Tải bản đầy đủ (.docx) (33 trang)

cau hoi tra loi PHẦN 5 1 trung cap chinh tri

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (210.6 KB, 33 trang )

Câu 1 (Bài 1): Làm rõ nội dung: xây dựng mục tiêu, phương
hướng, kế hoạch hoạt động ở cấp cơ sở? Liên hệ việc thực hiện
nội dung này ở đơn vị, cơ sở nơi đồng chí đang công tác.
TRẢ LỜI:
1. Làm rõ nội dung: xây dựng mục tiêu, phương hướng, kế
hoạch hoạt động ở cấp cơ sở
1.1 Dự báo
- Dự báo: phán đoán một cách có căn cứ khoa học xu hướng phát
triển xã, huyện, tỉnh, cả nước trong thời gian trước mắt và lâu dài
nhằm cung cấp luận cứ cho việc xây dựng chủ trương, chính sách, kế
hoạch hành động của cơ sở.
- Nội dung của dự báo bao gồm những biến động bên trong, bên
ngoài cấp cơ sở theo chiều hướng có lợi và không có lợi. Cụ thể: phải
dự báo về sự thay đổi của môi trường tự nhiên, kinh tế, xã hội, chính
trị ảnh hưởng đến cơ sở như thế nào; dự báo về sự thay đổi của cấp
cơ sở về các phương diện thẩm quyền, nguồn lực, nhiệm vụ, khó
khăn, thuận lợi khi thực thi nhiệm vụ để có kiến nghị đối phó thích
hợp; dự báo về sự thay đổi mục tiêu của cơ sở do sự biến động chung
và riêng…
- Để dự báo khoa học, cơ sở phải tổ chức điều tra, thu thập dữ
liệu và xử lý thông tin một cách hệ thông, theo các phương pháp khoa
học. Phương pháp dự báo khoa học là dựa trên các lý thuyết khoa học
tiên tiến và cơ sở dữ liệu thông tin đầy đủ.
- Dự báo có vai trò quan trọng trong cung cấp căn cứ để lập kế
hoạch hoạt động của cơ sở. Chất lượng dự báo tốt, diện dự báo rộng
cho phép cán bộ lập kế hoạch của cơ sở đề xuất được các phương án,
mục tiêu sát thực, khả thi hơn và ngược lại.
1.2 Xác định mục tiêu
- Mục tiêu là kết quả hành động hoặc trạng thái của cơ sở trong
tương lai. Khác với mục đích, mục tiêu vừa có tính chất định hướng
hành động, vừa xác định rõ các tiêu chí đo lường kết quả của hành


động sao cho ở thời điểm cần hoàn thành mục tiêu chúng ta có thể
biết được mục tiêu đã được hoàn thành ở mức độ nào. Mục tiêu còn
mang tính thời hạn với điểm bắt đầu và kết thúc theo thời gian cụ thể.
- Vai trò của việc xác định mục tiêu:Xác định mục tiêu đúng là
một công việc rất quan trọng và không dễ dàng trong công việc của
cán bộ LĐ,QL. Xác định đúng mục tiêu của cơ sở, tức là mục tiêu đó
phù hợp với điều kiện thực tế, khả thi và sử dụng hiệu quả nguồn lực
1


hiện có để thõa mãn tốt nhất nhu cầu của dân cư, thì tự người dân sẽ
tích cực hoạt động nhằm thực hiện mục tiêu và ngược lại.
- Phân loại mục tiêu: mỗi cơ sở có một hệ thống các mục tiêu đa
dạng theo các mối quan hệ khác nhau:
+ Nếu phân loại mục tiêu theo thời gian thực hiện mục tiêu thì có
mục tiêu ngắn hạn, mục tiêu trung hạn và mục tiêu dài hạn;
+ Nếu phân loại theo tầm quan trọng của mục tiêu thì có mục tiêu
cơ bản, chủ yếu; mục tiêu không cơ bản, thứ yếu;
+ Nếu phân loại theo phạm vi, tính chất của mục tiêu thì có mục
tiêu kinh tế, mục tiêu chính trị, mục tiêu xã hội, mục tiêu văn hóa,
mục tiêu an ninh quốc phòng…
+ Nếu xét theo chủ thể thực hiện mục tiêu thì có mục tiêu của ủy
ban nhân dân xã, phường; mục tiêu của Đảng ủy xã, phường; mục
tiêu của Đoàn Thanh niên xã, phường; mục tiêu của chi hội phụ nữ…
Vấn đề cần quan tâm là cấp cơ sở phải thiết lập mối quan hệ ưu tiên
và phối hợp giữa các mục tiêu.
1.3 Lập kế hoạch, chương trình hành động thực hiện mục
tiêu
* Thứ nhất: Xây dựng các chương trình hành động để thực hiện
mục tiêu

- Chương trình hành động là tổng thể các nỗ lực của cấp cơ sở đi
đôi với tổng nguồn lực và phương thức sử dụng nguồn lực tương ứng
để đạt đến mục tiêu.
Thông thường cấp cơ sở có các loại chương trình hành động theo
lĩnh vực (chương trình phát triển kinh tế, chương trình xây dựng
trường học, trạm xá…), chương trình theo mục tiêu phân bổ (như
chương trình xóa đói, giảm nghèo, chương trình phủ xanh đất trồng,
đồi trọc, chương trình nước sạch…), chương trình giải quyết vấn đề
cấp bách của địa phương…
* Thứ hai: Lập kế hoạch hành động cho từng mục tiêu, từng bộ
phận, cá nhân và theo thời gian (Có 2 loại kế hoạch cần phải xây
dựng):
- Một là: Kế hoạch hoạt động thường kỳ của cơ sở
Kế hoạch thường kỳ là lịch trình thực hiện các chức năng ổn định
của cơ sở như kế hoạch 1 năm, kế hoạch 5 năm, chiến lược cho từng
giai đoạn. Đây là dạng kế hoạch sắp xếp hoạt động của cơ sở theo
một tiến trình thời gian đi đôi với sự phân bổ hợp lý nguồn kinh phí
và biên chế đủ để hoàn thành nhiệm vụ được giao
Nội dung của các kế hoạch này bao gồm ba phương diện:
2


+ Hành động: Các hoạt độngcần hoàn thành trong kỳ kế hoạch
được phân bổ theo tiến độ thời gian cụ thể.
+ Kinh phí: Là kế hoạch phân bổ kinh phí cho các hoạt động đi
cùng chế độ chi tiêu, quản lý rõ ràng.
+ Con người: Mỗi hoạt động và kinh phí tương ứng phải giao cho
tổ chức và cá nhân cụ thể phụ trách.
- Hai là: Kế hoạch thực hiện các chương trình mục tiêu
+ Kế hoạch thực hiện các chương trình mục tiêu: là các kế hoạch

soạn thảo riêng cho từng chương trình cụ thể. Sau khi các chương
trình hành động đã được phê duyệt thì cán bộ quản lý, căn cứ trên
những nhiệm vụ cụ thể do chương trình đặt ra và sự phân bổ kinh phí
tương ứng, sắp xếp nhân sự và thời gian cho từng hoạt động và từng
giai đoạn cụ thể của việc thực hiện chương trình.
+ Kế hoạch của cấp cơ sở phải được truyền tải cho các bộ phận
chức năng và cụ thể hóa thành nhiệm vụ, chỉ tiêu của các bộ phận đó.
Kế hoạch của cấp cơ sở là một bộ phận của kế hoạch cấp trên nên
phải phù hợp với kế hoạch, chương trình hành động của cấp trên nên
phải phù hợp với kế hoạch, chương trình hành động của cấp trên và
phải được cấp trên phê chuẩn.
+ Ngoài các kế hoạch chính, cơ sở còn phải lập các kế hoạch dự
phòng để đối phó với rủi ro khi chúng xảy ra.
- Căn cứ vào các thông tin từ tình hình thực hiện kế hoạch thời
kỳ trước, nhiệm vụ bổ sung trong kỳ tới, chế độ chính sách theo quy
định của Nhà nước và các đoàn thể chính trị, những biến động đã
được dự báo và những biến động rủi ro…
- Phương pháp lập kế hoạch thường được sử dụng là sắp xếp
công việc theo tiến độ thời gian, theo sự phân công trong cơ cấu tổ
chức của cơ sở, theo các yêu cầu công việc, có thể sử dụng một số kỹ
thuật như lập sơ đồ, mạng lưới công việc…
2. Liên hệ thực tế tại đơn vị
- Mặt được
- Hạn chế
- Giải pháp, định hướng khắc phục
HẾT
Câu 2 (Bài 2): Trình bày (Phân tích làm rõ) những biểu hiện
đặc trưng trong phong cách lãnh đạo của người cán bộ lãnh đạo,
3



quản lý ở cơ sở? Liên hệ việcthực hiện những biểu hiện đặc
trưng này ở đơn vị, cơ sở nơi đồng chí đang công tác.
TRẢ LỜI:
Phong cách lãnh đạo của cán bộ lãnh đạo, quản lý ở cơ sở là mẫu
hành vi mà người lãnh đạo, quản lý lựa chọn nhằm tác động và ảnh
hưởng có hiệu quả đến cấp dưới và quần chúng nhân dân tại cơ sở.
Nó được biểu hiện quả các tác phong làm việc dân chủ, khoa học,
hiệu quả và thiết thực, đi sâu đi sát quần chúng, tôn trọng và lắng
nghe quần chúng, khiêm tốn học hỏi và thực sự cầu thị, năng động và
sáng tạo, gương mẫu và tiên phong.
1. Những biểu hiện đặc trưng trong phong cách lãnh đạo của
người cán bộ lãnh đạo, quản lý ở cơ sở
- Tác phong làm việc dân chủ: đặc trưng cơ bản của phong
cách lãnh đạo ở cấp xã, nó sẽ khơi dậy được mọi sự tham gia nhiệt
tình và những đóng góp sáng tạo của quần chúng trong việc tạo ra các
quyết định, chỉ thị, trong việc tổ chức thực hiện những chủ trương,
đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước ở cấp cơ sở
có hiệu quả.
- Tác phong làm việc khoa học: thể hiện đặc điểm nghiệp vụ tổ
chức của phong cách lãnh đạo cấp cơ sở. Lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở
hiện nay khác hẳn với thời kỳ bao cấp. Người lãnh đạo, quản lý
không chỉ có nhiệt tình cách mạng, có đạo đức mà cần thiết phải có
trình độ chuyên môn, trí tuệ.
Cấp cơ sở là cấp tổ chức thực hiện nên đòi hỏi người lãnh đạo,
quản lý phải năng lực tổ chức, kỷ năng giao tiếp, am hiểu con người
và sử dụng con người đúng việc, đúng chỗ.
- Tác phong làm việc hiệu quả, thiết thực: tính hiệu quả thiết
thực là tiêu chí đánh giá tài – đức của cán bộ lãnh đạo, đánh giá sự
phù hợp hay không của phong cách lãnh đạo.

Cấp cơ sở là nơi hiện thực hóa, đưa đường lối, chủ trương, chính
sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước vào cuộc sống, vì vậy đòi hỏi
tác phong làm việc của cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở phải đảm
bảo tính hiệu quả và thiết thực khi đưa ra các quyết định quản lý và tổ
chức thực hiện
- Tác phong đi sâu đi sát quần chúng: là đặc trưng riêng biệt
của phong cách lãnh đạo cấp cơ sở. Có đi sâu đi sát quần chúng mới
có được tác phong khoa học, dân chủ, tác phong hiệu quả và thiết
thực.
4


- Tác phong tôn trọng vàlắng nghe ý kiến quần chúng:
dân là gốc nước, dân là chủ, mọi nguồn sức mạnh, trí tuệ, sáng tạo
đều từ nhân dân mà ra. Chính vì thế tác phong tôn trọng và lắng nghe
quần chúng không chỉ là đặc trưng cơ bản của phong cách lảnh đạo
cấp cơ sở mà còn là nguyên tắc làm việc, nguyên tắc ứng xử của
người lãnh đạo.
- Tác phong khiêm tốn học hỏi và thực sự cầu thị: Khiêm tốn
học hỏi sẽ giúp cho cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở tiến bộ, có
thêm kinh nghiệm, tri thức, kỹ năng để hoàn thành tốt nhiệm vụ được
giao.
Người lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở có phong cách khiêm tốn học
hỏi và thực sự cầu thị sẽ dễ gần được quần chúng, chiếm được sự cảm
tình, tôn trọng của quần chúng.
- Tác phong làm việc năng động và sáng tạo: Người lãnh đạo
năng động, sáng tạo phải là người nhạy bén trong việc phát hiện cái
mới, ủng hộ những cái mới tích cực, nhân nó lên thành diện rộng,
thành phong trào để đời sống vật chất, tình thần của nhân dân ở cơ sở
ngày càng được cải thiện, đổi mới, văn minh hơn.

- Tác phong làm việc gương mẫu và tiên phong: tính gương
mẫu, tiên phong của cán bộ, đảng viên là yếu tố đảm bảo vai trò lãnh
đạo của Đảng đối với xã hội, tạo được sự tín nhiệm, niềm tin của
nhân dân. Để tạo ra một bước chuyển biến mới trong đời sống chính
trị, kinh tế, văn hóa,…rất cần đến phong cách, tác phong gương mẫu,
tiên phong của những người cán bộ lãnh đạo, quản lý để qua đó người
dân mến phục, noi theo và tin tưởng.
2. Liên hệ thực tiễn
- Mặt được:
- Hạn chế, yếu kém:
- Giải pháp, định hướng sắp tới:
+ Khắc phục phong cách LĐ quan liêu;
+ Tăng cường rèn luyện, nâng cao lập trường tư tưởng - chính trị
cho đội ngũ cán bộ LĐ,QL cấp cơ sở;
+ Rèn luyện những phẩm chất tâm lý - đạo đức của người LĐ,
nêu gương trong học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức
Hồ Chí Minh;
+ Chú trọng bồi dưỡng chuyên môn, nâng cao năng lực tổ chức
cho đội ngũ cán bộ LĐ, QL cấp cơ sở để rèn luyện, đổi mới phong
cách LĐ;
5


+ Rèn luyện, đổi mới phongcách LĐ thông qua thực tiễn sự
nghiệp đổi mới và hội nhập khu vực quốc tế.
HẾT
Câu 3 (Bài 3): Trình bày khái niệm, yêu cầu của quyết định
lãnh đạo, quản lý? Liên hệ thực tiễn? Hoặc Phân tích các yêu cầu
cơ bản của quyết định lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở. Liên hệ việc thể
hiện các yêu cầu này trong quá trình soản thảo quyết định ở đơn

vị, cơ sở nơi đồng chí đang công tác.
TRẢ LỜI:
Quyết định lãnh đạo, quản lý là sự thể hiện ý chí của các chủ thể
trong hoạt động lãnh đạo, quản lý xã hội, tiến hành theo một trình tự,
thủ tục, được thể hiện dưới những hình thức nhất định; nhằm tổ chức
và điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con
người theo định hướng nhất định.
1. Các yêu cầu cơ bản của quyết định lãnh đạo, quản lý cấp
cơ sở
Để ra được một quyết định đúng, có tính khả thi, được quần
chúng nhân dân ủng hộ, quyết định lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở phải
đáp ứng được các yêu cầu sau:
- Bảo đảm tính chất chính trị: Quyết định LĐ,QL cấp cơ sở là
sự cụ thể hoá Nghị quyết của Đảng vào thực tiễn của địa phương cơ
sở, là sự cụ thể hoá các quyết định quản lý của cơ quan nhà nước cấp
trên, thực hiện nhiệm vụ quyền hạn của chính quyền cơ sở theo quy
định của pháp luật ở địa phương cơ sở. Vì vậy, nghị quyết của đảng
bộ cơ sở và quyết định quản lý của chính quyền cơ sở không được
trái với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của
Nhà nước.
- Bảo đảm tính hợp pháp: Hoạt động của tổ chức cơ sở đảng,
chính quyền cấp cơ sở được đặt trong khuôn khổ pháp luật, vì vậy các
quyết định LĐ,QL cấp cơ sở phải phù hợp với các quy định của pháp
luật.
- Ban hành quyết định LĐ,QL đúng hình thức và thể thức
quy định:
+ Về hình thức: các quyết định LĐ, QL cấp trên phải đúng tên
gọi và hình thức thể hiện chủ yếu bằng văn bản.
+ Về thể thức: phải đúng tiêu đề, tiêu ngữ, số, ký hiệu, ngày,
tháng, năm ban hành và hiệu lực, chữ ký, con dấu…Vi phạm các quy

định về hình thức, thể thức có thể dẫn đến hậu quả là làm cho quyết
định LĐ,QL trở thành bất hợp pháp.
6


- Bảo đảm tính hợp lý: tínhhợp lý của quyết định LĐ,QL thể
hiện:
+ Quyết định LĐ,QL phải đảm bảo hài hoà lợi ích của nhà nước,
tập thể và cá nhân.
+ Quyết định LĐ,QL phải cụ thể và đáp ứng được các yêu cầu
của đời sống xã hội và đối với các đối tượng thực hiện. Một quyết
định LĐ,QL phải cụ thể và đáp ứng được các yêu cầu của đời sống xã
hội đặt ra và với các đối tượng thực hiện. Một quyết định LĐ,QL có
tính khả thi cao khi được ban hành đúng lúc, phù hợp với yêu cầu
LĐ,QL ở địa phương cơ sở. Tình trạng trì trệ, kéo dài hoặc nóng vội
trong nghiên cứu ra quyết định LĐ,QL thì không những mang lại hiệu
quả mà thậm chí còn gây ra những thiệt hại cho Nhà nước, xã hội và
công dân phải gánh chịu.
+ Quyết định LĐ,QL phải mang tính hệ thống toàn diện. Nội
dung quyết định LĐ,QL phải được cân nhắc, tính hết các yếu tố chính
trị, kinh tế, văn hoá, xã hội; phải căn cứ vào chiến lược, Nghị quyết
của đảng, các mục tiêu phát triển ngắn hạn, dài hạn của nhà nước.
Các biện pháp đề ra trong quyết định LĐ,QL phải phù hợp, đồng bộ
với các biện pháp trong các quyết định có liên quan.
- Bảo đảm kỹ thuật ban hành quyết định LĐ,QL: ngôn ngữ,
văn phong, cách trình bày một quyết định LĐ,QL phải rõ ràng, dễ
hiểu, ngắn gọn, chính xác, không đa nghĩa.
Nếu quyết định được ban hành mà không đảm bảo các yêu cầu
trên sẽ dẫn đến mất tính hiệu lực, tôn trọng, khả thi,…không có hiệu
quả khi tổ chức thực hiện.

2. Liên hệ thực tiễn
- Mặt được:
- Hạn chế:
- Giải pháp, định hướng sắp tới:
HẾT
Câu 4 (Bài 3): Phân tích kỹ năng ra quyết định và tổ chức
thực hiện quyết định lãnh đạo quản lý cấp cơ sở? Liên hệ việc thể
hiện các kỹ năng này trong quá trình ra quyết định và tổ chức
thực hiện quyết định lãnh đạo, quản lý ở đơn vị, cơ sở nơi đồng
chí đang công tác.
TRẢ LỜI:
Quyết định lãnh đạo, quản lý là sự thể hiện ý chí của các chủ thể
trong hoạt động lãnh đạo, quản lý xã hội, tiến hành theo một trình tự,
thủ tục, được thể hiện dưới những hình thức nhất định; nhằm tổ chức
7


và điều chỉnh các quá trình xã hộivà hành vi hoạt động của con
người theo định hướng nhất định.
Để ra được quyết định lãnh đạo, quản lý đúng đắn, có tính khả
thi và tổ chức thực hiện tốt trên thực tế cần chú ý tới một số kỹ năng
sau:
1. Kỹ năng thu thập thông tin, phân tích và sử dụng thông
tin:
- Để ra được một quyết định LĐ,QL phù hợp, cán bộ, công chức
lãnh đạo cấp cơ sở cần phải thu thập thông tin cần thiết, kiểm tra độ
tin cậy và chính xác của thông tin.
- Thông tin đến với LĐ cấp cơ sở qua nhiều kênh đó là: tiếp nhận
từ cấp trên chỉ đạo xuống cơ sở; tự thu thập, khai thác thông tin bằng
cách: điều tra, nắm bắt tình hình thực tiễn ở cơ sở…); đội ngũ tham

mưu giúp việc cung cấp. Do vậy, trước khi ban hành một quyết định
LĐ,QL cần nghiên cứu nắm vững những thông tin sau đây như: các
nghị quyết, chỉ thị, thông tư, văn bản của cấp trên trực tiếp có liên
quan; số liệu điều tra, tình hình thực tiễn tại cơ sở.
- Cấp cơ sở là cấp trực tiếp gần nhân dân và giải quyết những vấn
đề thực tế đặt ra ở địa phương. Vì vậy, việc LĐ cấp cơ sở trực tiếp
tìm hiểu thông tin về tình hình thực tế cơ sở là hết sức cần thiết, tránh
tình trạng nắm bắt thông tin không kịp thời dẫn đến việc ra những
quyết định LĐ,QL xa rời thực tế, hiệu lực không cao.
- Trong điều kiện khoa học kỹ thuật phát triển, người cán bộ LĐ
cấp cơ sở cũng phảI chú ý tới việc cập nhật và khai thác thông tin từ
nhiều nguồn khác nhau như: Internet, báo chí, truyền hình…
- Việc khai thác và sử dụng thông tin cho việc ra quyết định ở cơ
sở có thể từ các nguồn tin như: Các cán bộ công chức đã nghỉ hưư,
già làng, trưởng bản, trưởng thôn, tổ trưởng dân phố. Nhưng chính
bản thân cán bộ LĐ,QL cấp cơ sở mới là người lựa chọn thông tin
cuối cùng. Chính vì vậy, nâng cao năng lực, trình độ, phẩm chất của
người LĐ,QL là một yêu cầu hết sức quan trọng.
2. Kỹ năng soạn thảo, ra quyết định:
- Trong quá trình soạn thảo và ra quyết định lãnh đạo, quản lý
cần chú ý tới việc thực hiện đúng quy trình ra quyết định, tránh việc
làm tắt tùy tiện dẫn tới những sai sót trong quá trình ra quyết định.
- Trong quá trình dự thảo quyết định chú ý tới những ý kiến phản
biện đã được thu thập. Người lãnh đạo cần có thái độ cầu thị và
những ý kiến phản biện để lựa chọn những phương án, giải pháp
8


thích hợp nhất trong quá trình xâydựng dự thảo quyết định lãnh đạo,
quản lý.

- Các sai lầm cần tránh trong việc soạn thảo và ra quyết định
LĐ,QL:
Một là: Không nắm vững các yêu cầu thực tế, giải quyết vấn đề
một cách chung chung, không đủ chính xác, rõ ràng, cụ thể, có thể
hiểu và làm khác nhau.
Hai là: quá tin vào tham mưu, người dự thảo, không xem xét,
nghiên cứu kỹ lưỡng, không lắng nghe hết ý kiến người tham gia,
người phản biện hay quá tin vào những hiểu biết chủ quan của mình
đi đến việc ra những quyết định LĐ,QL một cách phiến diện, chủ
quan.
Ba là: Ra quyết định LĐ,QL mang tính chất thoã hiệp, nể nang,
dựa dẫm cấp trên một cách thụ động, không có tính sáng tạo, không
tự chịu trách nhiệm.
Bốn là: Ra quyết định LĐ,QL không đúng thẩm quyền, không đủ
căn cứ pháp lý; quyết định có nội dung trùng lặp, chồng chéo ngay
trong bản thân quyết định hoặc với các quyết định đã ra trước đó.
3. Kỹ năng lập kế hoạch thực hiện quyết định LĐ,QL:
- Lập kế hoạch là một khâu trong chu trình LĐ,QL. Trong quy
trình tổ chức thực hiện quyế định LĐ,QL cấp cơ sở, lập kế hoạch là
bước đầu tiên trong quy trình tổ chức thực hiện quyết định và có ý
nghĩa hết sức quan trọng đảm bảo hiệu quả thực hiện quyết định trên
thực tế. Tuy nhiên, lập kế hoạch tổ chức thực hiện quyết định LĐ,QL
phải được đặt trong mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với các khâu của
chu trình thựuc hiện quyết định.
- Nếu người LĐ có kỹ năng lập kế hoạch thì nó được thể hiện ở
các yếu tố sau:
+ Việc tư duy có hệ thống tiên liệu được các tình huống trogn
hoạt động LĐ,QL.
+ Biết phối hợp mọi nguồn lực của tổ chức một cách hữu hiệu
hơn.

+ Biết tập trung vào các mục tiêu và chính sách của tổ chức.
+ Nắm vững các nhiệm vụ cơ bản của tổ chức để phối hợp với
các nhà LĐ,QL khác.
+ Sẵn sàng ứng phó và giải quyết nhanh chóng với các tình
huống đặt ra trong quá trình thực hiện quyết định LĐ,QL.
9


+ Phát triển hữu hiệu các tiêu chuẩn kiểm tra việc thực hiện kế
hoạch đã đề ra.
- Trình tự lập kế hoạch thực hiện quyết định LĐ,QL như sau:
+ Bước 1: Xác định mục tiêu yêu cầu của việc thực hiện quyết
định.
+ Bước 2: Xác định nội dung việc thực hiện quyết định.
+ Bước 3: Xác định địa bàn, đối tượng, thời gian thực hiện quyết
định.
+ Bước 4: Xác định phương pháp thựuc hiện quyết định
+ Bước 5: Xác định phương pháp theo dõi, kiểm tra việc thực
hiện quyết định.
4. Kỹ năng chỉ đạo, điều hành thực hiện quyết định LĐ,QL:
- Khi kế hoạch thực hiện quyết định LĐ,QL đã được đặt ra thì bất
cứ bất cứ đối tượng chịu sự LĐ,QL đều phải thực hiện nghiêm chỉnh.
- Kỹ năng này giúp cho người LĐ kiểm soát được quá trình thực
hiện quyết định LĐ,QL đang được diễn ra thế nào, từ đó đưa ra các ý
kiến chỉ đạo phù hợp và kịp thời để hoàn thành công việc. Để điều
hành được việc thực hiện quyết định trên thực tế một cách có hiệu
quả người lãnh đạo phải có khả năng nắm bắt các vấn đề phát sinh
trong quá trình thực hiện quyết định, bên cạnh đó cần chú ý tới một
số vấn đề mang tính nguyên tắc sau:
+ Thường xuyên giám sát tình hình thực hiện quyết định cũng

như tinh thần thái độ làm việc của cán bộ, công chức dưới quyền.
+ Đưa ra các chỉ đạo rõ ràng hợp lý.
+ Sẳn sàng có những phương án hỗ trợ khi cần thiết.
+ Nhanh chóng chỉ đạo tháo gỡ khó khăn mắc phải, hướng dẫn
cấp dưới cách tự giải quyết vấn đề trong quá trình thực hiện quyết
định.
5. Kỹ năng xử lý tình huống trong LĐ,QL:
Để giải quyết tốt các tình huống trong hoạt động LĐ,QL, người
LĐ chú ý những vấn đề sau:
- Chỉ đạo triển khai giải quyết một cách chủ động theo kế hoạch
đã xây dựng trước.
- Những phát sinh mới nằm ngoài dự liệu cần có ngay những
phương hướng giải quyết nhằm ngăn chặn và xử lý kịp thời những sai
phạm phát sinh trong quá trình thực hiện quyết định.
- Thực hiện đúng trình tự, thẩm quyền theo quy định của pháp
luật hoặc Điều lệ của Đảng.
10


6. Kỹ năng giải quyết khiếunại, tố cáo:
Để thực hiện tốt công tác này người LĐ cần thực hiện đúng các
yêu cầu sau:
- Nắm được các quy định pháp luật của Nhà nước, quy định của
Đảng về giải quyết khiếu nại, tố cáo kể cả về thẩm quyền, trình tự,
thủ tục giảI quyết khiếu nại, tố cáo.
- Nắm được các quy định pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố
cáo đặc thù gắn với thực tế địa phương.
Những kỹ năng cần trau dồi và thực hiện tốt đó là:
- Kỹ năng tiếp nhận đơn thư khiếu nại, tố cáo.
- Kỹ năng giao tiếp của cán bộ, công chức trong thực thi nhiệm

vụ công vụ nói chung và tiếp nhận khiếu nại, tố cáo nói riêng.
- Kỹ năng phân loại, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo.
- Kỹ năng xác minh, xem xét và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố
cáo.
* Liên hệ thực tế:
HẾT
Câu 5 (Bài 4): Làm rõ các kỹ năng tuyên truyền, thuyết phục
cá nhân. Liên hệ thực tiễn cơ sở, đơn vị công tác.
TRẢ LỜI:
Kỹ năng tuyên truyền, thuyết phục là khả năng vận dụng kiến
thức, hiểu biết về lĩnh vực này trong thực tiễn tuyên truyền, thuyết
phục quần chúng bằng nhiều phương pháp, hình thức khác nhau.
1. Các kỹ năng tuyên truyền, thuyết phục cá nhân
1.1. Gặp gỡ trực tiếp
a. Khái niệm: Gặp gỡ trực tiếp là quá trình mà cán bộ lãnh đạo,
quản lý trực tiếp gặp mặt một đối tượng để tuyên truyền, vận động,
thuyết phục về một vấn đề nào đó.
Đây là một trong những phương thức có hiệu quả, có tác động rất
lớn trong tuyên truyền, vận động, thuyết phục từng người dân thực
hiện chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật.
b. Ưu thế và hạn chế
- Ưu thế:
+ Là giao tiếp trực tiếp nên thông tin được trao đổi, bàn bạc,
tranh luận kỹ lưỡng để đi đến chấp nhận hay không chấp nhận, đồng
tình hay không đồng tình.
11


+ Có thể vận dụng các yếu tố kỹ thuật của loại hình giao tiếp
này như ngôn ngữ, cử chỉ, điệu bộ và các thủ thuật tâm lý để tạo ra

hiệu quả tác động lớn.
+ Thông tin phản hồi, kết quả gặp gỡ thể hiện ngay.
- Hạn chế:
+ Do nội dung giao tiếp bộc lộ trực tiếp ngay nên mức độ sâu
sắc, mức độ chính xác, chín chắn của thông tin có phần bị hạn chế.
+ Với những người mà khả năng tự kiềm chế kém, thiếu linh
hoạt, mức độ phản ứng đối với các tình huống giao tiếp thiếu nhanh
nhạy, sức cảm hóa đối tượng kém thì hiệu quả tuyên truyền, vận động
thường không cao.
+ Kết quả không lưu lại thành văn bản.
c. Một số quy tắc trong gặp gỡ trực tiếp
- Trước khi gặp gỡ cần:
+ Chuẩn bị tốt nội dung, tài liệu;
+ Nắm vững những thông tin cần thiết về đối tượng và lập kế
hoạch tiếp cận, gặp gỡ.
+ Cần chọn thời điểm gặp gỡ thích hợp với đối tượng để cuộc
trao đổi hiệu quả.
- Trong quá trình gặp gỡ cần:
+ Bắt đầu quá trình gặp gỡ không nên nêu ra những vấn đề hóc
búa, nhạy cảm.
+ Khi xuất hiện các quan điểm đối lập phải phân ra mức độ và
tính chất khác nhau để có đối sách tương ứng.
+ Khi dùng lý lẽ khó thuyết phục có thể thay đổi cách tác động
bằng con đường tình cảm hoặc thông qua các kênh khai thác.
- Khi kết thúc cuộc gặp gỡ cần:
+ Phải cảm ơn đối tượng đã nghe, đã trao đổi và ủng hộ quan
điểm của mình.
+ Cũng có thể cảm ơn sự giúp đỡ của đối tượng bằng một bức
thư hoặc bằng cách gọi điện thoại vào thời điểm sau đó.
- Tài liệu dùng khi gặp gỡ: khi gặp gỡ đối tượng có thể sử dụng

tờ rơi, tờ phát, bản tin ngắn, các tài liệu trực quan để đối tượng đọc,
xem, nhờ đó đối tượng thay đổi quan điểm, thái độ nhanh chóng
hơn...
* Liên hệ thực tế: giải quyết mâu thuẫn nội bộ giữa các cá nhân
1.2. Thăm tại nhà
12


a. Khái niệm: Thăm tại nhàlà quá trình gặp gỡ, trao đổi giữa
cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cơ sở với đối tượng và có thể với các
thành viên trong gia đình, tại nhà của đối tượng với mục đích tuyên
truyền, thuyết phục, cảm hóa đối tượng chấp nhận và thực hiện chủ
trương, đường lối, chính sách, pháp luật hoặc một hành vi tích cực
nào đó.
b. Tình huống thăm tại nhà
- Khi trong gia đình có đối tượng cá biệt.
- Khi đối tượng cần có sự giúp đỡ của những người khác để giải
quyết một vấn đề nào đó.
- Khi gia đình đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt (đông con, đời
sống khó khăn, có người ốm yếu...), có hành vi cá biệt (không chấp
hành chủ trương của cấp ủy hay chính quyền địa phương, vi phạm
pháp luật...).
c. Những việc cần làm khi thăm tại nhà
- Giải thích cho đối tượng biết hoặc cung cấp tài liệu (sách nhỏ,
tờ gấp) về vấn đề mà đối tượng đang quan tâm.
- Trao đổi, thuyết phục các thành viên trong gia đình đối tượng
để họ ủng hộ đối tượng, chấp nhận thức hiện chủ trương, đường lối,
chính sách, pháp luật hoặc một hành vi tích cực nào đó.
d. Các bước thực hiện
- Chuẩn bị:

+ Tìm hiểu hoàn cảnh gia đình
+ Hẹn trước đến thăm gia đình vào thời gian thích hợp với họ.
+ Chuẩn bị tài liệu và các phương tiện hỗ trợ vận động, thuyết
phục (sách nhỏ, tờ in...).
- Trong cuộc đến thăm:
+ Chào hỏi các thành viên trong gia đình
+ Hỏi thăm tình hình sức khỏe, học tập....của các thành viên
trong gia đình nhưng tránh hỏi những vấn đề tế nhị, tránh đặt những
câu hỏi khó hiểu.
+ Nói rõ mục đích của việc đến thăm.
+ Trao đổi, thảo luận với những đối tượng về những vấn đề mà
họ quan tâm.
+ Động viên, khen ngợi những hành vi tốt mà họ đã và đang thực
hiện. Đồng thời, tránh việc chỉ trích, phê phán gay gắt những hành vi
chưa thực hiện tốt.
13


+ Động viên các thành viên khác trong gia đình giúp đỡ đối
tượng thực hiện những hành vi tốt.
+ Phát các tài liệu (tờ in, sách nhỏ...) có liên quan đến vấn đề mà
đối tượng quan tâm để hỗ trợ họ thay đổi quan điểm, thái độ và hành
động.
- Kết thúc cuộc đến thăm:
+ Chào tạm biệt gia đình và hẹn sẽ tới thăm lại vào một thời
điểm thích hợp.
+ Có thể mời đối tượng tham gia một cuộc thảo luận nhóm sẽ
được tổ chức cùng các đối tượng khác.
* Liên hệ thực tế: giải quyết vấn đề học sinh bỏ học, thanh thiếu
niên gây mất trật tự công cộng,…

1.3. Vận động hành lang
a. Khái niệm: Vận động hàng lang là nghệ thuật khai thác các
khả năng, các cơ may để thuyết phục các nhà hoạch định chính sách,
các cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp trên, các đại biểu hội đồng nhân dân,
đại biểu Quốc hội ủng hộ các chương trình công tác của cán bộ lãnh
đạo, quản lý cấp cơ sở đồng thời vận động họ có sự tác động làm thay
đổi chính sách theo hướng có lợi cho công tác lãnh đạo, quản lý cấp
cơ sở.
b. Các quy tắc của vận động hành lang:
- Xác định rõ ngay từ đầu mục đích vận động.
- Nắm vững đối tượng vận động hành lang: Họ là ai?Giữ chức vụ
gì? trong cơ quan nào? Thông tin về quan điểm, phong cách công tác
về vai trò của họ trong tổ chức mà họ tham gia và vai trò của họ trong
việc tham gia soạn thảo, ban hành các quyết định, các vấn đề cần vận
động.
- Nắm vững thông tin về các tổ chức, các ủy ban và công việc
của tổ chức mà các nhà lãnh đạo, quản lý tham gia. Đó là các loại
thông tin: thông tin về công việc, thời gian, lịch trình thông qua các
quyết định; thông tin về các cuộc hội thảo, tranh luận xung quanh nội
dung các quyết định; thông tin về quan hệ nội bộ của các tổ chức;
thông tin về phong cách ứng xử chính trị của người đứng đầu các tổ
chức...
Những thông tin trên đây là rất quan trọng. Bởi vì, nó cho phép
xây dựng lịch trình vận động đúng đắn, biết cách tác động vào giai
đoạn nào, bước nào, khuynh hướng nào trong quá trình đi đến quyết
định, biết tác động vào những ai đang tham gia vào việc thông qua
14


quyết định ấy. Đồng thời có thểtiếp cận và tác động cả đến những

người đứng đằng sau, nhưng có ảnh hưởng đến các quyết định ấy.
- Chuẩn bị tài liệu và cung cấp thấp tin cho các nhà lãnh đạo,
quản lý cấp trên: cần cung cấp đầy đủ thêm thông tin về các vấn đề có
liên quan cho họ; chú ý đến tính chính xác, tính thời sự và cơ sở pháp
lý của các tài liệu; sách nhỏ, tờ gấp, bản tin, tờ số liệu là những
phương tiện có thể sử dụng kết hợp để nâng cao hiệu quả vận động
hành lang.
- Chủ động tạo thời gian và thời cơ cho cuộc tiếp xúc: cần nắm
được thời gian biểu hoạt động của các nhà lãnh đạo, quản lý cấp trên
để lập kế hoạch và thời gian gặp gỡ; giờ giải lao, trước và sau giờ làm
việc, bữa ăn trưa là những cơ may đặc biệt để gặp gỡ họ.
- Cần phải có nghệ thuật đặt câu hỏi và kích thích các nhà lãnh
đạo, quản lý cấp trên trả lời cởi mở để tìm kiếm tin tức và sự ủng hộ.
- Nghệ thuật vận động hành lang là làm thế nào để đưa yêu cầu
của mình vào chương trình nghị sự một cách kịp thời và tất cả các cán
bộ lãnh đạo, quản lý cấp trên coi vấn đề đó là quan trọng đối với họ ở
một phương diện nhất định và có thái độ ủng hộ nhiệt tình, vô tư, triệt
để.
* Liên hệ thực tế: chương trình tham gia xuất khẩu lao động,
tham gia tổ liên kết sản xuất,..
HẾT
Câu 6 (Bài 4): Làm rõ hình thức thảo luận nhóm nhỏ. Cho ví
dụ minh họa.
TRẢ LỜI:
a. Khái niệm
Thảo luận nhóm nhỏ là phương pháp tuyên truyền, vận động
trong đó cán bộ lãnh đạo, quản lý trực tiếp nói chuyện, thuyết trình,
chia sẻ, trao đổi thông tin với một nhóm nhỏ đối tượng có đặc điểm,
hoàn cảnh giống nhau hoặc gần giống nhau.
b. Tình huống sử dụng thảo luận nhóm

- Khi cần cung cấp ngay cho đối tượng những thông tin, kiến
thức mới.
- Khi một số đối tượng cùng có nhu cầu hiểu biết và một vấn đề
nào đó trong số các vấn đề kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội...
- Khi trong cộng đồng còn một số đối tượng chưa thực hiện một
hoặc một số hành vi nào đó.
15


Một buổi thảo luận nhóm nhỏcó hiệu quả chỉ nên mời 10 - 15
người tham gia.
c. Các bước thực hiện
- Chuẩn bị:
+ Chuẩn bị chủ đề, thời gian, địa điểm thảo luận và thông báo để
đối tượng biết.
+ Chuẩn bị các phương tiện, công cụ hỗ trợ thảo luận như sách
lật, tranh vải, tờ gấp, băng video, catset và các phương tiện hỗ trợ
thay đổi hành vi để phát cho đối tượng khi họ có nhu cầu sử dụng.
- Tiến hành thảo luận nhóm:
+ Bắt đầu buổi thảo luận bằng việc chào hỏi thân mật;
+ Sắp xếp đối tượng ngồi sao cho mọi người đề nhận rõ các
phương tiện trực quan được sử dụng trong quá trình thảo luận.
+ Giới thiệu nội dung buổi thảo luận.
+ Trình bày ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu, thuyết phục những thông
tin cần thiết.
+ Có thể sử dụng các phương tiện trực quan như hình ảnh, hiện
vật để minh họa và lồng ghép các tiết mục văn nghệ, chiếu video,
nghe băng catset để buổi thảo luận sôi nổi, hấp dẫn, hiệu quả.
+ Khuyến khích mọi người đặt câu hỏi, tích cực tham gia thảo
luận và gợi ý, hướng dẫn mọi người thảo luận đúng trọng tâm.

+ Động viên những người rụt rè phát biểu ý kiến, đồng thời tế
nhị hạn chế những người nói quá nhiều, lấn át người khác.
+ Trả lời, giải đáp các câu hỏi, các thắc mắc của đối tượng. Chỉ
trả lời những vấn đề đã nắm vững. Đối với những vấn đề chưa hiểu rõ
thì hẹn trả lời sau để có thời gian tìm hiểu, nghiên cứu thêm.
+ Tóm tắt nội dung chương trình của buổi thảo luận.
+ Phát các tài liệu cần thiết như tờ rơi, tờ gấp, sách nhỏ, bản tin
hoặc phương tiện hỗ trợ đối tượng thay đổi nhận thức, thái độ và
hành vi.
Một buổi thảo luận nhóm không nên kéo dài quá 2 giờ. Tránh nói
dài, nói nhiều; tránh chỉ trích, phê phán, tranh luận gay gắt khi có đối
tượng nói sai.
2. Ví dụ minh họa
HẾT
Câu 7 (Bài 5): Làm rõ quy trình thu thập thông tin. Liên hệ
việc thực hiện quy trình này trong quá trình thực hiện thu thập
thông tin ở đơn vị, cơ sở nơi đồng chí đang công tác.
16


TRẢ LỜI:
Thông tin trong LĐ, QL là sự truyền đạt các thông điệp, tin tức
có liên quan đến hệ thống quản lý, được người nhận hiểu rõ ý nghĩa
của thông điệp mà người gửi muốn truyền đạt, có tác dụng giúp thực
hiện các mục tiêu lãnh đạo, quản lý.
1. Quy trình thu thập thông tin
Quy trình thu thập và xử lý thông tin đóng vai trò quyết định tới
chất lương thông tin. Sẽ không có thông tin chính xác nếu như không
đáp ứng đúng quy trình thu thập và xử lý thông tin. Quy trình thu
thập thông tin bao gồm các bước cơ bản như sau:

- Xác định nội dung thông tin cần thu thập: đây là bước đầu tiên
trong quy trình thu thập thông tin, xác định nội dung cần thu thập
thông tin là gì? Mục đích thu thập thông tin để làm gì? Đối với lãnh
đạo, quản lý thì mục đích thu thập thông tin chủ yếu là phục vụ cho
hoạt động lãnh đạo, quản lý.
- Xác định đối tượng cung cấp thông tin: sau khi xác định được
nội dung thông tin cần thu thập thì cần xác định những ai sẽ là người
cung cấp thông tin liên quan tới nội dung cần thu thập.
- Xác định phương pháp thu thập thông tin: trên cơ sở xác định
nội dung, đối tượng cung cấp thông tin, cần xác định sẽ sử dụng
phương pháp thu thập thông tin nào.
- Xây dựng các bộ công cụ để thu thập thông tin: sau đó sẽ tiến
hành xây dựng các bộ công cụ hỗ trợ cho việc thu thập thông tin như
bảng hỏi, hướng dẫn phỏng vấn sâu, hướng dẫn thảo luận nhóm,
hướng dẫn ghi chú quan sát,…
- Lựa chọn nhân sự thu thập thông tin: tiếp theo sẽ là việc lựa
chọn cán bộ đi thu thập thông tin. Tùy thuộc vào phương pháp sử
dụng, năng lực cán bộ mà có những phân công nhiệm vụ sao cho phù
hợp.
- Tổ chức thu thập thông tin: cuối cùng là giai đoạn tổ chức thu
thập thông tin. Bước này bao gồm hàng loạt các hoạt động liên quan
như tập huấn cán bộ, liên lạc với địa bàn, chuẩn bị trang thiết bị hỗ
trợ, tài chính,…
2. Liên hệ thực tế
- Mặt được:
- Hạn chế:
- Giải pháp:
HẾT
17



Câu 8 (Bài 6): Làm rõ quy trình xử lý điểm nóng xã hội, điểm
nóng chính trị - xã hội với tính cách một loại tình huống chính trị
- xã hội ở cơ sở. Cho ví dụ minh họa.
TRẢ LỜI:
Điểm nóng chính trị - XH là xung đột xã hội ở mức cao, ở mức
căng thẳng, đối đầu hoặc không tương dung. Là hiện tượng xã hội
không bình thường, căng thẳng, mất ổn định, rối loạn. Trong đó diễn
ra sự xung đột, chống đối giữa các lực lượng. Chủ thể tham gia trong
điểm nóng chính trị - XH có thể là cơ quan quyền lực nhà nước hoặc
các lực lượng chính trị khác nhau.
Do vậy, quy trình xử lý điểm nóng xã hội, điểm nóng chính
trị - xã hội với tính cách một loại tình huống chính trị - xã hội ở
cơ sở phải thực hiện theo các bước sau:
1. Bước 1: Nắm tình hình, phân tích nguyên nhân, mâu
thuẫn, nhận dạng điểm nóng
Đây là bước có ý nghĩa quyết định, vì nó cung cấp những căn cứ
cho những giải pháp đúng trong quá trình xử lý. Những thông tin cần
phải có đó là:
- Tính chất, quy mô, hình thức đấu tranh, yêu sách của quần
chúng.
- Lực lượng tổ chức, cầm đầu.
- Ai, cấp nào có trách nhiệm giải quyết.
2. Bước 2: “Rút ngòi nổ”, hạn chế ảnh hưởng xấu và sự lan
tỏa sang nơi khác
- Trước hết phải thiết lập được sự lãnh đạo, chỉ huy thống nhất,
có hiệu lực của hệ thống chính trị để giữ vững quyền lực chính trị
trong quá trình xử lý. Đây là vấn đề có tính nguyên tắc.
- Tiếp theo là lựa chọn phương thức giải quyết (giáo dục thuyết
phục hay trấn áp), những lực lượng (cơ quan bạo lực (công an, quân

đội) hay lực lượng quần chúng) và phương tiện phù hợp (loa, đài phát
thanh hay phương tiện thông tin đại chúng, thông tin liên lạc khác).
- Để giải tán đám đông quần chúng, phải xem xét: nếu yêu sách
quần chúng đúng, cần cam kết thực hiện yêu sách. Đồng thời tranh
thủ lôi kéo, phân hóa răn đe, cô lập người cầm đầu. Trong trường hợp
thật cần thiết, phải dùng bộ máy công an và quân đội để giải tán đám
đông.
18


Đối sách với người cầm đầu:cần thương lượng và sử dụng nghệ
thuật thương lượng. Vạch mặt, cô lập nếu người cầm đầu là kẻ xấu.
Trong trường hợp cần thiết có thể bắt kẻ cầm đầu, nhưng bắt phải hợp
pháp, hợp lý, để tình hình không trầm trọng thêm. Trong quá trình
này, cần chú ý một số nguyên tắc:
- Kiên định nguyên tắc, mềm dẻo linh hoạt về phương pháp, biện
pháp (dĩ bất biến ứng vạn biến).
- Cần chọn các giải pháp tốt nhất, sau mới đến các giải pháp ít tốt
hơn (thượng sách, trung sách, hạ sách). Những giải pháp tốt hơn là
những giải pháp ít sử dụng bạo lực.
- Nếu là điểm nóng do mâu thuẫn địch – ta (thù địch) thì kịch bản
duy nhất là ta thắng, địch thua. Nếu là mâu thuẫn trong nội bộ nhân
dân thì chọn kịch bản “thắng – thắng” tức là chính quyền cũng thắng
mà dân cũng thắng, mỗi bên đều đạt được những mục tiêu cơ ban trên
tinh thần xây dựng.
- Phải tuân thủ nguyên tắc hợp pháp, hợp lý, hợp tình.
- Trong bất kỳ tình huống nào cũng phải dựa vào sự lãnh đạo của
Đảng, phải tin dân và dựa vào dân.
3. Bước 3: Khắc phục hiệu quả sau khi điểm nóng đã được
dập tắt

Trước hết, phải đưa xã hội nơi xảy ra điểm nóng trở lại hoạt động
bình thường; hệ thống chính trị, cơ sở sản xuất kinh doanh, bệnh
viện, trường học, các dịch vụ công cộng, các công trình phúc lợi,…
Thứ hai, là tập trung sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng và sự quản lý của
chính quyền cơ sở khắc phục những thiệt hại về người và của (nếu
có). Thứ ba, xác định trách nhiệm của các bên gây ra điểm nóng. Khi
đã xác định trách nhiệm của các bên thì tiến hành xử lý vi phạm từ tất
cả các phía; củng cố, thay thế, bổ sung, sàn lọc đội ngũ cán bộ của hệ
thống chính trị.
4. Bước 4: Rút kinh nghiệm, dự báo tình hình, áp dụng
những biện pháp để điểm nóng không tái phát
Khi tiến hành rút kinh nghiệm, cần đánh giá lại đội ngũ cán bộ
lãnh đạo, qua điểm nóng bộc lộ rõ ai là người thế nào. Đánh giá lại hệ
thống tổ chức quyền lực. Đánh giá phương thức lãnh đạo, chỉ đạo.
Đánh giá những thiếu sót bất cập trong chủ trương của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước, cần khách quan đánh giá lại cơ sở
chính trị - xã hội của Đảng trong quần chúng. Đồng thời với tổng kết,
rút kinh nghiệm xử lý điểm nóng, thực hiện dự báo tình hình và áp
dụng các biện pháp để điểm nóng không tái phát. Để công tác dự báo
19


có kết quả, cần dự báo theo nhữngthông số thu thập được về các mặt
kinh tế - xã hội; theo những kịch bản nhất định, kể cả những kịch bản
xấu nhất. Cũng cần dự báo cả phương thức xử lý nếu điểm nóng tái
phát.
Xung đột xã hội là hiện tượng vẫn tồn tại cùng với quá trình vận
động và phát triển của xã hội. Giải quyết, giải tỏa và quản lý tốt xung
đột xã hội theo xu hướng phát triển khách quan thì xung đột xã hội
không sinh ra những tình huống chính trị - xã hội hoặc điểm nóng

chính trị - xã hội.
Mặc dù vậy, các tình huống chính trị - xã hội và điểm nóng chính
trị - xã hội, sù không mong muốn vẫn sẽ là một hiện tượng tồn tại
trong đời sống xã hội và đời sống chính trị, đặc biệt là khi xã hội còn
phân chia giai cấp, còn những khác biệt về lợi ích, còn bất bình đẳng
trong quá trình hiện thực hóa các lợi ích, trong thụ hưởng những
thành quả phát triển chung và những phúc lợi xã hội. Điểm nóng
chính trị - xã hội còn là một hiện tượng gắn liền với những chuyển
biến mạnh mẽ trong đời sống kinh tế - xã hội, khi mà sự phát triển
vượt ra ngoài tầm kiểm soát của Nhà nước và xã hội,…
Tính chất, quy mô, hình thức biểu hiện, phương thức xử lý của
các xung đột xã hội, cũng như các tình huống chính trị - xã hội, các
điểm nóng chính trị - xã hội rất đa dạng muôn hình, muôn vẻ. Kinh
nghiệm cho thấy, khi điểm nóng chính trị - xã hội nổ ra, người lãnh
đạo biết phát huy vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng, của các đoàn thể
nhân dân, biết tin dân và dựa vào dân, có kỹ năng, xử lý tốt thì không
những điểm nóng sớm giải tỏa, sớm ổn định tình hình, mà còn tránh
được hậu quả nặng nề kéo dài về sau.
* Ví dụ minh họa:
HẾT
Câu 9 (Bài 7): Phân tích rõ các nguyên tắc đánh giá cán bộ ở
cơ sở? Liên hệ việc thực hiện các nguyên tắc này trong quá trình
đánh giá cán bộ hàng năm ở đơn vị, cơ sở nơi đồng chí đang công
tác.
TRẢ LỜI:
1. Nguyên tắc đánh giá cán bộ cấp cơ sở:
Một là, Các cấp ủy Đảng mà thường xuyên và trực tiếp là ban
Thường vụ Đảng uỷ cấp cơ sở thống nhất quản lý công tác đánh giá
trong phạm vi trách nhiệm được phân công .
20



Nguyên tắc này chỉ rõ:Tráchnhiệm đánh giá cán bộ thuộc về
cấp ủy, tổ chức đảng và lãnh đạo cơ quan đơn vị nơi cán bộ sinh hoạt;
cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp của cán bộ và bản thân cán bộ tự
đánh giá.
Dù ở cấp nào ngành nào đơn vị nào thì công tác quản lý đánh giá
cán bộ cũng thuộc về các cấp ủy và tổ chức đảng đã được Bộ chính trị
và cấp trên phân cấp quản lý.
Tập thể lãnh đạo cấp trên trực tiếp quản lý cán bộ phân tích đánh
giá ưu điểm khuyết điểm của cán bộ trong việc thực hiện nhiệm vụ
được giao để kết luận: hoàn thành tốt nhiệm vụ, hoàn thành ở mức
thấp, không hoàn thành, hoặc có nhiều thiếu sót, khuyết điểm.
Hai là, Đánh giá cán bộ phải lấy tiêu chuẩn và hiệu quả công tác
làm tác làm thước đo, bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ và đúng
quy trình.
Tiêu chuẩn cán bộ là sự cụ thể hóa những yêu cầu khách quan
của đường lối, nhiệm vụ chính trị của đảng và nhà nước phải vươn
lên đáp ứng.
Đánh giá cán bộ cần phải kết hợp tiêu chuẩn và hiệu quả hoạt
động thực tiễn làm thước đo phẩm chất năng lực cán bộ. Hiệu quả
hoạt động thực tiễn được thể hiện ở: Hiệu quả KT và hiệu quả CTXH.
Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI khẳng định: “Đánh giá
và sử dụng đúng cán bộ trên cơ sở những tiêu chuẩn, quy trình đã
được bổ sung, hoàn thiện lấy hiệu quả công tác thực tế và sự tín
nhiệm của nhân dân làm thức đo chủ yếu”. Đến Văn kiện đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ XII tiếp tục xác định phải: Đổi mới quan điểm,
phương pháp, quy trình đánh giá cán bộ, bảo đảm đánh giá công khai,
minh bạch, trung thực, khách quan, toàn diện, lấy hiệu quả hoàn
thành nhiệm vụ và uy tín trong cơ quan, đơn vị làm thước đo chủ yếu.

Trong quá trình đánh giá cán bộ phải bảo đảm dân chủ rộng rãi,
tập trung cao, thể hiện trên những yêu cầu sau: bản thân người cán bộ
phải tự phê bình, tự đánh giá ưu khuyết điểm của mình. Đồng thời tổ
chức cho cán bộ đảng viên, quần chúng trong cơ quan đơn vị tham
gia đánh giá cán bộ bằng góp ý trực tiêp hoặc ghi phiếu nhận xét sau
đó cấp ủy, tổ chức đảng cùng cấp và cấp ủy, tổ chức đảng cấp trên
trực tiếp quản lý cán bộ nhận xét đánh giá cán bộ. Sauk hi có đánh
giá, kết luận của cấp ủy có thẩm quyền, CB được thông báo ý kiến
nhận xét của cơ quan có thẩm quyền về bản thân mình, được trình
bày ý kiến, có quyền bảo lưu và báo cáo lên cấp trên, nhưng phải
chấp hành ý kiến kết luận của cơ quan có thẩm quyền.
21


Ba là, Đánh giá cán bộ phảikhách quan, toàn diện, lịch sử, cụ
thể và phát triển.
Nguyên tắc trên đòi hỏi việc đánh giá cán bộ không được phiến
diện, hời hợt chủ quan cảm tính, không được định kiến nhìn sự phát
triển của người cán bộ theo quan điểm “ tĩnh”, bất biến.
Kết hợp theo dõi, đánh giá thường xuyên và đánh giá định kỳ về
cán bộ để phản ánh liên tục và kịp thời sự phát triển của cán bộ.
Bảo đảm nội dung đánh giá CB ở cơ sở.
* Đánh giá cán bộ phải làm rõ những nội dung chủ yếu sau
đây:
Một là, đánh giá về phẩm chất CT, đạo đức, lối sống của CB ở cơ
sở. Đánh giá phải kết luận được ưu điểm, khuyết điểm của CB trên
từng mặt nói trên. Về phẩm chất chính trị CB cơ sở phải được thể
hiện ở ý thức, thái độ hành vi của CB với đường lối, 9 sách của Đảng,
PL của NN, về đạo đức, phải thể hiện trong các mqh công tác với
đồng nghiệp với người thân, với nhân dân địa phương. CB cơ sở có

đạo đức tốt, phải là người không quan lieu, tham nhũng; có lối sống
lành mạnh, về tác phong phải gần gũi với nhân dân, biết quan tâm
đến tâm trạng quần chúng, sống giản dị.
Hai là, đánh giá về năng lực công tác, gồm năng lực của người
lãnh đạo và năng lực chuyên môn nghiệp vụ công tác được giao.
Ba là, đánh giá phải rút ra kết luận về triển vọng phát triển và
hướng bố trí sử dụng CB.
2. Liên hệ thực tiễn:
- Thuận lợi: Công khai minh bạch, học tập nâng cao trình độ
chuyên môn nghiệp vụ,
- Khó Khăn: Đ/g còn nể nang, ngại va chạm, thiếu tập trung dân
chủ, còn theo cảm tình, tư tưởng còn nể nang sợ bị trù dập…
- Giải pháp:
+ Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng
+ Chọn người tài không chọ người nhà
+ CBCC phải có tâm, có tầm
+ Xây dựng tiêu chí để làm cơ sở đ/g CBCC
+ Sự phối hợp giữa các đơn vị có liên quan
HẾT

22


Câu 10 (Bài 8): Làm rõ cácnguyên tắc điều hành công sở?
Liên hệ việc thực hiện các nguyên tắc này ở đơn vị, cơ sở nơi
đồng chí đang công tác.
TRẢ LỜI:
Điều hành công sở là hoạt động đảm bảo choc bcc thuộc quyền
thực hiện đngs và hiệu quả các công việc được giao để hoàn thành
mục tiêu chung của tổ chức.

1. Các nguyên tắc điều hành công sở
Các nguyên tắc tổ chức hoạt động của công sở được thực hiện
nhằm giúp cho iệc tổ chức công việc một các khoa học hợp lý và hiệu
quả. Hoạt động điều hành công sở cần tuân thủ các nguên tắc sau:
- Nguyên tắc tập trung dân chủ phát huy vai trò tập thể, đề cao
trách nhiệm cá nhân: Tập trung dân chủ là nguên tắc hiến định trong
tổ chức và hoạt động của nhà nước ta. Nguyên tắc này đòi hỏi phải
kết hợp hào hòa giữa việc phát huy vai trò của tập thể và đề cao trách
nhiệm của cá nhân trong hoạt động điều hành công sở.
- Chấp hành sự chỉ đạo, điều hành của cơ quan, tổ chức cấp
trên, dưới sự giám sát của MTTQ và các đoàn thể, nhân dân cùng
cấp:
Hoạt động điều hành công sở của các cơ quan, đợ vị phải được
đặt trong tỏng thể nền công vụ, theo đó, cơ quan cấp dưới cần đảm
bảo tuân thủ sự chỉ đạo điều hành của cơ quan câp trên để tạo sự
thống nhất trong hoạt động quản lý.
Mặt khác điều hành công sở, đặc biệt là công sở hành chính củng
cần được đặt dưới sự giám sát của HĐND, MTTQ và các đoàn thể
nhân dân cùng cấp nhằm góp phần kiểm soát hiệu quả đối với hoạt
động của các cơ quan nhà nước.
- Giải quyết các công việc phải theo đúng pháp luật, thẩm quyền,
phạm vi trách nhiệm; bảo đảm công khai dân chủ, minh bạch, liên
tục, kịp thời, hiệu quả tối ưu, theo đúng trình tự, thủ tục, thời hạn quy
định.
+ Giải quyết công việc theo đúng pháp luật, thẩm quyền, phạm vi
trách nhiệm
Trong các quốc gia văn minh hiện nay, pháp luật đóng vai trò
quan trọng trong việc ổn định trật tự xã hội, đem lại đời sống nhân
dân, công bằng cho mọi người. Đối với nước ta pháp luật là phương
tiện không thể thiếu được để nhà nước thực hiện quyền hạn và trách

nhiệm quản lý xã hội. điều hành công sở củng không thể không tuân
thủ pháp luật để đảm bảo pháp chế trong quản lý nhà nước.
23


Pháp chế là một trong nhữngphương pháp quản lý nhà nước đối
với xã hội. Phá chế yêu cầu tất cả các cơ quan tổ chức, công dân đều
phải nghiêm chỉnh chấp hành hiến pháp và pháp luật, phải đấu tranh
phòng chống vi phạm hiến pháp và pháp luật. Trong điều kiện xã hội
nước ta hiện nay, nhằm góp phần làm ổn định trật tự xã hội, hạn chế
tối đa những vụ việc vi phạm pháp luật nhà nước, việc tăng cướng
pháp chế là một điều cần thiết không thể thiếu ở từng ngành, từng địa
phương, cơ quan, đơ vị.
Hoạt động điều hành công sở phải được tiến hành trên cơ sở tuân
thủ theo quy định của pháp luật. khi tiến hành các hoạt động quản lý,
các nhà quản lý phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi của
mình. Mọi vi phạm các chế định đó đều phải bị xem xét theo pháp
luật để có biện pháp xử lý.
Đảm bảo pháp chế đòi hỏi phải có sự phân công rõ ràng về
nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mỗi cá nhân, đơn vị trong
trong sở, khi mà mọi nhiệm vụ, quyền hạn trách nhiệm của mỗi cá
nhân từ lãnh đạo đến nhân viên trong công sở đều được xác định,
phân công một các rõ ràng và hợp lý. Đều đó sẽ thúc đẩy mọi người
làm việc hiệu quả hơn.
Nhằm đảm bảo pháp chế việc quản lý công sở phải được đánh
giá thường xuyên thông quan công tác kiểm tra, thanh tra việc chấp
hành thể chế.
+ Đảm bảo công khai dân chủ minh bạch
Mọi thành viên trong công sở phải được và rõ công việc và trách
nhiệm của mỗi người, của mình và công việc của toàn công sở. Công

khai hóa động công sở là nhằm tạo sự hiểu biết và hợp tác công việc.
Nội dung cần công khai là về nguyên tắc hoạt động và cơ cấu tổ
chức của công sở; trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ của từng cá
nhân, đơn vị trong công sở; các thủ tục thực hiện, kiểm tra, đánh giá
kết quả công vụ; công tác bố trí, sử dụng nhân dự…
Việc công khai các nội dung đó được thể hiện bằng nhiều hình
thức khác nhau như: trình bài trong các báo cáo định kỳ hoặc bất
thường, niêm yết trên bảng thông báo, các bản tin…
Việc công khai hóa các nội dung hoạt động của công sở còn
nhằm đảm bảo dân chủ hóa hoạt đọng quản lý công sở hướn tới tập
hợp được trí tuệ của công sở cá nhân và tổ chức, làm cho quá trình ra
quyết định được đúng đắn và khả thi.
Để thực hiện nguyên tắc này cần có sự tham gia, bàn bạc, thảo
luận của các đơ vị, các cá nhân mỗi thành viên cơ quan tổ chức trong
24


quá trình đưa ra các quyết định đều hành. Việc đó có thể được tiến
hành thông qua các diễn đàn, mở rộng quy mô các cuộc họp;họp thư
góp ý…
+ Đảm bảo tính liên tục kịp thời
Điều hành công sở là quá trình liên tục, thường xuyên và có sự
phối hợp giữa các thành viên, đơn vị theo quy chế hoạt động của
công sở.
Việc thực hiện các nhiệm vụ của công sở cần được quy định rõ
khoảng thời gian phải hoàn thành. Khoảng thời gian này phải quy
định phù hợp với từng loại công việc với tính chất, mức độ phức tạp
khác nhau.
Quy định rõ cơ chế phối hợp trong việc đánh giá VBQPPL.
+ Đạt được hiệu quả tối ưu:

Điều hành công sở không chỉ là việc ban hành và triển khai thực
hiện đường lối, chính sách, mà còn là việc kiểm tra và đánh giá hiệu
quả của đường lối, chính sách đó.
Việc đánh giá hiệu quả của điều hành công sở sẽ đem lại một cái
nhìn sâu sắc hơn về những điểm mạnh, những tồn tại và cũng là một
sự khởi đầu tốt cho việc xd hệ thống quản lý công sở nhằm thúc đẩy
sự phát triển bền vững và cũng có thể là điểm khởi đầu cho việc xd
một hệ thống quản lý công sở đảm bảo chất lượng bên trong.
Điều hành công sở hiệu quả là việc tối ưu hóa các nhiệm vụ, làm
cho các nhiệm vụ quản lý phù hợp với nguyên tắc thẩm quyền và
trách nhiệm, phân bổ trách nhiệm theo công đoạn thực thi nhiệm vụ.
Điều hành công sở là hoạt động có tính KH cao, do vậy phải
được tiến hành dựa trên những thành tựu KH, đặc biệt là KH quản lý
– pháp lý.
- CBCC phải đi sâu sát cơ sở, lắng nghe ý kiến đóng góp của
nhd, có ý thức học tập, nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lý ngày
càng chính quy, hiện đại.
Điều hành công sở là các hoạt động được tiến hành bởi đội ngũ
CBCC có thẩm quyền. Để hoạt động này có hiệu quả, đòi hỏi các
CBCC phải thật sự gần gũi với quần chúng nhân dân, bám sát thực
tiễn ở cơ sở, biết tiếp thu sự đóng góp ý kiến của nhd. Bên cạnh đó,
để phục vụ dân tốt hơn, đòi hỏi đội ngũ CBCC phải thật sự vừa hồng,
vừa chuyên, vừa giỏi chuyên môn nghiệp vụ, vừa có phẩm chất đạo
đức trong sang, có bản lĩnh vững vàng. Để làm được điều này, CBCC
phải không ngừng học tập, nâng cao trình độ mọi mặt để nâng cáo
chất lượng công vụ. Ngoài ra, để nền công vụ ngày càng hiện đại, bên
25



×