Tải bản đầy đủ (.pdf) (142 trang)

Tư tưởng đồng thuận xã hội của Hồ Chí Minh đối với việc tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (987.11 KB, 142 trang )

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------------------

NGUYỄN THỊ HẢI YẾN

TƢ TƢỞNG ĐỒNG THUẬN XÃ HỘI CỦA HỒ CHÍ MINH
ĐỐI VỚI VIỆC TĂNG CƢỜNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT
TOÀN DÂN TỘC HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC

HÀ NỘI, 2017


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------------------

NGUYỄN THỊ HẢI YẾN

TƢ TƢỞNG ĐỒNG THUẬN XÃ HỘI CỦA HỒ CHÍ MINH
ĐỐI VỚI VIỆC TĂNG CƢỜNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT
TOÀN DÂN TỘC HIỆN NAY
CHUYÊN NGÀNH : CHÍNH TRỊ HỌC
MÃ SỐ

: 60310201

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:GS.TS ĐỖ QUANG HƢNG



HÀ NỘI, 2017


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi
dưới sự hướng dẫn của GS.TS Đỗ Quang Hưng, chưa được công bố trong
bất cứ một công trình nghiên cứu nào của người khác. Việc sử dụng kết
quả, trích dẫn tài liệu của người khác đảm bảo theo đúng các quy định.
Các nội dung trích dẫn và tham khảo các tài liệu, sách báo, thông tin được
đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và trang web theo danh mục tài liệu
tham khảo của luận văn.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

NGUYỄN THỊ HẢI YẾN


LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện Luận văn, ngoài sự cố gắng của bản thân,
tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của Ban Chủ nhiệm Khoa Khoa
học Chính trị, các nhà khoa học, các Thầy Cô, anh chị em học viên trong
Khoa và sự quan tâm, động viên, hỗ trợ của gia đình, người thân, bạn bè.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Chủ nhiệm và tập thể
giảng viên trong Khoa Khoa học Chính trị - Trường Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) đã hết lòng chỉ dạy, truyền
đạt kiến thức cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
thời gian qua.
Đặc biệt, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Thầy hướng

dẫn khoa học - GS.TS. Đỗ Quang Hưng- về sự giúp đỡ quý báu, tận tình
hướng dẫn tôi hoàn thành Luận văn này.
Xây dựng sự đồng thuận xã hội ở Việt Nam là vấn đề khó và tương
đối mới, chưa có nhiều kết quả cũng như kinh nghiệm nghiên cứu về vấn
đề này. Tác giả hy vọng đây mới chỉ là bước khởi đầu trong quá trình
nghiên cứu của mình. Rất mong sẽ nhận được nhiều ý kiến đóng góp của
các Thầy Cô, các nhà khoa học và anh, chị em học viên để tôi có thể tiếp
tục đi sâu nghiên cứu vấn rất thiết thực này.
Xin kính chúc Quý Ban chủ nhiệm, các nhà khoa học, các Quý
Thầy Cô và anh chị em học viên trong Khoa sức khỏe và thành công !
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

NGUYỄN THỊ HẢI YẾN


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................................................ 1
1. Tính cấp thiết của đề tài: .......................................................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài: ............................................................................ 4
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn ........................................................................................ 7
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn ..................................................................... 8
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn ...................................................... 8
6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn ................................................................................ 9
Chƣơng 1. TƢ TƢỞNG ĐỒNG THUẬN XÃ HỘI CỦA HỒ CHÍ MINH – ......................... 10
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ..................................................................... 10
1.1. Khái niệm và vai trò của đồng thuận xã hội ...................................................................... 10
1.1.1. Khái niệm đồng thuận xã hội ............................................................................................ 10
1.1.2. Vai trò của đồng thuận xã hội với đại đoàn kết toàn dân tộc .......................................... 16
1.2. Cơ sở hình thành và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về đồng thuận xã hội ....................................... 22
1.2.1. Cơ sở hình thành ................................................................................................................. 22

1.2.2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về đồng thuận xã hội đối với việc tăng cường khối
đại đoàn kết toàn dân tộc ............................................................................................................. 47
1.3. Giá trị lý luận và thực tiễn của tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về đồng thuận xã hội đối
với việc tăng cƣờng khối đại đoàn kết toàn dân tộc ................................................................ 64
1.3.1. Giá trị lý luận ..................................................................................................................... 64
1.3.2. Giá trị thực tiễn .................................................................................................................. 70
Tiểu kết Chƣơng 1 ...................................................................................................................... 74
Chƣơng 2. TĂNG CƢỜNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC THEO ................. 75
TƢ TƢỞNG ĐỒNG THUẬN XÃ HỘI CỦA HỒ CHÍ MINH ............................................... 75
2.1. Thực trạng việc xây dựng đồng thuận xã hội trong tăng cƣờng khối đại đoàn
kết toàn dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam theo tƣ tƣởng Hồ Chí Minh ........................ 75
2.1.1. Những kết quả đạt được .................................................................................................... 75
2.1.2. Những hạn chế còn tồn tại ................................................................................................ 83
2.2. Những vấn đề đặt ra trong xây dựng đồng thuận xã hội ở Việt Nam hiện nay ............. 85
2.2.1. Những thách thức từ bên ngoài ........................................................................................ 85


2.2.2. Những vấn đề nội tại của đất nước ................................................................................... 89
2.3. Giải pháp vận dụng tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về đồng thuận xã hội trong quá
trình đổi mới tiếp theo ở Việt Nam ......................................................................................... 102
2.3.1. Những giải pháp phát huy vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam ................................. 102
2.3.2. Những giải pháp trong lĩnh vực quản lý nhà nước ....................................................... 108
2.3.3. Những giải pháp tăng cường vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các
đoàn thể nhân dân ..................................................................................................................... 114
Tiểu kết Chƣơng 2 .................................................................................................................... 119
KẾT LUẬN ................................................................................................................................ 120
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................................ 122


MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài:
Trong lịch sử hiện đại Việt Nam, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn giữ một vị trí
đặc biệt quan trọng. Đó là tài sản tinh thần vô giá của Đảng và của cả dân tộc,
gắn liền với quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam. Hồ Chí Minh
không chỉ là vị lãnh tụ thiên tài của dân tộc, mà Người còn là một chiến sĩ lỗi
lạc trong phong trào cộng sản quốc tế. Tư tưởng của Người là cơ sở lý luận
quan trọng để Đảng Cộng sản Việt Nam hoạch định đường lối, chính sách,
chiến lược phát triển đất nước ở những giai đoạn cách mạng tiếp theo, vì mục
tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Từ kinh
nghiệm lịch sử và những yêu cầu cấp bách trong sự nghiệp đổi mới đất nước,
Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VII (6/1991) đã khẳng định: “Đảng
Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm
nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Đến Đại hội đại biểu Đảng
toàn quốc lần thứ IX (4/2001), Đảng Cộng sản Việt Nam một lần nữa tái
khẳng định điều này.
Trong di sản tư tưởng mà Hồ Chí Minh để lại, những luận điểm của Người
về đồng thuận xã hội đối với việc tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc là
một phần cực kỳ quan trọng, luôn định hướng cho sự lãnh đạo đúng đắn của
Đảng trong tình hình mới, phù hợp với tiến trình phát triển của đất nước, của dân
tộc và thời đại; tạo tiền đề để Đảng Cộng sản Việt Nam không ngừng nâng cao
năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, đồng thời tiếp tục khẳng định quyền lãnh
đạo chính trị của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. Đoàn kết, đồng thuận là
một trong những truyền thống quý báu của dân tộc ta. Truyền thống đó đã góp
phần quan trọng đưa đến thắng lợi của công cuộc chống giặc ngoại xâm trước
đây cũng như sự nghiệp đổi mới đất nước hôm nay.

1


Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng vai trò của đại đoàn kết toàn

dân tộc, Người khẳng định: "Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là
một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm
lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ,
to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán
nước và lũ cướp nước". Người nói đến đại đoàn kết, đồng thuận xã hội, dù
trong bối cảnh nào, với bất cứ đối tượng nào, Người cũng tìm được điểm
tương đồng để kêu gọi toàn dân đoàn kết với nhau vì mục tiêu chung. Ngay cả
với những người Việt Nam lầm đường lạc lối, Người vẫn coi là “cùng dòng
dõi của tổ tiên ta, đều mang dòng máu con Lạc cháu Hồng, nên phải lấy tình
thân ái mà cảm hóa họ”. Với các tầng lớp nhân dân, Người kêu gọi kết liên tất
cả những người thật sự yêu Tổ quốc, yêu hòa bình, không phân biệt họ thuộc
đảng phái, tôn giáo, tầng lớp nào và trong quá khứ họ đã hợp tác với phe nào.
“Chúng ta phải xóa bỏ hết thành kiến, cần phải thật thà đoàn kết với nhau,
giúp đỡ lẫn nhau để cùng tiến bộ, để cùng phục vụ nhân dân”.
Đảng Cộng sản Việt Nam đã quán triệt sâu sắc tư tưởng đồng thuận xã hội
của Hồ Chí Minh trong đường lối chiến lược xây dựng khối đại đoàn kết dân
tộc Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định đoàn kết toàn dân tộc
là động lực chủ yếu cho sự phát triển đất nước. Nhưng đoàn kết muốn đạt
được một cách bền vững phải dựa trên cơ sở sự đồng thuận xã hội. Có như
vậy, đoàn kết dân tộc mới được phát huy cả về bề rộng và chiều sâu, trở thành
yếu tố đảm bảo vững chắc cho sự phát triển của Việt Nam trong bối cảnh mới.
Tuy nhiên, thực hiện đồng thuận xã hội đối với việc tăng cường khối đại
đoàn kết toàn dân tộc ở Việt Nam cho đến nay vẫn đang là một vấn đề cấp
thiết đặt ra trong sự nghiệp đổi mới. Trải qua bao gian khổ hy sinh, đất nước
đã độc lập, thống nhất Tổ quốc. Chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu quan
trọng trong sự nghiệp phát triển đất nước, hoà hợp dân tộc, song không phải

2



không còn những nhân tố có thể dẫn đến gây mất đoàn kết, chia rẽ dân tộc.
Đó là hậu quả nặng nề của những cuộc chiến tranh kéo dài; những sai lầm do
chủ quan, duy ý chí trong sự lãnh đạo và quản lý đất nước; tàn dư của tư
tưởng phong kiến và tâm lý của người sản xuất nhỏ; sự tác động của quá trình
toàn cầu hoá và sự biến động của tình hình chính trị - xã hội trên thế giới.
Thêm vào đó là tác động của nền kinh tế thị trường, sự biến đổi về cơ cấu giai
cấp và sự phân tầng xã hội và phân hóa giàu nghèo đã dẫn tới thực trạng phát
triển không đồng đều, mức độ chênh lệch về mọi mặt giữa các dân tộc anh em
trong nước, trong nội bộ một dân tộc (tộc người) đang diễn ra ngày càng gay
gắt. Đặc biệt là khoảng cách giữa dân tộc đa số với các dân tộc thiểu số; giữa
thành thị và nông thôn; giữa miền xuôi và miền ngược ở nhiều vùng có xu
hướng nới rộng ra. Thực trạng này đang ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình
phát triển kinh tế, ổn định chính trị chung của đất nước...Những điều đó đang
hàng ngày, hàng giờ gây nên những bất đồng trong xã hội, cản trở sự phát
triển của đất nước. Muốn vượt qua những thách thức, khó khăn, cam go đó,
chúng ta phải phát huy cao độ nội lực, đồng thời ra sức tranh thủ ngoại lực,
biến ngoại lực trở thành nội lực cho sự phát triển đất nước; đồng thời, toàn
sức mạnh của dân tộc phải được quy thành một mối dưới sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam. Sự thống nhất trong tư tưởng và hành động của
toàn bộ cộng đồng dân tộc Việt Nam, dù trong hay ngoài nước, dù có quá khứ
lịch sử khác nhau, thậm chí đối lập nhau, dù ngày nay còn có những khác biệt
nhất định trong nhận thức và lý tưởng chính trị - sẽ là chìa khóa vàng của
thành công.
Vì thế, nếu chúng ta không có một chiến lược để tạo nên sự đồng thuận xã
hội thì không thể đưa đất nước tiến lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Chiến lược đó chỉ có thể thực hiện được trên cơ sở phát huy những điểm
tương đồng và tôn trọng những khác biệt, hay nói cách khác, dựa trên cơ sở

3



đồng thuận xã hội. Đồng thuận xã hội là điều kiện cơ bản để ổn định chính trị
- xã hội, là cơ sở để xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, là phương thức để
xây dựng cơ sở chính trị - xã hội của Đảng và Nhà nước, là giải pháp có tính
khả thi để tập hợp mọi nguồn lực nhằm phát triển đất nước trong bối cảnh
mới. Vấn đề thực hiện đồng thuận xã hội trong xây dựng khối đại đoàn kết dân
tộc đang là đòi hỏi khách quan của thực tiễn cách mạng Việt Nam. Đồng
thuận xã hội là một nguyện vọng chính đáng hàm chứa những giá trị lý luận
và thực tiễn sâu sắc cần phải được nghiên cứu.
Những trình bày nói trên cho thấy việc nghiên cứu về: “TƢ TƢỞNG
ĐỒNG THUẬN XÃ HỘI CỦA HỒ CHÍ MINH ĐỐI VỚI VIỆC TĂNG
CƢỜNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC HIỆN NAY” có ý
nghĩa lý luận và thực tiễn cấp thiết, nhằm góp phần vào việc giải quyết những
vấn đề nêu trên.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài:
Trong thời gian gần đây, khái niệm đồng thuận xã hội (Social Consensus)
được đề cập khá nhiều trong các sách báo, tạp chí, cũng như trong các hội
thảo khoa học và trong các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và
Nhà Việt Nam. Tuy nhiên, hầu như chưa có một tài liệu nào nghiên cứu một
cách đầy đủ, có hệ thống các vấn đề, khái niệm, nội dung, đặc điểm, cơ sở,
điều kiện, cũng như, vị trí, vai trò… của đồng thuận xã hội đối với sự phát
triển xã hội. v.v… Có thể nói, khái niệm “đồng thuận xã hội” mới chỉ được đề
cập một cách khái quát, lược khảo và còn nhiều vấn đề chưa đi đến thống
nhất, thậm chí là trái ngược nhau.
Năm 1991, Đảng Cộng sản Việt Nam trân trọng ghi vào Văn kiện Đại hội
VII, khẳng định lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền
tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng. Đến nay, đã có nhiều
công trình nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng của

4



Người về đồng thuận xã hội đối với việc tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân
tộc nói riêng. Thực tế chứng minh, tư tưởng của Hồ Chí Minh về đồng thuận
xã hội đối với tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc có định hướng đường
lối của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nghiên cứu về đồng thuận xã hội đối với
tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở Việt Nam lâu nay đã có nhiều công
trình nghiên cứu, nhiều bài báo và đề tài khoa học đề cập đến dưới nhiều góc
độ khác nhau nhưng mới ở giai đoạn khai phá. Số lượng những công trình đi
sâu nghiên cứu, giải quyết hệ thống vấn đề về đồng thuận xã hội còn hạn chế.
Có thể kể ra đây những công trình tiêu biểu sau đây:
Cuốn Chiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh,do Phùng Hữu Phú chủ biên
(1995), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. Cuốn sách khẳng định vấn
đề đại đoàn kết trong tư tưởng Hồ Chí Minh là một chiến lược thực sự, có nội
dung cụ thể, rộng lớn chứ không chỉ là vấn đề sách lược và Người đã vận
dụng nó rất đúng đắn, hiệu quả để tổ chức cả một dân tộc chiến đấu giành độc
lập tự do, bảo vệ Tổ quốc và xây dựng xã hội mới.
Sản phẩm khoa học của đề tài Quan điểm, định hướng giải pháp thực
hành dân chủ, đoàn kết và đồng thuận xã hội do Phạm Ngọc Quang chủ trì
(2008). Đề tài này đã nghiên cứu một cách hệ thống các quan điểm, định
hướng và giải pháp thực hành dân chủ, đoàn kết và đồng thuận xã hội ở Việt
Nam. Tuy không trực tiếp nghiên cứu về xây dựng sự đồng thuận xã hội ở
Việt Nam nhưng công trình cũng là nguồn tài liệu tham khảo rất bổ ích cho
tác giả luận văn.
Cuốn Hồ Chí Minh với chiến lược đoàn kết quốc tế trong cách mạng giải
phóng dân tộc của Lê Văn Yên (2008), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà
Nội. Tác giả đã đề cập đến mối quan hệ đoàn kết giữa cách mạng giải phóng
dân tộc với cách mạng vô sản quốc tế, liên hệ với thực tiễn cách mạng Việt

5



Nam giai đoạn 1930-1954, qua đó khái quát thành những quan điểm cơ bản
và giá trị thực tiễn của chiến lược đoàn kết quốc tế Hồ Chí Minh.
Qua bài viết “Đồng thuận xã hội”, Giáo sư Tương Lai (Tạp chí Tia
sáng, ngày 05/11/2005) đã thể hiện sự khẳng định chủ trương xây dựng sự
đồng thuận xã hội là sự thể hiện một tầm nhìn mới, vượt qua những ràng buộc
hạn hẹp trong quan điểm “ai thắng ai”. Đồng thời, Giáo sư Tương Lai cũng
chỉ ra rằng, hiện nay, đồng thuận xã hội chính là động lực thúc đẩy sự phát
triển của đất nước. Tác giả cũng khẳng định cơ sở của sự đồng thuận xã hội
chính là nguyên lý “Tinh thần dân tộc (Chủ nghĩa dân tộc) là động lực lớn
nhất của đất nước” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra. Trong một bài viết
khác có tên “Vấn đề ý thức hệ và sự đồng thuận xã hội”, Giáo sư Tương Lai
còn cho rằng: cơ sở của đồng thuận xã hội là dân trí và dân khí được nâng
cao, là tôn trọng quyền làm chủ của mỗi người dân trong mọi sinh hoạt xã
hội, công khai và minh bạch trong việc đề đạt ý kiến và tranh luận nhằm đạt
tới sự tương đồng để loại dần những dị biệt với thái độ tôn trọng những ý kiến
khác nhau nhưng đều hướng về mục tiêu chung là lợi ích và sự nghiệp chung
của dân tộc.
Tác giả Nguyễn Thị Lan với công trình Vai trò của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam với việc xây dựng sự đồng thuận xã hội. Trong công trình này
tác giả đã đề cập tới những vấn đề cơ bản về đồng thuận xã hội; đặc biệt là
tác giả đã chỉ ra vai trò quan trọng, khả năng của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam với việc xây dựng sự đồng thuận xã hội.
Như vậy, có thể thấy từ nhiều góc độ tiếp cận khác nhau, các tác giả đã
đưa ra những cách nhìn đa diện, đề cập tới nhiều khía cạnh của vấn đề đồng
thuận xã hội, đã khẳng định tầm quan trọng, tính tất yếu của việc xây dựng sự
đồng thuận xã hội ở Việt Nam như một phương thức căn bản phát triển đất
nước. Đối với vấn đề đồng thuận xã hội - một vấn đề mới, phức tạp cả về lý


6


luận và thực tiễn thì những thành quả nghiên cứu đã đạt được qua các công
trình nói trên là rất có ý nghĩa.
Tuy nhiên, đến nay vẫn còn chưa có công trình khoa học nào chuyên
nghiên cứu riêng về vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào việc thực hiện đồng
thuận xã hội trong tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Nhận thấy tính
cấp thiết phải có những công trình nghiên cứu trực diện vấn đề đồng thuận xã
hội, từ đó khảo sát cụ thể thực trạng vấn đề đồng thuận xã hội ở Việt Nam,
đưa ra một số biện pháp nhằm xây dựng và phát huy hơn nữa vai trò của
đồng thuận xã hội, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Kế thừa thành
quả các công trình đi trước, luận văn này tiếp tục giải quyết vấn đề có tính cụ
thể, đó là chuyên bàn về việc thực hiện đồng thuận xã hội trong xây dựng khối
đại đoàn kết dân tộc - một bộ phận trong chính sách dân tộc của Đảng và Nhà
trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước dưới ánh
sáng tư tưởng Hồ Chí Minh.
Luận văn này được thực hiện từ góc tiếp cận Chính trị học với mong
muốn góp phần giải quyết hệ vấn đề tuy khó khăn, song rất có ý nghĩa nói
trên.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích
Trên cơ sở nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh, những dữ liệu thực tế,
những bản văn kiện, tài liệu chính thức của Đảng Cộng sản Việt Nam, luận
văn đi sâu nghiên cứu làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về đồng thuận xã hội đối
với việc tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và sự vận dụng của Đảng
Cộng sản Việt Nam trong thực tiễn hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên, luận văn giải quyết những nhiệm vụ sau:


7


- Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản của đồng thuận xã hội
- Phân tích vai trò của đồng thuận xã hội
- Phân tích những nội dung chủ yếu thể hiện được cơ sở hình thành và
tư tưởng đồng thuận xã hội Hồ Chí Minh
- Vận dụng lý luận về đồng thuận xã hội để khảo sát, đánh giá những
thành tựu và hạn chế, rút ra một số giải pháp của việc xây dựng đồng thuận xã
hội đối với việc tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng Cộng sản
Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở Việt Nam.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1.

Đối tƣợng nghiên cứu

Tư tưởng đồng thuận xã hội của Hồ Chí Minh đối với việc tăng cường
khối đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay.
4.2.

Phạm vi nghiên cứu

- Luận văn tiếp cận nghiên cứu vấn đề tư tưởng đồng thuận xã hội của
Hồ Chí Minh đối với việc tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và việc
xây dựng đồng thuận xã hội ở Việt Nam từ góc tiếp cận Chính trị học.
- Trong hệ vấn đề lý luận về đồng thuận xã hội, luận văn tập trung khái
niệm “đồng thuận xã hội” cũng như những vấn đề lý luận về vai trò của đồng
thuận xã hội đối việc tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên cơ sở chủ
nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản

Việt Nam.
- Luận văn phân tích thực trạng xây dựng đồng thuận xã hội ở Việt Nam
qua các tư liệu đã được công bố chính thức và những giải pháp tăng cường
đồng thuận xã hội ở Việt Nam được đề xuất của Đảng Cộng sản Việt Nam.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Cơ sở lý luận

8


Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận là chủ nghĩa Mác - Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về đồng
thuận xã hội đối với việc tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đồng thời,
dựa trên các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về thực hiện
đồng thuận xã hội trong xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc thời kỳ đổi mới.
5.2. Phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn vận dụng tổng hợp những phương pháp nghiên cứu của Chính trị
học để nghiên cứu đề tài.Trên cơ sở sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin là phép biện chứng duy vật, đề tài còn sử dụng phương pháp lịch sử
và lôgic; phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp đối chiếu,hệ thống
hóa, tổng kết thực tiễn, nghiên cứu và phân tích tài liệu có liên quan.
6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
Luận văn tập hợp có hệ thống tư liệu và phân tích, luận giải tư tưởng Hồ
Chí Minh về đồng thuận xã hội trong xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, góp
phần vào việc nghiên cứu, giảng dạy, tuyên truyền, vận dụng tư tưởng Hồ Chí
Minh hiện nay. Luận văn sẽ góp thêm một cách tiếp cận để nhận thức về vấn
đề đồng thuận xã hội, xây dựng sự đồng thuận xã hội ở Việt Nam hiện nay.
Kết quả nghiên cứu của Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham
khảo phục vụ cho việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập Chính trị học; làm
tài liệu tham khảo cho các cơ quan lãnh đạo, quản lý và các cơ quan chức

năng trong quá trình hoạch định chủ trương, chính sách kinh tế - xã hội nói
chung, chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc ở Việt Nam nói riêng.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 02
chương, 06 tiết.

9


Chƣơng 1
TƢ TƢỞNG ĐỒNG THUẬN XÃ HỘI CỦA HỒ CHÍ MINH –
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1.

Khái niệm và vai trò của đồng thuận xã hội

1.1.1. Khái niệm đồng thuận xã hội
Khái niệm “Đồng thuận xã hội” - khái niệm trung tâm trong khung lý
thuyết về đồng thuận xã hội – từ lâu đã là đối tượng nghiên cứu của nhiều
ngành khoa học: Triết học, Xã hội học, Khoa học quản lý, Tâm lý học, Chính
trị học, v.v..
Triết học nghiên cứu đồng thuận xã hội từ lý luận về mâu thuẫn biện chứng.
Theo phép biện chứng duy vật của triết học Mác - Lênin, sự vật, hiện tượng
được tạo thành từ nhiều yếu tố, bộ phận. Những yếu tố đó không những khác
nhau mà có thể còn đối lập. Các mặt đối lập liên hệ, tác động lẫn nhau, làm tiền
đề, điều kiện cho nhau, tạo thành mâu thuẫn biện chứng. Hai mặt đối lập của sự
vật tồn tại trong sự thống nhất và đấu tranh với nhau. Sự vật còn mâu thuẫn thì
còn phải giải quyết. Đồng thuận xã hội chính là một cách thức để giải quyết
nhằm làm cho sự vật phát triển. Điều này đã được Mác chỉ rõ: "Cái cấu thành

bản chất của sự vận động biện chứng, chính là sự cùng nhau tồn tại của hai
mặt mâu thuẫn, sự đấu tranh giữa hai mặt ấy và sự dung hợp của hai mặt ấy
thành một phạm trù mới"[90, tr.191]. Nhấn mạnh hơn nữa tư tưởng đó, Lênin
viết: "Sự phát triển là một cuộc "đấu tranh" giữa các mặt đối lập"[76, tr.379].
Đồng thuận không có nghĩa là không còn đấu tranh mà là đấu tranh trên cơ sở
tôn trọng quyền tự do, dân chủ để đi đến sự thống nhất tự nguyện.
Dưới góc độ xã hội học, đồng thuận là một khái niệm xã hội dùng để chỉ
trạng thái xã hội dựa trên sự nhất trí rộng rãi giữa các thành viên trong một xã
hội nhất định. Cụ thể, theo Từ điển Xã hội học của 2 tác giả G.Endruweit và

10


G.Trommsdorff, nhà xuất bản Thế giới ấn hành, “Đồng thuận” được định
nghĩa là sự nhất trí có tác dụng như một xúc tác xã hội hay chỉ sự khác biệt
không đáng kể giữa các thành viên một hệ thống xã hội về những vấn đề quan
trọng đối với hoạt động của hệ thống. Như vậy, đồng thuận là một điều kiện
tích cực đối với ổn định xã hội và tiêu cực đối với xung đột xã hội. Lý thuyết
đồng thuận chủ yếu quan tâm đến sự duy trì trật tự xã hội, đến các tiêu chuẩn,
các giá trị, các nguyên tắc và các quy định đã được xã hội thừa nhận. Lý
thuyết này được hình thành từ xã hội học về trật tự xã hội, về ổn định xã hội
và điều tiết xã hội. Như vậy, xã hội học nghiên cứu đồng thuận xã hội từ góc
độ là một lý thuyết nhằm đưa lại sự ổn định xã hội. Nó chủ yếu tập trung vào
việc giải quyết mối quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp, các lực lượng xã hội
nhằm tạo nên sự ổn định để phát triển.
Dưới góc độ Chính trị học, đồng thuận xã hội cũng đề cập tới mối quan
hệ giữa các giai cấp, các tầng lớp, các lực lượng xã hội để tạo nên sự đồng
tình, nhất trí trên cơ sở những điểm tương đồng. Xuất phát từ góc nhìn là xây
dựng một chế độ chính trị, chính trị học tập trung nghiên cứu đồng thuận
trong mối quan hệ giữa sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước với các tầng lớp

nhân dân và quan hệ giữa các thành viên trong xã hội, trong đời sống cộng
đồng. Chính trị học cũng nghiên cứu sự đồng thuận giữa các tổ chức trong
hệ thống chính trị, trong đó nhà nước là trung tâm. Mọi chủ trương, quyết
sách đưa ra muốn thực thi có hiệu quả phải được sự đồng tình nhất trí ở mức
độ nhất định của các tổ chức khác. Trong chính học hiện đại, đồng thuận xã
hội ngày càng được chú trọng. Cụ thể trong Từ điển Chính trị học hiện đại
của tác giả Đa-nhi-en-cô, “Đồng thuận” được định nghĩa là sự đồng tình,
đồng ý, sự liên kết theo mong muốn với người khác. Nghĩa đen đầu tiên của
từ đồng thuận dùng để chỉ các cảm giác có cùng một ý kiến, một suy nghĩ nào
đó, là sự kết nối, liên kết, sự đồng tình, đồng ý”. Cũng theo tác giả này, từ

11


đồng thuận liên quan đến đồng tình và bao hàm trong đó cả sự tin tưởng lẫn
nhau. Xem xét ở một góc độ khác, đồng thuận đề cập tới việc giải quyết
những vấn đề với sự đồng tình, ủng hộ của nhiều người, cho dù có sự không
đồng tình của nhóm người hoặc một người nào đó. Dễ dàng nhận thấy rằng,
trong hệ thống chính trị hiện đại ở nhiều nước, các đảng chính trị đều cố gắng
hợp pháp hóa và xây dựng quyền lực của mình trên các giá trị mà các giá trị
này được chia sẻ một cách rộng rãi. Chính những giá trị được chia sẻ một
cách rộng rãi đó kết nối và duy trì sự đồng thuận xã hội. Đồng thuận xã hội
góp phần làm cho sự áp đặt, cưỡng bức, cưỡng chế giảm đi và làm tăng thêm
sự liên kết tự nhiên giữa các giai cấp, tầng lớp, lực lượng xã hội, các nhóm
dân cư nói chung và các tổ chức chính trị - xã hội nói riêng.
Từ thời cổ đại, Khổng Tử - nhà hiền triết, nhà tư tưởng chính trị Trung
Quốc - sinh thời đã có ý tưởng xây dựng một xã hội an thuận, thái hoà. Ngay
từ đời Hán, Lưu Hướng từng chỉ ra rằng trong tư tưởng của Khổng Tử, vua
tôi cùng với trăm họ như cùng ở trong một vòng tròn không có đầu mối. Quan
điểm đó có thể nói là nhìn thấu đáo chủ trương đức trị của Khổng Tử [48,

tr.118]. Lý tưởng của Khổng Tử là xây dựng một xã hội đại đồng mà con đường
cơ bản để đạt đến lý tưởng đó là sự hài hoà nhất thể: vua, bề tôi, dân chúng. Và
để đạt được sự hài hoà đó, ông đã đưa ra chủ trương Nhân - Lễ - Chính danh.
Trong ngũ luân của Khổng Tử, nếu mỗi người đều thực hiện được bổn phận
của mình phù hợp với danh thì xã hội sẽ an bình thịnh trị. Theo tư tưởng
chính trị của ông, trong quá trình an bang trị quốc, quân chủ và đại thần đã ở
vị trí chủ đạo, do trong quá trình điều hành hành chính, họ có một vai trò rất
quan trọng. Do đó, Khổng Tử thấy rằng cần phải phát huy tác dụng của họ
khiến cho vua, bề tôi, có được một sự hài hoà, thống nhất để đưa xã hội phát
triển. Tuy rằng học thuyết chính trị của Khổng Tử có nhiều mâu thuẫn, và còn
những hạn chế nhưng tư tưởng xây dựng một xã hội đại đồng có sự hài hoà

12


giữa vua - tôi - dân là một đóng góp tích cực trong lịch sử tư tưởng chính trị
mà chúng ta không thể phủ nhận.
Đồng thuận xã hội không chỉ dừng lại ở lý thuyết mà còn được biểu
hiện dưới một mô hình cụ thể: Mô hình dân chủ đồng thuận. Nhà chính trị
học Mỹ, Arend Lijphart đã so sánh hai mô hình dân chủ: dân chủ đa số và dân
chủ đồng thuận. Theo ông, trong các xã hội đa nguyên - những xã hội thường
bị chia rẽ một cách sâu sắc theo các tôn giáo, địa lý, ngôn ngữ, văn hoá, sắc
tộc hay chủng tộc và hầu như trở thành tiểu xã hội với chính đảng riêng của
mình, thì mô hình dân chủ đa số sẽ không phù hợp. Dưới những điều kiện
này, sự cai trị của đa số không chỉ phi dân chủ mà còn nguy hiểm, bởi vì các
nhóm thiểu số thường xuyên bị từ chối tham gia nắm quyền sẽ cảm thấy bị
gạt ra ngoài, bị phân biệt đối xử và do đó sẽ mất lòng trung thành đối với chế
độ. Vì thế, các xã hội này cần một chế độ dân chủ, ở đó nhấn mạnh sự đồng
thuận thay vì sự đối lập, sự hoà hợp thay vì loại trừ. Ở đó, mỗi quyết định đưa
ra đều được sự thống nhất giữa nhóm đa số và nhóm thiểu số, chứ không chỉ

là thiểu số phục tùng đa số. Đó là mô hình dân chủ đồng thuận.
Ở Việt Nam, “Đồng thuận xã hội” là một khái niệm tương đối mới, xuất
hiện trong những năm gần đây. Khái niệm đó được sử dụng chính thức trong
văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam tại Nghị quyết Hội nghị Trung ương
lần thứ 7 (khoá IX). Khi đề ra chủ trương phát huy sức mạnh khối đại đoàn
kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chính thức đặt vấn đề xây dựng sự đồng
thuận xã hội. Chủ trương đó tiếp tục bổ sung, phát triển trong Nghị quyết đại
hội Đảng lần thứ X, XI. Đồng thuận xã hội được thể hiện rõ ở việc đưa ra chủ
trương lấy mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất, tiến lên dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, văn minh làm điểm tương đồng, đồng thời chấp
nhận những điểm khác nhau không tráí với lợi ích chung của dân tộc, cùng

13


nhau xóa bỏ định kiến, mặc cảm, hướng tới tương lai, xây dựng tinh thần đại
đoàn kết, cởi mở, tin cậy lẫn nhau được trình bày trong văn kiện nghị quyết
đại hội đại biểu đảng toàn quốc lần thứ VIII. Đến đại hội IX, Đảng đã tiếp tục
kế thừa, phát triển quan điểm trên nhưng bổ sung thêm : xóa bỏ mặc cảm,
định kiến, phân biệt đối xử về quá khứ, giai cấp, thành phần, xây dựng tinh
thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau, hướng tới tương lạị. Chủ trương đó đều nhằm
mục đích vì tương lai của mỗi con người, mỗi cộng đồng và của cả dân tộc.
Tinh thần xây dựng sự đồng thuận xã hội đã được thể hiện rất rõ. Đến Nghị
quyết Hội nghị trung ương lần thứ 7 (khóa IX), Đảng Cộng sản Việt Nam đã
chính thức đưa ra chủ trương xây dựng sự đồng thuận xã hội. Kế thừa quan
điểm xây dựng sự đồng thuận xã hội ở Đại hội IX, Văn kiện đại hội X đã
khẳng định tôn trọng những ý kiến khác nhau không trái với lợi ích của dân
tộc. Đề cao truyền thống nhân nghĩa, khoan dung, xây dựng tinh thần cởi mở,
tin cậy lẫn nhau vì sự ổn định chính trị và đồng thuận xã hội.

Theo Từ điển tiếng Việt căn bản do Nguyễn Như Ý chủ biên, nhà xuất
bản Giáo dục ấn hành thì : “đồng” có nghĩa là cùng, “thuận” có nghĩa là
bằng lòng, đồng tình với ý kiến hoặc cái đã nêu ra. Từ đó có thể hiểu đồng
thuận là bằng lòng, đồng tình với nhau về một vấn đề nào đó. Còn trong Từ
điển tiếng Pháp (2002), cho rằng đồng thuận (Cosensus) được hiểu là sự nhất
trí của nhiều người, sự đồng ý và nhất trí cao của đa số [179, tr.251]. Như vậy,
nội hàm cơ bản của khái niệm đồng thuận là sự đồng tình, đồng lòng, hoà
đồng, cùng chung và thuận theo. Tuy nhiên, đó không phải là sự đồng lòng,
đồng tình để đi đến sự đồng nhất của tất cả mọi người, mà là trên cơ sở sự
thoả thuận các ý kiến, quan điểm khác nhau cuối cùng đi đến một hướng
thống nhất. Tác giả Song Thành quan niệm: đồng thuận là sự thỏa thuận về
cái chung, cái cơ bản nhất, đồng thời vẫn chấp nhận những sự khác biệt về
dân tộc, tôn giáo, ngôn ngữ, văn hóa, lợi ích… trong xã hội [137, tr.30].

14


Khái niệm đồng thuận xã hội được phát triển từ khái niệm đồng thuận, với
nghĩa là sự đồng ý với nhau giữa ít nhất hai người về một hoặc một số vấn đề
nào đó, trên cơ sở đó đi đến thống nhất về hành động. Sự thống nhất giữa tư
tưởng, ý chí và hành động của những lực lượng xã hội trong một hệ thống xã
hội nhất định được xem là đồng thuận xã hội. Nói cách khác, đồng thuận xã hội
là sự đồng tình, nhất trí với nhau của đại đa số thành viên trong xã hội về một
hoặc một số vấn đề nào đó, trên cơ sở đó, các thành viên này gắn kết chặt chẽ,
thống nhất ý chí và hành động của mình nhằm đạt đến mục đích chung.
Trong các Từ điển chuyên ngành, khái niệm đồng thuận xã hội rất ít được
đề cập đến, nếu có thì cũng chỉ được định nghĩa một cách hết sức khái lược.
Chẳng hạn, trong Từ điển tiếng Việt của Trung tâm từ điển học, do Nhà xuất
bản Đà Nẵng ấn hành năm 2007, khái niệm “đồng thuận xã hội” được định
nghĩa như sự “bằng lòng, đồng tình đối với những vấn đề quan trọng”.

Trong Từ điển thuật ngữ chính trị Pháp - Việt, đồng thuận xã hội được hiểu là
“sự đồng tình rõ ràng hoặc ngầm định giữa phần lớn các thành viên của một
nhóm, một đảng, một dân tộc, v.v. đối với một hành động, một chính sách hay
các giá trị được thừa nhận”. Theo hai định nghĩa vừa nêu, nội hàm của khái
niệm đồng thuận xã hội chính là sự bằng lòng hay đồng tình của các thành
viên trong xã hội.
Trong Từ điển trực tuyến Wikipedia, khái niệm đồng thuận xã hội được
giải thích theo hai nghĩa như sau: thứ nhất, đó là sự thoả thuận giữa các thành
viên của cùng một nhóm hay cùng một cộng đồng nào đó, mà mỗi người
trong nhóm ấy đều thực hành được một ý kiến nào đó trong việc hoạch định
quyết định và hành động theo đó; thứ hai, đó là một lý thuyết và thực tiễn của
việc tập hợp những sự thoả thuận như thế. Theo đó, nội hàm của khái niệm
đồng thuận xã hội vẫn là sự đồng tình, ủng hộ.

15


Đồng thuận xã hội có nội dung đa dạng, phong phú, phức tạp trên nhiều
lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, như kinh tế, chính trị, văn hóa, tâm
lý, nhận thức, tín ngưỡng, tôn giáo; có nhiều phạm vi khác nhau và các mối
quan hệ xã hội khác nhau, như trong nội bộ gia đình, cộng đồng dân cư, tầng
lớp, giai cấp, dân tộc, nhân loại hoặc quan hệ giữa các lực lượng xã hội ấy với
nhau. Dù ở phạm vi rộng hay hẹp muốn tồn tại và phát triển được đều cần có
sự đồng tình, nhất trí của đa số trên cơ sở tự nguyện chứ không phải cưỡng
bức, áp đặt, ép buộc.
Như vậy, từ những quan niệm trên ta có thể hiểu đồng thuận xã hội là sự
đồng tình, nhất trí trong suy nghĩ và hành động của các chủ thể xã hội về
một hay một số vấn đề nào đó trên cơ sở những điểm tương đồng về nhu
cầu, lợi ích… trong lúc vẫn thừa nhận, tôn trọng những điểm khác biệt với
điều kiện những điểm khác biệt này không là tổn hại đến mục tiêu chung,

hành động chung của cộng đồng các chủ thể đó.
1.1.2. Vai trò của đồng thuận xã hội với đại đoàn kết toàn dân tộc
Đồng thuận xã hội là chủ đề lớn đối với nhân loại nói chung và đối với
quá trình vận động và phát triển của mỗi quốc gia nói riêng. Xã hội vốn là
một phức hợp những mối quan hệ nhiều chiều của cá nhân và cộng đồng nên
đồng thuận xã hội luôn có nội dung đa dạng, phong phú, phức tạp. Xã hội
càng đa dạng thì nhu cầu về sự đồng thuận ngày càng cao. Trong lịch sử phát
triển của xã hội nói chung, mỗi quốc gia, dân tộc nói riêng, đồng thuận xã hội
có những biểu hiện đa dạng, diễn biến thăng trầm khác nhau tùy thuộc vào sự
phát triển kinh tế - xã hội, đặc điểm thời đại, tương quan lực lượng giữa các
giai cấp, tầng lớp xã hội và hoàn cảnh lịch sử cụ thể.
Tầm quan trọng của đồng thuận xã hội là ở chỗ nó góp phần quan trọng
tạo nên sự ổn định về chính trị - xã hội. Đó cũng là động lực quan trọng mang

16


lại những thành tựu trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Qua nghiên cứu,
nhận thấy rằng đồng thuận xã hội có vai trò đặc biệt quan trọng.
Thứ nhất, đồng thuận xã hội có vai trò giúp giải quyết mâu thuẫn giữa các
mặt đối lập của xã hội. Vấn đề làm thế nào để giải quyết được mâu thuẫn giữa
các thành viên, các lực lượng, giai tầng, các dân tộc, các tầng lớp, tín ngưỡng,
tôn giáo khác nhau, v.v.. để từ đó, tiến tới một thoả thuận chung, hướng đến
mục tiêu chung là một vấn đề hoàn toàn không đơn giản. Trong một xã hội,
để đạt được sự đồng thuận xã hội, không thể giải quyết mâu thuẫn giữa các
mặt đối lập, đặc biệt là các mâu thuẫn xã hội, bằng bạo lực, mà phải thông
qua sự thương lượng, thoả thuận để đi đến sự đồng tình, nhất trí. Việc giải
quyết mâu thuẫn như vừa nêu ở trên, về thực chất, nhằm giải quyết những
mâu thuẫn về lợi ích, bởi chúng chính là những mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu
trong xã hội ảnh hưởng trực tiếp đến đồng thuận xã hội. Sự đồng thuận không

phải ngẫu nhiên mà có. Suy cho cùng, bản chất của đồng thuận xã hội là đồng
thuận về lợi ích giữa các thành viên trong xã hội,của mọi tầng lớp nhân dân.
Có thể nói, việc giải quyết hài hòa, đúng đắn lợi ích giữa các thành viên trong
xã hội trong quá trình lãnh đạo, hoạch định chính sách, chiến lược phát triển
kinh tế-xã hội của hệ thống chính trị là cơ sở quan trọng để có được sự đồng
thuận xã hội. Xây dựng sự đồng thuận xã hội có thể thực hiện được khi và chỉ khi
con đường phát triển đất nước mà hệ thống chính trị lựa chọn là đúng đắn, được
xã hội chấp nhận. Xây dựng sự đồng thuận xã hội là chủ trương quan trọng
góp phần củng cố cơ sở chính trị - xã hội của Đảng, Nhà nước. Nếu tạo được
sự đồng thuận xã hội thì cơ sở đó ngày càng vững chắc và ngược lại. Nhưng
sự đồng thuận của nhân dân, của xã hội không thể tự có mà cần được xây
dựng, vun đắp, củng cố. Muốn vậy, Đảng và Nhà nước thực sự quan tâm đến
đời sống, giữ gìn sự bình yên cho cuộc sống của nhân dân. Đó là nguyện vọng
mong muốn thiết thực của mỗi người dân. Nếu nói nhiều về những điều tốt

17


đẹp của chủ nghĩa xã hội, động viên nhân dân nỗ lực góp sức xây dựng đất
nước mà không đáp ứng được nguyện vọng đó của nhân dân thì sự tuyên
truyền sẽ phản tác dụng. Đảng và Nhà nước muốn đưa đất nước phát triển bền
vững, phù hợp với xu thế của thời đại cần phải có được sự đồng tâm, nhất trí
của đại đại đa số nhân dân. Khi đường lối, chính sách đúng đắn được thực
hiện thì lợi ích, nguyện vọng của nhân dân cũng được đảm bảo. Ngược lại,
nếu không được sự đồng tình, ủng hộ của đại bộ phận nhân dân thì không thể
hiện thực hoá đường lối, chính sách và do đó, quyền lực chính trị không thể
thực thi hoặc thực thi kém hiệu quả. Xây dựng sự đồng thuận xã hội chính là
xây dựng cơ sở cho việc thực thi quyền lực chính trị.
Thứ hai, đồng thuận xã hội có vai trò giúp xây dựng sự liên kết xã
hội.Hay nói cách khác, đồng thuận xã hội có ý nghĩa to lớn trong việc tạo

nên sự liên hợp, gắn kết xã hội.Vì vậy, đồng thuận xã hội thường được gắn
liền với đoàn kết xã hội. Đó là sự liên kết giữa các thành viên trong xã hội,
giữa các tầng lớp, dân tộc, giữa các nhóm lợi ích khác nhau, v.v.. Sự liên kết
xã hội là một quá trình vừa tự giác, vừa tự phát; vừa có những yếu tố chủ
quan, vừa mang những yếu tố khách quan. Cơ sở của sự liên hợp, gắn kết
giữa các thành viên, các lực lượng trong xã hội có thể là lợi ích chung, mục
tiêu chung, cũng có thể là truyền thống văn hoá hay các yếu tố chung khác.
Tuy nhiên, sự liên kết đó không thể dựa trên những biện pháp có tính cưỡng
ép. Nếu sự “thống nhất xã hội” được thực hiện trên cơ sở cưỡng ép thì nó
không thể tồn tại vững chắc và sớm muộn sẽ bị phá vỡ. Trong bất cứ xã hội
nào cũng luôn tồn tại nhiều thành phần, lực lượng, giai cấp, tầng lớp khác
nhau; vì vậy, việc làm thế nào để gắn kết các thành phần, lực lượng này thành
một khối thống nhất là vấn đề được quan tâm hàng đầu. Đồng thuận là yêu
cầu nhất thiết phải đạt được để mỗi đơn vị cũng như toàn xã hội có thể tồn tại
và phát triển. Mỗi gia đình, doanh nghiệp, mỗi tổ chức xã hội, giữa các thành

18


viên trong xã hội cần phải có sự đồng tình, liên hợp, gắn kết với nhau trên cơ
sở những giá trị chung - những điểm tương đồng. Với đồng thuận xã hội, mọi
giai cấp, tầng lớp, mọi lực lượng, thành viên trong xã hội có thể thống nhất,
gắn kết với nhau trên cơ sở những lợi ích cơ bản, đó chính là "mẫu số chung"
cho nhận thức và hành động của mỗi thành viên, dù còn có những điểm khác
biệt.
Thứ ba, đồng thuận xã hội đóng vai trò như là một điều kiện khách quan
cho sự tồn tại của mỗi một hệ thống chính trị - xã hội. Bất cứ một hệ thống
chính trị nào, nếu không đạt được sự đồng thuận xã hội, tức là sự ủng hộ của
các tầng lớp, các giai cấp, các thành viên trong xã hội, thì không thể tồn tại
được. Do đó, đồng thuận xã hội được xem là một cách thức tập hợp lực lượng

có tính khả thi nhất trong đời sống chính trị - xã hội của xã hội hiện đại. Sự
tập hợp lực lượng đó dựa trên những tiêu chí mà các giai cấp, tầng lớp, các
lực lượng xã hội dù có lợi ích khác nhau, nhưng vẫn có thể gắn kết ở mức độ
nhất định và vẫn bảo tồn được những đặc thù riêng của mình, không bị hoà
tan, không biến thành kẻ khác. Do đó, đồng thuận xã hội tạo nên sự ổn định,
đoàn kết nhất trí của bản thân các hệ thống chính trị. Đồng thuận xã hội
không chỉ tạo nên sự đoàn kết nhất trí của toàn xã hội, mà còn giúp cho sự
đoàn kết, thống nhất ngay trong một đảng, một nhà nước, một tổ chức, v.v..
Điều đó có thể xem như điều kiện chủ quan cho sự ổn định của các hệ thống
chính trị. Ổn định chính trị - xã hội là trạng thái xã hội mà trong đó sự vận
hành của các tổ chức trong hệ thống chính trị diễn ra nhịp nhàng, đồng bộ, tạo
điều kiện cho xã hội phát triển bình thường, đời sống vật chất tinh thần của
nhân dân ngày càng được đảm bảo. Nếu không có sự đồng thuận trong bản
thân hệ thống chính trị, thì sẽ rất khó để xây dựng đồng thuận xã hội, ngược
lại, đồng thuận xã hội sẽ giúp cho đồng thuận của bản thân hệ thống chính trị
được tăng cường, củng cố và phát huy hơn nữa.

19


×