BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN THỊ HUỆ
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA TRẢI NGH IỆM
SÁNG TẠO THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TR IỂN NĂNG LỰC
HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC QUẬN TÂY HỒ,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘ I - 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
NGUYỄN THỊ HUỆ
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA TRẢI NGH IỆM
SÁNG TẠO THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TR IỂN NĂNG LỰC
HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC QUẬN TÂY HỒ,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành : Quản lý giáo dục
: 60.14.01.14
Mã số
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS . NGUYỄN ĐỨC SƠN
HÀ NỘ I - 2016
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi còn nhận
được sự giúp đỡ quý báu các Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sỹ, các thầy, cô giáo
của Hội đồng Đào tạo Cao học chuyên ngành Quản lý giáo dục của Trường Đại
học Sư phạm Hà Nội 2, Trường Đại học Sư phạm 1 Hà Nội đã tận tình giảng
dạy, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và làm
luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc với PGS.TS Nguyễn Đức Sơn người
hướng dẫn khoa học đã rất nhiệt tình và trách nhiệm để tôi hoàn thành được
luận văn.
Tôi cũng xin cảm ơn Phòng Giáo dục và Đào tạo quận Tây Hồ, các trưởng
Trung học cơ sở trên địa bàn quận Tây Hồ cũng như các tổ chức, cá nhân, các
bạn bè đồng nghiệp và gia đình đã tạo điều kiện thuận lợi trong thời gian tôi tìm
hiểu tình hình thực tế và cung cấp tài liệu, số liệu để tôi hoàn thành luận văn.
Do sự hạn chế về thời gian nghiên cứu nên luận văn có thể có nhiều thiếu
sót. Tôi mong nhận được sự góp ý chỉ bảo của các thầy, các cô và các bạn đồng
nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Nguyễn Thị Huệ
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này
là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác. Tôi cũng xin cam đoan
rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và
các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả
Nguyễn Thị Huệ
MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN LỜI
CAM ĐOAN MỤC
LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU
MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................ 1
2. Mục đích nghiên cứu ...................................................................................... 4
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu ................................................................ 4
4. Giả thuyết kế hoạch ........................................................................................ 4
5. Nhiệm vụ nghiên cứu ..................................................................................... 5
6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu ..................................................................... 5
7. Phương pháp nghiên cứu ................................................................................ 5
8. Cấu trúc của luận văn ..................................................................................... 6
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA TRẢI
NGHIỆM SÁNG TẠO THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT
TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH TIỂU HỌC ....................................... 7
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề...................................................................... 7
1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài ................................................................ 14
1.3. Khái quát chung về hoạt động ngoại khóa ................................................. 16
1.4. Nội dung quản lý hoạt động ngoại khóa trải nghiệm sáng tạo theo
định hướng phát triển năng lực của học sinh Tiểu học .............................. 29
1.5. Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động ngoại khóa
trải nghiệm sáng tạo theo định hướng phát triển năng lực của
học sinh
Tiểu học ................................................................................................... 31
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA TRẢI NGHIỆM
SÁNG TẠO THEO
ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC
SINH Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC QUẬN
TÂY HỒ ........................................................................................ 36
2.1. Khái quát về điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội của Quận Tây Hồ .................
36
2.2. Thực trạng hoạt động ngoại khóa trải nghiệm sáng tạo theo định
hướng phát triển năng lực học sinh ở các trường Tiểu học ....................... 40
Chương 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA TRẢI NGHIỆM SÁNG
TẠO THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC
SINH Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC QUẬN TÂY HỒ .............................. 68
3.1. Các nguyên tắc đề xuất biện pháp.............................................................. 68
3.2. Một số biện pháp tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo theo định
hướng phát triển năng lực học sinh ở các trường Tiểu học Quận Tây Hồ ........
69
3.3. Mối quan hệ giữa các nhóm biện pháp ...................................................... 86
3.4. Khảo sát tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp .................................. 86
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ................................................................. 91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................... 95
PHỤ LỤC ....................................................................................................... 97
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 1.1: Đội ngũ cán bộ quản lý ở các trường Tiểu học Quận Tây Hồ,
Thành phố Hà Nội về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ:................... 37
Bảng 1.2: Đội ngũ giáo viên, nhân viên về trình độ chuyên môn....................... 37
Bảng 1.3: Số lượng học sinh từng khối lớp........................................................ 38
Bảng 2.4: Đánh giá của cán bộ quản lý và giáo viên về hoạt động ngoại
khóa trải nghiệm sáng tạo theo định hướng phát triển năng
lực
cần rèn luyện và bồi dưỡng cho học sinh ......................................... 45
Bảng 2.7: Mức độ nhận thức của cán bộ, giáo viên về các nội dung hoạt
động ngoại khóa trải nghiệm sáng tạo theo định hướng
phát
triển năng lực cho học sinh .............................................................. 42
Bảng 2.8: Mức độ thực hiện của cán bộ, giáo viên về các hoạt động ngoại
khóa trải nghiệm sáng tạo theo định hướng phát triển năng
lực
cho học sinh .................................................................................... 43
Bảng 2.9: Nguyên nhân học sinh chưa hình thành kỹ năng trải nghiệm
sáng tạo cần thiết ............................................................................. 44
Bảng 2.11: Kế hoạch tổ chức hoạt động ngoại khóa trải nghiệm sáng tạo
theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh. ...........................
55
Bảng 2.12: Đánh giá thực trạng chỉ đạo của giáo viên thực hiện nội dung,
chủ đề tổ chức hoạt động ngoại khóa trải nghiệm sáng tạo .................
57
Bảng 2.14. Thực trạng tổ chức học tập, bồi dưỡng của giáo viên ...................... 58
Bảng 2.15: Thực trạng việc sử dụng phương tiện, thiết bị học tập .....................
60
Bảng 2.16: Thực trạng kiểm tra đánh giá tổ chức hoạt động trải nghiệm
sáng tạo theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh ..............
61
Bảng 2.16: Sự chỉ đạo, phối hợp giữa cán bộ quản lý với các lực lượng
giáo dục ........................................................................................... 62
Bảng 3.1. Tổng hợp kết quả đánh giá tnh cần thiết của các biện pháp
tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo theo định hướng
phát
triển năng lực học sinh..................................................................... 87
Bảng 3.2. Tổng hợp kết quả đánh giá tính khả thi của các biện pháp
quản lý hoạt động ngoại khóa trải nghiệm sáng tạo theo định
hướng
phát triển năng lực học sinh ............................................................. 88
1
2
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sự chuyển biến mạnh mẽ của nền kinh tế xã hội cùng với quá trình hội
nhập sâu rộng vào quá trình toàn cầu hóa của nước ta đã đặt ra nhiệm vụ cho
ngành Giáo dục và Đào tạo nước nhà phải đào tạo ra nguồn nhân lực có chất
lượng cao, có đầy đủ phẩm chất và năng lực phục vụ cho sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Đảng và Nhà nước ta hết sức coi trọng vai trò của Giáo dục và Đào tạo,
cùng với khoa học - công nghệ, Giáo dục và Đào tạo được coi là quốc sách
hàng đầu, là động lực cho sự phát triển của xã hội. Vì vậy, sự nghiệp giáo dục
đào tạo luôn được sự quan tâm và đầu tư rất lớn của Đảng, Nhà nước và xã
hội.
Nền giáo dục nước ta thời gian qua có sự phát triển nhanh chóng,
đóng góp rất lớn cho sự phát triển đất nước. Tuy nhiên, trong bối cảnh kinh
tế - xã hội hiện nay, nền giáo dục nước ta bộc lộ nhiều hạn chế, chất lượng
giáo dục chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Nhận thức được điều đó, từ năm 2002, chúng ta thực hiện đổi mới
chương trình sách giáo khoa, đồng thời đổi mới phương pháp dạy học theo
hướng lấy học sinh làm trung tâm nhằm phát huy tính tích cực của
học sinh. Tuy nhiên, sau hơn mười năm thực hiện, chất lượng giáo dục
đào tạo vẫn không đáp ứng được yêu cầu của xã hội, đặc biệt là năng lực
của người học rất hạn chế. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tnh trạng
trên, như mục tiêu chưa hợp lý, chậm đổi mới nội dung chương trình,
phương pháp và hình thức dạy học thụ động, lạc hậu trong kiểm tra đánh
giá, thiếu hiệu quả trong quản lý giáo dục,...
Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước ta xác định rằng để nâng cao
chất lượng giáo dục đào tạo thì phải đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục
nước ta. Vấn đề đổi mới, căn bản toàn diện Giáo dục - Đào tạo đã thu
hút
được sự quan tâm rất lớn của các cấp quản lí, giáo viên, học sinh, phụ
huynh và toàn xã hội. Nhằm tạo sự thống nhất trong nhận thức và hành động
cho các cấp quản lý giáo dục và các lực lượng giáo dục, Hội nghị Trung Ương
8 khóa XI của Đảng đã ban hành Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013
về đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và Đào tạo. Nghị quyết nêu ra 9
giải pháp quan trọng, trong đó giải pháp thứ 2 “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ
và đồng bộ các yếu tố cơ bản của Giáo dục, Đào tạo theo hướng coi
trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học”. Đây là sự khác biệt
lớn nhất giữa cuộc đổi mới giáo dục lần này với những lần cải cách, đổi mới
trước đó. Đó là mục tiêu giáo dục chuyển từ “định hướng nội dung” sang
“định hướng năng lực”.
Để thực hiện tốt mục tiêu trên, cần thực hiện đổi mới đồng bộ từ
việc xác định lại mục tiêu giáo dục, đổi mới chương trình và sách giáo khoa,
việc đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, đổi mới kiểm tra,
đánh giá kết quả học tập của học sinh. Mặt khác, để quá trình đổi mới
thực hiện được thì quản lý giáo dục có vai trò hết sức quan trọng, ảnh
hưởng đến hiệu quả, quyết định sự thành công hay thất bại của quá trình
đó. Làm thế nào để quản lý nhà trường nói chung, quản lý dạy học nói
riêng trong tiến trình đổi mới hiện nay? Đó là vấn đề cần nhận được sự
quan tâm, nghiên cứu nhiều hơn từ các nhà giáo dục, nhà quản lý giáo dục.
Con người trong thời kì đổi mới hội nhập quốc tế bên cạnh việc nắm
vững tri thức, phát triển năng lực hoạt động trí tuệ, có phẩm chất tốt thì
cần phải có kỹ năng sống. Bối cảnh xã hội mới đòi hỏi con người phải
thường xuyên thích ứng với thay đổi hàng ngày của cuộc sống. Do đó, mục
tiêu giáo dục không chỉ giúp con người học để biết, học để làm, học để làm
người. Vì vậy, trải nghiệm sáng tạo là hoạt động được coi trọng trong
từng môn học. Đồng thời trong kế hoạch giáo dục cũng bố trí các hoạt động
ngoại khóa trải nghiệm sáng tạo theo định hướng phát triển năng lực riêng
(hoạt động ngoại
khóa). Mỗi hoạt động này mang tnh tổng hợp của nhiều lĩnh vực giáo
dục, kiến thức, kỹ năng khác nhau. Do đó hoạt động ngoại khóa trải nghiệm
sáng tạo theo định hướng phát triển năng lực là vấn đề cấp thiết hơn bao
giờ hết trong đổi mới nội dung chương trình đào tạo giáo dục phổ thông.
Trải nghiệm sáng tạo là kết quả rèn luyện của mỗi người trong
suốt cuộc đời, trong các mỗi quan hệ xã hội, dưới sự ảnh hưởng của giáo dục
trong đó giáo dục nhà trường có vai trò hết sức quan trọng. Trải nghiệm sáng
tạo ở trường học sẽ giúp thúc đẩy những hành vi mang tính xã hội tích
cực cho người học; đồng thời tạo những tác động tốt đối với các mối
quan hệ giữa thầy và trò, giữa các học sinh, bạn bè với nhau; giúp tạo nên
sự hứng thú học tập cho trẻ. Trải nghiệm sáng tạo giáo dục cho học sinh
Tiểu học kỹ năng sống để giúp các em có thể sống một cách an toàn khỏe
mạnh là việc làm cần thiết. Chính những kết quả này sẽ là cơ sở, là nền
tảng giúp học sinh phát triển nhân cách sau này. Trải nghiệm sáng tạo
không chỉ ở trong các giờ dạy và học ở trên lớp mà các hoạt động ngoại khóa
cũng là những hoạt động giáo dục trải nghiệm của học sinh góp phần giáo dục
toàn diện học sinh trong các trường Tiểu học. Là những người làm công tác
giáo dục ở nhà trường Tiểu học chúng ta cần thấy rõ ý nghĩa và sự cần thiết
tổ chức các hoạt động ngoại khóa trải nghiệm sáng tạo theo định hướng phát
triển năng lực qua hoạt động ngoại khóa ở các nhà trường theo hướng phát
triển năng lực cho học sinh; góp phần giáo dục toàn diện học sinh và nâng
cao chất lượng giáo dục.
Để có được cách tổ chức quản lý tốt trong bối cảnh đổi mới toàn diện
giáo dục hiện nay, công tác quản lý hoạt động ngoại khóa cho học sinh ở các
trường Tiểu học cần có những biện pháp phù hợp. Từ thực tiễn của
địa phương, tôi đã chọn vấn đề “Quản lý hoạt động ngoại khóa trải
nghiệm sáng tạo theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở các
trường Tiểu học Quận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội” làm đề tài nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn công tác quản lý hoạt động
ngoại khóa trải nghiệm sáng tạo theo định hướng phát triển năng lực ở các
trường Tiểu học Quận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội đề xuất các biện pháp quản
lý hoạt động hoạt động ngoại khóa trải nghiệm sáng tạo theo định hướng
phát triển năng lực học sinh ở các trường Tiểu học trên địa bàn Quận Tây Hồ
nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Công tác quản lý hoạt động ngoại khóa trải
nghiệm sáng tạo theo định hướng phát triển năng lực ở các trường Tiểu học
Quận Tây Hồ.
- Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp quản lý hoạt động ngoại khóa trải
nghiệm sáng tạo theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở các
trường Tiểu học Quận Tây Hồ.
4. Giả thuyết kế hoạch
Việc quản lý hoạt động ngoại khóa trải nghiệm sáng tạo theo
định hướng phát triển năng lực học sinh ở các trường Tiểu học Quận
Tây Hồ, Thành phố Hà Nội chưa có hiệu quả cao do nhiều yếu tố như: Chưa
có tài liệu chuẩn về hoạt động ngoại khóa trải nghiệm sáng tạo, chưa có kế
hoạch toàn diện đưa trải nghiệm sáng tạo vào hoạt động ngoại khóa trong
nhà trường, đội ngũ giáo viên hướng dẫn chưa được đào tạo, bồi dưỡng
trong công tác tổ chức hoạt động ngoại khóa trải nghiệm sáng tạo, các cơ
sở trang thiết bị vật chất còn thiếu thốn. Nếu tìm ra được các biện pháp
quản lý hoạt động ngoại khóa trải nghiệm sáng tạo theo định hướng phát
triển năng lực học sinh phù hợp với với đặc điểm học sinh, đặc điểm nhà
trường, đặc điểm địa phương và vận dụng vào thực tiễn thì sẽ nâng cao
chất lượng giáo dục toàn diện ở các trường Tiểu học Quận Tây Hồ, Thành
phố Hà Nội.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác lập cơ sở lý luận về quản lý hoạt động ngoại khóa trải nghiệm
sáng tạo theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở trường Tiểu học.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động ngoại khóa
trải nghiệm sáng tạo theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở các
trường Tiểu học Quận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội.
- Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động ngoại khóa trải nghiệm sáng
tạo theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở các trường Tiểu học Quận
Tây Hồ, Thành phố Hà Nội.
6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn về nội dung: Tập trung nghiên cứu các biện pháp quản lý
hoạt động ngoại khóa trải nghiệm sáng tạo theo định hướng phát triển
năng lực học sinh ở các trường Tiểu học Quận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội.
- Giới hạn về thời gian: 3 năm, từ năm học 2012-2013 đến năm học
2015-2016.
7. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, tác giả sử dụng các
nhóm phương pháp nghiên cứu sau:
Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tch và tổng hợp
tài liệu, phân loại và hệ thống hóa lý thuyết xây dựng cơ sở lý luận của đề tài.
Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp quan sát: Quan sát hoạt động của giáo viên, quản
lý hoạt động ngoại khóa của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng trong trường.
- Phương pháp điều tra: Phỏng vấn trực tiếp các giáo viên, hiệu trưởng,
phó hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn, học sinh.
- Phương pháp xin ý chuyên gia: Hỏi ý kiến của các chuyên gia giỏi, có
trình độ và kinh nghiệm giáo dục heo định hướng phát triển năng lực để
xem xét rút ra kết luận tốt nhất cho vấn đề nghiên cứu.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm trong quản lý hoạt động dạy học
ở các trường học phát triển năng lực.
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động: Nghiên cứu giáo án,
vở ghi chép, bài kiểm tra, các sản phẩm của học sinh …
Nhóm phương pháp hỗ trợ: Dùng phương pháp toán thống kê để
xử lý liệu thu được, trên cơ sở đó rút ra kết luận khoa học, nhận xét mang tính
khái quát.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và
phụ lục, luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động ngoại khóa trải nghiệm
sáng tạo theo định hướng phát triển năng lực học sinh Tiểu
học.
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động ngoại khóa trải nghiệm sáng
tạo theo định hướng phát triển năng lực học sinh tại các
trường Tiểu học Quận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội.
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động ngoại khóa trải nghiệm sáng
tạo theo định hướng phát triển năng lực học sinh tại các
trường Tiểu học Quận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA TRẢI
NGHIỆM SÁNG TẠO THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
HỌC SINH TIỂU HỌC
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Trên thế giới
Dạy học phát triển năng lực người học nói chung và học sinh Tiểu học
nói riêng là vấn đề được quan tâm nghiên cứu. Trên thế giới, các tác giả
người Nhật Eisuke Saito, Masatsugu Murase, Atsushi Tsukui, Manabu Saito,
Masaaki Sato là những người đi tiên phong trong lĩnh vực này. Các kết quả
nghiên cứu về xây dựng cộng đồng học tập trong nhà trường trong đó nêu rõ
những hoạt động ngoại khóa về kỹ năng sống, trải nghiệm sáng tạo giúp
cho học sinh Tiểu học hình thành những năng lực đầu tiên trong bậc học giáo
dục cơ bản. Nghiên cứu trên của các tác giả đang được các nhà giáo dục học
ở Việt Nam tiếp thu chọn lọc để xây dựng chương trình giáo dục phổ thông
tổng thể trong những năm tới.
Trong suốt hơn 60 năm qua, chương trình giáo dục ở các cấp học,
bậc học trong nền giáo dục của ta được biên soạn, thực thi, trên cơ sở kế
thừa các chương trình giáo dục có trước đó, rồi cải tiến, cập nhật, nâng
cao cho phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội, khoa học - công nghệ của
giai đoạn sau. Các nhà giáo dục đã đưa vào chương trình giáo dục những
tư tưởng lớn, những tác phẩm có giá trị, các phát minh khoa học, những sự
kiện chính trị xã hội to lớn với mong ước truyền lại cho các thế hệ sau
những thành tựu to lớn của nhân loại trong tất cả các lĩnh vực của đời sống
con người. Tuy nhiên, chỉ trong vòng 7 năm của thập kỷ đầu của thế kỷ 21,
những điều chúng ta tích lũy được trong hàng năm qua dường như không đủ
để giải thích được những điều đang và sẽ diễn ra.
Thập niên cuối của thế kỷ trước đã chứng kiến một điều mà nhà
tương lai học của những năm 60, Kenneth Boulding gọi là sự “phá vỡ của hệ
thống” (system break). Boulding xem sự phá vỡ của hệ thống như sự tan vỡ
của các mô hình tư duy liên quan đến các hệ thống của con người. Nói cách
khác, sự phá vỡ như vậy tạo ra cái mà Alvin Tofer gọi là “cú sốc của tương
lai” mà ở đó lối tư duy có tính truyền thống không còn có thể giúp chúng ta
giải quyết vấn đề. Một đồng nghiệp của Boulding trong những năm 60,
Kenneth Clark đã lưu ý rằng, trong những điều kiện như vậy, sự tiên đoán có
thể trở thành những thông tin chính xác nhất về tương lai. “Định luật” Clark
cho rằng “Khi một nhà thông thái cho rằng một điều gì đó có thể xảy ra, ông
ta có thể đúng. Nhưng nếu ông ta cho rằng một điều gì đó không thể xảy
ra, thì gần như có thể nói rằng ông ấy sai”.
Đó cũng chính là đặc điểm của giáo dục trong giai đoạn hiện nay. Các
nhà giáo dục đang bị choáng ngợp trước những thay đổi to lớn do con
người tạo ra trong mọi lĩnh vực, và không biết lựa chọn những yếu tố gì để
truyền đạt cho con cháu mai sau.
Trong những năm 90 của thế kỷ trước, Internet xuất hiện và làm thay
đổi mọi quan điểm truyền thống về giáo dục, như nhà trường, lớp học, về dạy,
học.
Tháng 5/2000, Bill Gates, người sáng lập ra Microsof đã nói: “Chúng
ta thật ra mới ở giai đoạn đầu của cuộc cách mạng. Trong vòng 10 năm tới,
chúng ta sẽ thực hiện nhiều thay đổi đối với xã hội hơn là những gì đã
làm trong 25 năm qua”.
Ở Hoa Kỳ, năm 1997, 60% hộ gia đình, trong đó trẻ em có máy tính cá
nhân và 11 triệu trẻ em dưới 15 tuổi dùng Internet. Từ 1996-1998, địa
chỉ trang Web tăng từ 300.000 lên 2,5 triệu, đến 7/2000 là 10 triệu.
Cuối 2002, số người không nói tiếng Anh sử dụng Internet lớn hơn số
người nói tiếng Anh. Năm 2005, số người nói tiếng Trung Quốc dùng Internet
lớn hơn số người nói tiếng Anh dùng Internet. Những số liệu trên có ý
nghĩa gì đối với các nhà giáo dục?
Để đáp ứng với những thay đổi to lớn và nhanh chóng trong kỉ nguyên
quá độ lên nền kinh tế tri thức, kỷ nguyên thông tin, triết lí giáo dục trong
thế kỉ 21 cũng có những thay đổi mạnh mẽ, hướng tới “một xã hội học tập”,
“học thường xuyên, suốt đời” dựa trên 4 trụ cột “học để biết, học để làm,
học để cùng chung sống, học để làm người”, giáo dục không còn chủ yếu là
đào tạo kiến thức và kĩ năng mà chủ yếu là rèn luyện năng lực - năng lực
nhận thức, năng lực hành động, năng lực giao tiếp và truyền thông, năng lực
quản lý và lãnh đạo. Bản tuyên ngôn toàn cầu về giáo dục đại học của
Liên hợp quốc khẳng định: Thế kỷ 21 “có một nhu cầu chưa từng thấy về sự
đa dạng, phong phú trong giáo dục đại học cũng như những nhận thức ngày
càng cao về tầm quan trọng sống còn của giáo dục đại học đối với sự phát
triển kinh tế và văn hóa của xã hội”. Giáo dục nói chung trong đó có giáo dục
đại học và chuyên nghiệp của thế giới đang phát triển nhanh chóng theo
những xu hướng rõ rệt: đại chúng hóa, thị trường hóa, đa dạng hóa và quốc
tế hóa, cùng những quan niệm mới, yêu cầu mới về vấn đề có tính sống còn
đối với bất kì mô hình cải cách giáo dục nào - đó là chất lượng giáo dục. Vì
thế, ngày nay, hơn bao giờ hết, tất cả các quốc gia đang đứng trước những
thách thức to lớn là lựa chọn các giải pháp phát triển giáo dục, nâng cao
chất lượng giáo dục ở tất cả các cấp học, bậc học - nơi cung cấp nguồn
nhân lực đáp ứng những đổi thay to lớn trong mọi lĩnh vực của đời sống xã
hội.
Trong các nghiên cứu của một số nhà khoa học đã đề cập đến tổ
chức hoạt động ngoại khóa trải nghiệm sáng tạo theo định hướng phát triển
năng lực nhằm phát triển năng lực cho học sinh. Nghiên cứu cũng nêu lên cán
bộ quản lý nhà trường phải biết quản lý hoạt động ngoại khóa nhằm phát
triển năng lực của học sinh thông qua các hoạt động này. Đây là một trong
những nội dung đổi
10
mới trong công tác bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên ở các
trường phổ thông.
1.1.2. Ở Việt Nam
Vấn đề dạy học và tổ chức các hoạt động giáo dục trong và ngoài nhà
trường đã được các nhà giáo dục thời phong kiến đề cập đến như Chu
Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quý Đôn. Trong thời kỳ cách mạng, đặc
biệt phải nói đến tư tưởng, quan điểm giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Năm
1945 Người đã có chỉ thị:” Sự học tập trong nhà trường có ảnh hưởng rất
lớn lao cho tương lai của thanh niên và thanh niên là tương lai của nước
mình”. Người cũng để lại cho chúng ta nền tảng lý luận về vai trò của giáo
dục đối với sự phát triển xã hội, phát triển con người, định hướng phát triển
dạy học, mục đích dạy học, các nguyên lý, phương pháp dạy học, vai trò
của quản lý và cán bộ quản lý giáo dục. Hệ tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh
có giá trị quan trọng trong quá trình phát triển lý luận dạy học, lý luận giáo
dục của nền giáo dục Việt Nam.
Kế thừa những tư tưởng về giáo dục đó, trong thời kỳ phát triển
mới của đất nước, việc đổi mới giáo dục trong nhà trường mà vấn đề cốt lõi
là phát triển năng lực học sinh bắt đầu được tiến hành từ những năm 90
của thế kỷ
20. Đặc biệt bước sang thế kỷ 21, ngay từ tháng 6/2006 với giúp đỡ của các
chuyên gia người Nhật là Eisuke Saito, Atsushi Tsukui, Masaaki Sato.
Trường đầu tiên tiến hành thí điểm đổi mới là trường Tiểu học Bích Sơn,
Quận Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Sau gần 10 năm tiến hành đổi mới, trường
Tiểu học Bích Sơn đã thu được những thành công bước đầu đáng ghi nhận, là
động lực để áp dụng cho các trường Tiểu học và cả các trường Tiểu học khác
trong cả nước.
11
Tác giả Nguyễn Thị Liên trong báo cáo nghiên cứu khoa học năm 2015
tại Hội nghị Công tác xã hội trường học đã nêu rõ tnh cấp thiết trong việc
12
quản lý hoạt động ngoại khóa trải nghiệm sáng tạo theo định hướng phát
triển năng lực theo hướng phát triển năng lực cho học sinh phổ thông. Tác giả
đi sâu vào phân tích việc xây dựng nội dung hoạt động ngoại khóa gắn với
giáo dục kỹ năng sống, gắn với trải nghiệm sáng tạo để phát huy năng lực của
học sinh; góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh ở bậc
phổ thông.
Tác giả Nguyễn Khắc Bình trong báo cáo khoa học tại Hội thảo Quốc
tế về Chính sách công, Quản lý công và Chính sách an sinh xã hội năm 2015
tại Hà Nội đã phân tích về tầm quan trọng của nhân viên công tác xã hội
trường học; nhất là trong các trường Tiểu học. Tác giả đi sâu phân tch công
tác tổ chức hoạt động ngoại khóa trải nghiệm sáng tạo theo định hướng phát
triển năng lực trong các trường Tiểu học hiện nay và phân tch vai trò
của nhân viên công tác xã hội (hiện nay giáo viên kiêm nhiệm công tác này)
trong việc phối hợp với các lực lượng khác trong nhà trường tổ chức các hoạt
động ngoại khóa trải nghiệm sáng tạo theo định hướng phát triển năng lực
học sinh; góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh ở
bậc Tiểu học và bậc học phổ thông nói chung.
Năm học 2007 - 2008, Bộ Giáo dục và đào tạo đã đưa ra phong trào thi
đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Phong trào này bắt
đầu được triển khai mạnh mẽ trong hầu hết tất cả các bậc học từ mầm non
cho đến đại học. Ngày 22 tháng 7 năm 2008, một lần nữa Bộ giáo dục và
Đào tạo đã ra chỉ thị về việc phát động phong trào thi đua “Xây dựng trường
học thân thiện, học sinh tích cực” trong các trường phổ thông giai đoạn 2008
- 2013. Cùng với chỉ thị này là một thông báo về hướng dẫn triển khai
phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” năm học
2008 - 2009 và giai đoạn 2008 - 2013 với mục tiêu liên quan đến kỹ năng
sống là: “Rèn luyện kỹ năng ứng xử hợp lý với các tình huống trong cuộc
sống, thói quen và kỹ năng làm việc, sinh hoạt theo nhóm; Rèn luyện sức
khỏe và ý thức bảo vệ sức
13
khỏe, kỹ năng phòng, chống tai nạn giao thông, đuối nước và các tai
nạn thương tích khác; Rèn luyện kỹ năng ứng xử văn hóa, chung sống hòa
bình, phòng ngừa bạo lực và các tệ nạn xã hội”. Cũng trong thời điểm này,
một số nhà chuyên môn cũng bắt đầu nghiên cứu và viết một số tài liệu liên
quan đến lĩnh vực kỹ năng sống. Tác giả Nguyễn Thanh Bình khi tham gia
dự án Đào tạo giáo viên Trung học cơ sở đã cho ra đời Giáo trình Giáo dục kỹ
năng sống. Giáo trình đề cập chủ yếu đến những vấn đề đại cương về kỹ năng
sống, một số biện pháp nhằm giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ... Năm
2009 tác giả Huỳnh Văn Sơn cho ra đời tài liệu Nhập môn kỹ năng sống với
các nội dung cơ bản: những vấn đề chung về kỹ năng sống và một số kỹ năng
sống cơ bản.
Trong Văn kiện đại hội XIII của Đảng, kế thừa quan điểm chỉ đạo của
nhiệm kỳ trước, Đảng ta đưa ra đường lối đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, xác định đây là một kế sách,
quốc sách hàng đầu, tiêu điểm của sự phát triển, mang tính đột phá, khai mở
con đường phát triển nguồn nhân lực Việt Nam trong thế kỷ XXI, khẳng định
triết lý nhân sinh mới của nền giáo dục nước nhà “dạy người, dạy chữ, dạy
nghề”.
Đổi mới giáo dục, đào tạo cần bắt đầu từ đổi mới quan điểm, tư
tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách,
điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản
lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở Giáo dục - Đào tạo
và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học;
đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học... Điều này không phải đến Đại hội
XII, Đảng ta mới xác định như vậy. Vấn đề là ở chỗ: Trong những năm
qua, quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, mục tiêu giáo dục toàn diện chưa được
hiểu và thực hiện đúng; nay chúng ta cần nhận thức đúng hơn và thực hiện
hiệu quả hơn.
14
Lâu nay, ở nước ta, các trường chủ yếu trang bị kiến thức cho
người học, lấy nó và dựa vào nó để phát triển năng lực. Nhiều năm qua,
chúng ta đã