ tuổi THCS thôi học của nam cao hơn nữ không đáng kể, tương ứng
là 9,64% so với 8,44%. Tuy nhiên, tỷ lệ trẻ em độ THCS thôi học của Thành phố Hồ Chí Minh ở nông thôn cao
hơn 1,7 lần thành thị. Dân tộc Khmer có tỷ lệ trẻ em độ tuổi THCS thôi học cao nhất, hơn dân tộc Kinh 7,5 lần,
tương ứng là 66,92% so với 8,94%. Dân tộc Tày và Chăm cũng có tỷ lệ trẻ em độ tuổi THCS thôi học cao, tương
ứng là 31,84% và 21,08%. Tỷ lệ trẻ em độ tuổi THCS thôi học của các em khuyết tật, khuyết tật một phần thấp
hơn không khuyết tật là do mẫu nhỏ. Tỷ lệ thôi học ở trẻ em độ tuổi THCS thuộc nhóm di cư cao hơn nhóm
không di cư hơn 3 lần.

16

TRẺ EM NGOÀI NHÀ TRƯỜNG
Nghiên cứu của Việt Nam


Hình 10:

Tỷ lệ thôi học ở cấp THCS chia theo các đặc điểm
66
.9
2

70


50
.1
2

60
50

Tp.
HCM

7.

04

18
8.
12
9.
10
5.

00
Giới tính

Thành thị/
Nông thôn

Dân tộc


Kh Có
ôn
g

Cá K
c D in
T h
kh
ác

M y
ườ
n
Kh g
m
er
Ho
Ch a
ăm
Kh
ác
Kh
KT uyế
m t tậ
ột t
p
Kh hầ
ôn n
g
KT


Th
à
Nô nh
ng thị
th
ôn

0.
Tuổi

Nữ

11 12 13 14

Na
m

0

7.
96

8.
94
10
.6
5

13

.6
0
8.
01

9.
64
8.
44

16
.0
6
3.

9.
07

32
6.
55
9.
92

20
10

21
.0
8


30

24
.6
9

31
.8
4

40

Tình trang
khuyết tật

Di cư

5. Trẻ em đi học quá tuổi
Trẻ em đi học quá tuổi rất có nguy cơ trở thành TENNT vì tâm lý lớn tuổi, học đúp nên mặc cảm, khó hòa
nhập dẫn đến chán học.
Tại thời điểm TĐTDS 2009, Thành phố Hồ Chí Minh có 2,67% trẻ em ở độ tuổi THCS (tính đến năm 2008) đang
học các lớp tiểu học, tức là các trẻ đi học quá tuổi, thấp nhất trong 8 tỉnh và thấp hơn một nửa mức trung
bình của cả nước (xem Hình 11).

Hình 11:

Tỷ lệ học sinh độ tuổi THCS học tiểu học

16


14.51

14.55

14
12

8.47

8.42

8
6

10.23

9.59

10

6.93

5.90

4

2.67

2

0

Việt Nam

Tp. HCM

Điện Biên

Lào Cai

Ninh Thuận Kon Tum

Gia Lai

Đồng Tháp An Giang

Hình 12 cung cấp thông tin bằng hình ảnh và số liệu về tỷ lệ đi học tiểu học độ tuổi THCS của Thành phố Hồ
Chí Minh chia theo các đặc điểm của trẻ em, gồm độ tuổi, giới tính, nơi ở là thành thị hay nông thôn, dân tộc,
tình trạng khuyết tật và tình trạng di cư.

TRẺ EM NGOÀI NHÀ TRƯỜNG
Nghiên cứu của Việt Nam

17


Hình 12:

Tỷ lệ trẻ em độ tuổi THCS học tiểu học chia theo các đặc điểm
33

.0
0

9
8
7
6
5
4

Tp.
HCM

Tuổi

2.
59

3.
34

4.
15
4.
19
2.
63

00


Kh Có
ôn
g

0.

00

00
0.

0.


c

K
DT inh
kh
ác

M y
ườ
n
Kh g
m
er
Ho
Ch a
ăm

Kh
ác
Kh
KT uyế
m t tậ
ột t
p
K h hầ
ôn n
g
KT

Th
à
Nô nh
ng thị
th
ôn

Giới tính

3.
13

2.
60
3.
56

2.

78
2.
21

2.
78
2.
56
m

11 12 13 14

Nữ

0

Na

1

2.
67

2

1.
95
0.
94
0.

53

7.
48

9.
66

3

Thành thị/
Nông thôn

Dân tộc

Tình trang
khuyết tật

Di cư

Tỷ lệ đi học quá tuổi ở độ tuổi THCS của Thành phố Hồ Chí Minh giảm nhanh khi độ tuổi tăng. Tuy nhiên có
0,94% số trẻ 13 tuổi và 0,53% số trẻ 14 tuổi là độ tuổi gần cuối cấp và cuối cấp THCS nhưng vẫn học tiểu học
(xem Bảng 3), tương đương với 1.318 em. Số này rất có nguy cơ bỏ học.
Tỷ lệ đi học quá tuổi ở độ tuổi THCS ở Thành phố Hồ Chí Minh của nam cao hơn nữ, nhưng không lớn, tương
ứng là 2,78% và 2,56%. Mức chênh lệch lớn hơn một chút xảy ra đối với học sinh ở thành thị so với nông thôn
và thuộc các gia đình có di cư và không di cư.
Tuy nhiên, tỷ lệ đi học quá tuổi ở độ tuổi THCS của Thành phố Hồ Chí Minh có sự chênh lệch lớn giữa dân
tộc Kinh và các dân tộc khác. Tỷ lệ đi học quá tuổi của học sinh độ tuổi THCS của dân tộc Chăm rất cao, bằng
33,00%, tức là cứ 3 em độ tuổi THCS thì có 1 em học tiểu học. Dân tộc Khmer cũng có tỷ lệ đi học quá tuổi ở
độ tuổi THCS cao, cao hơn dân tộc Kinh gần 4 lần.

Tỷ lệ đi học quá tuổi ở độ tuổi THCS ở Thành phố Hồ Chí Minh của trẻ em khuyết tật, khuyết tật một phần cao
hơn trẻ không khuyết tật 1,6 lần.

6. Tóm tắt các phát hiện từ phân tích số liệu TĐTDS 2009
• Tại thời điểm TĐTDS 2009, tổng số trẻ em 5 tuổi tính đến năm 2008 (sinh năm 2003) ở Thành phố Hồ Chí
Minh là 110.015 em; tổng số trẻ em 6-10 tuổi tính đến năm 2008 (độ tuổi tiểu học, sinh năm 1998-2002)
là 427.884 em, và tổng số trẻ em 11-14 tuổi tính đến năm 2008 (độ tuổi THCS, sinh năm 1994-1997) là
350.311 em.
• Tổng số TENNT của Thành phố Hồ Chí Minh là 59.834 em, chia ra:
- Số TENTT 5 tuổi là 15.028 em, tương đương 13,66% trẻ em 5 tuổi. Tỷ lệ TENNT 5 tuổi của Thành phố
Hồ Chí Minh cao hơn mức 12,19% của cả nước 1,1 lần và cao thứ 6 trong 8 tỉnh (Số cũ khi chưa tính lại
số liệu: 17,1% và 19.005 em)
- Số TENTT tiểu học là 10.055, tương đương 2,35% trẻ em tiểu học. Tỷ lệ TENNT độ tuổi tiểu học của

18

TRẺ EM NGOÀI NHÀ TRƯỜNG
Nghiên cứu của Việt Nam


Thành phố Hồ Chí Minh thấp hơn gần một nửa so với mức 3,97% của cả nước và thấp nhất trong 8
tỉnh. (Số cũ khi chưa tính lại số liệu: 7,6% và 33.032 em)
- Số TENTT THCS là 34.751 em, tương đương 9,92% trẻ em THCS. Tỷ lệ TENNT độ tuổi THCS của Thành
phố Hồ Chí Minh cao hơn 4 lần tỷ lệ TENNT độ tuổi tiểu học của chính Thành phố Hồ Chí Minh
(2,35%), thấp hơn một chút mức trung bình 11,17% của cả nước và thấp nhất trong 8 tỉnh. (Số cũ khi
chưa tính lại số liệu: 9,1% và 31.158 em).
• Tỷ lệ TENNT của Thành phố Hồ Chí Minh đạt mức cao ở độ tuổi 5 tuổi, sau đó giảm đáng kể ở độ tuổi tiểu
học và lại tăng khá cao trở lại ở độ tuổi THCS.
• Tỷ lệ TENNT của trẻ em trai ở Thành phố Hồ Chí Minh ở 2 độ tuổi 5 tuổi và tiểu học đều cao hơn trẻ em
gái, nhưng không đáng kể, dưới 1,1 lần. Chênh lệch này biểu hiện rõ hơn ở độ tuổi THCS, bằng 1,2 lần.

• Tỷ lệ TENNT 5 tuổi ở khu vực nông thôn của Thành phố Hồ Chí Minh không chênh so với khu vực thành
thị, nhưng tỷ lệ TENNT độ tuổi tiểu học và THCS của nông thôn cao hơn đáng kể so với thành thị, và mức
chênh tăng theo độ tuổi, tương ứng là 1,4 lần đối với độ tuổi tiểu học và 1,7 lần đối với độ tuổi THCS.
• Tỷ lệ trẻ em các dân tộc thiểu số ở Thành phố Hồ Chí Minh rất nhỏ. Tuy nhiên tỷ lệ TENNT của dân tộc
thiểu số cao hơn dân tộc Kinh 1,2-1,5 lần. Dân tộc Khmer và Chăm có tỷ lệ TENNT cao.
• Tỷ lệ TENNT của trẻ khuyết tật hoặc khuyết tật một phần đều cao hơn rất nhiều so với trẻ không khuyết
tật ở cả 3 độ tuổi.
• Các gia đình di cư của Thành phố Hồ Chí Minh có tỷ lệ TENNT cao hơn đáng kể so với các gia đình không
di cư và chênh lệch này tăng theo độ tuổi, tương ứng bằng 1,2 lần ở độ tuổi 5 tuổi, 2,4 lần ở độ tuổi tiểu
học và 3,4 lần ở độ tuổi THCS.
• Tỷ lệ TENNT tăng cao ở 2 độ tuổi cuối của cả hai cấp tiểu học và THCS. Ở độ tuổi của lớp cuối cấp, tỷ lệ
TENNT độ tuổi THCS cao hơn tiểu học 4 lần.
• Tỷ lệ thôi học của Thành phố Hồ Chí Minh ở độ tuổi tiểu học và THCS đều thấp nhất so 8 tỉnh được chọn
và đều thấp hơn mức bình quân của cả nước 2 lần. Tỷ lệ thôi học THCS cao gấp hơn 8 lần tỷ lệ thôi học
tiểu học. Hiện tượng thôi học càng tăng ở các lớp cuối cấp.
• Tỷ lệ đi học quá tuổi ở độ tuổi THCS của Thành phố Hồ Chí Minh giảm nhanh khi độ tuổi tăng. Tuy nhiên
có 0,94% số trẻ 13 tuổi và 0,53% số trẻ 14 tuổi là độ tuổi gần cuối cấp và cuối cấp THCS nhưng vẫn học
tiểu học, tương đương với 1.318 em. Số này rất có nguy cơ thôi học.

7. Rào cản và các vướng mắc
Mục này nói về các rào cản và các vướng mắc làm hạn chế khả năng đến trường của trẻ. Các rào cản và các
vướng mắc phát sinh từ nhiều phía: từ hoàn cảnh bản thân trẻ em và phụ huynh là phía có nhu cầu học tập,
từ phía cung cấp các dịch vụ giáo dục, trong đó có liên quan đến các bên liên quan khác, ví dụ: các cộng
đồng dân cư với các chuẩn mực xã hội khác nhau và các cơ quan quản lý quá trình phát triển kinh tế - xã hội
ở các cấp. Các rào cản này được phân tích trong bối cảnh đặc thù của thành phố Hồ Chí Minh là nơi có tình
trạng di cư phổ biến với quy mô dân số cơ học phát triển nhanh.
Đối với trẻ em và phụ huynh:
Ở Thành phố Hồ Chí Minh, tình trạng di cư của trẻ em ở các địa phương theo gia đình sinh sống (chủ yếu)
hoặc tự các em di cư tìm việc làm là rào cản lớn về mặt kinh tế làm ảnh hưởng cơ hội tiếp cận giáo dục của
trẻ. Công việc và nơi ở không ổn định của gia đình cũng ảnh hưởng đến việc học tập của trẻ em. Đối với

nhiều gia đình nghèo tại thành phố, trẻ em phải làm việc giúp gia đình cũng hạn chế điều kiện học tập.
Ngoài ra có những rào cản mang tính văn hóa, xã hội cũng cản trở trẻ em đến trường: trẻ không muốn đi học

TRẺ EM NGOÀI NHÀ TRƯỜNG
Nghiên cứu của Việt Nam

19


do bản thân trẻ hoặc phụ huynh không nhận thức được giá trị của giáo dục; do học quá tuổi nên xấu hổ, mặc
cảm; kết quả học tập kém ở trường có thể dẫn tới việc học sinh mất tự tin và sau đó bỏ học. Phụ huynh cho
con em đi học, nhưng vì quan niệm dựa dẫm vào nhà trường, mải làm ăn, không biết chữ nên không theo
dõi, kèm cặp mà khoán trắng việc học cho con cái nên kết quả học tập kém, dẫn đến bỏ học; tình trạng sức
khỏe kém, đặc biệt trẻ khuyết tật.
Đối với nhà trường:
Tiến độ xây mới và mở rộng Cơ sở trường, lớp ở Thành phố Hồ Chí Minh vẫn chưa bắt kịp với tốc độ phát
triển ngành hiện nay do đó việc đảm bảo chỗ học cho mọi đối tượng là thách thức và khó khăn rất lớn đối với
ngành giáo dục - đào tạo thành phố. Còn thiếu phòng học, nhất là cho học 2 buổi/ngày, trường mầm non
cho khu công nghiệp, khu chế xuất. Chất lượng xuống cấp của cơ sở vật chất, ngay cả ở quận trung tâm.
Đối với giáo viên:
Thành phố Hồ Chí Minh thiếu giáo viên mầm non theo quy định của Bộ (2 cô/30 cháu) thực tế 2 cô phải dạy
45 cháu. Ở tiểu học và trung học cơ sở, giáo viên cũng phải dạy lớp đông học sinh do quy mô học sinh phát
triển nhanh, làm nhiều giờ (chấm bài…) ảnh hưởng đến chất lượng dạy học của một số giáo viên, hạn chế
thời gian đầu tư cho từng trẻ, đặc biệt trẻ học khó. Việc làm nhiều giờ hơn nhưng các định mức chính sách
hỗ trợ đã lạc hậu, chưa được điều chỉnh kịp thời, chưa tương xứng với những thay đổi của kinh tế xã hội cũng
ảnh hưởng đến tâm huyết của giáo viên.
Đối với công tác quản lý:
Ở Thành phố Hồ Chí Minh, tình trạng quy mô dân số phát triển nhanh đặt ra nhiều thách thức đối với công
tác giáo dục thành phố, trong việc bảo đảm công bằng giáo dục cho mọi trẻ em, đặc biệt là trẻ em di cư có
hoàn cảnh khó khăn.

Việc giao quyền tự chủ chưa thực chất, còn hình thức, hiệu trưởng chưa có quyền tự chủ. Một số nơi năng lực
của hiệu trưởng còn hạn chế. Còn bệnh thành tích, chạy theo tỷ lệ lên lớp, tốt nghiệp, xếp loại. Ở một số nơi
sự phối hợp giữa nhà trường và cấp ủy, chính quyền, ban ngành địa phương và tổ chức đoàn thể các cấp để
huy động trẻ em đến trường còn hạn chế và hiệu quả chưa cao.
Đối với các chính sách:
Nói chung chính sách đãi ngộ cho giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục chưa theo kịp đòi hỏi thực tế của
thành phố nên có ảnh hưởng tiêu cục đến tính năng động và tâm huyết của họ. Việc dạy hòa nhập thực hiện
còn nhiều khó khăn.
Cơ chế phân bổ kinh phí của quận/huyện cho trường chưa đồng nhất. Có trường ở địa bàn khó khăn được
cân đối cao hơn, nhưng có nơi việc phân bổ cứng được thực hiện trên đầu học sinh nên còn gây khó khăn
cho việc thực hoạt động giáo dục. Ngân sách cho giáo dục chủ yếu dành cho con người nên phần ngân sách
cho các hoạt động khác rất hạn chế.
Trẻ khuyết tật học trường chuyên biệt tư thục chưa được hưởng các chế độ chính sách hỗ trợ như cho trường
công lập, đây là một thiệt thòi cho việc học tập của trẻ.
Đối với hệ thống giáo dục:
Chương trình tiểu học nặng nhất ở lớp 4, chương trình THCS nặng nhất ở lớp 6, còn chương trình THPT nặng
nhất là lớp 10; học sinh phải học nhiều và ít điều kiện vui chơi giải trí, tạo hưng phấn học tập. Ngoài giờ học
ở trường nhiều học sinh ở thành phố còn học thêm, với nhu cầu tăng cường bổ sung kiến thức nên áp lực
học tập lớn.
Thiếu các số liệu về các nhóm đối tượng đặc biệt: ví dụ chia theo giới, TENNT phục vụ công tác quản lý. Số
liệu điều tra phổ cập chưa được sử dụng nhiều trong công tác kế hoạch. Vấn đề lệch số liệu của ngành Giáo
dục và Thống kê về độ tuổi dân số còn chưa được giải quyết, gây sự không thống nhất trong sử dụng và công
bố số liệu thống kê.

20

TRẺ EM NGOÀI NHÀ TRƯỜNG
Nghiên cứu của Việt Nam



8. Khuyến nghị
Các khuyến nghị dưới đây được nêu ra dựa trên quá trình tham vấn ở các cấp tại Thành phố Hồ Chí Minh,
gồm các khuyến nghị liên quan đến phía có nhu cầu giáo dục và phía cung cấp giáo dục, cũng như về mặt
chủ trương chính sách nhằm giải quyết một số rào cản nêu trên và thúc đẩy bình đẳng giáo dục tại Thành
phố Hồ Chí Minh trong đó bảo đảm quyền đi học của trẻ em ngoài nhà trường.
Đối với trẻ em và phụ huynh:
• Nâng cao nhận thức cho trẻ em và các bậc phụ huynh về giá trị của giáo dục.
• Tạo việc làm và tăng thu nhập, giảm nghèo và các hỗ trợ học tập là biện pháp then chốt và căn cơ để
giảm TENNT.
Đối với giáo viên:
• Có quy hoạch trước mắt và lâu dài để khắc phục tình trạng thừa và thiếu giáo viên, đặc biệt là khi chuẩn
bị đổi mới chương trình và sách giáo khoa năm 2015.
• Tiếp tục đẩy mạnh đổi mới phương pháp dạy học, xây dựng trường học thân thiện để thực sự “mỗi ngày
đến trường là một ngày vui”.
Đối với nhà trường:
• Tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất, đặc biệt cho cấp học mầm non và có kế hoạch phát triển trường, lớp học
để đảm bảo dạy 2 buổi/ngày; từng bước tăng cường cơ sở vật chất cho trẻ khuyết tật.
Đối với công tác quản lý:
• Kiên quyết khắc phục bệnh thành tích.
• Tiếp tục chỉ đạo mở rộng quy mô trường lớp (kể cả huy động xã hội hóa từ doanh nghiệp, cá nhân…) để
đáp ứng quy mô học sinh độ tuổi tăng nhanh.
• Tăng cường công tác xây dựng xã hội học tập, công tác phối hợp giữa Phòng Giáo dục và Đào tạo quận,
huyện với Trung tâm Giáo dục thường xuyên quận, huyện trong việc điều tra, thống kê, vận động trẻ em.
• Đề xuất với Thành phố về thực trạng TENNT để có giải pháp tổng thể, trong đó cần có sự phối hợp với
cơ quan Lao động, Thương binh và Xã hội, cũng như các ban ngành đoàn thể, chính quyền địa phương.
Đưa TENNT vào công tác lập kế hoạch và quản lý.
Đối với các chính sách:
• Đối với cấp Mầm non, nên tính lương giáo viên theo sĩ số thực tế của lớp dạy; cần có định biên cho chức
danh bảo mẫu vì hiện nay giáo viên mầm non đang kiêm luôn công việc của bảo mẫu; có chính sách hỗ
trợ tiền ăn trưa cho trẻ 5 tuổi cho cả đối tượng học ngoài công lập.

• Đối với cấp Tiểu học, hiện nay tỷ lệ giáo viên tiểu học của trường dạy 2 buổi/ngày chỉ có 1,1 nên đề nghị
cấp bù kinh phí theo tỷ lệ 1,5 giáo viên/lớp. Sĩ số học sinh tiểu học/lớp theo Điều lệ trường chỉ có 35 học
sinh/lớp. Tuy nhiên thực tế, do áp lực học sinh đông nên có nhiều lớp sĩ số cao hơn nhưng chưa có chế
độ hợp lý cho giáo viên dạy các lớp có học sinh đông.
• Đối với cấp Trung học, cần thực hiện chế độ phụ cấp chấm bài vì có một số môn giáo viên phải chấm bài
rất nhiều như môn văn, lịch sử, địa lý, công nghệ, giáo dục công dân; đồng thời có chính sách khuyến
khích giáo viên dạy giỏi.
• Có chính sách cụ thể, rõ ràng cho giáo viên dạy học sinh khuyết tật học hòa nhập.

TRẺ EM NGOÀI NHÀ TRƯỜNG
Nghiên cứu của Việt Nam

21


Đối với hệ thống giáo dục:
• Chính phủ cần có quyết sách về ngân sách cho giáo dục phù hợp hơn; cần xác định rõ hơn phần ngân
sách đầu tư cho giáo dục.
• Thực hiện chủ trương giảm tải chương trình một cách thực chất và hiệu quả để đảm bảo chất lượng học
tập của học sinh.
• Ngành Giáo dục và Thống kê phối hợp, thống nhất cách xử lý vấn đề chênh lệch số liệu về độ tuổi dân
số, để có thể nắm bắt dân số độ tuổi một cách kịp thời và chính xác. Nghiên cứu, hoàn thiện để sử dụng
hiệu quả số liệu điều tra phổ cập trong công tác thống kê, kế hoạch và quản lý, trong đó, nghiên cứu khả
năng thống kê về trẻ em ngoài nhà trường, trẻ em bỏ học. Công tác dự báo hiện đã thực hiện, tuy nhiên
cần đầu tư đúng mức và dự báo chuẩn xác hơn.
• Sự cạnh tranh, phân hóa trong cơ chế thị trường tăng thêm sự phân hóa giàu nghèo, tăng thêm sự cách
biệt, bất bình đẳng trong học tập giữa các nhóm dân cư, đặc biệt là nhóm trẻ em di cư và trẻ em dân tộc
thiểu số như phân tích ở trên. Vì vậy, việc tạo ra bình đẳng công bằng trong việc học tập của nhân dân là
khó khăn, cần có những chính sách vĩ mô và chỉ đạo quản lý để tạo bình đẳng trong cơ hội học.


9. Kết luận
• Theo nghiên cứu này, Thành phố Hồ Chí Minh đạt được những kết quả về giáo dục cao nhất trong 8 tỉnh
được chọn.
• Các khó khăn để giải quyết vấn đề TENNT của Thành phố Hồ Chí Minh gồm TENNT của các dân tộc thiểu
số, đặc biệt dân tộc Khmer và Chăm; của trẻ khuyết tật và đặc biệt là của trẻ di cư.
• Riêng đối với học sinh di cư cần có biện pháp phù hợp như công tác thống kê, lập kế hoạch để đáp ứng;
quản lý, phân phối nguồn lực.
• Để giải quyết vấn đề trẻ em ngoài nhà trường cần có sự phối hợp giữa ngành Giáo dục với ngành Lao
động, Thương binh và Xã hội, cũng như các ban ngành đoàn thể, chính quyền địa phương.

22

TRẺ EM NGOÀI NHÀ TRƯỜNG
Nghiên cứu của Việt Nam


Phụ lục số liệu
Bảng 2:

Dân số 5 – 14 tuổi của Thành phố Hồ Chí Minh
Đơn vị tính: Người


Các phân tổ

5 tuổi

6-10 tuổi

11-14 tuổi


Dân số

110.015

427.884

350.311

Các phân tổ

5 tuổi

6-10 tuổi

11-14 tuổi

Dân số

110.015

427.884

350.311

Tuổi

5

110.015


Giới tính

Thành thị/Nông
thôn

Dân tộc

6

93.368

7

88.209

8

94.203

9

82.051

10

70.052

11


85.156

12

86.122

13

89.015

14

90.018

Nam

56.701

224.074

183.301

Nữ

53.314

203.810

167.010


Thành thị

88.194

347.627

284.028

Nông thôn

21.821

80.257

66.282

Kinh

104.157

398.777

323.820

Tày

33*

116


235

Mường

63*

140

87*

TRẺ EM NGOÀI NHÀ TRƯỜNG
Nghiên cứu của Việt Nam

23


Tình trạng
khuyết tật

Di cư

Các phân tổ

5 tuổi

6-10 tuổi

11-14 tuổi

Dân số


110.015

427.884

350.311

Khmer

152

551

889

Hoa

5.536

27.888

24.783

Chăm

66*

257

246


Khác

7*

154

251

Khuyết tật

148

594

605

KT một phần

1476

6.215

8.879

Không KT

108.391

4210.75


340.826



13.890

48.997

40.163

Không

96.125

378.887

310.148

Ghi chú:
- Tuổi tính đến năm 2008
- Dấu * đánh dấu những phân tổ có số quan sát nhỏ hơn 50 hoặc lớn hơn 50 nhưng khá nhỏ và từ đó
nên thận trọng xem xét các kết luận mang tính suy rộng.

24

TRẺ EM NGOÀI NHÀ TRƯỜNG
Nghiên cứu của Việt Nam



Bảng 3:

Tỷ lệ trẻ em đi học độ tuổi 5 – 14 của Thành phố Hồ Chí Minh
Đơn vị tính: %
5 tuổi đi học
5 tuổi đi học

Tổng

Giới tính

Thành thị/
Nông thôn

Dân tộc

ANAR Tiểu
học

86,34

Độ tuổi

ANAR Tiểu
học

Độ tuổi THCS
học tiểu học

ANAR THCS

ANAR THCS

2,67

87,40

11

7,48

88,68

12

1,95

90,69

13

0,94

88,19

14

0,53

82,27


5

97,65

Độ tuổi THCS
học tiểu học

86,34

6

96,84

7

98,54

8

98,35

9

97,72

10

96,61

Nam


85,95

97,61

2,78

86,56

Nữ

86,76

97,71

2,56

88,32

Thành thị

86,24

97,82

2,78

88,52

Nông thôn


86,76

96,95

2,21

82,62

Kinh

86,57

97,73

2,60

87,61

0

100,00

0,00

68,16

Mường

85,00


93,31

0,00

100,00

Khơ Me

54,09

67,36

9,66

15,89

Hoa

82,92

97,26

3,13

88,23

Chăm

77,31


89,06

33,00

43,21

Tày

TRẺ EM NGOÀI NHÀ TRƯỜNG
Nghiên cứu của Việt Nam

25


×