Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (21.03 KB, 2 trang )
Phân tích Bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy
Mở bài:
Nguyễn Duy thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành từ cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu
nước. Thế hệ này từng trải qua bao thử thách, gian khổ của chiến tranh, chứng kiến
bao hi sinh lớn lao của đồng đội nói riêng và nhân dân ta nói chung trong cuộc
sống. Bài thơ “Ánh trăng” được Nguyễn Duy sáng tác năm 1978, ba năm sau ngảy
giải phóng miền Nam 1975, là để giải bày những cảm xúc và suy tư của mình trước
thực tế có người còn ghi nhớ những mất mát hi sinh năm xưa, có người lại lãng
quên quá khứ.
Thân bài:
Cái hay của bài thơ Ánh trăng là câu chuyện đời thường được kể bằng những lời
thơ giản dị, mộc mạc mà chứa đựng tình cảm, tư tưởng sâu xa.
Câu chuyện về mối quan hệ giữa nhà thơ và vầng trăng diễn ra như sau: Hồi nhỏ
sống ở làng quê ven biển và hồi chiến tranh sống ở rừng vầng trang là tri kỉ, gần
gũi, thân thiết. Đến khi chiến tranh kết thúc, được về sống ở thành phố, quen với
“ánh điện, ánh gương” thì quên hẳn người tri kỉ: vầng trăng đi qua ngõ, ngỡ người
dưng qua đường. Bỗng một hôm: “Thình lình đèn điện tắt” và người tri kỉ đột ngột
xuất hiện ngoài cửa sổ. Đây là bước ngoặt dẫn đến sự thức tỉnh của nhà thơ. Và thế
là tâm tư nhà thơ xảo trộn:
Ngửa mặt lên nhìn mặt
Có cái gì rưng rưng
Như là đồng là bể
Như là sông là rừng
“Ngửa mặt lên nhìn mặt” có nghĩa là nhìn lại mặt mình và thấy mình có lỗi, mặt đã
thành con người khác, con người đã quên đi những năm tháng gian lao và tình
nghĩa, quên đi những mất mát, hi sinh,… Những giọt nước mắt cho thấy sự thức