Tải bản đầy đủ (.doc) (38 trang)

Hướng dẫn học sinh lớp 12 trường THPT Bình Sơn viết đoạn văn theo mô hình kì thi THPT QG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (493.88 KB, 38 trang )

MỤC LỤC (CONTENT)
PHẦN 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
I. Đặt vấn đề……………………………………………………… trang 3
II. Mục tiêu của chuyên đề………………………………………….

3

III. Phạm vi nghiên cứu và áp dụng chuyên đề……………………..

4

IV. Phương pháp và thời gian nghiên cứu chuyên đề……………….

4

PHẦN 2: NỘI DUNG CHÍNH
I. Khái niệm và nhận thức chung
1. Khái niệm đoạn văn Tiếng Anh …………………………………

5

2. Bố cục một đoạn văn trong tiếng Anh……………………………

5

3. Phân loại………………………………………………………….

7

4. Những yêu cầu cơ bản của một đoạn văn tốt…………………….


8

5. Thực trạng của học sinh tại đơn vị nghiên cứu…………………… 9
II. Những yêu cầu, đòi hỏi để thực hiện việc viết đoạn văn
1. Đòi hỏi từ phía giáo viên………………………………………….

10

2. Đòi hỏi từ phía học sinh…………………………………………..

10

III. Hướng dẫn các bước tiền đề cho việc viết đoạn văn
1. Luyện tập với viết câu…………………………………………….

11

2. Luyện tập với phát triển ý tưởng………………………………….

15

IV. Hướng dẫn học sinh tiến hành viết
1. Hướng dẫn nhận định đề bài……………………………………… 21
2. Các bước cơ bản tiến hành viết đoạn văn………………………… 22
3. Lập dàn ý theo cách phân loại…………………………………….

23

4. Một số phương án kiểm tra, đánh giá bài viết…………………….


30

PHẦN 3: MỘT SỐ ĐỀ THI VÀ TÀI LIỆU LIÊN QUAN
1


I. Đề thi của bộ GD-ĐT…………………………………………….

32

II. Đề thi từ các ng̀n khác………………………………………..

32

PHẦN 4: KẾT ḶN ………….....................................................

33

PHẦN ĆI: TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ PHỤ LỤC……….

34

PHẦN 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
I. Đặt vấn đề:
2


Trong những năm gần đây thực hiện chủ trương đổi mới thi cử giáo dục, 2
kì thi là tốt nghiệp và ĐH-CĐ đã được ghép chung thành kì thi THPT Quốc Gia,
với đặc trưng là một kì thi thực hiện 2 mục đích lớn, đề thi cũng đã có sự thay

đổi đáng kể so với trước đây. Đối với môn Tiếng Anh, đề thi có tính phân loại,
phân hóa khá cao để đánh giá chính xác, tồn diện trình đợ của học sinh với sự
kết hợp của cả hình thức trắc nghiệm và tự luận. Đáng chú ý với hình thức tự
luận được dành một phần lớn với lượng điểm chiếm ba phần tư cho yêu cầu viết
một đoạn văn Tiếng Anh. Đây là một thử thách rất thực tế và được đánh giá là
cần thiết đối với một bài thi THPT QG để đánh giá chính xác năng lực thực sự
của thí sinh, tuy nhiên nó cũng đặt ra những thử thách không nhỏ đối với cả
người dạy và người học. Trên thực tế, yêu cầu thực hiện việc viết một đoạn văn
tiếng Anh không phải xa lạ bởi vì loại hình này đã được đưa vào nhiều lần trong
chương trình SGK ở các lớp THPT ở các tiết viết (Writing), nhưng với nhiều đòi
hỏi phức tạp, đa dạng từ phía học sinh dẫn đến chúng chưa được chú trọng đúng
mức, chưa hình thành được các kĩ năng sâu trong học sinh, phần đa học sinh rất
ngại, thướng tìm cách né tránh hoặc biện pháp đối phó với dạng bài này. Theo
đó, họ gặp không ít khó khăn khi đây là một dạng bắt buộc trong đề thi THPT
QG môn Tiếng Anh, không ít học sinh bỏ phần thi này trong bài thi.
Trong mấy năm qua, tôi liên tục dạy các lớp 12 và trực tiếp ôn thi cho họ
tại THPT Bình Sơn – Sông Lô – Vĩnh Phúc, thấy được những ưu – nhược điểm
của học sinh mình, kết hợp với những thực tế như đã nêu trên nên từ lâu tôi đã
ấp ủ và chuẩn bị một chuyên đề với nguyện vọng hoàn thiện mảng kiến thức này
cho học trò, phù hợp với sức học, đặc trưng của học sinh nơi tôi làm việc. Nay
tôi xin trình bày chuyên đề đó với hy vọng đóng góp về mặt chuyên môn đối với
việc ôn thi THPT QG, hy vọng chuyên đề của tôi có thể là một tài liệu tham
khảo hữu ích cho đồng nghiệp, một nguồn tư liệu có giá trị cho các em học sinh.
II. Mục tiêu của chuyên đề
Như đã nói ở trên, chuyên đề “Hướng dẫn học sinh lớp 12 trường THPT
Bình Sơn viết đoạn văn theo mô hình kì thi THPT QG” do tôi chuẩn bị hướng
đến giải quyết một phần trong đề thi THPT QG mơn Tiếng Anh, góp mợt phần
hồn thiện hệ thống chương trình ôn thi THPT. Theo đó, một cái nhìn toàn diện
về dạng bài này được hướng đến như khái niệm chung, đặc trưng cơ bản, các
yêu cầu đòi hỏi, các bước tiếp cận, các phương pháp hướng dẫn học sinh hoàn

thành yêu cầu này… Bên cạnh đó chuyên đề còn giới thiệu những tư liệu tham
khảo đáng tin cậy mà giáo viên và học sinh có thể tham khảo, sử dụng trong quá
trình dạy và học.
3


III. Phạm vi nghiên cứu và áp dụng chuyên đề
Như tên gọi của chuyên đề, phạm vi nghiên cứu dựa trên kinh nghiệm
giảng dạy, kinh nghiệm làm thi, công tác thanh tra và các hoạt động giáo dục
khác của cá nhân tôi. Tôi không ôm đồm sang các lĩnh vực khác mà chỉ đi vào
nghiên cứu, đề xuất về một phần trong hệ thống kiến thức Tiếng Anh THPT nói
chung và trong bài thi THPT QG nói riêng. Đối tượng để thực hiện nghiên cứu
là các học sinh lớp 12 tại trường THPT Bình Sơn trong 3 năm học gần đây. Với
đặc trưng là học sinh ở một trường miền núi, vùng xa, họ có những điểm khác
biệt so với học sinh miền dưới, nhất là về năng lực ngoại ngữ. Việc áp dụng
những kiến thức nêu ở chuyên đề này đã được tôi áp dụng trong 2 năm học gần
đây và thu được những kết quả khả quan.
Mong muốn chuyên đề của tôi có thể hữu ích với các đồng nghiệp và học
sinh tại các trường có sự tương ứng về quy mô và đặc điểm.
IV. Phương pháp và thời gian nghiên cứu chuyên đề
1. Về phương pháp:
Các căn cứ, khái niệm và lí thuyết khác được tổng hợp từ các nguồn tư
liệu trong SGK, các tài liệu của Bợ GD_ĐT, từ điển bách khoa tồn thư, các
sách, tài liệu tập huấn chuyên môn. Mặt khác, trình tự và nội dung nghiên cứu
chủ yếu dựa trên kinh nghiệm giảng dạy, công tác của cá nhân.
Một số cách thức được nêu điển hình trong chuyên đề là diễn dịch, tổng
hợp và quy nạp.
Phương pháp khảo sát có được đưa vào chuyên đề nhưng không chiếm tỉ
lệ đáng kể.
2. Thời gian nghiên cứu và hoàn thiện:

Tôi bắt đầu thực sự triển khai nghiên cứu chuyên đề này từ năm học 2013
– 2014 (nhưng chưa áp dụng cho học sinh khóa này), hoàn thiện cơ bản vào giữa
năm học 2014 – 2015 (áp dụng lần đầu cho khóa HS này) và hiện tại đang áp
dụng cho học sinh lớp 12 của năm học 2015 – 2016.
Trong quá trình giảng dạy, qua kiểm tra đánh giá, phân loại học sinh, tôi
đã và đang liên tục điều chỉnh, hoàn thiện hóa để chuyên đề của mình thêm phù
hợp và hiệu quả đối với học trò.
PHẦN 2: NỘI DUNG CHÍNH CỦA CHUYÊN ĐỀ
4


I. Khái niệm và nhận thức chung
1. Khái niệm đoạn văn (paragraph)
Theo từ điển Oxford advanced learner's dictionary thì: “Paragraph is a
section of a piece of writing, usually consisting of several sentences dealing
with a single subject. The first sentence of a paragraph starts on a new line”;
Còn theo Wikipedia thì “A paragraph is a self-contained unit of a discourse in
writing dealing with a particular point or idea. A paragraph consists of one or
more sentences. Though not required by the syntax of any language, paragraphs
are usually an expected part of formal writing, used to organize longer prose”.
Như vậy, hiểu một cách đơn giản thì một đoạn văn (a paragraph) là một
nhóm các câu có liên quan đến nhau về một chủ đề nào đó. Các câu phải có
mối liên hệ chặt chẽ với nhau và chủ đề chính là sợi chỉ đỏ xuyên suốt để gắn
kết các câu với nhau.
Ví dụ: Đề bài yêu cầu HS viết một đoạn văn về công việc em muốn làm
sau khi học xong (write a paragraph about the kind of job you would like to do
after you finish your education). Từ đề bài, HS cần xác định các em sẽ phải lựa
chọn một nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp, tránh lan man sang chủ đề nào khác
nếu không thì đoạn văn có thể bị xa đề, lạc đề. Chẳng hạn với đề này nếu HS
nào có ý định kể về việc học hành khó khăn, vất vả thế nào, hay nói về nhiều

hoài bão, ước mơ của bản thân (ngoài chuyện nghề nghiệp ra) thì sẽ bị coi là lạc
đề.
2. Bố cục một đoạn văn trong tiếng Anh
Bớ cục của mợt đoạn văn có ba phần chính: câu chủ đề (topic sentence), các
câu hỗ trợ (supporting sentences/content), và câu kết luận (concluding
sentence/closing sentence).
a. Câu chủ đề (topic sentence): Đây là câu đầu tiên của đoạn và cho người đọc
biết chủ đề của đoạn cũng như thông báo cho người đọc biết người viết sẽ viết gì
về chủ đề đó. Trong câu chủ đề có 2 phần chính: phần chủ đề (topic) và ý tưởng
chủ đạo (controlling idea). Phần ý tưởng chủ đạo chính là phần giới hạn nội
dung của đoạn, cho người đọc biết rằng đoạn văn chỉ nói đến những khía cạnh
nào đó của chủ đề thôi chứ không phải những khía cạnh khác. Ví dụ: với đề bài
vừa nêu trên thì câu chủ đề có thể là: Sau khi học xong em muốn trở thành giáo
viên tiểu học vì một vài lí do (After finishing my education, I want to become a
teacher at a primary school for several reasons). Câu chủ đề này thông báo cho
5


người đọc biết chủ đề của đoạn văn mà người viết sẽ viết là về nghề nghiệp sau
khi em học xong cũng như lý giải các lí do lựa chọn nghề nghiệp đó.
b. Các câu hỗ trợ (supporting sentences): Các câu này nằm sau câu chủ đề và
dùng để giải thích thêm cho câu chủ đề hoặc đưa ra các ví dụ minh hoạ. Mời
tham khảo mẫu sau vấn với đề bài nêu trên:
The first reason for my choice of job is the inspiration derived from my own
teachers at my primary school. They were as kind-hearted and dedicated as my
parents, which contributed to rendering my experience at school significantly
more enjoyable and meaningful. They also taught me numerous wonderful
things about various subject matters and set shining examples to me through
their human dignity. Next, my love for children can be an explanation for this
intention of mine. Working with children, who are incredibly innocent and

adorable, may probably help me forget all the worries and troubles that I might
encounter in my daily life. Finally, it is sharing knowledge that is what I pursue
as a teacher. I always cherish the ambition of passing on what I acquire to others
and give them a hand in broadening their horizons of knowledge, which might
be of considerable significance for their pursuit of success in the future.
(Lí do đầu tiên cho việc lựa chọn làm nghề giáo viên của em chính là nguồn
cảm hứng được khơi dậy bởi chính những giáo viên của tôi ở tiểu học. Các thầy
cô tốt bụng và tận tuỵ như cha mẹ em, điều mà góp phần khiến cho trải nghiệm
của em ở trường học vui và ý nghĩa hơn nhiều. Các thầy cơ cịn dạy cho em
mn vàn những điều kì thú về những chủ đề khác nhau và là những tấm gương
sáng ngời về nhân phẩm. Tiếp đến, tình yêu trẻ cũng là một lý do giải thích cho
ý định làm giáo viên của em. Làm việc với những đứa trẻ vô cùng ngây thơ và
đáng yêu có thể giúp em quên đi những muộn phiền và rắc rối em có thể gặp
phải trong cuộc sống thường nhật. Cuối cùng chia sẻ kiến thức là điều em muốn
thực hiện/theo đuổi khi làm giáo viên. Em luôn khát khao được chia sẻ kiến thức
của bản thân cho người khác và giúp họ mở rộng chân trời kiến thức, điều mà
có thể có ý nghĩa lớn lao trong việc theo đuổi thành công của họ trong tương
lai).
c. Câu kết luận (concluding/closing sentence): Đây là câu cuối cùng trong
đoạn. Câu này có thể diễn đạt lại câu chủ đề bằng từ ngữ hoặc cấu trúc câu khác
hoặc cũng có thể diễn đạt lại các ý chính đã trình bày trong các câu hỗ trợ.
Ví dụ: In general, I want to work as a teacher at a primary school in the future
because of my being inspired by my primary-school teachers, my affection for
6


children, and my aspiration of sharing my knowledge with other people. (Tóm
lại, em muốn trở thành một giáo viên tiểu học trong tương lai vì em được khơi
nguồn cảm hứng bởi các giáo viên tiểu học của mình, vì em yêu trẻ và vì em
muốn được chia sẻ kiến thức với mọi người)

Ngoài ra chúng ta cũng có thể đặt một tiêu đề (title) cho đoạn văn của mình
(không bắt buộc). Tiêu đề cho người đọc biết chủ đề của bài viết và thường
khơng cần phải là mợt câu hồn chỉnh mà chỉ cần là một hoặc vài từ. Ví dụ với
đề bài trên chúng ta có thể đặt tiêu đề: “My future job”.
Như vậy về bố cục có thể thấy mợt đoạn văn dứt khốt phải có đủ 3 phần:
Câu chủ đề (duy nhất 1 câu), các câu nội dung (nhiều câu) và câu kết (cũng duy
nhất 1 câu), tất cả các câu đó phải được đặt trong một liên kết hợp lí, thống nhất
và tuyệt đối không xuống dòng giữa chừng.
3. Phân loại
Trong các sách, tài liệu cũng như từ điển đưa ra nhiều cách phân loại khác
nhau, cá nhân tôi trong quá trình giảng dạy cho học trò thì căn cứ vào các kiến
thức phổ thông của SGK để chia ra 3 loại sau đây:
-Loại 1: đoạn văn phân tích (analyzing)
Đây là dạng rất phổ biến trong chương trình phổ thông, dạng này đơn giản
là yêu cầu người viết nêu ra, kê ra, kể ra những khía cạnh, những vấn đề theo đòi
hỏi của đề bài. Thông thường người viết vẫn cần sự tư duy, suy xét để có thể nêu
ra những điều hợp lí nhất, điển hình nhất, tuy vậy đòi hỏi này không cao, cũng
không cần người viết phải đề cập đáng kể đến quan điểm hay cách nhìn nhận cá
nhân.
Ví dụ: Write a paragraph about measures for protecting endangered animals
(Task 2 – Unit 10: Endangered Species – SGK Tiếng Anh 12 trang 113)
Hoặc một số trường hợp khác như: Write a paragraph about the benefits of
learning English/ of using bicycles/ of watching TV…
- Loại 2: Đoạn văn mô tả (Describing)
Loại này cũng khá phổ biến với học sinh phổ thông, nó đòi hỏi người viết
phải thực hiện việc mô tả về các khía cạnh, các mặt hoặc các giai đoạn theo trình
tự của một đối tượng, một chủ thể cho trước trong đề bài.
7



Trong SGK THPT chúng ta bắt gặp dạng này rất nhiều như mô tả 1 bộ
phim (describe a film/movie) – Tiếng Anh 10, mô tả về một người bạn (describe
your friend) – Tiếng Anh 11, mô tả một cuốn sách/câu chuyện đã đọc (describe a
book) – Tiếng Anh 12…
- Loại 3: Đoạn văn nghị luận mang tính tranh luận, bàn luận
(argumentative)
Loại này ít phổ biến trong chương trình giáo khoa, dạng này thường đưa ra
một nhận định, một phát biểu và yêu cầu người viết đánh giá, cho nhận xét
về điều đó trên cơ sở quan điểm, cách nhìn nhận cá nhân.
Đây là dạng bài khó nhất đối với HS, nó có sự kết hợp của 2 dạng bài trên
cộng với cách thể hiện tư duy hiểu biết xã hội, sự dẫn dắt, cách thể hiện
luận điểm, tư tưởng cá nhân của học sinh.
Ví dụ bài 15 – SGK Tiếng Anh 12 có nêu ra phát biểu “Married women
should not go to work” và yêu cầu HS thể hiện sự đồng tình hay không
đồng tình, mặc dù yêu cầu này được đưa ra ở 1 tiết Speaking, nhưng nó
hoàn toàn có thể được biến đổi sang yêu cầu của một bài Writing.
- Cách phân loại ở trên thực tế mang tính cá nhân, nhất là giữa loại 1 và loại 2
khơng hồn tồn có giới hạn rõ ràng, với mợt vài đề thi cụ thể thì có thể
hiểu theo loại nào cũng chấp nhận được. Tuy nhiên cách phân loại trên giúp
giáo viên dễ chia ra để hướng dẫn học sinh thiết kế dàn ý (outline) mà tôi
sẽ trình bày ở phần sau.
4. Những yêu cầu cơ bản của một đoạn văn tốt
Thông thường một đoạn văn viết bằng tiếng Anh có độ dài dao động trong
khoảng 80 đến 150 từ (words), tuy nhiên trong đề thi minh họa cũng như đề thi
chính thức môn Tiếng Anh năm 2015 thì Bộ GD-ĐT đã nêu cụ thể số từ được
yêu cầu là 140 từ với số điểm dành cho nó là 1.5 điểm.
Theo quan điểm của Bộ GD-ĐT được thể hiện trong đáp án của đề thi
minh họa năm 2015 thì một đoạn văn tốt được đánh giá dựa trên 5 tiêu chí chính
sau đây:
- Bố cục (0.4đ): câu đề dẫn chủ đề mạch lạc; bố cục hợp lí, rõ ràng phù hợp với

yêu cầu của đề bài; bố cục uyển chuyển từ mở bài đến kết luận.
- Phát triển ý (0.25đ): phát triển ý có trình tự logic; có dẫn chứng, ví dụ để bảo
vệ ý kiến của mình.
8


- Sử dụng ngôn tư (0.3đ): sử dụng ngôn từ phù hợp nội dung; đúng văn phong,
thể loại; dùng từ nối các ý cho bài viết uyển chuyển.
- Nội dung (0.3đ): đủ thuyết phục người đọc; đủ dẫn chứng, ví dụ, lập luận; số từ
không nhiều hơn hoặc ít hơn so với quy định 5%.
- Ngữ pháp, dấu câu và chính tả (0.25đ): sử dụng đúng dấu câu; viết đúng chính
tả; sử dụng đúng thời/thì, cấu trúc ngữ pháp.
Như vậy có thể thấy để có một đoạn văn hay, dành được số điểm cao là
không hề đơn giản.
5. Thực trạng của học sinh tại đơn vị nghiên cứu
Như đã trình bày ở trên, học sinh lớp 12 tại THPT Bình Sơn có những đặc
thù khá riêng biệt so với các trường khác về năng lực ngoại ngữ nói chung và
năng lực viết nói riêng. Quá trình giảng dạy và tiếp xúc với học trò cho tôi thấy
mặt bằng chung trình độ tiếng Anh của các trò còn rất nhiều hạn chế, nhiều điểm
bất cập về kiến thức cơ bản, hệ thống kĩ năng chung cũng như phương pháp học
tập, có thể thẳng thắn thừa nhận một thực tế là trình độ tiếng Anh của học trò
vùng ngược này thuộc vùng trũng so với các khu vực vùng xuôi. Điều này do
xuất phát điểm của các trò là khá thấp, chúng thiếu nền tảng, sự chăm lo về
ngoại ngữ từ những năm cấp 1, cấp 2; điều kiện giao lưu, tiếp xúc về ngoại ngữ
còn hết sức hạn chế. Chính vì thế, để có thể hoàn thành được những yêu cầu
theo sách giáo khoa đã là một thành công lớn đối với họ. Khi giảng dạy ở các
lớp cơ bản, chúng tôi thường chỉ dám đặt ra mục tiêu khiêm tốn là học trò có thể
nắm được kiến thức cơ bản bởi vì chúng tơi vừa cớ gắng hồn thành được bài
theo phân phối chương trình, vừa kết hợp củng cố, ôn lại kiến thức cũ cho HS –
điều này tốn khá nhiều thời gian, công sức.

Đổi lại, học trò vùng quê này cũng có được những ưu thế nhất định là biết
vâng lời, hiếu học.

II. Những yêu cầu, đòi hỏi để thực hiện việc viết đoạn văn
Để thực hiện tốt việc dạy và học viết đoạn văn Tiếng Anh theo mô hình kì
thi THPT QG đòi hỏi khá nhiều điều ở cả người dạy và người học.
1. Đòi hỏi từ phía giáo viên
9


Giáo viên đương nhiên giữ một vai trò chủ chốt quyết định thành công
của quá trình này bởi đó là người hướng dẫn, vạch đường chỉ lối, đồng thời quản
lí, giám sát quá trình tiến hành và kiểm tra đánh giá kết quả. Nói một cách cụ thể
thì theo tôi người giáo viên cần đảm bảo một số mặt sau đây:
- Có kiến thức chắc chắn về kĩ năng viết nói chung và viết đoạn văn nói riêng.
Điều này thể hiện ở sự hiểu biết của giáo viên về kĩ năng này, khả năng vận
dụng thực tiễn một cách hiệu quả, bên cạnh đó là sự am hiểu về kiến thức văn
hóa xã hội, nhất là văn hóa Anh - Mỹ, khả năng tư duy theo phong cách viết
trong tiếng Anh.
- Có nghiệp vụ sư phạm vững vàng, khả năng truyền thụ dễ hiểu, đơn giản, biết
vận dụng nhiều cách tiếp cận khi truyền đạt kiến thức cho học trò, nhất là khả
năng quản lí, kiểm sốt hoạt đợng học tập của học sinh.
- Tích cực trong việc viết mẫu, làm mẫu về bài viết, dẫn dắt học trò phương
pháp tư duy. Đặc biệt phải kể đến khả năng kiểm tra, đánh giá kết quả của học
trò sau khi giao việc. Thông thường quá trình này người giáo viên phải đầu tư
khá nhiều thời gian khi phải đọc từng câu, từng bài viết của từng học trò, rồi
chỉnh sửa, giải thích, nhận xét… Nhìn chung khi dạy viết, một trong những đòi
hỏi ở mặt này ở giáo viên là sự kiên trì, kiên trì để đọc hết bài của học trò, kiên
trì để tiếp tục quá trình chứ không buông xuôi khi thấy trò quá chậm tiến bộ.
2. Đòi hỏi từ phía học sinh

Viết mợt đoạn văn theo hình thức tự luận được cho là dạng bài giúp đánh
giá rất tồn diện trình đợ, khả năng của người học, và do đó có thể thấy để làm
tốt dạng này đòi hỏi ở học sinh khá nhiều điều:
- Về ngữ pháp: học sinh cần có kiến thức nền về ngữ pháp tương đối đầy đủ,
thông thuộc các chủ đề cơ bản về ngữ pháp như các thì, câu bị động, câu điều
kiện, mệnh đề liên hệ, giới từ, mạo từ, liên từ, một số cấu trúc ngữ pháp, mệnh
đề phổ biến… Trong trường hợp đối tượng học sinh mất gốc, chưa nắm được
các kiến thức ngữ pháp cơ bản thì sẽ mất rất nhiều thời gian trong việc vừa dạy
kiến thức mới về kĩ năng viết vừa củng cố kiến thức ngữ pháp.
- Về từ vựng: học sinh cần có vốn từ vựng nhất định về các chủ đề phổ thông,
sự hiểu biết về từ loại, cấu tạo từ, cấu tạo câu cơ bản. Lượng từ vựng này sẽ như
một nguồn vốn để học sinh có thể sử dụng trong quá trình họ viết, tất nhiên số
lượng nhiều hay ít còn tùy thuộc vào từng học sinh, đối với học sinh biết quá ít
từ vựng thì khó khăn sẽ nhân lên gấp nhiều lần.
10


- Về hiểu biết xã hội và kĩ năng:
Một học sinh viết tốt cần có sự hiểu biết xã hội tốt, thậm chí có thể gọi là
vốn sống. Các kiến thức xã hội này giúp học sinh biết định hướng đúng khi viết,
biết tạo nguồn thông tin cần thiết để làm tư liệu cho bài viết. Bên cạnh đó học
sinh sẽ biết thể hiện tư duy độc lập, thái độ chuẩn mực, tôn trọng các giá trị văn
hóa, pháp luật, tôn trọng cộng đồng khi đưa thông tin vào bài viết. Ví dụ trong
chương trình tiếng Anh 12 có bài yêu cầu học sinh đề xuất/ gợi ý các phương án
khả thi để bảo vệ các lồi (đợng thực vật) đang gặp nguy hiểm (nguy cơ tuyệt
chủng), đương nhiên họ sẽ phải vận dụng sự hiểu biết cá nhân để có thể đưa ra
các ý tưởng hợp lí và khả thi như: cần ban hành luật để bảo vệ động thực vật; tẩy
chay các sản phẩm có nguồn gốc từ động vật hoang dã; tuyên truyền, tạo công
ăn việc làm cho những người có đời sống lệ thuộc vào các sản vật từ rừng…
Bên cạnh đó, học sinh cần có chút ít vốn kĩ năng cho việc viết để câu văn

mang đúng phong cách, tránh tình trạng câu văn “khòng kheo” theo kiểu “Việt
hóa” bởi nó được suy ra bằng cách dịch “word by word” từ tiếng Việt.
III. Hướng dẫn các bước tiền đề cho việc viết đoạn văn
Khi hướng dẫn kĩ năng viết đoạn văn cho học trò, giáo viên cần dành một
lượng thời gian nhất định để giúp học sinh ôn tập và luyện tập với các bước tiền
đề chứ không nên đi vào hướng dẫn viết đoạn ngay. Thời lượng này dài hay
ngắn tùy thuộc vào mặt bằng chung của học trò ở mức nào, với tôi thông thường
dành khoảng một phần ba thời lượng hạng định cho phần này.
1. Luyện tập với viết câu:
Hướng dẫn, quản lí học sinh thực hiện việc viết câu, xây dựng câu theo
một số mô hình chuẩn bị sẵn, mức độ từ câu đơn đến câu phức, dễ đến khó, từ
đơn giản đến phức tạp, để học trò được tự do thay đổi câu mẫu, tự do nêu ý
tưởng, càng phong phú càng tốt. Tôi giới thiệu sau đây một vài mô hình câu theo
tài liệu của P.GS Lê Văn Canh – Trường ĐH NN mà chúng tôi đã được tập huấn
trong thời gian qua:
ACTIVITY 1: PRACTICE WITH CONDITIONAL SENTENCES:
Form for type 3:
If + had (not) done +would (not) have done

11


• Write two sentences about things you wish had turned out differently,
and two sentences about things you are pleased about.
• Examples:
If I hadn’t failed my exams, I would have gone to university.
If I hadn’t gone to that party, I wouldn’t have met my old friend.
ACTIVITY 2: PRACTICE WITH (DON’T) LIKE and BECAUSE
*Ask students to write a sentence saying what their opinion is a bout a certain
topic:

Form: I like/ don’t like ………. because ………..
Examples:
I like spring because it is cool/ I don’t like summer because it is hot
--> Now, change the underlined words into others
--> And then, change the subjects, too.
* Look at the following information about Carlos’ likes (√) and dislikes (X) and
read the sentences which follow.
• Carlos

Music: hip hop (√) , classical music (X)
Sport: football (√), tennis (√)
Entertainment: films (√), clubs (√)
Food: spicy food (√), raw fish (X)

He likes hip hop but he doesn’t like classical music.
He likes football and tennis.
He likes watching films and going out to clubs.
He likes spicy food but he doesn’t like raw fish.
Now write similar sentences saying what music, sport, entertainment, and
food you like and dislike. Use and and but.
ACTIVITY 3: DICTATING SENTENCE COMPLETION
12


My favourite time of the day is …….
• The one thing I would most like to learn is how to ….
• The best film I have ever seen is …….
• One of the most exciting things that has ever happened to me is ………
ACTIVITY 4: SIMILES
My friend is like an ice-cream.

He can be very cold.
He can be melting easily.
And he can cool down your anxiety.
-->Now write other sentences like:
Our teacher is like ……
ACTIVITY 5: “CLONING” LANGUAGE
An extreme example of this is taking a sentence and altering one word each
time, taking notice of any grammatical changes needed, to produce many more
sentences:
The cat sat on the mat.
The cat sat on the dustbin.
The cat sat on your dustbin.
The cat ate in your dustbin.
The dog ate in your dustbin.
My dog ate in your dustbin.
ACTIVITY 6: “I AM” PATTERN
I am (two special characteristics you have)
I wonder (something you are curious about)
I see (an imaginary sight)
13


I want (an actual desire)
I am (the first line of the poem repeated)
I am a stranger who leaves myself.
I wonder if there is a place I can fit.
I hear the scream of my mind.
I see an ocean in red.
I want to cry.
I am a stranger who leaves myself.

ACTIVITY 7: CONTROLLED CONPOSITION: INCOMPLETE LETTER
Use the form below. You may add more sentences if you wish. Use correct
punctuation and capitalization.
Dear …………….,
I am happy to ………. My name is ………. . I live in ……. . Would you like
……? We can ……….
I am …. years old. I am ….. . My eyes are …., and my hair is …. . My hobbies
are …….
My city is ….. . The weather is …. . The winters are ….. Do you have any ….. ?
Do you have any …..? Are you …. ? Are you …..? Please write and tell me
about yourself.
Sincerely,
ACTIVITY 8: GIVING OPINION
Complete the forms below according to your point of view:
Form 1: I can’t buy (a/an)………………. because I don’t have enough ……….
--> Now change the verb “buy” into others (e.g: sleep/play/go.etc.)
--> And change the subject “I” into others.
Form 2: My idea job in the future is to become a/an ……………. , working as
a/an …………… can be exciting because I can ………………….
14


--> Now change “job” into place/world… and complete the rest of the sentence.
Form 3: The friend whom I admire the most is …………., he/she is a/an…...,
he/she lives in ………….
--> Now change the word “friend” into teacher/woman/person/athlete/singer…
and complete the rest of the sentence.
2. Luyện tập với phát triển ý tưởng
Thực chất đây vừa là dạng luyện tập giúp học sinh củng cố từ vựng, tập
xây dựng câu, vừa giúp học sinh chuẩn bị các tư liệu cần thiết để đưa vào bài

viết (tư liệu cho dàn ý – outline)
ACTIVITY 1: PICTURE DESCRIPTION

Make six sentences that describe the picture above.
Word bank: floating, iceberg, ocean, penguin

15


Describe the picture, using There is/ There are….
ACTIVITY 2: CREATING WRITING: ALPHABET POEMS
a. Alphabet
Actors
Business woman
Chemists
Etc…
b. Acrostics
Rules:
• Every line must start with the letter
• The whole poem must be related to the key word.
JOY
Just thinking
Of
You

16


BEACH:
Blue sea, sunshine on waves

Easy days
Afternoons of heat and playfulness
Charm of summer, anger of the storm
Home, and the hills of sand.
HOLIDAY
Happy day in
Our
Life and
Important
Day
After test
Yes! It’s holiday.
ACTIVITY 3: TWO-LINED POEMS
Tell the class that they are going to write a poem. It will have only two lines, and
each line has just two words. The first line will start with “Hello”, the second
with “Goodbye”. Give students two examples:
Hello sunshine,
Goodbye rain.
Hello smoking,
Goodbye health.
The students then (work in pair or individually) and try to come up with at least
two new poems.

ACTIVITY 4: FIVE SENSES PATTERN
17


Line 1: what colour an emotion or idea is
Line 2: what the emotion tastes like.
Line 3: what the emotion sounds like.

Line 4: What the emotion smells like.
Line 5: what the emotion looks like.
Line 6: what emotion makes you feel like.
Example:
Fall is red and yellow.
It tastes like chicken soup.
It sounds like wind through the trees.
And smells like warm wood smoke.
It looks like what you see
When you get you new glasses
It makes you feel energetic.
ACTIVITY 5: A HERO PATTERN
Line 1: A person you admire
Line 2: Three words to describe the person
Line 3: Place, group, or activity identified with the person.
Line 4: Three action words (-ing words) for the person
Line 5: When or where the actions takes place
Line 6: Thoughts or feelings about the person.

ACTIVITY 6: A CHAIN STORY
18


Ask students to choose one kind of story they like (e.g. narrative, love, detective,
horror, etc.) One student writes the first sentence of the story. Others take turn to
complete the story with each continuing the story with his/her own sentence.
Example:
Last summer, I spent my holiday in Hawaii.
ACTIVITY 7: ERROR CORRECTION
The paragraph below has 5 errors. Find the errors. Rewrite the paragraph and

correct the errors
My favourite place is my grandmother’s house. I started visit my grandmother
on the weekends when I was younger. Last weekend, we play games and go
hiking! Although my grandmother is 82 years old, but she is very fun and
active. My grandmother at all does not act like an old woman. I always have
fun when I visit her house, and that is why my grandmother’s house is my
favourite place.
ACTIVITY 8: KINDS OF…
Fill in the blanks
Kinds/Types of Books: comic, example: Doreamon; ……………
Kinds/Types of films or movie: cartoon, example: Tom and Jerry; …………
Kinds/Types of climate: ………………………………….
Kinds/Types of parties: ……………………………………..
Kinds/Types of sports: ……………………………………….
Kinds/Types of music: ……………………………………….

ACTIVITY 9: OPPOSITION
19


Good or bad? Some people think mobile phones are good, others think they are
bad, give some reasons:
Mobile phones are good

Mobile phones are bad

- Mobile phones help us to contact
people anywhere

- We have to spend some money on them

(money to buy mobile phones, monthly
fee)

-

-

-

-

-

Advantages and disadvantages of bicycles
Advantages

Disadvantages

- Cheap

- Slow

- people can do body exercise

- people cannot take a short rest

-

-


Causes and solutions of exam cheating
Causes

Solutions

- Laziness

- Punishment

- Study pressure

- Teacher should not give students too
much homework or too many exercises

-

ACTIVITY 10: ORDER

20


What you do everyday
Get up --> wash face --> brush teeth --> have breakfast --> ……… --> go to
bed. (add at least 20 more actions)
What you did last Tet holiday:
Cleaned/Decorated the house --> went to the market --> bought peach blossom
and ………. --> finished the holiday, went back to school. (add as much actions
as possible)
What you did at your last birthday party:………………………………….
TIỂU KẾT: Các hoạt đợng trên có khá nhiều tác dụng trong việc giúp học

sinh ôn lại một số kiến thức ngữ pháp, một số từ vựng cần thiết, đờng thời
trang bị sẵn những ý tưởng mà họ có thể sử dụng trong các bài biết được yêu
cầu ở giai đoạn sau.
IV. Hướng dẫn học sinh tiến hành viết
1. Hướng dẫn nhận định đề bài
Việc nhận định đề bài là quan trọng hàng đầu, quyết định thành bại của
bài viết, vì thế đây là công việc không thể chủ quan. Đối với việc này chúng ta
cần hướng cho HS đọc đề để xác định những điều cơ bản là:
- Đoạn văn được yêu cầu thuộc loại nào: phân tích, mô tả hay tranh luận?
- Thời điểm nào được đề cập đến từ đó để xác định thì cho bài viết được chính
xác: hiện tại đơn, quá khứ hay hỗn hợp…
- Đối tượng nào được đề cập chính: là người, là vật hay việc? số ít hay số nhiều,
tương đương với đại từ nào trong Tiếng Anh.
- Chủ đề của bài viết thuộc lĩnh vực nào: Thông thường 1 đoạn văn được yêu
cầu trong đề thi THPT QG sẽ thuộc một trong các lĩnh vực phổ thông có trong
chương trình như chủ đề gia đình, nhà trường (học tập), văn hóa xã hội (sự đa
dạng về văn hóa), nghề nghiệp, thể thao, bảo vệ môi trường, thiên nhiên, sách,
vai trò của phụ nữ… Việc xác định chủ đề này giúp học sinh dễ định hướng tư
tưởng để chuẩn bị hệ thống thông tin, lí luận làm tư liệu cho bài viết.
- Một điểm lưu ý nữa đối với học sinh là quy mô và phạm vi được đề cập đến
theo yêu cầu của đề bài, họ cần đọc kĩ đề để tư duy chính xác quy mô, phạm vi
21


này: quy mơ lĩnh vực hay tồn ngành, phạm vi vùng miền hay tồn thế giới, quy
mơ lứa t̉i hay mọi người…
2. Các bước cơ bản tiến hành viết đoạn văn
Có nhiều cách để nêu ra các bước tiến hành viết 1 đoạn văn tùy thuộc sở
trường, thói quen của mỗi giáo viên. Với mức độ điểm và tầm quan trọng của
loại bài này, tôi thường khuyên học trò khi đi thi thật dành không quá 25 phút

cho tất cả các phần việc dưới đây sau khi đã đọc đề:
B1- Xác định chính xác 3 yêu cầu chung:
+ Hình thức (Form): phải tuân thủ hình thức của 1 đoạn văn.
+ Ngữ pháp/Thì (Tenses): dùng (những) thì nào cho bài viết
+ Chủ thể (Subject): đối tượng chính mà mình viết về là ai, người, vật hay việc,
tương đương với đại từ nào.
Ví dụ đề thi THPT QG năm 2015: In a paragraph of about 140 words, write
about the benefits of reading books.
Với đề thi này, học sinh cần xác định thì được dùng ở đây sẽ là hiện tại đơn, chủ
thể ở đây là “reading books” (việc đọc sách), từ đó cần nêu ra những lợi ích
(benefits) của nó (it). Tất nhiên một số học sinh có thể xác định chủ thể là
“benefits of reading books”, nếu họ thực hiện việc viết đúng hướng thì vẫn
không có gì đáng ngại.
B2- Lập dàn ý (outline): Việc lập dàn ý cần thực hiện ra giấy nháp trong khoảng
thời gian tiết kiệm nhất có thể, đây là phần “xương sống” để người viết căn cứ
vào đó hoàn thành bài của mình.
B3- Tiến hành viết: Trên cơ sở dàn ý tiến hành viết cho kịp tiến trình để đảm bảo
nội dung tốt và kịp tiến đợ về thời gian.
B4- Kiểm tra, sốt lỗi: Sau khi hoàn thành bài, thí sinh cần đọc để kiểm tra lại,
soát lỗi, nhất là lỗi chính tả, dấu câu. Tránh việc sửa ý hay gạch xóa cả câu.

3. Lập dàn ý theo cách phân loại
22


Lập dàn ý (outline) là một giai đoạn rất quan trọng trong tiến trình viết,
nhất là đối với những thí sinh ít kinh nghiệm, ít bề dày về kĩ năng viết đoạn, vì
thế với nhóm HS này tôi tự đề ra phương hướng là giúp các em lập các dàn ý
theo hướng cơ bản, đơn giản nhưng đúng hướng và tiết kiệm được thời gian một
cách tốt nhất.

Căn cứ theo cách phân loại đã đề cập ở phần trước, tôi xin cụ thể hóa một
số dạng giàn ý thường gặp như sau:
a. Đoạn văn phân tích (outlines for analyzing paragraph):
LOẠI PHÂN TÍCH 1 ĐỚI TƯỢNG:
- u cầu học sinh ch̉n bị câu chủ đề sao cho thật đơn giản, dễ hiểu theo yêu
cầu đề bài.
- Yêu cầu học sinh vạch ra các ý tưởng cần thiết theo chủ đề, không giới hạn số
lượng, sau đó chắt lọc lấy 3 hoặc 4 ý sao cho các ý này đảm bảo 2 yêu cầu là
tính tiêu tiêu biểu và HS có sẵn vốn từ vựng để có thể làm rõ, mở rộng. Đối với
các ý mang tính trùng lặp hoặc ít tiêu biểu thì có thể gép vào một ý nhất định đã
được chọn.
- Yêu cầu HS chuẩn bị câu kết, đảm bảo yêu cầu tóm tắt được chủ đề nhưng
không lặp lại câu từ của chủ đề.
Example: Write about the benefits of learning English.
OUTLINE:
- Topic sentence: Learning English well brings people many benefits.
- Supporting sentences:
+ Get high marks at school, pass exams
+ Enjoy movies, music, stories in English
+ Communicate with foreigners; understand more cultures in the world.
+ Have more chances in getting jobs, high salary
- Closing sentence: In short, learning English is a key for people because it is
necessary for study, for communication and for work.
Một số dạng đề phân tích một đối tượng thường gặp:
23


- Write about the benefits of something or doing something (reading books/
computers/the internet/ playing sports/ punctuality…)
- Write about the causes of a problem (air pollution/ forest destruction/ exam

cheating/ school violence…)
- Suggest solutions to a problem (air pollution/ forest destruction/ exam
cheating/ school violence…)
- Give reasons for a situation, a trend, and so on.
ĐOẠN VĂN PHÂN TÍCH 2 ĐỚI TƯỢNG:
- u cầu học sinh chuẩn bị câu chủ đề sao cho thật đơn giản, dễ hiểu theo yêu
cầu đề bài.
- Yêu cầu học sinh vạch ra các ý tưởng cần thiết theo 2 nội dung của chủ đề,
thông thường 2 nội dung này mang tính đối lập hoặc ràng buộc (ưu - nhược,
điểm lợi - bất lợi, nguyên nhân – giải pháp, thực trạng – giải pháp) không giới
hạn số lượng, sau đó chắt lọc lấy 2 hoặc 3 ý cho mỗi nội dung, sao cho các ý này
đảm bảo 2 yêu cầu là tính tiêu tiêu biểu và HS có sẵn vốn từ vựng để có thể làm
rõ, mở rộng. Đối với các ý mang tính trùng lặp hoặc ít tiêu biểu thì có thể ghép
vào một ý nhất định đã được chọn.
- Yêu cầu HS chuẩn bị câu kết, đảm bảo yêu cầu tóm tắt được chủ đề nhưng
không lặp lại câu từ của chủ đề.
Example: Write about the advantages and disadvantages of using bicycles.
- Topic sentence: Bicycles are so popular to people all over the world, there are
some advantages and disadvantages when using them.
- Content:
Advantages

Disadvantages

- Bicycles are cheap, people don’t have - They are slower than many other
to pay for gasoline, bicycles do not
means of transportation.
cause pollution.
- People cannot bicycle over long
- It is easy to repair, low cost

distances
- Users can do body exercises.

- People cannot take a rest on bicycle
24


- Closing sentence: No matter what strong points and weak points do bicycles
have, many people consider them their favourite means of travelling.
Một số đề phân tích 2 đối tượng thường gặp:
- Write about the advantages and disadvantages of something or doing
something (watching TV/ living in the countryside/ solar power, etc.)
- Write about the causes and solutions of a problem (exam cheating, game
addiction/school violence…)
- Write about the causes and effects of something (forest destructions/ smoking/
pollution/ global warming…)
- Write about the realities and measures to a problem (killing endangered
animals/ cutting down forests/ air pollution…)
b. Đoạn văn mô tả
- Yêu cầu học sinh chuẩn bị câu chủ đề sao cho thật đơn giản, dễ hiểu theo yêu
cầu đề bài.
- Yêu cầu học sinh vạch ra các ý cho các bước/các giai đoạn/ các khía cạch của
đối tượng được yêu cầu không giới hạn số lượng, sau đó chắt lọc lấy các ý điển
hình mang tính quan trọng, không thể thiếu; đồng thời có thể nêu sẵn một số từ
vựng cần thiết liên quan đến mỗi ý. Các ý mang tính trùng lặp hoặc ít tiêu biểu
thì có thể bỏ hoặc ghép vào một ý nhất định đã được chọn.
- Yêu cầu HS chuẩn bị câu kết, đảm bảo yêu cầu tóm tắt được chủ đề nhưng
không lặp lại câu từ của chủ đề.
Example: Write a paragraph to describe your close friend.
- Topic sentence: My close friend is ______, we have been friends for _____

years/ since _____.
- Content:
+ General information: age, job, address
+ Physical characteristics:
# Appearance in general: beautiful/handsome/pretty/ good-looking
# Height: tall/ short/ medium
25


×