Tải bản đầy đủ (.docx) (53 trang)

ĐỀ CƯƠNG KHÓA LUẬN 1

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (394.93 KB, 53 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

PHÙNG THẢO LINH

THỰC TRẠNG HÚT THUỐC LÁ Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ
TẠI BỆNH VIỆN BẠCH MAI NĂM 2017-2018 VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN

ĐỀ CƯƠNG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP BÁC SĨ Y KHOA
KHÓA 2013-2019


HÀ NỘI – 2018


CHỮ VIẾT TẮT
BN

bệnh nhân

BNUT:

bệnh nhân ung thư

HTL :

hút thuốc lá


TL :

thuốc lá

UT :

ung thư


MỤC LỤC

Chương 4: DỰ KIẾN BÀN LUẬN………………………………………………25
DỰ KIẾN KẾT LUẬN…………………………………………………………..35
DỰ KIẾN KIẾN NGHỊ…………………………………………………………..36
TÀI LIỆU THAM KHẢO………………………………………………………..37
PHỤ LỤC…………………………………………………………………………40


DANH MỤC BẢNG


DANH MỤC BIỂU ĐỒ


7

THÓI QUEN HÚT THUỐC LÁ Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ
TẠI BỆNH VIỆN BẠCH MAI NĂM 2017-2018

Đặt vấn đề

Người việt nam có câu “ miếng trầu là đầu câu chuyện” tuy nhiên với thời buổi
kinh tế xã hội phát triền người ta thường mời nhau điếu thuốc lá để tăng cảm giác tự
tin khi tiếp xúc, nói chuyện và giao tiếp với người xung quanh. Họ cho rằng hút thuốc
lá còn giúp cho sự tập trung tư tưởng dễ dàng hơn và tăng khả năng sáng tạo. Dần dần
việc này trở thành một thói quen thường ngày chứ không phải chỉ khi làm việc nữa.
Điều này không những gây ảnh hưởng đến đời sống. kinh tế mỗi gia đình, xã hội mà
còn ảnh hưởng đến sức khoẻ con người. “Khói thuốc lá chứa rất nhiều Hydrocacbon
thơm, trong đó phải đặc biệt kể đến là 3-4 benzenpyren là chất gây ung thư tìm thấy
trên thực nghiệm. Các tế bào này khi vào cơ thể, tác động lên tế bào, gây viêm nãn
tính, biển đổi tế bào dẫn đến loạn sản rồi ác tính hóa. Với các thành phần độc tính
trong khói thuốc, khói thuốc lá đã được khoa học chứng minh là một trong các nguyên
nhân gây ra hơn 25 căn bệnh khác nhau như: Ung thư phổi, ung thư thanh quản, ung
thư khoang miệng, ung thư da, các bệnh tim mạch và các bệnh về hô hấp.... “
Thuốc lá là nguyên nhân cảu 90% ung thư phế quản. Tính chung thì hút thuốc lá
gây ra khoảng 30% trong số các trường hợp ung thư chủ yếu là ung thư phế quản và
một số loại ung thu vòm mũi họng, ung thư tuỵ, ung thư đường tiết niệu. Qua thống kê
cho thấy người hút thuốc co nguy cơ mắc ung thư phế quản cao gấp 10 lần người
không hút. Nếu hút trên 20 điều 1 ngày, nguy cơ cao gấp 15 đến 20 lần. Hút thuốc ở
tuổi càng trẻ thì nguy cơ càng cao. Với những người không hút thuốc nhưng sống
trong khoảng không gian hẹp với người hút thuốc thì cũng có nguy cơ ung thư cao[1]
Nhằm cung cấp thông tin cho mọi người về mức độ nguy hiểm của hút thuốc lá
và sự cần thiết để hạn chế thuốc lá trong đời sống hàng ngày nhằm giảm thiểu hậu quả


8

không mong muốn chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Thực trạng hút thuốc lá của
bệnh nhân ung thư tại Bệnh Viện Bạch Mai năm 2017-2018 và một số yếu tố liên
quan”. Đề tài của tôi gồm 2 mục tiêu:


1.

Mô tả thực trạng hút thuốc lá của bệnh nhân ung thư tại bệnh viện

Bạch Mai 2017-2018
2.
Phân tích một số yếu tố liên quan đến thực trạng hút thuốc lá của
bệnh nhân ung thư tại bệnh viện Bạch Mai 2017-2018

Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1

Lịch sử thuốc lá
Cây thuốc lá hoang dại đã có cách đây khoảng 4.000 năm, trùng với văn minh

của người da đỏ vùng Trung và Nam Mỹ. Lịch sử chính thức của việc sản xuất thuốc
lá được đánh dấu vào ngày 12⁄10⁄1492 do chuyến thám hiểm tìm ra châu Mỹ của
Christopher Columbus, ông đã phát hiện thấy người bản xứ ở quần đảo Antil vừa nhảy
múa, vừa hút một loại lá cuộn tròn gọi là Tabaccos.
Trong thời gian dài, cây thuốc lá được gọi với các tên khác nhau. Năm 1559, đại sứ
người Pháp tại Lisbon, Jean Nicot là người đầu tiên trồng thuốc lá ở Bồ Đào Nha và
sau đó lan ra toàn châu Âu. Liebault - nhà thực vật học người Pháp đã đặt tên cho cây
thuốc lá là Nicotiana. Tuy nhiên, tên gọi tobacco được người bản xứ Bắc Mỹ dùng để
chỉ thuốc lá vẫn được sử dụng phổ biến nhất.
Thuốc lá được trồng ở Pháp và Tây Ban Nha thuộc loài Nicotiana tabacum với nguồn
hạt giống lấy từ Brazil và Mexico. Trong khi đó, thuốc lá được trồng lúc đầu ở Bồ Đào
Nha và Anh lại thuộc loài Nicotiana rustica – hạt giống trồng ở Bồ Đào Nha được lấy
từ Florida và tại Anh được lấy từ Virginia.



9

Người Tây Ban Nha bắt đầu trồng thuốc lá ở Haiti năm 1531 với hạt giống từ Mexico.
Thuốc lá được trồng ở Cuba năm 1580 và nhanh chóng mở rộng sang Guyana và
Brazil. Thuốc lá được đưa vào châu Âu, châu Á, châu Phi vào nửa cuối thế kỷ 16.
Năm 1612, John Rolfe là người đầu tiên trồng thuốc lá xuất khẩu ở Jametown, Virginia
- Mỹ. Vùng trồng thuốc lá đã lan rộng tới Maryland khoảng năm 1631. Hai bang này
là những vùng sản xuất thuốc lá xuất khẩu chủ yếu trong suốt thế kỷ 18. Cuối thế kỷ
18, thuốc lá bắt đầu được trồng ở Kentucky và ngay sau đó, bang này trở nên nổi tiếng
về trồng thuốc lá và sản xuất chiếm 1/2 sản lượng cả nước. Các bang khác của Mỹ
cũng lần lượt sản xuất thuốc lá nguyên liệu, tạo ra hiện trạng trồng và trao đổi thương
mại thuốc lá sôi động cho đến ngày nay.
Thuốc lá du nhập vào Ấn Độ khoảng năm 1605 và được trồng đầu tiên ở quận Deccan.
Ngay sau đó, Ấn Độ trở thành quốc gia sản xuất thuốc lá lớn và đóng góp đáng kể cho
thị trường thuốc lá thế giới.
Thuốc lá đã được trồng ở Trung Quốc và Nhật Bản khoảng giữa thế kỷ 17 và nhanh
chóng giúp các nước này trở thành những quốc gia sản xuất lớn với sản phẩm chủ yếu
là thuốc lá sáng màu dành cho tiêu dùng nội địa. Cùng thời gian này, thuốc lá được
người Hà Lan đưa vào Indonesia. Kể từ đó đất nước này được biết đến với sản phẩm
thuốc lá cigar khá nổi tiếng được trồng ở quần đảo Sumatra.
Thuốc lá được trồng ở Nam Phi từ năm 1650, còn ở Đông Phi và Trung Phi từ khoảng
năm 1560. Đầu thế kỷ 20, Malawi đã trở thành nhà cung cấp lá thuốc có tiếng với cả 2
chủng loại là thuốc lá sấy lửa và thuốc lá Vàng sấy. Cùng với đà phát triển đó,
Zimbabwe đã xây dựng nền kinh tế đất nước dựa trên xuất khẩu thuốc lá Vàng sấy từ
những năm 1926 - 1927 cho đến nay.
Lịch sử trồng thuốc lá ở Úc có sự pha trộn giữa tập quán trồng loài Nicotiana
suaveolens của thổ dân với các giống thuốc lá thuộc loài Nicotiana tabacum do dân di
cư châu Âu đưa vào hồi đầu thế kỷ 19. Canh tác thuốc lá ở Úc phát triển nhanh chóng

nhờ sự nỗ lực của người châu Âu nhập cư.


10

Bước sang thế kỷ XVII, thuốc lá đã gây ra tranh cãi ở châu Âu. Thuốc lá đã phân chia
quan điểm xã hội, nhưng chính phủ các nước châu Âu không thể ngăn cấm vì những
khoản tiền khổng lồ thu được từ thuế thuốc lá cho ngân sách quốc gia.
Đến thế kỷ XVIII, XIX các nước Âu - Mỹ hoàn thành cách mạng công nghiệp. Các
phát minh khoa học kỹ thuật đã thúc đẩy sản xuất công nghiệp. Ngành công nghiệp
thuốc lá ra đời và thu được lợi nhuận to lớn hơn trước.
Năm 1881, James Bonsack, một người Virginia (Mỹ), phát minh ra chiếc máy có thể
sản xuất 120.000 điếu thuốc/ngày. James “Buck” Duke, người mà 21 năm sau trở
thành chủ tịch đầu tiên của công ty B.A.T (Công ty Thuốc lá Anh - Mỹ), đã mua 2 máy
và công ty sản xuất thuốc lá sợi của gia đình ông đã chuyển sang sản xuất thuốc lá
điếu. Thuốc lá điếu dần dần thay thế cho các loại thuốc lá dùng tẩu, loại nhai và thuốc
lá bột để hít.
Việc hình thành các tập đoàn thuốc lá đa quốc gia với các máy móc, thiết bị chuyên
dùng đã từng bước chi phối thị trường thế giới về trồng thuốc lá, sản xuất thuốc sợi,
thuốc điếu như: Bristish American Tobacco (BAT), Philip Morris (Mỹ), Japan Tobacco
(Nhật), Imperial và Gallaher (Anh), Altadis Franco - Spanish (Pháp - Tây Ban Nha),....
Tóm tắt các giai đoạn lịch sử thuốc lá thế giới:


Thế kỷ 17: Thời kỳ vĩ đại của tẩu thuốc.



Thế kỷ 18: Thuốc lá hít thống trị.




Thế kỷ 19: Thời đại của thuốc lá xì gà.



Thế kỷ 20: Sự nổi dậy của thốc lá điếu:



Trước 1990 – 1950: Những khó khăn mới (cấm bán thuốc lá, phong trào chống
thuốc lá đã bóp chết nhiều công ty).



1950 trở đi: Trận đánh bắt đầu giao chiến nhiều công ty. Thập niên này khởi
đầu có 20% gắn đầu lọc; khoảng 1960 có đến 50% gắn đầu lọc.



Những năm 1960: Sự phân phối miễn phí tại các khóa họp y khoa và y tế hàng
năm đã chấm dứt.


11

Những năm 1970: Sản phẩm thuốc lá điếu quảng cáo nhiều nhất tại Mỹ. Các




loại tạp chí, nhật báo ngưng che đậy vấn đề một cách toàn diện.
Những năm 1980 và 1990: Thời đại hoàng kim đến gần.



Sau chiến tranh thế giới thứ II, các quốc gia giành được độc lập đã quan tâm phát
triển ngành công nghiệp thuốc lá như Trung Quốc, Indonesia, Triều Tiên, Ấn Độ,
Philippines, Ai Cập, Pakistan, Việt Nam,...[2]

1.2

Khái niệm hút thuốc lá
Hút thuốc lá là sự thiêu đốt không hoàn toàn các sợi thuốc lá trải qua hai giai

đoạn. Giai đoạn hút thuốc lá chủ động, xảy ra khi người nghiện hít khói thuốc lá vào
cơ thể mình. Những người có mặt xung quanh sẽ hít phải lượng khói thừa mà người
hút thải ra[4]
1.2.1 Thói quen hút thuốc lá trên thế giới
Theo báo cáo tại viện thống kê khoa học việt nam năm 2010 thì trên thế giới mỗi ngày
có 1.1 tỉ người hút thuốc lá mỗi ngày trong đó người gốc Mĩ chiêm 32.8% người da
đen 19.1% người da trắng 17.4 % người gốc Tây ban Nha 14.1% người châu Á chiếm
8.1% .Có 1000 người trẻ hút thuốc lá mỗi ngày và cứ 5 bà mẹ thì có 1 bà mẹ hút thuốc
lá khi mang thai [3]
1.2.2 Thói quen hút thuốc lá tại Việt Nam
Việt Nam là 1 trong những nước có tỉ lệ nam giới hút thuốc cao nhất thế giới với
47.4%.Trong tổng số 15 triệu người hút thuốc có 12,8 triệu (39,4% nam và 1.2% nữ)
hút thuốc lá điếu. Hiện có 4,1 triệu người lớn hút thuốc lào (GATS 2010).Có 67%
người không hút thuốc (khoảng 33 triệu người) nói họ bị tiếp xúc với khói thuốc thụ
động tại nhà và 49% người lao động (khoảng 5 triệu người) cho biết họ bị ảnh hưởng
bởi khói thuốc thụ động tại nơi làm việc[5]

1.2 Lịch sử ung thư


12

Từ cancer (ung thư) được cho là bắt đầu từ thầy thuốc Hy Lạp Hippocrates (460-370
TCN), người được coi là "cha đẻ của dược học". Hippocrates đã dùng
từ carcinos và carcinoma để mô tả khối u không dẫn đến nhọt loét và khối u dẫn đến
nhọt loét. Ở Hy Lạp, chúng dùng để chỉ con cua, có lẽ được dùng cho loại bệnh này là
vì sự lan hình bàn tay của ung thư gợi ra hình dáng một con cua. Thầy thuốc người La
Mã Celsus (28-50 TCN) sau đó dịch từ từ Hy Lạp thành cancer, từ latin chỉ con cua.
Galen (130-200 AD), một thầy thuốc La Mã khác đã dùng từ oncos (từ Hy Lạp chỉ sự
sưng tấy) để mô tả các khối u. Sự tương tự hoá với con cua của Hippocrates và Celsus
vẫn được dùng để mô tả các khối u ác tính, trong khi thuật ngữ của Galen được dùng
làm tiền tố trong từ chỉ các bác sĩ chuyên khoa ung bướu — oncologist.
Trong suốt thời kỳ Phục hưng, bắt đầu từ thế kỷ thứ Mười lăm, các nhà khoa học đã có
thêm nhiều hiểu biết về cơ thể con người. Các nhà khoa học như Galileo và Newton đã
bắt đầu sử dụng các phương pháp khoa học mà sau này được dùng trong nghiên cứu
bệnh tật. Những phân tích tử thi của Harvey (1628) đã đưa đến những hiểu biết về sự
tuần hoàn của máu trong tim và cơ thể mà đến thời đó hãy còn là sự bí ẩn.
Năm 1761, Giovanni Morgagni ở Padua là người đầu tiên đã làm một việc mà ngày
nay đã trở thành quen thuộc -- khám nghiệm tử thi (autopsy) để xác định quan hệ giữa
bệnh tình của bệnh nhân với các hiểu biết bệnh học sau tử vong. Điều này đã đặt nền
móng cho ung thư học khoa học — khoa học nghiên cứu về ung thư.
Nhà giải phẫu học nổi tiếng người Scottland John Hunder (1728-1793) đề xuất rằng
một số loại ung thư có thể được cứu chữa bằng phẫu thuật và mô tả cách xác định các
u bướu có thể phẫu thuật được. Nếu khối u không xâm chiếm các mô lân cận, và nếu
có thể "loại bỏ" (movable), thì "chẳng có sai sót gì khi cắt bỏ chúng", ông nhân xét.
Một thế kỷ sau, sự phát triển của kỹ thuật gây mê đã cho chép giải phẫu học đạt tới
phồn thịnh và các phẫu thuật ung thư cổ điển như giải phẫu sâu ở vú (radical

mastectomy) đã được phát triển.


13

Thế kỷ thứ Mười chín chứng kiến sự ra đời của ung thư học khoa học với sự ứng dụng
của các kính hiển vi hiện đại nghiên cứu các mô bệnh. Rudolf Virchow, thường được
coi là người sáng lập ngành bệnh học tế bào, đã đặt nền tảng cho bệnh học ung thư
hiện đại. Trong khi Morgagni đã liên hệ các bằng chứng khám nghiệm tử thi quan sát
bằng mắt thường với tiến triển lâm sàng của bệnh, Virchow đã liên hệ bệnh học hiển vi
với bệnh tình.
Phương pháp này không chỉ mở ra những hiểu biết sâu hơn về sự huỷ hoại mà ung thư
gây ra, mà còn hỗ trợ sự phát triển của phẫu thuật học ung thư. Các mô trong cơ thể bị
cắt bỏ trong phẫu thuật có thể được khảo cứu và qua đó có thể thực hiện chẩn đoán
chính xác. Nhà bệnh học cũng có thể cho nhà giải phẫu biết phẫu thuật đó đã hoàn
toàn loại bỏ được khối ung hay chưa.
1.3 Khái niệm ung thư

Ung thư là một nhóm các bệnh liên quan đến việc phân chia tế bào một cách vô
tổ chức và những tế bào đó có khả năng xâm lấn những mô khác bằng cách phát triển
trực tiếp vào mô lân cận hoặc di chuyển đến nơi xa (di căn). Hiện có khoảng 200 loại
ung thư. Không phải tất cả các khối u là ung thư ngoài ra còn có khối u lành tính
không lan sang các bộ phận khác của cơ thể. Có thể dấu hiệu và triệu chứng bao gồm
một khối u, chảy máu bất thường, ho kéo dài, không giải thích được giảm cân , và một
sự thay đổi trong đại tiểu tiện. Hiện nay có khoảng hơn 100 bệnh ung thư.
Việc sử dụng thuốc lá là nguyên nhân gây ra 22% số ca tử vong vì ung thư.
Ngoài ra còn 10% do béo phì, kém ăn, lười vận động và uống rượu quá mức. Các yếu
tố khác bao gồm một số bệnh nhiễm trùng, tiếp xúc với bức xạ và ô nhiễm môi trường.
Ở các nước đang phát triển, gần 20% bệnh ung thư là do nhiễm trùng như viêm gan B,
viêm gan C và nhiễm trùng papillomavirus ở người. Cũng có khoảng 5-10% bệnh ung

thư là do di truyền.


14

Nhiều loại ung thư có thể được ngăn ngừa bằng cách không hút thuốc , duy trì
cân nặng khỏe mạnh, không uống quá nhiều rượu , ăn nhiều rau , trái cây và ngũ cốc
nguyên hạt , chủng ngừa các bệnh truyền nhiễm nhất định, không ăn quá nhiều thịt chế
biến và thịt đỏ và tránh phơi nắng quá nhiều. Phát hiện ung thư sớm rất có ích, nhất là
với ung thư cổ tử cung hay ung thư đại tràng. Ung thư thường được điều trị bằng một
số kết hợp của xạ trị liệu ,phẫu thuật , hóa trị , và liệu pháp đích. Cơ hội sống còn phụ
thuộc vào loại ung thư và mức độ của bệnh khi bắt đầu điều trị. Ở trẻ em dưới 15 tuổi
ở chẩn đoán tỷ lệ sống sót 5 năm ở các nước phát triển trung bình khoảng 80%. Đối
với bệnh ung thư ở Hoa Kỳ, tỷ lệ sống trung bình năm năm là 66%.
Theo số liệu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), Việt Nam là nước có số lượng
bệnh nhân ung thư chết cao nhất thế giới với 315 người chết mỗi ngày, tương ứng
115.000 người chết/năm.
Hiện nay, Việt Nam vẫn sử dụng số liệu ung thư thống kê từ năm 2010 đến nay
chưa được cập nhật, trong khi số liệu của năm 2010 đã tăng gần 2 lần so với 10 năm
trước đó. Dựa vào con số này, WHO xếp Việt Nam đứng thứ 78. Từ năm 2010 đến nay
chưa được cập nhật số liệu, do đó chưa xác định được xếp hạng chính xác của Việt
Nam trên bản đồ ung thư thế giới.
Theo thống kê của ngành Ung thư và Bộ Y tế, mỗi năm Việt Nam có khoảng 150
ngàn ca mới mắc và trên 75 ngàn trường hợp tử vong do ung thư. Trong bản đồ ung
thư thế giới, tỷ lệ mắc ung thư ở nam giới Việt Nam được xếp vào nhóm nước cao thứ
3, với gần 200 ca mắc trên 100.000 người. Tuy nhiên, tỷ lệ nam giới tử vong do ung
thư ở Việt Nam lại nằm trong nhóm nước dẫn đầu thế giới, với hơn 142 trường hợp tử
vong trong số 100.000 người. Tại các nước phát triển, trên 80% ca bệnh ung thư có thể
chữa khỏi được. Tại Việt Nam tỉ lệ này thấp hơn bởi lẽ, có tới 70% bệnh nhân ung thư
ở Việt Nam đi khám và phát hiện ở giai đoạn muộn

Ước tính trong năm 2020 sẽ có ít nhất gần 200.000 ca ung thư mới mắc. Dẫn đầu
ở nam là ung thư phổi, sau đó đến dạ dày, gan, đại trực tràng, thực quản, vòm, hạch,


15

máu, tiền liệt tuyến... Tỷ lệ mắc mới ở nữ nhiều nhất lần lượt là ung thư vú, dạ dày,
phổi, đại trực tràng, cổ tử cung, giáp trạng, buồng trứng...
Theo Hiệp hội ung thư Việt Nam, thực phẩm bẩn là nguyên nhân hàng đầu dẫn
đến ung thư,chiếm tới gần 40% trong số các yếu tố gây ung thư. Tại Việt Nam, mỗi
ngày có tới gần 550 ca ung thư mới.
- Theo PGS. TS Trần Văn Thuấn, 80% nguyên do gây ra bệnh ung thư là do môi
trường bên ngoài:
Thuốc lá là nguyên nhân của trên 30% trong tổng số các loại ung thư bao gồm



ung thư phổi. Có tới trên 90% bệnh ung thư phổi có liên quan tới thuốc lá. Bên cạnh
đó, các loại ung thư khác như khoang miệng, thực quản, hà họng tinh quản, thậm chí,
ung thư vú, ung thư cổ tử cung ở nữ cũng có liên quan tới thuốc lá.
Chế độ dinh dưỡng không hợp lý, chế độ ăn có quá nhiều chất đạm, mỡ, đặc



biệt là mỡ động vật, ít hoa quả và rau xanh và dùng các loại thực phẩm không rõ
nguồn gốc, đặc biệt là các thực phẩm có bảo quản thuốc thực phẩm.
Nhiễm trùng: nhiễm các siêu vi viêm gan B,C sẽ dẫn tới viêm gan, ung thư gan.




Nhiễm virut HPV thì sẽ gây ra ung thư cổ tử cung, nhiễm vi khuẩn HP thì sẽ gây ra
ung thư dạ dày.
Khoảng 5 -10% ung thư có liên quan tới yếu tố di truyền.



- Theo giáo sư Nguyễn Bá Đức, phó chủ tịch Hội Ung thư Việt Nam, 35% số ca mới
mắc có nguyên nhân do ăn phải thực phẩm bẩn chứa chất gây ung thư.[6]

1.4

Một số yếu tố liên quan đến hút thuốc lá
Trong 1 thống kê của viện nghiên cứu lập pháp năm 2011:
Dưới 18 tuổi là 61 người chiếm 4,69%, nhiều nhất là nhóm tuổi từ 18 – 30 tuổi là

641 người chiếm tỷ lệ gần 50%, nhóm tuổi từ 30-50 tuổi là 512 người chiếm 39,38%
và nhóm tuổi cuối cùng là nhóm trên 50 tuổi chiếm 6,62%. Việc chia theo nhóm tuổi
với mục đích liên quan tới khả năng tiếp cận thuốc lá, khả năng lao động, khả năng tạo
thu nhập, tình trạng có bệnh tật…


16

Trình độ học vấn của đối tượng tham gia nghiên cứu có 1.38% là người có trình
độ tiến sĩ với tỷ lệ cao nhất là 42,92% thuộc nhóm người có trình độ cao đẳng, đại học,
có 23,54% số người tham gia có trình độ Thạc sỹ và 30,5% là số người có trình độ phổ
thông trung học (không có đối tượng nào tham gia trong nghiên cứu này có trình độ
dưới mức phổ thông trung học). Điều này cho thấy, nghiên cứu tập trung ở nhóm có
trình độ học vấn tương đối cao
Đặc điểm nơi sinh sống/làm việc của đối tượng được điều tra chỉ có 27% số

người tham gia là sống/làm việc ở khu vực nông thôn, còn lại là sống ở khu vực thành
phố và vùng ngoại ô thành phố (nơi có thể dễ dàng tiếp cận các thông tin liên quan tới
thuốc lá cũng như có điều kiện để sử dụng/tiếp cận với các loại/sản phẩm thuốc lá)
Và loại thuốc thường hút/quen dùng: chủ yếu là thuốc Vinataba ( 41%), thuốc Du
lịch (15%),, Marboro (14%), còn lại là các thuốc như Caraven, White Horse, thuốc ba
số .. chiếm tỷ lệ 6-8%, ngoài ra cũng có nhiều người cùng dùng nhiều loại thuốc[7]

1.5

Lịch sử bệnh viện Bạch Mai

Năm 1911: Bệnh viện được thành lập, ban sơ là Nhà thương Cống Vọng nhỏ bé
chuyên để thu nhận và điều trị bệnh nhân truyền nhiễm.
Năm 1935: Bệnh viện mang tên Hospital de René Robin được xây dựng quy mô hơn,
là cơ sở thực hành chính của trường Đại học Y khoa Đông Dương.
Năm 1945: Bệnh viện được mang tên Bệnh viện Bạch Mai.
Giai đoạn 1945 - 1954: thời kỳ Chiến tranh Đông Dương, Bệnh viện từng được coi là
pháođài của quyết tử quân, các hoạt động chuyên môn diễn ra trong điều kiện khó
khăn về mọi mặt.
Giai đoạn 1954 - 1964: cải tạo cơ sở vật chất sau chiến tranh tàn phá, tăng số lượng
cán bộ và mở rộng quy mô hoạt động chuyên môn. Bệnh viện vinh dự được đón Chủ
tịch Hồ Chí Minh đến thăm hai lần: 12/1954 và 3/1960.
Giai đoạn 1965 - 1975: thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, nhiều cán bộ Bệnh viện đã tình
nguyện vào Nam chiến đấu. Thủ tướng Phạm Văn Đồng và các đồng chí Lãnh đạo


17

Đảng, Nhà nước, Chính phủ đã nhiều lần đến thăm và động viên CBCC Bệnh viện.
Năm 1972, 4 lần máy bay B52 Mỹ ném bom hủy diệt Bệnh viện, 28 cán bộ y tế của

Bệnh viện đã anh dũng hy sinh trong khi đang cứu chữa bệnh nhân.
Từ 1975 đến nay: đất nước thống nhất, Bệnh viện Bạch Mai bước vào kỷ nguyên mới,
đảm nhiệm trọng trách khám chữa bệnh tuyến cuối của ngành y tế.
Năm 2006: được Bộ y tế công nhận là Bệnh viện đa khoa hoàn chỉnh hạng đặc biệt
đầu tiên của Việt Nam.
Năm 2011: kỷ niệm 100 năm thành lập đón nhận Huân chương Độc lập hạng nhất lần
thứ 2; Quy mô 1400 giường bệnh với: 02 Viện, 07 Trung tâm, 22 Khoa Lâm sàng, 06
Khoa Cận lâm sàng, 10 Phòng/Ban chức năng, Trường Trung học Y tế, Tạp chí Y học
lâm sàng, Đơn vị Dịch vụ; Mục tiêu: xây dựng Bệnh viện Bạch Mai trở thành Trung
tâm Y học hàng đầu của Việt Nam ngang tầm các nước tiên tiến trong khu vực.
Năm 2016 đến nay: Trên chặng đường hội nhập và phát triển, Bệnh viện kỷ niệm 105
năm thành lập và đón nhân Huân chương Độc lập hạng 3 lần thứ 2; Quy mô 1900
giường bệnh với 55 đơn vị trực thuộc: 03 Viện, 08 Trung tâm, 12 Phòng/Ban chức
năng, 23 Khoa Lâm sàng, 06 Khoa Cận lâm sàng, Trường Cao đẳng Y tế, Tạp chí Y
học lâm sàng, Đơn vị Dịch vụ; Khánh thành Trung Tâm Hội nghị Quốc tế Bạch Mai
có 01 Hội trường 700 chỗ với nhiều trang thiết bị hiện đại và hệ thống hội trường mini
đồng bộ; Khánh thành tòa nhà Trung tâm Tim mạch trẻ em và Trung tâm Ung bướu
quy mô 800 giường; Khởi công Trung tâm Khám bệnh tại khu Trạm lao cũ và Bệnh
viện Bạch Mai cơ sở 2 tại Phủ Lý (Hà Nam) cùng nhiều công trình khác. [8]


18

Chương 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1

Địa điểm và thời gian nghiên cứu
-Thời gian nghiên cứu : từ tháng 11 năm 2018 đến tháng 6 năm 2019. Thời gian


thu thập số liệu từ …
-Địa điểm nghiên cứu :
Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu

Bản đồ bệnh viện Bạch mai

Nguồn [10]

2.2

Đối tượng nghiên cứu

- Tiêu chuẩn lựa chọn:


19

+ Bệnh nhân ung thư điều trị nội trú
+ Đồng ý tham gia nghiên cứu
-Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu

.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu : thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.3.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
2.3.2.1 Cỡ mẫu
Áp dụng công thức tính mẫu
n=
Trong đó:


2.3.2.2
2.3.3

n: cỡ mẫu
p= 0,4 ( CDC 2016)[11]
= 1.96
d=0.05
Thay vào công thức ta được cỡ mẫu 369 ( đã làm tròn) bệnh nhân.
Phương pháp chọn mẫu
Chọn mẫu chỉ tiêu bệnh nhân ung thư điều trị nội trú tại Trung tâm y học hạt nhân và
Ung bướu Bệnh Viện Bạch Mai
Biến số, chỉ số nghiên cứu, phương pháp thu thập thông tin

THÔNG TIN CHUNG CỦA BỆNH NHÂN

Nhóm biến
số

1. Tuổi

Tỉ lệ %: tỉ lệ BN theo từng nhóm tuổi/
tổng số BNUT

2. Giới

Tỉ số nam và nữ: tỷ số giữa số BN nam
( nữ) tham gia nghiên cứu/ tổng số
BNUT

Phỏng

vấn bộ
câu hỏi


20

3. Khu vực

Tỉ số giữa từng khu vực/ tổng số BNUT

4. Tháng vào

Tỉ lệ % theo các năm vào viện: tỉ số giữa
số BNUT HTL của 1 tháng vào viện/
tổng số BNUT trong 1 tháng vào viện

viện

viện

Tỉ lệ % theo các năm vào viện: tỉ số giữa
số BNUT HTL của 1 năm vào viện/ tổng
số BNUT

6. Tiền sử

Tỉ số bệnh nhân có TS ung thư/ tổng số
BNUT

5. Năm vào


bệnh

7. HTL theo
giới

8. HTL theo
dân tộc

9. HTL theo
nghề
nghiệp

Tỉ lệ % theo giới nữ: là tỉ số BNUT nữ
HTL/ tổng số BNUT nữ
Tỉ lệ % theo giới nam: là tỉ số BNUT
nam HTL/ tổng số BNUT nam
Tỉ lệ %: tỉ lệ BN theo dân tộc Kinh và
dân tộc khác/ tổng số BNUT HTL
Tỉ lệ %: tỉ lệ BN theo các nghề/ tổng số
BNUT HTL

MỤC TIÊU I: THÓI QUEN HÚT THUỐC LÁ Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ

1. HTL theo năm
vào viện

Tỉ lệ %: tỉ số giữa BNUT HTL của mỗi
năm/ tổng số BNUT HTL


2. HTL hàng ngày Tỉ lệ %: tỉ lệ BNUT HTL hàng ngày/
tổng số BNUT HTL


21

3. Tuổi bắt đầu
HTL

4. Tuổi bắt đầu
HTL trung bình

Tỉ lệ %: tỉ lệ BNUT HTL theo từng độ
tuổi/ tổng số BNUT HTL
Tỉ lệ %: tổng số tuổi bắt đầu HTL của tất
cả BNUT/ tổng số BNUT HTL

5. Nhãn hiệu HTL Tỉ lệ từng loại thuốc lá/ tổng số lựa chọn
thường xuyên
nhất

6. Nguồn cung
cấp TL

1.2
Mức độ
HTL

loại TL


Tỉ lệ từng loại nguồn cung cấp TL/ tổng
số BNUT HTL

1. Số lượng nhãn Tỉ lệ từng loại lựa chọn/ tổng số lựa chọn Phỏng

vấn bộ
câu hỏi

hiệu TL
thường hút

2. Hoàn cảnh
HTL thường
xuyên nhất

Tỉ lệ từng hoàn cảnh/ tổng số BNUT
HTL

3. Số lượng điếu Tỉ lệ %: tổng số điếu TL trong 1 lần/
TL hút/ 1 lần

4. Thời gian
HTL/ 1 lần

tổng số BNUT HTL

Tỉ lệ %: tổng số thời gian HTL trong 1
lần/ tổng số BNUT HTL

5. Số lượng điếu Tỉ lệ: tổng số điếu TL trung bình hút

TL/ ngày

trong 1 ngày của tất cả BNUT HTL/ tổng
số BNUT HTL

6. Số năm HTL

Tỉ lệ: Số năm HTL được tính trung bình
bằng cách tính số năm HTL của tất cả
BNUT / tổng số BNUT HTL


22

7. Lí do HTL

Tỉ lệ từng lí do HTL/ tổng số lựa chọn lí
do HTL

8. Số lần bỏ

Tỉ lệ số lần bỏ HTL / tổng số BNUT
HTL

thuốc lá

9. Thời gian mỗi Tỉ lệ tổng thời gian lần bỏ HTL / tổng số
lần bỏ

10.


Lí do
HTL trở lại

BNUT HTL

Tỉ lệ lí do HTL từng loại/ tổng số BNUT
HTL

MỤC TIÊU 2: CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN THÓI QUEN HÚT THUỐC
LÁ Ở BỆNH NHÂN UNG THƯ

1. Có người
2.
3.
4.

5.
2.1

Các
yếu tố
liên quan

trong gia đình
HTL
Có bạn bè/
đồng nghiệp
HTL
Mức độ tiếp

xúc với người
HTL ở nhà
Mức độ tiếp
xúc với người
HTL ở bên
ngoài
Kiến thức về
tác hại của
HTL

Mối liên quan giữa có người trong gia
đình HTL với thói quen HTL ở BNUT
Mối liên quan giữa có bạn bè/ đồng
nghiệp HTL với thói quen HTL ở BNUT
Mối liên quan giữa mức độ tiếp xúc với
người HTL ở nhà với thói quen HTL ở
BNUT
Mối liên quan giữa mức độ tiếp xúc với
người HTL ở bên ngoài với thói quen
HTL ở BNUT
Mối liên quan giữa kiến thức về tác hại
của HTL với thói quen HTL ở BNUT
Mối liên quan đa biến giữa các yếu tố
trên với thói quen HTL của BNUT

Bộ câu
hỏi và
tính toán



23

đén thói
quen
HTL của
BNUT
theo
phân tích
đa biến

- Biến độc lập: nhãn hiệu TL, số loại TL, số điếu hút 1 ngày, địa điểm HTL, thời điểm
-

HTL, nguồn cung cấp TL, chi tiêu cho thuốc lá
Biến phụ thuộc: tuổi, giới, địa chỉ, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, công việc,
thu nhập, kiến thức BNUT HTL
Bộ câu hỏi được tham khảo từ GATS chương trình khảo sát sử dụng thuốc lá ở
người trưởng thành toàn câu đã được áp dụng ở nhiều luận văn trong nước như ThS
YTCC Đinh Văn Tài 2005.
2.3.4 Sai sô và cách khắc phục
Sai số thông tin: Thông tin thu thập được qua bộ câu hỏi phỏng vấn có thể
không chính xác do đối tượng trả lời sai hoặc không hiểu câu hỏi.
Cách khống chế:
Nghiên cứu viên giải thích rõ mục tiêu nghiên cứu trước khi tiến hành phỏng vấn.
Bộ câu hỏi phỏng vấn sử dụng từ ngữ dễ hiểu, ngắn gọn, đầy đủ, rõ ràng, động viên
khuyến khích đối tượng nghiên cứu trả lời đúng câu hỏi.
Tập huấn kĩ năng quan sát, phỏng vấn, thu thập thông tin và giám sát cho nhóm
nghiên cứu do chuyên gia y tế công cộng hướng dẫn.
- Sai số nhớ lại: Thông tin của đối tượng cung cấp có thể bị sai khi nhớ lại
* Cách khống chế:

Rà soát, thử nghiệm kĩ công cụ phỏng vấn, không để những câu hỏi mà đối tượng
nghiên cứu khó nhớ hoặc không thể trả lời vì không nhớ rõ được.
2.4 Quản lí và phân tích số liệu


24

Số liệu sau khi được thu thập được làm sạch và nhập vào máy tính bằng phần mềm
Epidata 3.1. Phần mềm thống kê Stata 14 được sử dụng trong phân tích số liệu với các
test thống kê thường dùng trong y tế.
2.5 Hạn chế của nghiên cứu
Nghiên cứu chỉ tiến hành trong phạm vi một khoa nằm trong địa bàn thành phố Hà Nội
nên chưa thể khái quát được hết đối tượng ung thư hút thuốc lá trong quần thể một
cách chính xác
Bệnh nhân ung thư có nhiều thói quen khác nhưng nghiên cứu này tập trung việc hút
thuốc lá.

2.6

Đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành trên đối tượng là BN, trước khi tiến hành nghiên cứu đã
được sự đồng ý từ cở sở và BN.
Trước khi nghiên cứu, BN được giải thích rõ về mục đích, nội dung nghiên cứu để tự
nguyện tham gia và hợp tác tốt trong quá trình nghiên cứu. chỉ tiến hành nghiên cứu
khi BN tự nguyện chấp thuận tham gia nghiên cứu. BN có thể từ chối không tham gia
nghiên cứu vào bất kì thời điểm nào
Các thông tin thu thập từ BN được đảm bảo giữ bí mật tuyệt đối và chỉ phục vụ cho
nghiên cứu. đề tài được tiến hành khi thông qua đề cương của bộ môn Sức Khỏe Nghề
Nghiệp.



25

2.7

Sơ đồ nghiên cứu
Thói quen hút thuốc lá và các yêu tố liên quan ở BNUT

Ung
thư
thực
quản
Ung
thư dạ
dày
Ung
thư đại
trực
tràng
Ung
thư
gan
Ung
thư
mật

Nhãn
hiệu
thuốc
Địa

điểm
HTL
Lượng
thuốc
Chi tiêu
cho TL

Thói
quen
hút
thuốc lá

Yếu tố
liên quan
đến thói
quen hút
thuốc lá

Tuổi

Thu
nhập

Nghề
nghiệp

Nghề
nghiệp

Lí do

Tiền
sử
bệnh

Thời
điểm
HTL

Trình
độ
học
vấn

Nguồn
cung cấp
TL

Chương 3 DỰ KIẾN KẾT QUẢ

Dân
tộc
Tình
trạng
hôn
nhân
Kiến
thức về

HTL



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×