BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI
......................... .........................
LÊ VĂN TRỌNG
CHUYỂN HÓA SINH LÝ HÓA SINH THEO TUỔI PHÁT
TRIỂN CỦA QUẢ CAM (Citrus sinensis Linn.Osbeck)
SÔNG CON TRỒNG TẠI YÊN ĐỊNH – THANH HÓA
Chuyên ngành: Sinh học thực nghiệm (Sinh lý học thực vật)
Mã số
: 60.42.30
LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
GS.TS. Nguyễn Nhƣ Khanh
HÀ NỘI, 2011
PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Cam là một loại cây ăn trái thuộc họ Rutaceae, chi Citrus. Cam bắt
nguồn từ Đông Nam Á, hoặc Nam Á có thể từ Ấn Độ, hay miền nam Trung
Quốc, trong đó có một vài loài hiện diện từ đông bắc Ấn Độ đến Mianma
và trải dài tới phía nam đảo Hải Nam. Tanaka (1979) đã vạch đường ranh
giới vùng xuất xứ của các giống thuộc chi Citrus từ phía đông Ấn Độ (chân
dãy Hymalaya) qua Úc, miền nam Trung Quốc, Nhật Bản [18].
Cam được trồng khá phổ biến trong các vùng có khí hậu nhiệt đới và
á nhiệt đới, nơi có đất đai thích hợp và không quá lạnh. Vùng trồng chính
hiện nay là á nhiệt đới với vĩ độ cao hơn 20 – 35o nam hay bắc của xích
đạo. Hiện có khoảng 1,6 triệu hecta diện tích đất trồng cam quýt thuộc 49
nước trên thế giới. Năm 1977 sản lượng cam quýt trên thế giới đạt khoảng
50 triệu tấn, trong đó cam chiếm 2/3 tổng sản lượng. Ở Việt Nam có nhiều
giống cam được trồng phổ biến như: cam mật, cam dây, cam Xã Đoài, cam
Sông con, cam Hamlin, cam Valencia, cam sành....
Cam có quả nhỏ hơn quả bưởi và thường có dạng hình cầu, vỏ mỏng,
khi chín thường có màu da cam, có vị ngọt hoặc hơi chua, chứa nhiều chất
dinh dưỡng. Trái giàu vitamin, nhất là vitamin C. Cam thường lột vỏ và ăn
lúc còn tươi hay vắt lấy nước uống. Vỏ cam dày có vị đắng có thể chế biến
thành thức ăn cho súc vật bằng cách rút nước bằng sức ép và hơi nóng, nó
cũng được dùng làm gia vị hay đồ trang trí trong một số món ăn. Lớp ngoài
cùng của vỏ có thể được dùng làm “zest” để thêm hương vị cam vào thức
ăn. Dầu cam được chế biến bằng cách ép vỏ, nó được dùng làm gia vị trong
thực phẩm và làm hương vị trong nước hoa. Dầu cam có khoảng 90% d –
Limonene, một dung môi dùng trong nhiều hóa chất dùng trong gia đình,
1
cùng với dầu chanh dùng để làm chất tẩy dầu mỡ và chất tẩy rửa nói chung.
Chất tẩy rửa từ tinh chất cam hiệu quả, thân thiện với môi trường và ít độc
hại hơn sản phẩm chưng cất từ dầu mỏ, đồng thời có mùi dễ chịu hơn.
Giống cam Sông con là giống cam mang tên con sông vùng xứ nghệ,
giống cam này được tạo ra bằng phương pháp chọn lọc từ một giống nhập
nội, có thể là do dạng đột biến mầm của cam Washington Navel. Cây sinh
trưởng khoẻ, tán hình cầu, phân cành nhiều, cành ngắn và tập trung. Giống
cam này có lá bầu, gân phía lưng nỗi rõ, hoa màu xanh bóng, có phản
quang, hoa bất dục đực 50%. Khối lượng quả trung bình đạt 200 – 220g,
quả có dạng hình cầu mọng nước, vỏ quả mỏng, ít hạt, ngọt đậm và thơm.
Cây ghép sau 3 năm cho quả, sau 4 năm có thể đưa vào kinh doanh khai
thác. Cây chiết hoặc giâm cành sau 3 năm cho quả. Giống cam Sông con
cho năng suất trung bình, có khả năng chống chịu được một số sâu bệnh và
có tính thích ứng rộng nên đã được trồng ở nhiều vùng như trung du, đồi
núi, ven biển và đồng bằng. Cam Sông con được trồng phổ biến khắp các
vùng trong nước, hiện nay được trồng nhiều ở Nghĩa Đàn (Nghệ An), Hoà
Bình, Bắc Giang [17].
Cam là một cây lai được trồng từ xưa có thể lai giống với loài bưởi
hay quýt. Hiện nay giống cam Sông con đã lai ghép với một số giống bưởi
và giống quýt khác nhau và cũng đem lại năng suất khá cao.
Tại tỉnh Thanh Hoá, giống cam Sông con được trồng ở nhiều vùng,
huyện. Huyện Yên Định là một địa điểm có nhiều nơi trồng giống cam này,
ở đây các giống cam được ghép với giống bưởi (Citrus maxima) và giống
quýt (Citrus reticulata) cũng được trồng tương đối phổ biến và đem lại
năng suất cao.
Trên thế giới và Việt Nam hiện nay cũng có nhiều công trình nghiên
cứu về quả cam nhưng chưa có công trình về nghiên cứu về sự biến đổi
2
sinh lý hoá sinh theo tuổi phát triển của quả cam, giống cam Sông con ghép
trên gốc bưởi. Mặt khác để đánh giá chỉ tiêu sinh lý, hóa sinh của quả cam
Sông con ghép trên gốc bưởi chúng tôi đã lựa chọn và nghiên cứu đề tài:
“Chuyển hóa sinh lý, hóa sinh theo tuổi phát triển của quả cam (Citrus
sinensis Linn.Osbeck) Sông con trồng tại Yên Định - Thanh Hóa”
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
- Nghiên cứu động thái một số chỉ tiêu sinh lý, hóa sinh theo tiến
trình sinh trưởng, phát triển của quả cam, bổ sung kiến thức sinh lý, hóa
sinh về quá trình chín của quả.
- Dựa trên các kết quả về động thái để xác định thời điểm chín sinh
lý của quả (thời điểm kết thúc các quá trình sinh trưởng và đã tích lũy dinh
dưỡng của quả, lúc này phẩm chất quả tốt nhất). Trên cơ sở đó tìm ra thời
điểm thu hái quả thích hợp, góp phần nâng cao năng suất và đảm bảo phẩm
chất của quả qua thời gian lưu thông và bảo quản đến người tiêu dùng.
3. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
3.1. Ý nghĩa khoa học của đề tài
Đề tài nghiên cứu động thái một số chỉ tiêu sinh lý, hoá sinh của quả
cam Sông con theo tuổi phát triển, góp phần bổ sung kiến thức về sinh học
phát triển của quả có múi ở Việt Nam.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Xác định thời điểm chín sinh lý của quả cam phục vụ cho việc chọn
thời điểm thu hái thích hợp nhất đảm bảo được phẩm chất của quả qua quá
trình bảo quản và lưu thông hàng hóa.
3
PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tổng quan về cây cam
1.1.1. Nguồn gốc và phân loại cam quýt
1.1.1.1. Nguồn gốc
Cam bắt nguồn từ Đông Nam Á, hoặc Nam Á có thể từ Ấn Độ, hay
miền nam Trung Quốc, trong đó có một vài loài hiện diện từ đông bắc Ấn
Độ đến Myanma và trải dài tới phía nam đảo Hải Nam. Tanaka (1979) đã
vạch đường ranh giới vùng xuất xứ của các giống thuộc chi Citrus từ phía
đông Ấn Độ (chân dãy Hymalaya) qua Úc, miền nam Trung Quốc, Nhật
Bản [18].
Theo Trần Thế Tục, nghề trồng cam quýt ở Trung Quốc đã có từ
3000 đến 4000 năm trước. Hàn Ngạn Trực đời Tống trong “Quýt lục” đã
ghi chép về phân loại các giống ở Trung Quốc, điều này cũng khẳng định
thêm về nguồn gốc các giống cam chanh (Citrus sinensis Osbeck) và các
giống quýt ở Trung Quốc theo đường ranh giới gấp khúc Tanaka [18].
Nhiều tác giả cho rằng nguồn gốc quýt King (Citrus nobilis Lour) và
quất là ở miền Nam Việt Nam xứ Đông Dương. Quả thực ở Việt Nam địa
phương nào cũng trồng cam sành với rất nhiều giống, hình dạng cùng với
các tên địa phương khác nhau mà không nơi nào trên thế giới có: cam sành
Bố Hạ; canh sành Hàm Yên, Yên Bái; cam sen Yên Bái, cam sen Đình Cả Bắc Sơn, cam bù Hà Tĩnh...[18].
1.1.1.2. Phân loại
Hệ thống phân loại cam quýt rất phức tạp do vòng di thực và khả
năng thích ứng rộng, ngày càng có nhiều các dạng lai tự nhiên, các đột biến
4
tự nhiên và quá trình chọn giống nhân tạo đã tạo nên nhiều giống mới, loài
mới [18].
Cam, quýt, chanh, bưởi... đều thuộc họ cam (Rutaceae) họ phụ cam
quýt Aurantoideae, có gần 250 loài (Varonxôp, Steiman,1982). Hệ thống
phân loại đầu tiên của Liné (1753) đến nay đã được nhiều tác giả bổ sung,
điều chỉnh trên căn bản thống nhất với hệ thống phân loại của Swingle
(1915, 1948, 1967) như sơ đồ 1.1 (phụ lục) [18].
Họ phụ Aurantoideae được chia thành hai tộc chính là Clauseneae
(1) và Citreae (2). Tộc 2 được chia thành ba tộc phụ, trong đó tộc phụ thứ 2
- Citrineae bao gồm phần lớn các loài và giống cam quýt nhà trồng hiện
nay. Citrineae được chia thành ba nhóm A, B, C. Nhóm C được chia thành
6 chi phụ (subgenus): Fortunella, Eremocitrus, Poncirus, Clymenia,
Microcitrus và Citrus.
Chi Forrunella có 4 loài chính, có nguồn gốc và vùng phân bố chính
từ nam Trung Quốc đến Đông Dương, Malayxia (T.Jones, 1990) [18].
Chi Poncirus chỉ có một loài: Poncirus trifoliata có nguồn gốc từ
nam Trung Quốc, lá chia ba thuỳ, vỏ và thịt quả có nhiều dầu đắng. Ở nước
ta có nhiều giống cam quýt có nguồn gốc lai với poncirus. Poncirus thường
được dùng làm gốc ghép cho các giống cam quýt ở các vùng á nhiệt đới từ
vĩ độ 28 – 40o vĩ độ nam và bắc bán cầu.
Chi Citrus được chia thành hai chi phụ là Eucitrus và Papeda.
Papeda có 6 loài, quan trọng nhất là Citrus Ichangensis được sử dụng làm
gốc ghép và lai tạo giống mới.
9 loài quan trọng nhất của cam quýt bao gồm: quýt (Citrus reticulata
Blanco); bưởi chua (Citrus maxima); cam ngọt (Citrus sinensis Osbeck);
chanh (Citrus limoniae Osbeck, Reisa Ostind) [12]; Laime (Citrus
aurantifolia Swingle); Tahiti laime (Citrus latifolia); cam chua (Citrus
5
aurantium); bưởi chùm (Citrus paradishi Macfe) và chanh yên (Citrus
medica) [18].
1.1.2. Đặc điểm sinh học
Một đời cây cam có thể chia thành các thời kì sau:
- Thời kì cây non là thời kì kiến thiết cơ bản: tính từ khi trồng đến
khi bắt đầu thu hoạch quả.
- Thời kì mới thu hoạch: là những năm đầu mới thu hoạch quả.
- Thời kì cho sản lượng cao: cây đã ổn định về sinh trưởng và cho
năng suất thu hoạch cao.
- Thời kì suy yếu và tàn lụi.
Thời gian của mỗi thời kì dài hay ngắn tuỳ thuộc vào các điều kiện
thời tiết, khí hậu, đất đai, kỹ thuật thâm canh, giống và giống gốc ghép.
Ở nước ta các giống cam nhanh chóng bước vào thời gian kinh
doanh khai thác hơn ở các vùng khác trên thế giới, nhưng tuổi thọ thường
ngắn hơn. Ở điều kiện nước ta, một năm cây cam có thể cho từ 3 - 4 đợt
lộc:
- Lộc xuân: từ cuối tháng 2 đến đầu thàng 3 và có thể sớm hơn.
Nhiều năm từ đầu tháng 1 đã có lộc xuân và nụ hoa thấy rõ. Ở các tỉnh phía
Bắc, 50 - 60% lộc xuân cây cam là cành hoa, cành quả (tỷ lệ này thay đổi
tuỳ theo giống).
- Lộc hè: từ cuối tháng 5 đến tháng 7. Lộc hè bắt đầu sớm hay muộn,
nhiều hay ít là tuỳ thuộc vào giống và điều kiện thời tiết từng năm.
- Lộc thu: từ tháng 8 đến tháng 9.
Hai đợt lộc hè và lộc thu chủ yếu hình thành các cành sinh dưỡng và
cành quả. Người ta có thể nhìn vào lộc hè và lộc thu mà dự đoán năng suất
của năm sau. Có thể dùng kỹ thuật bón phân, tưới nước để xúc tiến mạnh
số lượng cũng như chất lượng của các loại cành này [18].
6
1.1.2.1. Rễ cam
Các giống cam thường trồng bằng hạt có một rễ cái và nhiều rễ
nhánh, từ rễ nhánh mọc ra các rễ lông yếu ớt. Nếu đất tơi xốp và thoát nước
tốt rễ có thể mọc sâu trên 4m [16].
Rễ cam thuộc loại rễ nấm (Micorhiza). Nấm Micorhiza kí sinh trên
lớp biểu bì của rễ hút, cung cấp nước, muối khoáng và một lượng nhỏ các
chất hữu cơ cho cây. Vai trò của Micorhiza như những lông hút ở các cây
trồng và thực vật khác. Cũng do đặc điểm này nên cam không ưa trồng sâu
và do đó bộ rễ cam phân bố rất nông và phát triển mạnh chủ yếu là rễ bất
định, phân bố tương đối rộng và dày đặc ở tầng đất mặt.
Sự phân bố các tầng rễ cam tuỳ thuộc vào từng loại đất: độ dày tầng
đất mặt, thành phần hoá học và mực nước ngầm, đặc biệt là các biện pháp
kỹ thuật canh tác như làm đất, bón phân và hình thức nhân giống, giống
gốc ghép và giống cây trồng. Các cây cam nhân giống bằng hạt và ghép lên
gốc ghép gieo hạt có bộ rễ ăn sâu nhưng phân bố hẹp và ít rễ hút. Cây chiết
và cây giâm cành có bộ rễ ăn nông nhưng nhiều rễ hút, phân bố rộng và tự
điều tiết được tầng sâu phân bố theo sự thay đổi của điều kiện sinh thái đặc
biệt là mực nước ngầm.
Sự phát triển của rễ thường xen kẽ với sự phát triển của thân cành
trên mặt đất. Khi rễ hoạt động mạnh, các rễ lông phát triển thì thân cành sẽ
hoạt động chậm và ngược lại. Sự hoạt động của bộ rễ thường kéo dài sau
các đợt cành mọc rộ, do đó việc bón phân vào giai đoạn cành phát triển đầy
đủ sẽ có tác dụng cung cấp tốt dinh dưỡng cho cây [18].
Đất vùng đồng bằng sông Cửu long thường là đất thấp, do đó các
giống cam quýt trồng bằng hạt hay gốc thấp có rễ mọc sâu thường dễ bị
ảnh hưởng do mực nước ngầm cạn làm rễ cây bị suy yếu. Ngược lại, các
cây chiết hay giâm cành thường có rễ ăn cạn hơn nên ít bị ảnh hưởng.
7
Các cây ghép trên gốc ghép chấp Thái Bình, gốc bưởi chùm và bưởi
chua, gốc cam chua Hải Dương, cam voi Quảng Bình và cam chua Đạo Sử
có bộ rễ ăn sâu hơn. Ghép trên các gốc ghép là quýt Cleoparte, chanh sần,
chanh ta và chanh Eureka có bộ rễ ăn nông hơn, nhưng rộng hơn và nhiều
rễ hút hơn [18].
Giống cam trồng trên đất Phủ Quỳ (phù sa cổ và bazan) có bộ rễ
phân bố sâu hơn ở các vùng đất khác (Trần Thế Tục, 1980 - 1984) [18].
Nhìn chung rễ cam phân bố ở tầng sâu từ 10 – 30cm. Rễ hút tập
trung ở tầng sâu 10 – 25cm. Rễ hoạt động mạnh ở thời kỳ 1 – 8 năm tuổi
sau khi trồng, sau đó suy giảm nhiều và tái sinh kém. Ở nước ta từ tháng 2
đến tháng 9 dương lịch rễ cam sinh trưởng và hấp thu dinh dưỡng mạnh
nhất [18].
1.1.2.2. Thân và cành cây cam
Cây cam thuộc dạng thân gỗ, dạng bụi hay nửa bụi. Một cây trưởng
thành có thể có 4 – 6 cành chính. Nếu không chú ý tạo tán ngay từ đầu thì
cam sẽ rất ít khi có thân chính. Tuỳ theo tuổi cây và điều kiện sống, hình
thức nhân giống cây có thể có chiều cao và hình thái khác nhau. Ví dụ như:
Cam sành Lạng Sơn 25 tuổi cao 17cm, cây phân cành hướng ngọn, tán hình
chổi sể và phân cành thưa; Cam Vân Du 9 năm tuổi trồng ở Nghệ An, Hà
Tĩnh có chiều cao 4,82m, đường kính tán 4,28m, đường kính gốc 16cm, tán
hình trụ hoặc hình cầu, phân cành nhiều [18].
Ở hai huyện Phủ Quỳ và Hương Sơn - Hà Tĩnh, một số giống cam
ghép trên gốc bưởi chua có đặc điểm sinh trưởng về thân và cành rất khác
nhau:
8
Bảng 2.1. Sinh trưởng của một số giống cam ở Phủ Quỳ và Hương Sơn Hà Tĩnh ghép trên gốc bưởi chua
TT Nơi trồng
Tên giống
Tuổi
Chiều
Đường
Đường kính
cây
cao cây
kính
thân tại gốc
(năm)
(m)
tán (m)
(cm)
1
Phủ Quỳ
Cam Vân Du
9
4,82
4,28
16,24
2
Phủ Quỳ
Cam Xã Đoài
9
3,53
4,18
12,45
3
Phủ Quỳ
Cam Sông Con
9
3,76
3,45
12,25
4
Phủ Quỳ
Cam Hamlin
9
4,84
3,79
11,10
5
Phủ Quỳ
Orlidar
9
4,74
3,96
11,57
Cam Bù CB1
11
3,28
3,75
12,70
Cam Bù CB2
11
3,60
3,80
13,70
Valencia
6
Hương
Sơn
7
Hương
Sơn
Hình thái tán cây cam rất đa dạng: có loại tán rộng, có loại tán thưa,
phân cành hướng ngọn hoặc phân cành ngang; tán hình tròn, hình cầu, hình
tháp hoặc hình chổi sể. Cành có thể có gai hoặc không có gai, cũng có thể
có gai khi còn non và rụng gai khi cây đã lớn, già. Một số giống loài không
có gai nhưng khi nhân giống bằng hạt lại xuất hiện rất nhiều gai trên thân
và cành, nhưng càng ở cấp cành cao thì càng ít gai và gai ngắn [18].
9
Trong một năm cây có thể cho 3 - 4 đợt cành. Tuỳ theo chức năng
của cành trên cây thì trên cây cam có các loại cành chủ yếu sau:
- Cành mẹ: Là những cành tạo ra cành cho trái, thường phát triển
mạnh trong mùa hè và mùa thu. Cành to khoẻ, lâu tròn mình. Cần nắm
vững thời vụ ra cành mẹ để có biện pháp bồi dưỡng tích cực giúp cây tạo
được nhiều cành cho trái hơn trong mùa xuân.
- Cành dinh dưỡng: Chỉ chung tất cả các loại cành trong giai đoạn
chưa ra hoa, trái, thường mọc ra ở các mùa trong năm.
- Cành vượt: Là loại cành mọc thẳng lên trong tán cây từ những cành
chính hay thân. Cành mọc trong mùa hè, phát triển mạnh, dẹp, màu xanh, lá
to bóng láng, đôi khi có gai dài. Loại cành này khi phát triển thường sử
dụng nhiều chất dinh dưỡng của cây mà không ích lợi nhiều, chúng lại là
nơi sâu bệnh thích tấn công. Do đó khi cây còn non có thể giữ lại cành vượt
để tạo khung tán, nhưng khi cây đã trưởng thành thì nên cắt bỏ.
- Cành mang hoa: Được chia thành các loại sau:
+ Nhóm hoa đơn thường chỉ ra một hoa ở đầu cành quả:
Cành đơn có nhiều lá và một hoa là những cành có khả năng đậu quả
cao. Những cây được chăm bón đầy đủ thường có nhiều loại cành này.
Cành quả không có lá, thường có nhiều cành quả mọc trên nhiều cành mẹ,
cuống hoa ngắn nên hay lẫn với nhóm hoa chùm.
+ Nhóm hoa chùm: Trên cành, ở mỗi nách lá có một hoa và trên
ngọn cành có một hoa. Thông thường có từ 3 - 7 hoa trên một cành, mỗi
cành đậu từ 1 - 2 quả. Có một số cành hoa không có lá. Một chùm có tới 4 5 hoa, loại này có tỉ lệ đậu quả thấp. Có thể có những cành hoa chùm, trên
ngọn có một hoa, mỗi nách lá có một hoa trong đó có một số lá phát triển
không đầy đủ, chỉ ở dạng hình vảy, loại này có tỉ lệ đậu quả tốt hơn. Trong
nhóm hoa chùm thì hoa ở trên nở trước, hoa ở dưới nở sau.
10
- Cành cho trái: Là những cành mang trái, thường ra trong mùa xuân.
Cành ngắn nhỏ, nhanh tròn mình, dài trung bình 3 - 9 cm, trên cành có lá
hoặc vết lá. Cành cho trái mọc từ những cành mẹ. Những cành mọc ở ngọn
hay gần ngọn cành mẹ là những cành đậu trái tốt so với các cành mọc bên
trong. Vì phải tập trung chất dinh dưỡng để nuôi trái nên thường cành cho
trái không tiếp tục cho ra những cành mới, sau khi thu hoạch thường héo
khô đi [16].
1.1.2.3. Lá cam
Lá cam thuộc loại lá đơn gồm cuống, cánh và phiến lá. Phần phiến lá
có kích thước thay đổi tuỳ từng giống, trên mép lá thường có răng cưa. Lá
cam có hình dạng rất khác nhau như hình ovan, hình trứng lộn ngược, hình
thoi, có eo lá hoặc không có, eo lá to hoặc nhỏ.
Cây cam trưởng thành thường có từ 150.000 - 200.000 lá, tổng diện
tích khoảng 200 m2. Tuổi thọ của lá cam từ 2 - 3 năm tuỳ theo vùng sinh
thái, vị trí lá và tình trạng sinh trưởng của cây và cành mang lá, vị trí của
cấp cành. Trên mặt lá có từ 400 - 500 khí khổng trên 1mm2. Lá cam còn
chứa các túi tinh dầu [18].
1.1.2.4. Hoa cam
Hoa cam thuộc loại hoa đơn hay chùm mọc từ nách lá. Hoa thường
mọc trong mùa xuân, nhưng nếu gặp hạn kéo dài và sau đó có mưa hay tưới
nước thì cây cũng ra hoa rộ [16].
Hoa hình thuôn tròn, đường kính 2,5 - 4 cm, thơm và thường là hoa
lưỡng tính. Hoa cam có hai loại là hoa đủ và hoa dị hình.
Hoa đủ có cánh dài màu trắng mẫu 5, mọc thành chùm hoặc đơn độc.
Nhị hoa có thể có phấn hoặc không có phấn, số nhị thường gấp 4 lần số
cánh hoa xếp thành hai vòng, nhị hợp. Bầu thường có 10 - 14 ô. Đa số các
loài hoa có mùi thơm hấp dẫn. Các loài trong chi Citrus có hoa quả đậu
11
trên cành một năm, ít khi ra trên cành năm trước. Quả có từ 8 – 14 múi, có
thể có từ 0 – 20 hạt hoặc nhiều hơn.
Hoa dị hình là hoa phát triển không đầy đủ, cuống và cánh ngắn có
hình dạng khác hẳn so với hoa đủ và có số lượng ít hơn (10 – 20%).
Mầm hoa thường bắt đầu hình thành từ sau khi thu hoạch trái đến
trước lúc mọc cành mùa xuân, nhưng cũng thay đổi tuỳ vào điều kiện thời
tiết. Thông thường cây phân hoá hoa từ tháng 11 dương lịch đến đầu tháng
2 dương lịch năm sau.
Hầu hết các loài cam đều tự thụ phấn nhưng cũng có thể thụ phấn
chéo hay không qua thụ phấn như cam Washington Navel. Thời gian từ khi
ra hoa đến khi hoa tàn thay đổi tuỳ từng giống và điều kiện khí hậu, trung
bình là một tháng [18].
1.1.2.5. Quả cam
Quả cam gồm 3 phần: Ngoại, trung và nội quả bì.
- Ngoại quả bì: Là phần vỏ ngoài của quả gồm biểu bì với lớp cutin
dày, lớp nhu mô, các túi tinh dầu và các khí khổng. Vỏ quả màu xanh và có
khả năng quang hợp khi đang còn xanh. Khi quả chín, màu sắc vỏ quả thay
đổi tuỳ theo giống và loài cùng với các điều kiện sinh thái. Thông thường
vỏ quả màu vàng da cam ở các giống chín sớm (khi có nhiệt độ cao), màu
đỏ da cam ở các giống chín muộn. Cũng có loại vỏ có màu xanh hơi có vệt
vàng như các giống trồng ở vùng nhiệt đới điển hình như miền Nam nước
ta.
- Trung quả bì: Là phần vỏ trong nằm kế ngoại bì. Đây là các lớp tế
bào có màu trắng đôi khi vàng nhạt hay hồng nhạt, dày hay mỏng tuỳ từng
loài. Vỏ trong chứa nhiều đường bột, vitamin C và pectin.
12
- Nội quả bì: Là các múi trái được bao quanh bởi vách mỏng. Trong
múi có nhiều “con tép” chiếm đầy múi, chỉ có ít khoảng trống cho hạt. Tép
múi chứa đầy dịch trái gồm đường và axit hữu cơ (chủ yếu là axit xitric).
Khi trái chín lượng axit giảm dần, lượng đường và chất thơm tăng lên. Tỷ
lệ đường và axit thay đổi tuỳ từng loài cây và điều kiện canh tác.
Ở các loài cam, thời gian chín của quả thay đổi từ 7 – 14 tháng kể từ
khi thụ phấn. Thông thường cây có thể cho nhiều hoa nhưng chỉ một tỷ lệ
nhỏ là có thể đậu quả. Hoa và quả non có thể bị rụng (thời kì này có thể kéo
dài đến 10 – 12 tuần sau khi nở hoa) [16].
1.1.2.6. Hạt cam
Ngoại trừ bưởi và các giống lai của bưởi có hạt đơn phôi, hầu hết các
loài cam quýt đều có hạt đa phôi: từ 0 – 13 phôi (cho nhiều cây con mọc từ
mỗi hạt). Các phôi hữu tính hình thành do thụ tinh. Khoảng 6 phôi vô tính
phát triển từ tế bào sinh dưỡng của phôi tâm và vì vậy cây con rất giống
cây mẹ. Cây mọc ra từ phôi hữu tính thường yếu ớt, dễ chết. Tuy nhiên, sự
thụ phấn cũng cần thiết để phát triển phôi vô tính [16].
1.1.3. Đặc điểm sinh thái của cây cam
1.1.3.1. Nhiệt độ
Cây cam có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới nóng ẩm (Trung Quốc, Ấn
Độ, Philippin, Đông Dương...), vì vậy về phương diện nhiệt độ cây cam có
phổ thích nghi tương đối rộng: 35o vĩ độ nam và bắc bán cầu, một số giống
có thể lên đến 41o vĩ độ bắc bán cầu.
Cây cam, bưởi ưa ấm nhưng cũng chịu được nhiệt độ thấp.
Đa số các giống có thể sinh trưởng được trong phạm vi nhiệt độ từ
12 - 39oC, cam sinh trưởng tốt trong phạm vi từ 23 - 29oC. Ở nhiệt độ thấp
-5oC một số giống có thể chịu đựng được nhưng trong thời gian rất ngắn,
cam Washington Navel bị hại khi nhiệt độ không khí từ -9oC xuống -11oC.
13
Những giống thích ứng với điều kiện nhiệt độ thấp thường có phẩm
vị ngon, hấp dẫn, quả đẹp. Những giống chịu nhiệt có phẩm chất kém hơn
[18].
1.1.3.2. Ánh sáng
Cây cam không ưa lượng ánh sáng cao. Kết quả nghiên cứu cho thấy
cường độ ánh sáng thích hợp khoảng từ 10000 – 15000 lux (tương đương
với ánh sáng khoảng 8 giờ sáng và 4 – 5 giờ chiều trong mùa nắng). Trong
các giống trồng thì bưởi tương đối chịu đựng được lượng ánh sáng cao, tiếp
đến là cam mật, quýt, cam sành.
1.1.3.3. Nƣớc
Nước là yếu tố sinh thái cần thiết cho sự sinh trưởng của cây, thiếu
nước ở giai đoạn nào cũng ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của
cây, do đó việc cung cấp đầy đủ nước và hợp lý cho cây trồng là điều kiện
quan trọng trong quá trình chăm sóc cây trồng.
Cam là loại cây cần lượng mưa thích hợp hàng năm từ 1000 –
1400mm và phân phối đều. Yêu cầu độ ẩm không khí khoảng 75%. Đối với
bưởi thì chúng có tính chịu hạn tương đối tốt.
Nước rất cần thiết cho cây cam trong thời kỳ ra hoa và quả. Cam
thường rất mẫn cảm với điều kiện ngập nước. Trong mùa mưa, nếu mực
nước ngầm trong đất cao và không thoát nước kịp, cây bị thối rễ, lá vàng úa
và cây chết.
1.1.3.4. Gió
Phần lớn các loài cam quýt có thể chịu được bão nhỏ trong thời gian
ngắn, mức độ chống chịu theo thứ tự: chanh ta, chanh tây, bưởi, cam ngọt,
quýt... Do đó, khi lập vườn cần bố trí trồng cây chắn gió giúp vườn điều
hoà được không khí, giảm đổ ngã và giúp cây thụ phấn tốt trong mùa hoa
nở.
14
1.1.3.5. Đất
Đất là nguồn cung cấp chất dinh dưỡng chính cho cây trồng, khi
trồng cây nên chú ý canh tác đất tạo điều kiện cho đất có khả năng cung
cấp đầy đủ chất dinh dưỡng cho cây.
Cam quýt có bộ rễ ăn cạn, các rễ lông mọc ra yếu nên khả năng hấp
thu chất dinh dưỡng thấp. Cây thích hợp nhất trên đất thịt pha, mầu mỡ,
thoát nước tốt, thoáng khí vì rễ cần lượng oxy trong đất cao, tầng canh tác
phải dày ít nhất 0,5m.
Độ pH tốt cho cam nằm trong khoảng 4 - 8, tốt nhất là từ 5,5 - 6,5.
Đặc biệt cây rất mẫn cảm với các loại muối [16].
Không nên trồng cam trên đất sét nặng, phèn, đất cát, đất có tầng
canh tác mỏng, mực nước ngầm cao.
1.2. Giá trị của quả cam
1.2.1. Giá trị dinh dƣỡng
Quả cam đem lại giá trị dinh dưỡng cao. Theo các nhà khoa học, cam
là một trong những loại trái cây có chứa tinh dầu mang mùi thơm và chứa
nhiều vitamin C, vitamin A, canxi và chất xơ... rất bổ dưỡng cho cơ thể.
Mỗi 100g quả cam có chứa 87,6g nước, 1.104 microgam caroten – một loại
vitamin chống oxy hoá, 30mg vitamin C, 10,9g chất tinh bột, 93mg kali,
26mg canxi, 9mg magie, 0,3g chất xơ, 4,5mg natri, 7mg Clo, 20mg
photpho, 0,32mg sắt và giá trị năng lượng là 48 Kcal [23].
1.2.2. Giá trị dƣợc liệu
Quả cam là loại quả được yêu thích và có lợi cho cả người khoẻ
mạnh cũng như bệnh nhân. Axit folic có trong cam giúp ngăn ngừa bệnh
tim mạch, phòng bệnh ung thư (đặc biệt là ung thư dạ dày và thanh quản)
vì chúng giàu chất chống oxy hoá và chất phytochemical.
15
Chất Limonoid trong cam giúp ngăn ngừa bệnh ung thư và có tác
dụng giải độc, lợi tiểu. Những người thường ăn cam, hoặc các loại quả có
họ hàng với cam như quýt, bưởi, chanh... có tỉ lệ nhiễm các bệnh ung thư
(phổi và dạ dày) khá thấp. Tuy nhiên những người bị rối loạn tiêu hoá
không nên ăn nhiều cam [27].
Nước cam chứa nhiều canxi và vitamin hơn cả các sản phẩm từ sữa.
Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học tại trường Đại học Texas A&M
(Mỹ) cho thấy, thường xuyên uống nước cam và nước bưởi có thể giúp
ngăn ngừa loãng xương và các chứng bệnh khác. Nước cam còn giảm nguy
cơ tăng huyết áp và đột quỵ [33].
Chất canxi tập trung nhiều trong vỏ cam. Vỏ cam còn có tác dụng
chữa bệnh ho có đờm và giã rượu rất hiệu quả. Để tận dụng được tối đa
lượng canxi có trong vỏ cam, nên ăn thêm vỏ cam cùng với nước cam hoặc
cam cắt miếng. Những người có nguy cơ bị nhồi máu cơ tim hoặc các bệnh
có liên quan đến tim mạch nên ăn cam, quýt, bưởi, chanh mỗi ngày. Các
loại quả trên rất giàu các hợp chất có tác dụng giảm tới 20 – 50%
cholesterol xấu trong máu.
Cùi cam chứa nhiều chất xenlulozơ hay còn gọi là chất xơ có giá trị
trong việc nhuận tràng, kích thích sự co bóp của ruột nên có tác dụng chống
táo bón và hình thành khuôn phân. Chất xơ trong cam có tác dụng hấp thu
lượng cholesterol hay chất béo có hại trong ruột [32].
Nước ép trái cam có thể sử dụng như một loại nước tẩy trang, làm
sạch da. Vỏ cam được dùng tẩy da chết, tinh dầu trong vỏ cam làm cho da
thêm mềm mại, lấy lại độ căng bóng do da hấp thụ được lượng tinh dầu
trong vỏ cam, từ đó nâng cao sức đề kháng cho làn da. Theo các nhà khoa
học Anh: “Bình quân trong một trái cam có chứa khoảng 170 mg
phytochemicals bao gồm các chất dưỡng da và chống lão hoá”.
16
1.2.3. Giá trị kinh tế
Trên thế giới sản xuất cây có múi là một ngành lớn với diện tích 3,5
triệu ha và sản lượng 80 triệu tấn/năm, mức tiêu thụ bình quân trên đầu
người là 15kg quả/năm.
Ở Việt Nam hiện tại cây có múi cũng đang đem lại nhiều giá trị kinh
tế cho các nhà làm vườn. Theo tiến sĩ Nguyễn Minh Châu, viện trưởng viện
nghiên cứu cây ăn quả miền Nam, những năm gần đây, các loại cây ăn quả
trong cả nước đang phát triển khá mạnh với diện tích trên 750.000 ha.
Trong đó, riêng cây có múi phát triển mạnh nhất tại đồng bằng sông Cửu
Long với diện tích gần 80.000 ha, sản lượng khoảng 532.000 tấn/năm. Cây
có múi cũng là một trong những loại cây trồng có nhiều lợi thế, mang lại
hiệu quả kinh tế cao cho nhà làm vườn [25].
1.3. Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam trên thế giới và ở Việt Nam
1.3.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam trên thế giới
Trong suốt mấy thế kỷ qua, ngành sản xuất cam quýt trên thế giới
không ngừng tăng nhanh và mức tiêu thụ quả của thị trường thế giới cũng
ngày một cao hơn, sở dĩ như vậy là do trồng cam quýt nhanh chóng được
thu hoạch và lãi suất cao. Theo dự báo của FAO (Tổ chức Nông lương thế
giới), năm 2000 tổng sản lượng quả có múi của thế giới đạt trên 85 triệu
tấn, tiêu thụ quả cam quýt trên thị trường các nước khoảng 80 triệu tấn,
tăng trưởng hàng năm khoảng 2,85%.
Cũng theo thông báo của FAO, các khu vực và khối các nước đứng
đầu về sản xuất cam quýt năm 1995 gồm: châu Mỹ la tinh khoảng
23.628.000 tấn; Bắc Mỹ khoảng 14.807.000 tấn; châu Á khoảng 9.879.000
tấn; Nhật Bản 2.628.000 tấn (chiếm 20% sản lượng các loại quả), trong đó
cam chanh là 58.735.000 tấn, sau đến quýt 7.636.000 tấn, ít nhất là chanh
và bưởi [18].
17
Năm 2002, sản lượng cây có múi đạt 103.289.516 triệu tấn (FAO
production year Book 2002) chiếm khoảng 20% tổng sản lượng cây ăn quả
trên thế giới.
Mặc dù nguồn gốc cam quýt xuất phát từ vùng Đông Nam Á, nhưng
hiện nay cam quýt trở thành loại trái cây quan trọng trên thế giới vì nó
được trồng ở nhiều vùng với hơn 100 quốc gia đang sản xuất cam quýt. Sản
xuất và tiêu thụ cam quýt trên thế giới được ghi nhận phát triển mạnh từ
giữa thập niên 1980 đến nay, cụ thể là tốc độ gia tăng năm 2001 - 2002 đối
với những nước sản xuất cam quýt chính là 6%.
Hai quốc gia trồng cam quýt lớn nhất thế giới là Brazin và Mỹ, tiếp theo là
Trung Quốc, Mexico và Tây Ban Nha. Ngoài ra còn phải kể đến những
nước Trung Mỹ như Argentina, Cuba, Costa Rica. Châu Phi đáng kể là
Nam Phi và các nước Địa Trung Hải. Nhiều quốc gia trong khu vực đã bảo
vệ sản xuất nội địa bằng việc vẫn giữ cao thuế xuất nhập cam quýt từ
ngoài.
Theo tổ chức FAO thống kê năm 2003, tình hình sản xuất cam quýt
của một số nước và khu vực trên thế giới đạt sản lượng tương đối cao, diện
tích cho sản xuất cây có múi cũng chiếm tương đối lớn, do vậy tỉ lệ sản
xuất các loại cây này cũng nằm ở mức cao.
Số liệu thống kê về sản lượng, diện tích, năng suất qua các năm và tỉ lệ sản
xuất cây có múi của FAO được thể hiện ở bảng 2.2; 2.3:
18
Bảng 2.2. Thống kê sản lƣợng cam quýt năm 2002 của một số nƣớc
trên thế giới theo FAO
Châu lục
Quốc gia
Sản lƣợng
(tấn)
Châu Mỹ
Châu Âu
Mỹ
14.874,140
Brazil
20.251,412
Mexico
6.874,517
Argentina
2.706,000
Pháp
26,000
Italia
3.084,000
Bồ Đào Nha
297,500
Tây Ban Nha
5.734,200
Châu Phi
10.622,099
Địa Trung Hải
1.018,000
Châu Á
Trung Quốc
10.460,000
Việt Nam
450,000
Thái Lan
1.079,500
Nhật Bản
1.643,000
Malaysia
28,500
Ấn Độ
4.870,000
Indonesia
680,000
Châu Úc
Thế giới
787,000
Tổng
19
103.289,516
Bảng 2.3. Diện tích, năng suất và sản lƣợng cây có múi ở một số quốc
gia chủ yếu trên thế giới năm 2003 (FAO, 2004)
Số
Quốc gia
TT
Diện tích
Năng suất
Sản lƣợng
(1000 ha)
(tấn/ha)
(1000 tấn)
1.410
8,90
12.545
1
Trung Quốc
2
Brazil
939
20,45
19.216
3
Nigeria
730
4,45
3.250
4
Mexico
523
12,37
6.475
5
Mỹ
419
32,83
13.771
6
Tây Ban Nha
304
20,68
6.284
7
Ấn Độ
265
17,32
4.580
8
Iran
225
16,49
3.703
9
Pakistan
200
9,98
1.995
Sản xuất cam quýt ở Châu Á vẫn còn nhiều khó khăn, mặc dù là
vùng phát xuất cây có múi nhưng năng xuất cam quýt hiện nay ở các nước
Châu Á thấp hơn ở các nước Tây Âu và giá thành đầu tư trên đơn vị diện
tích lại cao nên tiêu thụ chủ yếu là thị trường nội địa. Giá thành sản xuất
cao và năng xuất thấp do phải chịu nhiều áp lực của sâu bệnh, trong đó
quan trọng nhất là bệnh vàng lá Greening và các bệnh virus, tuổi thọ của
vườn cam thường ngắn hơn.
Thị trường tiêu thụ cam trên thế giới gia tăng 3,5% trong thời gian từ
1986 - 1988 đến 1996 - 1998, trong khi đó tiêu thụ trái tươi chỉ tăng hàng
năm là 2,9% và tiêu thụ chế biến tăng 4,2% chủ yếu do sự gia tăng tiêu thụ
hàng chế biến ở Châu Âu, mặc dù tiêu thụ trái tươi giảm 13kg xuống 9,7
kg/người/năm và tiêu thụ chế biến thì gần gấp đôi (khoảng 30kg tương
20
đương trái tươi). Đối với thị trường tiêu thụ Mỹ và Canada cũng tương tự,
tiêu thụ chế biến gia tăng và tiêu thụ trái tươi giảm. Tiêu thụ cam chế biến
chủ yếu tập trung ở các nước phát triển như Bắc Mỹ và Châu Âu, hai vùng
này tiêu thụ khoảng 88% trái cam chế biến trên thế giới.
1.3.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ cam ở Việt Nam
Việt Nam là một trong những nước nằm trong trung tâm phát sinh
cây có múi (Trung tâm Đông Nam Á), nên cây có múi đã được trồng rất lâu
đời và phân bố rộng khắp từ Bắc đến Nam. Hiện nay, sản lượng và diện
tích trồng cây có múi đang có xu hướng gia tăng do mang lại hiệu quả kinh
tế cao hơn so với các loại cây trồng khác. Điều này đã kích thích nhà làm
vườn mạnh dạn đầu tư vào việc trồng cây có múi.
Ở nước ta từ năm 1990 đến 1995 mức sản xuất cam quýt, chanh,
bưởi tăng nhanh mặc dù gặp nhiều khó khăn do thời tiết, sâu bệnh phá hại.
Theo niên giám thống kê năm 1994 và ước tính, diện tích trồng cam quýt
của cả nước khoảng 60.000 ha, sản lượng gần 200.000 tấn. Vùng sản xuất
cam quýt lớn nhất nước ta là đồng bằng sông Cửu Long có khoảng 35.000
ha chiếm 57,86% diện tích trồng cây có múi của cả nước, sản lượng
124.548 tấn (chiếm 76,04%). Năng suất cam quýt của đồng bằng sông Cửu
Long tuy thấp nhưng được xác định là loại cây ăn quả nhanh cho thu hoạch
và có hiệu quả kinh tế cao. Theo kết quả điều tra của Nguyễn Minh Châu,
Lê Thị Thu Hồng, năng suất cam chanh đạt 105 tạ/ha; quýt 87 tạ/ha; chanh
ta 88 tạ/ha; bưởi 74 tạ/ha. Cá biệt có trang trại đạt năng suất cam chanh là
237 tạ/ha, chanh 128 tạ/ha, quýt 240 tạ/ha, bưởi 177 tạ/ha, lãi thuần đối với
1 ha trồng cam là 82,4 triệu đồng/ha, quýt đạt 54,6 triệu, chanh đạt 43,7
triệu, bưởi 21 triệu đồng/ha. Mặc dù có sản lượng lớn nhất toàn quốc,
nhưng năng suất cam quýt ở đồng bằng sông Cửu Long vẫn ở mức quá
thấp so với nhiều nước trồng cam trên thế giới (từ 20 - 40 tấn/ha) [18].
21
Diện tích cây có múi của Việt Nam năm 1999 đạt 63.364 ha, có sản
lượng 504.066 tấn/năm. Diện tích và sản lượng cây có múi tập trung chủ
yếu ở đồng bằng sông Cửu Long chiếm 53,6% (diện tích) và 70,33% (sản
lượng). Nếu so với diện tích cây ăn trái thì cây có múi chiếm 12% diện tích
cây ăn trái cả vùng, tiếp đến là vùng núi phía Bắc, vùng Khu Bốn cũ.
Các tỉnh vùng Khu Bốn cũ là một vùng cam quýt có truyền thống với
các giống nổi tiếng được chọn lọc qua nhiều đời nên đến nay vẫn còn giữ
được những nguồn gen quý: cam bù và bưởi Phúc Trạch (Hà Tĩnh) hiện
nay đã có diện tích gần 1000 ha do kết quả dự án phát triển cây có múi của
bộ Khoa học công nghệ và Môi trường những năm đầu thế kỷ 21. Ở Phủ
Quỳ qua nhiều lần phá đi, trồng lại hiện cũng có hơn 2000 ha. Đây là vùng
cam chanh có tiếng từ xưa do đất tốt và có diện tích rộng, mặc dù điều kiện
thời tiết và khí hậu không thuận lợi (hạn, nóng, bão...). Đã có năm diện tích
toàn vùng lên tới gần 4000 ha và năng suất điển hình tới 400 - 500 tạ/ha
trên diện tích rộng hàng trăm ha.
Các tỉnh miền núi phía Bắc và đồng bằng sông Hồng là những địa
phương có nhiều tiềm năng cho việc phát triển cam quýt. Khí hậu ở miền
Bắc có mùa đông lạnh, nhiệt độ và độ ẩm giảm thấp gần vụ thu hoạch cam
nên cho phẩm chất tốt và màu sắc vỏ quả đẹp hơn. Giống cam Đường Canh
và bưởi Diễn vùng đồng bằng sông Hồng những ngày giáp tết có giá bán
cao hơn cam quýt ở Trung Quốc gấp 3 lần [18].
Hiện trạng sản xuất cam quýt ở Việt Nam có một số vấn đề sau: Hệ
thống vườn ươm không tốt dưới sự quản lý của nhà nước, vì thế mà cả
giống tốt và xấu được bán cho người trồng, vì vậy cần lập nên một hệ
thống vườn ươm đạt tiêu chuẩn để quản lý chất lượng cây giống. Bệnh
virus và bệnh Greening vẫn rất phổ biến và ảnh hưởng đến các vườn ươm
cũng như vườn quả. Các vườn quả hỗn hợp trong đó trồng nhiều loại quả
22
khác nhau cùng phát triển là điều rất phổ biến ở vùng sông Cửu Long. Một
thực trạng chung là người nông dân không muốn liên kết, hợp tác với các
nông hộ khác. Hộ nông dân làm việc một cách độc lập, điều này gây khó
khăn cho việc mở rộng diện tích, tăng sản lượng quả phục vụ cho siêu thị
và xuất khẩu. Ngoài ra, việc buôn bán quả chủ yếu thông qua thương lái,
điều này gây khó khăn trong việc theo dõi buôn bán. Cơ sở nghèo nàn lạc
hậu không đáp ứng cho việc sản xuất lớn.
1.4. Các giống cam đƣợc trồng tại Việt Nam
1.4.1. Cam Xã Đoài
Là giống cam được chọn lọc ở vùng Nghi Lộc – Nghệ An, giống
cam này chịu hạn tốt, chịu đất xấu. Giống cam có lá màu xanh đậm, hình lá
thuôn dài, cành có gai, lá đứng, eo lá rộng. Cam Xã Đoài thích ứng rộng,
có 2 dạng quả: dạng có quả tròn và dạng có quả tròn dài. Dạng có quả tròn
dài cho năng suất cao hơn, trọng lượng quả trung bình 180 – 200g, hương
vị thơm ngon nhưng có nhược điểm là nhiều hạt, xơ bã nhiều [17].
1.4.2. Cam Hamlin
Có nguồn gốc từ Mỹ, được nhập vào nước ta qua cộng hoà Cuba
trong những năm 1980. Lá có hình ô van, xanh nhạt, cành thưa, ít gai, tán
cây hình ô van hay hình cầu. Quả có dạng hình cầu, vỏ mỏng, khi chín có
màu đỏ da cam, thịt quả mọng nước, ít xơ bã, ít hạt, hương vị thơm ngon.
Cây 9 năm tuổi cao 4 - 4,5m có đường kính tán 3 - 4m. Giống cam này
thuộc loại chín sớm. Cây có năng suất cao nhưng khối lượng quả bình quân
nhỏ. Cam Hamlin trồng ở vùng đồng bằng hay bị nhiễm bệnh loét, chảy
gôm. Đất ven biển rất thích hợp cho loại cam này. Đây là một trong nhiều
giống cam chuẩn của thế giới [17].
23
1.4.3. Cam Valencia
Giống cam này có nguồn gốc từ Mỹ, cây phân cành ngắn, tán hình
cầu hay ô van. Lá gồ ghề, eo lá lớn có màu xanh đậm, phản quang. Cành ít
gai. Quả to, khối lượng trung bình đạt 200 – 250g, hình ô van, vỏ hơi dày,
mọng nước, ít hạt, ít xơ bã, giòn. Cây 9 năm tuổi có chiều cao 4 – 5m,
đường kính tán 3,5 – 4m. Giống cam này là giống chín muộn, cho năng
suất cao. Có thể trồng giống cam này ở các vùng miền núi, đồng bằng và
đồng bằng ven biển. Ở vùng đồng bằng sông Hồng giống này hay bị nhiễm
bệnh chảy gôm [17].
1.4.4. Cam Vân Du
Là giống cam nhập nội và là một trong các giống cam chủ lực của
nước ta. Cây phân cành khoẻ, tán hình trụ, cành dày, có gai. Lá hơi thuôn
có màu xanh dậm, eo lá hơi to. Quả có hình tròn hay ô van, vỏ dày, mọng
nước, giòn, ngọt, nhiều hạt. Giống cam này cho năng suất khá cao, chống
chịu tốt với một số sâu bệnh hại, chịu hạn và được phổ biến rộng [17].
1.4.5. Cam bù Hà Tĩnh
Được trồng từ lâu đời ở vùng Hương Sơn, Hà Tĩnh, có nơi gọi là
quýt. Giống có 3 dạng chủ yếu:
- Dạng vỏ dày, quả có thành cao, phẩm chất rất tốt, ăn rất ngon.
- Dạng hoàn toàn giống cam sành nhưng quả có thành cao, vỏ mỏng
hơn, nhiều hạt.
- Dạng có quả hình cầu, chín muộn, vỏ quả đẹp.
Cam bù Hà Tĩnh có tính chống chịu khá, thích nghi với điều kiện khí
hậu, đất đai ở các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh và các tỉnh vùng đồng bằng,
trung du, miền núi phía Bắc. Năng suất quả ở cây 9 - 11 năm tuổi có thể đạt
35 - 40 tấn/ha nếu trồng ở mật độ 800 - 1200 cây/ha [35].
24