TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ
Khoa Nông học
BÁO CÁO
TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
“Ảnh hưởng của các liều lượng phun phân bón lá SFarm D01 đến sinh
trưởng và năng suất cây xà lách tại phường Hương Long, thành phố Huế,
Thừa Thiên Huế”
Sinh viên thực hiện:
Trần Kỳ Duyên
Lớp:
Khoa Học Cây Trồng 48B
Thời gian thực hiện:
3/2018 – 5/2018
Địa điểm thực hiện:
Hương Long, TT.Huế
Giáo viên hướng dẫn:
PGS.TS Lê Thị Khánh
NĂM 2018
1
LỜI CẢM ƠN
Sau quá trình học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm Huế, đặc
biệt trong thời gian thực hiện đề tài tốt nghiệp, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt
tình của nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới toàn thể các thầy cô giáo
trường Đại học Nông Lâm Huế, các thầy cô giáo trong khoa Nông Học, đặc biệt
là cô giáo PGS.TS Lê Thị Khánh, người đã tận tình hướng dẫn và chỉ bảo, tạo
điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Tôi xin trân trọng cảm ơn UBND phường Hương Long đã cho tôi điều kiện
thí nghiệm nghiên cứu đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn bố mẹ, anh chị em, bạn bè và những người thân
đã hết sức giúp đỡ cả về vật chất và tinh thần trong cả quá trình học tập, rèn
luyện, nghiên cứu và hoàn thiện báo cáo tốt nghiệp.
Mặc dù đã cố gắng hết sức nhưng do thời gian thực hiện không nhiều, kiến
thức của bản thân và kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế nên không tránh khỏi
những thiếu sót. Rất mong được sự giúp đỡ, đóng góp của quý thầy cô và các
bạn để báo cáo được hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!
Huế, tháng 05 năm 2018
Sinh viên thực hiện
Trần Kỳ Duyên
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Thành phần dinh dưỡng của xà lách trong 100g ăn được ở một
số nước và Việt Nam
Bảng 2.2. Diện tích, năng suất, sản lượng rau ở các châu lục trên thế giới
năm 2013
Bảng 2.3. Diện tích, năng suất và sản lượng rau ở Việt Nam giai đoạn 2000
– 2013
Bảng 3.1. Diễn biến khí hâu, thời tiết vụ Xuân 2018 tại Thừa Thiên Huế
2
Bảng 4.1. Ảnh hưởng của các liều lượng phun SFarm D01 đến thời gian
sinh trưởng của xà lách
Bảng 4.2. Ảnh hưởng của các liều lượng phun SFarm D01 đến động thái
tăng trưởng chiều cao cây xà lách
Bảng 4.3. Ảnh hưởng của các liều lượng phun SFarm D01 đến động thái ra
lá của cây xà lách
Bảng 4.4. Ảnh hưởng của các liều lượng phun SFarm D01 đến đường kính
tán cây xà lách
Bảng 4.5. Ảnh hưởng của các liều lượng phun SFarm D01 đến động thái
tăng trưởng chiều rộng lá cây xà lách
Bảng 4.6. Ảnh hưởng của các liều lượng phun SFarm D01 đến động thái
tăng trưởng chiều dài lá cây xà lách
Bảng 4.7. Ảnh hưởng của các liều lượng phun SFarm D01 đến khối lượng
tươi của cây xà lách
Bảng 4.8. Ảnh hưởng của các liều lượng phun SFarm D01 đến khối lượng
khô của cây xà lách
Bảng 4.9. Ảnh hưởng của các liều lượng phun SFarm D01
đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất xà lách
Bảng 4.10. Hiệu quả kinh tế của các công thức do ảnh hưởng của các liều
lượng phun SFarm D01
Bảng 4.11. Ảnh hưởng của các liều lượng phun SFarm D01 đến một số chỉ
tiêu đánh giá hình thái, chất lượng xà lách
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1. Ảnh hưởng của các liều lượng phun SFarm D01 đến động thái
tăng trưởng chiều cao cây xà lách
Biểu đồ 4.2. Ảnh hưởng của các liều lượng phun SFarm D01 đến động thái
ra lá của cây xà lách
3
Biểu đồ 4.3. Ảnh hưởng của các liều lượng phun SFarm D01 đến đường
kính tán cây xà lách
Biểu đồ 4.4. Ảnh hưởng của các liều lượng phun SFarm D01 đến động thái
tăng trưởng chiều rộng lá cây xà lách
Biểu đồ 4.5. Ảnh hưởng của các liều lượng phun SFarm D01 đến động thái
tăng trưởng chiều dài lá cây xà lách
Biểu đồ 4.6. Ảnh hưởng của các liều lượng phun SFarm D01 đến khối
lượng tươi của cây xà lách
Biểu đồ 4.7. Ảnh hưởng của các liều lượng phun SFarm D01 đến khối
lượng khô của cây xà lách
Biểu đồ 4.8. Ảnh hưởng của các liều lượng phun SFarm D01
đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất xà lách
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Chữ cái viết tắt
Nội dung
CT
: Công thức
ST
: Sinh trưởng
Đ/C
: Đối chứng
HC
: Hữu cơ
LSD0,05
: Giá trị tới hạn cho sự so sánh ở mức độ chính xác
NSLT
: Năng suất lí thuyết
NSTT
: Năng suất thực thu
TCN
: Trước công nguyên
NST
: Nhiễm sắc thể
95%
4
FAO
: Food and Agriculture Organization of the United
Nations (Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc)
MỤC LỤC
PHẦN 1. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Rau xanh là món ăn không thể thiếu được trong bữa ăn hàng ngày của con
người trên khắp hành tinh, đặc biệt khi nguồn lương thực và các loại thức ăn
giàu đạm đã được đảm bảo thì yêu cầu về số lượng và chất lượng rau xanh lại
càng tăng lên. Rau là thực phẩm thiết yếu cho nhu cầu hàng ngày của con người,
những loại rau thường được dùng trong các bữa ăn hàng ngày thường là những
loại rau ăn lá hoặc trái: rau cải, đậu, dưa leo, xà lách... Trong đó xà lách được
dùng hàng ngày khá nhiều và phổ biến.
Xà lách (Lactuca sativar L.) là loại rau ăn lá và thường có mặt trong bữa ăn
hằng ngày của chúng ta. Xà lách có nhiều chất dinh dưỡng như vitamin, protein,
lipit, chất xơ và các chất khoáng cung cấp một lượng calo tương đối cao cho cơ
thể con người. Xà lách có tác dụng giải nhiệt, kích thích tiêu hóa, trị ho, suy
nhược thần kinh, táo bón, thấp khớp… Xà lách quyết định chất lượng hỗn hợp
rau và tính ngon miệng nên được người tiêu dùng ưa chuộng, khả năng tiêu thụ
xà lách quanh năm rất lớn. Thông thường xà lách được trồng trên đất và bón
phân vào hốc. Thực tế hiện nay xà lách là loại rau ăn lá (ăn sống) có nhu cầu
tiêu thụ rất cao, việc chạy theo lợi nhuận người dân đã lạm dụng bón nhiều phân
vô cơ đặc biệt là phân đạm làm cho đất chai cứng, vi sinh vật hoạt động kém
dẫn đến hiệu quả sử dụng phân bón không cao. Mặc khác thời tiết khí hậu ở
Thừa Thiên Huế khắc nghiệt mùa mưa thì mưa lớn kéo dài, rửa trôi chất dinh
dưỡng, ẩm độ đất cao dẫn đến cây bị bão hòa nước; mùa khô nắng nóng, cây
sinh trưởng còi cọc dẫn đến năng suất và chất lượng thấp, hiệu quả kinh tế kém.
Vì vậy để tăng năng suất và chất lượng cho cây xà lách cũng như đảm bao an
toàn thực phẩm người ta thường áp dụng phương pháp phun dung dịch dinh
dưỡng lên lá.
Bón phân qua lá là một phương pháp nhằm bổ sung chất dinh dưỡng và các
yếu tố vi lượng cần thiết cho cây, giúp cây hấp thụ một cách nhanh chóng.
Trong các loại phân bón lá thì SFarm D01 có thành phần là các yếu tố dinh
5
dưỡng cần thiết cho cây, có nguồn gốc hữu cơ nên đảm bảo sạch và an toàn, đáp
ưng nhu cầu của người tiêu dùng.
Thừa Thiên Huế là một tỉnh có diện tích trồng xà lách lớn ở khu vực miền
Trung, do đó để đáp ứng được đầy đủ nhu cầu sử dụng xà lách ngoài vấn đề
giống, bảo vệ thực vật, thời vụ, mật độ… thì việc sử dụng hợp lý phân bón lá
SFarm D01 với những đặc tính vượt trội nhằm giảm lượng phân bón so với
truyền thống là điều cần thiết. Vì vậy, đặt ra yêu cần làm gì để phun phân bón lá
với nồng độ hợp lý để cây sinh trưởng và phát triển tốt nhất.
Xuất phát từ những vấn đề trên, tôi đã quyết định thực hiện đề tài: “Ảnh
hưởng của các liều lượng phun phân bón lá SFarm D01 đến sinh trưởng và
năng suất cây xà lách tại phường Hương Long - thành phố Huế, Thừa Thiên
Huế”.
1.2. Mục đích, yêu cầu của đề tài
1.2.1. Mục đích
- Xác định được một nồng độ phun phân bón lá tốt nhất cây sinh trưởng
khỏe cho năng suất cao, chất lượng tốt thích hợp điều kiện sản xuất của địa
phương.
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của việc phun phân bón lá cho xà lách.
1.2.2. Yêu cầu
Đánh giá được ảnh hưởng của các liều lượng phun phân bón lá SFarm
D01 đến sinh trưởng, các yếu tố cấu thành năng suất và chất lượng xà lách.
PHẦN 2. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Tổng quan về cây xà lách
2.1.1. Nguồn gốc
Xà lách (Lactura sativa L.) là loại rau ăn sống quan trọng và phổ biến ở
nhiều nước, đặc biệt ở vùng ôn đới và các nước cận nhiệt đới và nhiệt đới được
trồng với diện tích lớn nhất trong số các loại rau ăn sống, vì thế nó là loại rau
quan trọng nhất trên thế giới, trong đó có Việt Nam.
Tùy theo dòng, loại, hình thức cuộn của lá hoặc đặc điểm hình dạng,
thương hiệu, nhiều địa phương có những tên kèm theo như: xà lách búp, xà lách
cuộn, xà lách Hải Phòng, xà lách Đại Địa, xà lách hai mũi tên đỏ...
6
Theo Ryder và Whitaker xà lách có nguồn gốc từ Địa Trung Hải được các
nhà truyền đạo, các thương nhân du nhập khắp thế giới, người ta đã tìm thấy dấu
hiệu tồn tại của xà lách vào khoảng 4500 năm TCN qua các hình khắc trên mộ
cổ ở Ai Cập, xà lách đã nhanh chóng du nhập vào các nước láng giềng và lan
rộng ra tất cả châu lục.
Xà lách được sử dụng làm nhiều món ăn trong đời sống của con người.
Nó thường được trồng làm rau ăn lá, đặc biệt trong món salad, bánh sandwich,
hamburger, và nhiều món ăn khác, hoặc nấu chín, như trong các món ăn của
nhiều nước trên thế giới.
2.1.2. Phân loại
Xà lách thuộc họ cúc, chi Lactuca, có số lượng NST 2n = 18, có nhiều
loại xà lách hoang dại được sử dụng như nguồn chống sâu bệnh. Xà lách là thực
vật thượng đẳng, có đơn vị phân loại.
Ngành hạt kín: Angiospermatophyta.
Lớp hai lá mầm: Dicotyledoneae.
Dưới lớp cúc: Aseridae.
Bộ cúc: Aserilae.
Họ cúc: Compositae.
Dưới họ hoa thìa lìa: Liguliflorae.
Chi Lactuca có số lượng NST là 8, 9, 17 cặp.
Giống xà lách cuốn: Lactuca sativa. L có rất nhiều loài. Theo một số tác giả
thì có khoảng 300 loài, có 7 cấp độ NST như 2n = 10, 16, 18, 32, 34, 36, 48.
Nhưng chỉ có 4 loài đã được công nhận từ việc thành lập nhóm nhân giống
hữu ích bởi các phương pháp đã có ở giai đoạn 1940 – 1960. [1]
Xà lách được phân thành 4 loài:
- Lactuca sativa: Là loài thông dụng nhất, có nhiều dạng khác nhau, năng
suất cao, ngon, được nhiều người ưa thích và được trồng rộng rãi nhiều nơi.
- Lactuca serroila: loài này có hạt rất nhỏ, mầm hình thành ngay ở thân.
Lá tương đối rộng, nằm ngang, có thể có răng cưa ở mép lá và bản lá giống hình
cánh hoa hồng.
- Lactuca saligna: gần giống loại hình trên về hình thái nhưng bản lá trải
ngang và có răng cưa.
7
- Lactuca virosa: có hạt to và phẳng, lá có màu xanh lục nhạt có cả dạng
hai năm và hằng năm. Mỗi loài có 2n = 18 NST, Sativa. L và Serriola. L giao
phấn tự nhiên với nhau và có thể được xếp cùng một loài giống nhau, Saligna. L
và Serriola. L khác nhau rõ rệt.
2.1.3. Đặc điểm thực vật học
- Bộ rễ: Rễ xà lách thuộc loại rễ chùm, phân bố chủ yếu ở tầng đất 0 – 20
cm, tuy nhiên bộ rễ có thể nhìn thấy hai phần: Rễ cọc và rễ thẳng, khá phát triển
làm nhiệm vụ giữ cây, bám vào đất được chắc ngoài ra còn làm nhiệm vụ hút
nước và dinh dưỡng nuôi cây. Trên rễ cọc có rất nhiều rễ phụ giúp cây bám đất,
hút nước, dinh dưỡng.
Bộ rễ ăn nông 10 - 15cm, phân bố hẹp, nhưng phát triển rất nhanh, tái
sinh mạnh nên thường gieo cây con rồi nhổ đi trồng. Rễ xà lách ưa ẩm, có khả
năng chịu úng tốt hơn chịu hạn. Nhìn chung xà lách có bộ rễ phát triển mạnh và
nhanh.
- Thân: Thân xà lách thuộc thân thảo, mềm, rất ngắn, không phân nhánh,
phát sinh các lá mọc sít nhau, là nơi kết nối giữa thân và lá, chuyển hóa chất
khoáng do bộ rễ hút và chất hữu cơ do bộ lá tổng hợp nuôi cây. Thân xà lách rất
giòn, trên thân có dịch màu trắng sữa, thời gian đầu phát triển rất chậm nhưng
giai đoạn sau khi cây đạt cao nhất về sinh khối trở nên thân phát triển rất nhanh
và bắt đầu ra hoa.
- Lá: Xà lách có số lượng lá lớn, lá sắp xếp trên thân hình xoắn ốc, lúc
dầu mật độ lá rất dày, giai đoạn sau mật độ lá thưa dần, lá ngoài có màu xanh
đến xanh đậm, lá trong xanh nhạt đến trắng ngà. Các lá phía trong giòn, dày, có
chất dinh dưỡng cao. Bề mặt lá không phẳng mà lồi lõm, gấp khúc do đặc tính
di truyền của loài, lá làm nhiệm vụ chủ yếu là tổng hợp các chất hữu cơ để nuôi
cây. Tùy theo giống mà lá có thể khác nhau, cuốn (xà lách) hay không cuốn (rau
diếp).
- Hoa: Chùm hoa dạng đầu có số lượng hoa rất lớn, các hoa nhỏ duy trì
chặt chẽ với nhau trên một đế hoa, với 5 đài hoa, 4 nhị và 2 lá nõn. Độ tự thụ
phấn của hoa rất cao. Hạt phấn và nõn luôn có độ hữu thụ rất cao.
Công thức cấu tạo của hoa: K5C(5)A5G(5).
- Quả và hạt: Quả xà lách thuộc loại quả bế đặc trưng. Hạt không có nội
nhũ, hạt hơi dài và dẹt, màu vàng nâu, độ nảy mầm tương đối cao, đạt 80 – 90%.
8
2.1.4. Yêu cầu sinh thái của cây xà lách
Đối với xà lách lá là bộ phận sử dụng, lá có thể khác nhau, cuốn hay
không cuốn, mép lá có răng hay không có răng cưa tùy giống nhưng cũng là cơ
quan quang hợp và tích lũy chất dinh dưỡng, nếu gặp kiện ngoại cảnh thuận lợi
sẽ cho năng suất cao, chất lượng tốt. Do đó, tùy từng giống mà có thể yêu cầu
điều kiện ngoại cảnh khác nhau và đều phụ thuộc vào các yếu tố sau:
- Yêu cầu về nhiệt độ: Xà lách có nguồn gốc vùng ôn đới, ưa nhiệt độ
thấp, tuy nhiên trong quá trình trồng trọt, chọn lọc và thuần hóa, ngày nay cây
xà lách có thể trồng trên nhiều vùng khí hậu khác nhau như nhiệt đới, cận nhiệt
đới…, nhiệt độ phù hợp cho cây sinh trưởng và phát triển tốt nhất là 13 – 16 0C,
nhiệt độ chênh lệch ngày và đêm rất quan trọng cho sự sinh trưởng và phát triển
của xà lách. Nhiệt độ chênh lệch ngày và đêm thích hợp là 2 – 3 0C, xà lách cuốn
phát triển tốt nhất ở nhiệt độ 15 – 200C, nhiệt độ tối thiểu là 80C.
- Yêu cầu về độ ẩm: Cũng như các loại rau nói chung xà lách cần nhiều
nước để phát triển do có bộ lá lớn, tốc độ thoát hơi nước từ bề mặt lá cao. Nếu
thiếu nước lá bị xanh, không cuốn, tích lũy chất đắng nhưng nếu mưa kéo dài
hay đất úng nước sẽ ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng và phát triển của xà lách.
Để đảm bảo nhu cầu nước cho sinh trưởng và phát triển tốt độ ẩm trong đất
thích hợp nhất là 70 – 80%.
- Yêu cầu về ánh sáng: Ánh sáng là yếu tố rất quan trọng cho sự sống
của thực vật, đối với xà lách ánh sáng thích hợp là ánh sáng vùng cận nhiệt đới
với cường độ khoảng 17.000 lux. Thời gian chiếu sáng 14 – 16 giờ sẽ hình thành
bắp chắc hơn (đối với xà lách cuốn).
Để xà lách sinh trưởng bình thường và cho năng suất cao thì nhu cầu về
thời gian chiếu sáng trong ngày là 10 – 12 giờ. Cường độ ánh sáng không những
ảnh hưởng đến quá trình tổng hợp các chất hữu cơ trong cây.
- Yêu cầu dinh dưỡng và đất: Xà lách không kén đất, có thể sinh trưởng
trên nhiều loại đất khác nhau. Nhưng đất cho năng suất cao nhất vẫn là đất tơi xốp,
giữ nước, giữ phân tốt như đất thịt, đất thịt nhẹ, đất cát pha, pH từ 5.8 - 6.6 và yêu
cầu thoát nước nhanh. Xà lách là loại cây yêu cầu dinh dưỡng cao, phân hữu cơ có
tác dụng rất lớn trong quá trình sinh trưởng, phân giải, cung cấp những yếu tố cần
thiết cho cây. Sau trồng từ 30 - 40 ngày có thể thu hoạch được nên đòi hỏi phân dễ
tiêu. Bón lót các loại phân hữu cơ chủ yếu (phân chuồng hoai mục, bánh dầu đậu
phụng, đậu tương, phân cút) để làm tăng chất lượng, phân vô cơ thích hợp NPK để
cây phát triển nhanh, tăng năng suất/đơn vị diện tích [6].
9
2.2. Giá trị của cây xà lách
- Giá trị dinh dưỡng
Cây xà lách (Lactuca sativa. L) là một loại rau ăn sống rất được ưa chuộng
trong mỗi bữa ăn hằng ngày. Người phương Tây, vùng châu Âu, Nam Mỹ rất thích
ăn xà lách trong nhiều món ăn (trộn salad, món lẩu, súp...). Xà lách là loại rau có
giá trị dinh dưỡng cao, rất giàu khoáng, giàu vitamin, protein, lipid, xơ, cacbua
hydrat, và vitamin C (tiền vitamin A: 1650 UI. vitamin C: 10mg/100 g phân tích),
cacbuahydrat 2.5g, protein 2.1g, khoáng 2.1g (Ca, P, Na, S...).
Đặc biệt trong rau còn chứa một số acid amin không thay thế (Thiamin
0.09mg/100g, riboflavin 0.13mg/100g), một số loại enzym phân giải những loại
thức ăn giàu protein, lipid, cung cấp một lượng calo tương đối cao cho cơ thể
con người, giúp cơ thể tiêu hoá tốt hơn, đặc biệt là một vị thuốc an thần, giúp cơ
thể chống mệt mỏi.
Xà lách được dùng để ăn sống, trộn thịt... cũng có thể nấu chín nhưng
trong quá trình nấu chín dễ bị mất hàm lượng vitamin, hương vị, gây đắng,
nguyên nhân là rau rất mềm, khả năng thoát hơi nước mạnh làm bay hơi theo
các chất dinh dưỡng khác. Theo tài liệu của viện ung thư Mỹ, xà lách có thể
ngăn chặn một số bệnh ung thư, thân xà lách thuộc loại thân thảo có một loại
dịch trắng như sữa có thể dùng làm thuốc trong y học.
10
Bảng 2.1. Thành phần dinh dưỡng của xà lách trong 100g ăn
được ở một số nước và Việt Nam
Nước
Mỹ
Ấn Độ
Việt Nam
Calori (calo)
9
21
15
Dietary (fiber)
1.3
-
-
Protein (g%)
1
2.1
1.5
Carbohydrate (g)
1.34
2.5
2.2
Chất béo (%)
0,3
-
-
Nước (%)
-
93.4
95,0
Chất khoáng (g)
-
-
1.2
Vitamin A (IU)
1456
-
1650
Caroten (mg)
-
66
2.0
Vitamin C (mg%)
13.44
10.0
15
B1 (mg)
-
-
0.14
B2 (mg)
-
-
0.12
PP (mg)
-
-
0.70
Tro (g%)
-
-
0.8
Xellulose (g%)
-
-
0.5
Ca (mg)
20.16
50.0
77.0
Fe (mg)
0.62
0.7
0.9
P (mg)
-
-
34.0
K (mg)
162.4
-
-
Thiamin (mg)
-
0.09
-
Ribotlavin
-
0.13
-
Dinh dưỡng
(Nguồn: Viện ung thư Mỹ 1998, Viện dinh dưỡng quốc gia Ấn Độ 1980,
thành phần hóa học thức ăn Việt Nam 1980) [7]
- Giá trị kinh tế
Rau là loại cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao. Giá trị sản xuất một ha rau
gấp 2 - 3 lần so với một ha lúa. Hiệu quả lớn hay nhỏ còn phụ thuộc vào trình độ
11
người sản xuất, công nghệ sản xuất, kinh nghiệm và chủng loại rau. Nhìn chung
cây rau có thời gian sinh trưởng ngắn, có thể trồng nhiều vụ trồng năm, do đó
làm tăng sản lượng trên đơn vị đơn vị diện tích. Xà lách chiếm vị trí khá quan
trọng trong cơ cấu cây trồng thực phẩm nói chung và các loại rau nói riêng.
Xà lách chiếm vị trí cao trong cơ cấu cây rau các loại, với khoảng thời
gian sinh trưởng đến thu hoạch ngắn, xà lách thường được trồng gối vụ, trồng
xen giữa hai vụ cây lương thực như ngô, khoai, sắn…, nhờ vậy nó góp phần
tăng thu nhập cho người dân, tạo thêm việc làm cho người lao động ở khu vực
nông thôn. Xà lách còn giúp đất được luân canh với giai đoạn ngắn để đất có
thời gian tiêu hủy chất hữu cơ và phục hồi dinh dưỡng đất với loại cây trồng
chính vụ tiếp theo.
- Giá trị dược liệu
Trong rau xà lách có chứa Lactucarium là chất có hoạt tính sinh học cao,
tác động đến thần kinh, làm giảm đau và gây ngủ, có tác dụng giải nhiệt, kích
thích tiêu hóa, suy nhược tâm thần, táo bón, thấp khớp. Người mắc chứng hồi
hộp, lo âu, khó ngủ nên ăn rau xà lách đều trong các bữa ăn.
Từ cây xà lách, có thể chiết ra một loại dịch nhựa, chế thành si rô hoặc để
khô làm thành viên thuốc chữa bệnh. Theo tài liệu nghiên cứu của Viện ung thư
Mỹ, rau xà lách còn có tác dụng củng cố thành mạch, hạn chế lượng cholestoron
trong máu, ăn rau xà lách có thể ngăn chặn một số bệnh ung thư [5].
2.3. Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau xà lách trên Thế
giới và Việt Nam
2.3.1. Trên thế giới
Rau xanh là loại thực phẩm thiết yếu, có nhiều chất dinh dưỡng và là thực
phẩm cần thiết không thể thiếu được trong bữa ăn hàng ngày của mọi gia đình.
Chất lượng cuộc sống ngày càng cao thì yêu cầu về số lượng và chất lượng rau
lại càng gia tăng. Rau xanh có ý nghĩa như một nhân tố tích cực trong cân bằng
dinh dưỡng và kéo dài tuổi thọ của con người. Rau là cây trồng có giá trị kinh tế
cao, là mặt hàng xuất khẩu của nhiều nước trên thế giới
Theo số liệu thống kê gần đây của tổ chức FAO, năm 2012 trên toàn thế
giới có 19.21 triệu ha được sử dụng để trồng rau với năng suất 14.34 tấn/ha và
sản lượng 275.38 triệu tấn. Năm 2013 trên toàn thế giới có 19.79 triệu ha được
sử dụng để trồng rau với năng suất trung bình là 14.16 tấn/ha và sản lượng
12
280.31 triệu tấn. Từ năm 2005 đến 2013 diện tích sản xuất rau của thế giới tăng
từ 16.30 triệu ha năm 2005 đến 19.79 năm 2013.
13
Bảng 2.2. Diện tích, năng suất, sản lượng rau ở các châu lục
trên thế giới năm 2013
14
Năm
2005
2009
2010
2011
Diện tích (triệu ha)
2012
2013
Thế giới
Châu
Phi
Châu
Mỹ
Châu Á
Châu
Âu
Châu
Đ.Dươn
g
16.30
17.85
18.65
18.52
19.21
19.79
1.97
2.31
2.61
2.53
2.54
2.58
0.54
0.61
0.61
0.54
0.56
0.55
13.04
14.20
14.72
14.72
15.40
15.94
0.71
0.69
0.68
0.69
0.68
0.68
0.35
0.04
0.04
0.04
0.04
0.04
Năng suất (tấn/ha)
Thế giới
Châu
Phi
Châu
Mỹ
Châu Á
Châu
Âu
Châu
Đ.Dươn
g
14.25
13.89
14.00
14.24
14.34
14.16
7.09
6.39
6.59
7.04
7.20
7.11
13.88
11.36
11.62
13.39
13.31
13.31
15.22
15.08
15.28
15.40
15.46
15.22
16.72
16.62
16.30
16.53
16.31
16.68
15.19
16.26
15.60
14.94
14.96
14.72
Sản lượng (triệu tấn)
Thế giới 232.38 247.93 260.85 263.74 275.38 280.31
Châu
13.99 14.78 17.22 17.79 18.26 18.36
Phi
Châu
7.52
6.96
7.09
7.26
7.39
7.38
Mỹ
Châu Á 198.45 214.18 224.89 226.71 238.08 242.64
Châu
11.87 11.44 11.07 11.41 10.07 11.36
Âu
15
Châu
Đ.Dươn
g
0.53
0.58
0.57
0.56
0.57
0.57
(Nguồn: FAO, năm 2015) [20]
Qua bảng cho thấy rằng diện tích và sản lượng rau ở châu Á là lớn nhất
nhưng năng suất thì châu Âu là lớn nhất. Trong năm 2013, diện tích trồng rau
trên toàn thế giới là 19.79 triệu ha với sản lượng 280.31 triệu tấn, năng suất
bình quân đạt 14.16 tấn/ha. Từ năm 2005 đến năm 2013, diện tích trồng rau trên
thế giới có xu hướng tăng và năng suất và sản lượng cũng tăng.
2.3.2. Ở Việt Nam
Nghề trồng rau nước ta ra đời từ rất sớm, đa dạng, phong phú và có diện
tích lớn nhưng phát triển chưa theo yêu cầu của thị trường, quy trình canh tác
chưa thống nhất, nhiều giống rau còn sử dụng giống cũ. Mặc dù việc sản xuất
rau phân bố đều trong cả nước vì gần 80% dân số nước ta sống ở nông thôn và
miền núi nhưng việc sản xuất manh mún, nhỏ lẻ, không đáp ứng được nhu cầu
thị trường về chất lượng, kích thước, hình dáng, mẫu mã và năng suất thấp, đa
số các loại rau không đủ tiêu chuẩn xuất khẩu và làm nguyên liệu cho ngành
công nghiệp chế biến.
Ở nước ta hiện nay, rau xanh được sản xuất và tiêu dùng rất phổ biến và
ngày càng gia tăng. Ở xung quanh hầu hết các thành phố lớn đều hình thành các
vùng chuyên canh rau để cung cấp cho dân cư đô thị, ước tính có khoảng 113
nghìn ha tương ứng khoảng 40% diện tích và 48% sản lượng rau toàn quốc. Tuy
nhiên, do chịu ảnh hưởng của một nền nông nghiệp tự túc trong nhiều thế kỷ,
nên nghành trồng rau còn có một khoảng cách rất xa so với tiềm năng tự nhiên
và trình độ canh tác. Những năm gần đây, mức độ phát triển vẫn chưa theo kịp
các nghành khác trong sản xuất nông nghiệp [5].
Cho đến nay cả nước có hơn 70 loài thực vật sử dụng làm rau hoặc chế
biến thành rau. Riêng rau trồng có hơn 30 loài trong đó có 15 loài chủ lực, trong
số này có hơn 80% rau ăn lá.
16
Bảng 2.3. Diện tích, năng suất và sản lượng rau ở Việt Nam
giai đoạn 2000 – 2013
Năm
2000
2006
2007
2008
2009
2010
2011
2012
2013
Diện tích (ha)
452,900.0
536,914.0
531,257.0
529,851.0
400,000.0
751,892.0
361,524.0
733,204.0
425,927.0
Năng suất (tạ/ha)
124.36
118.83
123.47
117.06
162.50
166.25
157.15
160.66
162.44
Sản lượng (tấn)
5,632,264.4
6,380,149.1
6,559,430.2
6,202,435.8
6,500,000.0
6,918,967.0
5,681,386.0
11,779,651.0
12,500,531.0
(Nguồn: FAO, 2015) [20]
Số liệu bảng cho thấy trong những năm gần đây diện tích trồng rau của
nước ta tăng lên rõ rệt. Năm 2000 cả nước trồng được 452,900 ha, năm 2006 là
536,914 ha, tăng 84,014 ha. Năm 2010 diện tích trồng rau của nước ta tăng kỷ
lục, đạt 751,892 ha, tăng 298,992 ha so với năm 2000, tăng 214,978 ha so với
năm 2006. Tuy nhiên 3 năm trở lại đây diện tích trồng rau của nước ta biến động
thất thường, năm 2011 cả nước trồng được 361,524 ha, giảm mạnh 390,368 ha
so với năm 2010, tuy nhiên năm 2012 diện tích rau tăng trở lại lên 733,204 ha
đến năm 2013 diện tích trồng rau lại giảm còn 425,927 ha.
Về năng suất rau của nước ta có xu hướng biến động. Năm 2000 năng suất
rau chỉ đạt 124.36 tạ/ha , năm 2006 đạt 118.83 tạ/ha và năm 2010 năng suất rau
đạt cao nhất là 166.25 tạ/ha. Giai đoạn 2010-2013 năng suất rau có biến động
nhưng không lớn, năm 2008 có năng suất rau thấp nhất là 117.06 tạ/ha.
Sản lượng rau của nước ta tăng lên đáng kể qua các giai đoạn. Năm 2000 cả
nước thu được 5,632,264.4 tấn, năm 2006 là 6,380,149.1 tấn tăng 747,884.7 tấn so
với năm 2000. Năm 2013 sản lượng rau của nước ta cao nhất, đạt 12,500,531.0
tấn, tăng 6,868,266.6 tấn so với năm 2000.
2.3.3 Ở Thừa Thiên Huế
Thừa Thiên Huế là vùng có đất đai kém phì nhiêu, khí hậu khắc nghiệt,
nhưng cũng rất đa dạng về các loại cây trồng nói chung và cây rau nói riêng.
Những năm gần đây cùng với sự phát triển của các nghành khác trong nông
nghiệp thì sản xuất rau đã có những tiến bộ rõ rệt.
17
Trong những năm trở lại đây, cùng với sự đa dạng hóa về hệ thống đất
canh tác đang diễn ra ở cả nước, người nông dân trồng lúa ở Huế cũng đang
dần chuyển đổi thế độc canh cây lúa sang trồng một số loại cây rau màu
ngắn ngày nhằm tạo ưu thế cạnh tranh, nâng cao năng suất cho sản phẩm
nông nghiệp và cải thiện đời sống kinh tế hộ gia đình lợi nhuận vì trồng rau
thường cao hơn lúa 2 - 4 lần.
Hiện nay Thừa Thiên Huế có hơn 50/70 loại rau đã được điều tra ở Việt
Nam. Trong số đó được chia ra làm các nhóm rau chính như: nhóm rau ăn lá,
nhóm rau gia vị, nhóm rau ăn quả, nhóm rau ăn hạt và nhóm rau ăn củ.
Do phân bố không đều, diện tích chuyên canh nhỏ lẻ, manh mún, sản xuất
mang tính tự cấp theo vụ, năng suất không ổn định và bị thiên tai, dịch bệnh gây
hại cho bà con sản xuất rau. Ngoài ra, do khí hậu nóng ẩm, mưa nhiều, thời tiết
thay đổi thất thường nên rau thường bị nhiều loại bệnh phát sinh và gây hại
nặng, thường xuyên phải sử dụng thuốc hóa học. Mặt khác, còn nhiều khó khăn
khách quan và chủ quan trong quá trình sản xuất cũng như tiêu thụ mà người
trồng rau đang gặp phải như diện tích đất hẹp, manh mún, khó áp dụng các kỹ
thuật tiên tiến, khả năng đầu tư tùy theo điều kiện kinh tế hộ gia đình, rau bán
trôi nổi trên thị trường, giá cả không ổn định... dẫn đến hiệu quả kinh tế chưa
cao, không sản xuất thì thiếu, sản xuất nhiều thì thừa; việc quản lý sản xuất rau
an toàn khó kiểm soát các yếu tố gây ô nhiễm... Trong lúc đó người tiêu dùng
cũng chưa tin tưởng vào chất lượng rau an toàn nên chưa chấp nhận giá cả cao
hơn rau thường.
2.4. Tình hình sử Vai trò của việc phun phân bón lá đối
với cây trồng nói chung và cây xà lách nói riêng
Phân bón lá SFarm D01 là dung dịch thủy phân trùn quế tươi. Acid amin
trong dịch trùn quế SFarm D01 có nhiều loại: Alanine, Aspartic, Phenylalanine,
Glutamic Acid… Nhờ có các acid amin này mà khi tưới dịch trùn quế, cây sẽ dễ
dàng hấp thu và hiệu quả nhanh hơn so với các loại phân bón thông thường.
Trong xu thế của nền nông nghiệp tiên tiến trên thế giới hiện nay, đòi hỏi
việc canh tác nông nghiệp gắn liền với môi trường và chất lượng nông sản cao
thì sự ứng dụng dịch trùn quế trong nông nghiệp là bước đi đúng đắn và bền
vững mang tính cách mạng vượt trội cho nền nông nghiệp. Việc sử dụng dịch
trùn vừa nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng, an toàn cho con người và
môi trường. Hiệu quả của dịch trùn thể hiện qua những tác dụng chính như sau:
18
+ Thúc đẩy quá trình sinh tổng hợp, trao đổi chất trong cây trồng.
+ Giúp cây khỏe mạnh và tăng khả năng chống chịu bệnh hại.
+ Thúc đẩy quá trình thụ phấn, tăng khả năng đậu trái cho cây trồng.
+ Thúc đẩy quá trình vận chuyển các nguyên tố khoáng trong cây trồng.
+ Thúc đẩy hiệu quả cúa các loại thuốc BVTV thông qua khả năng bám dính.
Từ những điều trên cho thấy, Dịch trùn quế có những ưu việt vượt trội so với
các loại phân bón lá thông thường, chúng hoàn toàn sạch và thân thiện môi
trường. Góp phần phát triển nền nông nghiệp sạch và bền vững trong tương lai.
2.5. Cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn của đề tài
2.5.1. Cơ sở khoa học
Trong sản xuất nông nghiệp, để thu được năng suất cao ngoài các yếu tố
giống, đất đai, điều kiện khí hậu, thời tiết, kỹ thuật canh tác, thì phân bón là yếu
tố hết sức quan trọng quyết định hiệu quả sản xuất và năng suất cây trồng. Trong
đất thiếu hay đủ dinh dưỡng sẽ quyết định đến năng suất và chất lượng sản
phẩm của cây trồng. Việc bón đầy đủ cho cây trồng sẽ mang lại năng suất và sản
xuất đạt hiệu quả kinh tế cao.
Về nhu cầu dinh dưỡng người dân thường bón lót phân chuồng và thúc các
bằng phân hóa học, đó là vấn đề đang rất được quan tâm. Phân hóa học có thành
phần dinh dưỡng lớn tác động mạnh vì thế mà kể từ khi ra đời đã chiếm được sự
tin tưởng của người dân. Tình trạng lạm dụng phân hóa học ngày nay đã xảy ra
rất nhiều mà người dung không biết rằng những hậu quả mà nó đã để lại như
làm đất bạc màu, mất độ phì, ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe con
người…v.v. Trong những năm gần đây hiện tượng ngộ độc thường xuyên xảy ra,
đặc biệt là các loại rau do bị tồn dư các chất hóa học đang trở thành mối quan
tâm chung cho các nhà hoạch định chính sách. Người quản lý sản xuất và đặc
biệt là người tiêu dùng.
Nghiên cứu và so sánh ảnh hưởng của các liều lượng phân bón lá hữu cơ
lên cây xà lách, giúp chúng ta làm rõ ảnh hưởng của phân hữu cơ lên rau màu
nói chung và xà lách nói riêng. Nghiên cứu cũng nhằm mang lại diện mạo mới
cho ngành nông nghiệp của nước ta, nghành nông nghiệp sạch và an toàn khi
dùng phân hữu cơ cho trồng trọt.
19
Tuy nhiên, trong thực tế sản xuất để đưa một loại phân bón hữu cơ mới
thay thế cho phân bón trong sản xuất thì gặp rất nhiều khó khăn và đặc biệt trình
độ canh tác của nông dân và phong tục tập quán của họ khó thay đổi.
Vì vậy, qua nghiên cứu này tôi muốn chứng minh phân bón hữu cơ đem lại
năng suất, chất lượng không thua kém so với các loại phân hóa học mà lại thân
thiện với môi trường.
2.3.2.
Cơ sở thực tiễn
Sử dụng phân bón lá hữu cơ đang là xu hướng của phát triển nông nghiệp,
là dung dịch được chiết xuất hoàn toàn từ tự nhiên cung cấp đầy đủ các chất
dinh dưỡng thiết yếu cho cây trồng sinh trưởng và phát triển. Không làm ảnh
hưởng đến môi trường, an toàn với sức khỏe con người là những đặc tính nổi bật
của dung dịch dinh dưỡng hữu cơ.
Thành phố Huế là nơi tiêu thụ rau xà lách nhiều nhất tại Thừa thiên Huế.
Tuy nhiên do xà lách thường được bón phân theo cách truyền thống nên có khả
năng tồn dư lượng phân bón, cộng với việc sử dụng một lượng lớn thuốc bảo vệ
thực vật. Điều đó đã dẫn đến chất lượng và tiêu chuẩn an toàn của cây xà lách
vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu. Việc sử dụng phân bón lá hữu cơ là hướng đi
cho tương lai, an toàn cho người sử dụng, tiết kiệm chi phí phân bón, nâng cao
năng suất và chất lượng cây trồng.
PHẦN 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
- Giống thí nghiệm: Rau xà lách cuốn được trồng phổ biến ở phường
Hương Long thành phố Huế. Đây là giống F1 của công ty Trang nông có khả
năng thích ứng rộng, rất dễ trồng, không kén đất, ưa ẩm, có khả năng chịu rét,
cho năng suất cao, phẩm chất tốt, phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng.
- Phân bón lá SFarm D01
Phân bón lá hữu cơ SFarm D01 là dung dịch thủy phân trùn quế tươi. Acid
amin trong dịch trùn quế SFarm D01 có nhiều loại: Alanine, Aspartic,
Phenylalanine, Glutamic Acid…
20
Dịch trùn quế là sản phẩm có nguồn gốc hoàn toàn tự nhiên nên rất tốt cho
cân trồng. Những lí do sau đây làm cho sản phẩm dịch trùn quế ưu việt hơn hẳn
so với các dòng sản phẩm đạm cá và phân bón lá khác:
+ Thủy phân hoàn toàn bằng enzyme thủy phân mà không dùng các EM
( Effective microorganism ). Vì vậy, hàm lượng dinh dưỡng. Đặc biệt là amino
acid cân đối, chứa đầy đủ 20 loại và cao gấp 04 lần so với phương pháp sử dụng
EM để sản xuất.
+ Dịch trùn quế sử dụng hầu hết cho tất cả các giai đoạn của tất cả các loại
cây trồng.
+ Dịch trùn quế hạn chế hiện tượng “tiêu điên” do rối loạn dinh dưỡng.
+ Dịch trùn quế giúp cân bằng dinh dưỡng một cách phù hợp nhất cho cây
trồng.
+ Trong gian đoạn kiến thiết cây, dịch trùn quế giúp cây tươi tốt, vươn chồi
– đọt, lóng thân khỏe mạnh và xanh. Trong giai đoạn nuôi trái, dịch trùn quế
giúp quả sáng bóng, chắc giem,…
+ Hạn chế hiện tượng suy cây sau thu hoạch.
+ Do có nguồn gốc tự nhiên – sinh học nên không cần thời gian cách ly dài
và nghiêm ngặt như các loại phân bón lá có nguồn gốc hóa học khác.
+ Dòng sản phẩm có bổ sung các muối chelate, giúp tăng khả năng hấp thụ
và khả năng cây sử dụng tuyệt đối.
+ Dịch trùn quế đã khử mùi hôi, nên rất dễ sử dụng.
Phân bón lá hữu cơ SFarm D01 là dung dịch thủy phân trùn quế tươi. Acid
amin trong dịch trùn quế SFarm D01 có nhiều loại: Alanine, Aspartic,
Phenylalanine, Glutamic Acid…
Bảng thành phần acid amin trong dịch trùn quế SFarm D01 và vai trò đối
với cây trồng
Tên
acid amin
Tổng
1. Alanine
Thành phần
(%)
Chức năng
6.19 %
0.34
Là amino acid chính có ích cho mô liên kết
và giúp cải thiện hệ miễn dịch, cho cây trồng và
các mô khác lấy năng lượng từ các amino acid.
21
2.
Aspartic
0.79
Acid giúp chuyển hóa (tinh bột) thành năng
lượng cho cây trồng. Ngoài ra nó còn giúp tăng
cường sức đề kháng và hạn chế lượng độc tố
trong cây sau mỗi năm.
3.
Phenylala
nine
0.2
Cải thiện sức mạnh của các mô liên kết, cải
thiện chứng viêm nhiễm, giúp tạo đề kháng và
giúp cải thiện quá trình tự phục hồi cây, tái tạo
cho cây trồng già nua và kém phát triển.
4.
Glutamic
Acid
1.98
Cũng là một nguồn năng lượng, chất này
quan trọng cho các tế bào sinh trưởng của cây
trồng và sự trao đổi chất amino acid.
5.
Isoleucine
0.24
Cải thiện sự phát triển và sự tập trung. Đây
là nguồn nănng lượng quan trọng cho các cơ
quan như mạch dẫn, thân và tế bào…
6. Glycine
0.25
Giúp tổng hợp các amino acid khác. Chất
này có thể giúp làm cân bằng sinh trưởng trong
cây trồng.
7.
Ornithine
0.07
Giúp tạo hormone tăng trưởng, hỗ trợ quá
trình tái tạo, tăng cường sức miễn dịch và hỗ cây
tăng đề kháng sâu bệnh và các lọai nấm.
8. Proline
0.16
Có ích cho mạch dẫn và các mô liên kết, tạo
nhiều năng lượng cho thân cành mập hơn và tạo
thêm tế bào mới.
9. Serine
0.29
Giúp tái tạo năng lượng cho tết bào, giúp
ích cho sự phát triển đồng bộ và cải thiện sự trao
đổi chất nhanh và hiệu quả, giúp tăng khả năng
miễn dịch. Taurine giúp giảm lượng hóa học tồn
dư trong cây trồng.
10.
Threonine
0.22
Các A min nói chung và riêng loại a amin
Threonine giúp ích cho cây tạo hormone tăng
trưởng, cải thiện hệ miễn dịch, tạo ra tế bào mới
và khỏe mạnh, và là một tiền thân của creatine.
11.
Tyrosine
0.14
Giúp tăng sự phát triển mạnh mẽ trong cây
và làm kéo dài sự sống cho hạt phấn, giúp tạo
hormone tăng trưởng, và là tiền thân của
dopamine và epinephrine.
12.
Leucine
0.39
Được dùng làm năng lượng, và thậm chí
giúp giảm khả năng mất cân bằng trong cây. Chất
22
này còn giúp cây trồng tái tạo xanh tốt trẻ hóa
cho vườn cây và làm lành vùng da tổn thương
cho cây trồng.
13. Valine
0.41
Dễ hấp thụ trong cây và được hấp thu trực
tiếp vào các bộ phận tế bào của cây.
Giúp cây giải độc với một số loại hóa chất,
hạn chế tác hại của vô cơ và thuốc BVTV, giúp
tạo diệp lục tố.
14.
Histidine
0.12
Được dùng trong điều trị cây bị vi rút và
khủng hoảng dinh dưỡng, nấm bệnh, ngộ độc vô
cơ, và các chứng viêm nhiễm khác. Chất này
quan trọng trong việc tái tạo các mô và tế bào
mới cho cây trồng.
15. Lysine
0.59
Có lợi cho thân cây và các mô liên kết. Chất
này được dùng trong điều trị chứng rộp thân rễ
cây, và tiêu diệt nhiều loại virus khác. Lysine còn
giúp phát triển các cành và thân cây nhờ làm tăng
lượng collagen. Khi sử dụng kết hợp với vitamin
C Lysine sẽ giúp cây trồng sử dụng ô xy hiệu quả
hơn và hạn chế được tình trạng cây bị bệnh hay
kém phát triển.
* Phạm vi nghiên cứu
- Địa điểm: Thí nghiệm được bố trí tại phường Hương Long,
thành phố Huế.
- Thời gian: từ tháng 3/2018 đến tháng 5/2018
3.2. Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu ảnh hưởng của các liều lượng phun SFarm D01 đến các chỉ
tiêu sinh trưởng, thân lá của cây rau xà lách.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của các liều lượng phun SFarm D01 đến năng
suất, phẩm chất của cây rau xà lách.
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của các công thức nghiên cứu.
3.3. Phương pháp nghiên cứu
3.3.1. Công thức thí nghiệm
23
- Công thức thí nghiệm: gồm 5 CT
+ Công thức I (đ/c): Nền (phun nước lã không sử dụng phân bón lá )
+ Công thức II: Nền + SFarm D01 với nồng độ 25 l/ha
+ Công thức III: Nền + SFarm D01 với nồng độ 50 l/ha
+ Công thức IV: Nền + SFarm D01 với nồng độ 70 l/ha
+ Công thức V: Nền + SFarm D01 với nồng độ 100 l/ha
Nền thí nghiệm chung (tính cho 1ha): 5 tấn phân chuồng hoai mục + 200kg
vi sinh + 250 NPK (16-16-8)
- Cách phun phân SFarm D01
+ Pha loãng phân với nước để tưới
+ Tưới phân lên lá hoặc tưới dưới gốc cho cây.
+ Khoảng cách: 5 – 7 ngày/ 1 lần tưới.
Nên tưới vào sáng sớm, tránh tưới phân vào giữa trưa nắng hoặc buổi tối.
3.3.2. Phương pháp bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm gồm 5 công thức trong đó có 1 công thức đối chứng. Thí
nghiệm bố trí theo kiểu khối hoàn toàn ngẫu nhiên RCBD (Randomized
Complete Block Design) với 3 lần nhắc lại. Thí nghiệm được tiến hành ngoài
đồng ruộng.
+ Số ô thí nghiệm: 15 ô
+ Diện tích một ô: 5 m2
+ Diện tích toàn thí nghiệm: 75 m2
+ Diện tích bảo vệ: 25 m2
+ Tổng diện tích: 100 m2
Sơ đồ thí nghiêm
Bảo vệ
Ghi chú: - I, II, III, IV, V là các công thức.
Ia
- a,b,c làIIa
các lần nhắc lại.
IIIa
IVb
3.3.3. Điều IIIb
kiện thí nghiệm
Vc
Ic
IVa
Va
Vb
IIb
Ib
IIc
IIIc
IVc
Bảo vệ
24
- Đất thí nghiệm: thí nghiệm được bố trí trên đất bằng phẳng, tầng canh tác
10-20 cm, ruộng chuyên trồng rau (cải, xà lách, hành...) có thể chủ động tưới
tiêu.
Cây trồng trước là cây rau như rau cải, hành...
-
Diễn biến thời tiết trong thời gian thí nghiệm
Thời tiết khí hậu là một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến từng
giai đoạn sinh trưởng phát triển của cây trồng, do đó liên quan trực tiếp đến
năng suất cây trồng. Lượng mưa, nhiệt độ, độ ẩm là một trong những yếu tố
quan trọng quyết định tới sự phát triển bền vững của cây trồng, chính vì vậy tìm
hiểu diễn biến tình hình thời tiết của vùng giúp chúng ta tìm ra mối quan hệ
tương tác giữa các yếu tố thời tiết đến sự phát triển sinh trưởng của cây xà lách
để bố trí thời vụ hợp lý là điều kiện quan trọng để cây xà lách cho năng suất,
chất lượng tốt nhất.
Để tìm hiểu ảnh hưởng của thời tiết khí hậu đối với cây xà lách trong thời
gian tiến hành thí nghiệm tôi đã thu thập số liệu về một số yếu tố khí tượng cơ
bản trong vụ Xuân 2018 của trạm khí tượng thủy văn Thừa Thiên Huế và được
trình bày ở bảng sau.
Bảng 3.1. Diễn biến khí hâu, thời tiết vụ Xuân 2018 tại Thừa
Thiên Huế
Chỉ tiêu
Nhiệt độ (ºC)
Độ ẩm
Lượng
Giờ
Gió
TB (%)
mưa
nắng
cấp
TB Max Min
(mm)
(h)
Tháng
12/2017 20,8 22,9 19
92
375,8
35
5
01/2018
19,7
23
18,5
93
160,3
42
4
02/2018
19,8 22,9 16,8
90
47,7
88
3
03/2018
23,7 25,5 19,1
88
20,8
156
5
04/2018
25,6 29,7 21,4
87
208,4
179
4
(Nguồn: Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn – Thừa Thiên Huế) [8]
- Trong tháng 02/2018: Thừa Thiên Huế chịu ảnh hưởng của 04 đợt
25