Tải bản đầy đủ (.docx) (93 trang)

Nghiên cứu đặc điểm địa hình núi Tây Bắc Việt Nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (844.95 KB, 93 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM ĐỊA HÌNH NÚI TÂY BẮC VIỆT NAM

Giảng viên hướng dẫn:ThS: Đào Thị Kim Quế
Sinh viên thực: Trương Thị Thu Hằng

PHÚ THỌ, 2018


LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được khóa luận này, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới
các thầy, cô giáo trong Khoa Khoa học xã hội và nhân văn - Trường Đại học
Hùng Vương. Đặc biệt là các thầy, cô giáo trong Bộ môn Địa lí nói riêng đã dìu
dắt, dạy dỗ những kiến thức bổ ích trong suốt quá trình học tập, rèn luyện tại
trường cũng như đã tạo mọi điều kiện để em có thể hoàn thành khóa luận một
cách tốt nhất.
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất về sự giúp đỡ vô cùng quý báu của
cô giáo, Th.S Đào Thị Kim Quế – giảng viên hướng dẫn khoa học đã hết lòng
hướng dẫn, chỉ bảo tận tình, tạo điều kiện tốt nhất cho em trong suốt quá trình
thực hiện khóa luận.
Cuối cùng em cũng xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã giúp đỡ và
động viên em trong suốt thời gian qua!
Em xin chân thành cảm ơn!

Việt Trì, ngày……tháng…..năm 2018.
Sinh viên


Trương Thị Thu Hằng


DANH MỤC BẢNG BIỂU
STT

Tên bảng biểu

1

Bảng 1.1. Hệ thống phân loại kiểu địa hình đồi núi
miền Bắc Việt Nam
Bảng 1.2. Nhiệt độ trung bình tháng và năm ở Tây
Bắc
Biểu đồ 1.1. Nhiệt độ trung bình tháng tại trạm Lai
Châu
Biểu đồ 1.2. Nhiệt độ trung bình tháng tại trạm Điện
Biên
Biểu đồ 1.3. Nhiệt độ trung bình tháng tại trạm Sơn
La
Biểu đồ 1.4. Nhiệt độ trung bình tháng tại trạm Hoà
Bình
Bảng 1.3. Lượng mưa trung bình tháng và năm ở Tây
Bắc
Biểu đồ 1.5. Lượng mưa trung bình tháng tại trạm Lai
Châu
Biểu đồ 1.6. Lượng mưa trung bình tháng tại trạm
Điện Biên
Biểu đồ 1.7. Lượng mưa trung bình tháng tại trạm
Sơn La

Biểu đồ 1.8. Lượng mưa trung bình tháng tại trạm
Hoà Bình

2
3
4
5
6
7
8
9
10
11

STT
1
2
3

DANH MỤC HÌNH ẢNH
Tên hình
Hình 2.1. Lược đồ các đới tướng kiến trúc ở miền
Bắc Việt Nam
Hình 2.2. Lược đồ phân vùng kiến tạo ở miền Bắc
Việt Nam
Hình 2.3. Lược đồ địa hình khu Tây Bắc

Trang

Trang




5

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình nghiên cứu, nhà địa lí học luôn gắn bó với địa hình trong
mọi hành động của mình, bất luận đó là việc nghiên cứu hiện trạng tự nhiên của
một vùng địa lí hay là việc tác động lên địa hình trong những hoạt động quy
hoạch và tổ chức lãnh thổ.
Địa mạo học xem địa hình như những sự vật có phát sinh, phát triển theo
logic tiến hóa và là kết quả của tác động tương hỗ và đồng thời lên bề mặt Trái
đất của các quá trình nội sinh và ngoại sinh [1;8].
Trong cảnh quan địa lí, địa hình là thành phần quan trọng nhất đối với cấu
trúc thẳng đứng của cấp cảnh và các cấp cấu tạo nên cấu trúc ngang của cảnh là
các dạng và diện địa lí [17;107].
Địa hình cùng với nền địa chất, kiểu địa hình, và cấp phân vị địa hình
tương đương với cấp cảnh đã hình thành nên nền tảng rắn của cảnh địa lí, đồng
thời là cơ sở vật chất bền vững quyết định tính chất của các thành phần khí hậu,
thủy văn, thổ nhưỡng, sinh vật trong cảnh.
Nghiên cứu địa hình giúp chúng ta thấy được đặc điểm hình thái, cấu
trúc của địa hình. Nguồn gốc phát sinh và các bước phát triển của các dạng địa
hình và những tập hợp của chúng. Tính quy luật phát triển của địa hình trong
từng môi trường địa lí đặc thù và trên cơ sở đó xây dựng hệ thống phân loại địa
hình theo nguồn gốc phát sinh. Tác động của các thành phần tự nhiên và con
người đến địa hình, từ đó có phương hướng khai thác và sử dụng hợp lí.
Trong tất cả các lớp địa hình thì lớp địa hình đồi núi khác hẳn với các lớp
địa hình bờ biển hải đảo và đồng bằng về hình thái, động lực và tuổi.
Tây Bắc là khu có địa hình núi cao, mở rộng và đồ sộ nhất so với các khu

địa lí khác ở Việt Nam. Sở dĩ như vậy là do nơi đây có cấu tạo địa chất và lịch
sử phát triển khá phức tạp. Đặc điểm này đã chi phối mạnh mẽ tới các thành
phần tự nhiên khác trong cảnh quan địa lí Tây Bắc, đồng thời địa hình là nhân tố


6

tự nhiên chịu ảnh mạnh mẽ từ các nhân tố khác và đặc biệt là con người trong
quá trình hoạt động kinh tế trên địa hình núi khi chưa hiểu rõ về quá trình phát
sinh, phát triển cũng như cấu trúc địa chất, địa hình và đặc điểm của từng dạng
địa hình trong một khu vực.
Vì vậy nghiên cứu để tìm ra cấu trúc địa chất, lịch sử phát triển, hướng và
cấu trúc địa hình của khu vực địa hình núi Tây Bắc là rất quan trọng. Từ đó giúp
phân tích được tác động của địa hình tới các thành phần tự nhiên khác và ngược
lại. Qua đây, đề ra một số phương hướng khai thác và sử dụng hợp lý khu vực
địa hình núi Tây Bắc.
Khóa luận “Nghiên cứu đặc điểm địa hình núi Tây Bắc Việt Nam”
nhằm giải quyết những yêu cầu thực tiễn và góp phần phát triển bền vững lãnh
thổ vùng Tây Bắc.
2. Lịch sử nghiên cứu
Ở miền Bắc Việt Nam, Tây Bắc là khu vực có địa hình núi cao duy nhất
và có phổ đai đầy đủ nhất Việt Nam, đồng thời đây là khu vực có cấu tạo địa
chất được hoạt hóa nhiều lần và hoạt động Tân kiến tạo được nâng lên mạnh
nhất ở Đông Dương. Với những nét đặc trưng riêng về địa hình, nên đã có một
số công trình nghiên cứu nổi bật sau:
I.A. Rezanov I.A, Nguyễn Cẩn, Nguyễn Thế Thôn, đã có công trình
nghiên cứu những nét cơ bản về lịch sử phát triển địa hình và tân kiến tạo miền
Bắc Việt Nam [14].
A.E. Đovjikov và một số tác giả khác đã đưa ra phân vùng kiến tạo miền
Bắc Việt Nam, trong đó tác giả đã sơ lược về các yếu tố chính của kiến trúc

[18].
Năm 1964, V.M.Fridland đã nghiên cứu ra bản đồ địa mạo miền Bắc Việt
Nam và năm 1972, Lê Đức An đã đưa ra sơ đồ phân vùng địa mạo miền Bắc
Việt Nam. Đó là những công trình có giá trị trong mục đích phân vùng và phân
loại địa mạo [17].


7

Năm 1971, Nguyễn Đình Cát đã có công trình nghiên cứu về lịch sử phát
triển kiến tạo miền Bắc Việt Nam [13].
Trong cuốn “Phân vùng địa lí tự nhiên lãnh thổ Việt Nam”, Nhà xuất bản
khoa học và kĩ thuật. Trần Quang Ngãi đã đề cập tới các điều kiện tự nhiên như
địa hình, địa chất, khí hậu, thổ nhưỡng, sinh vật, và phương hướng sử dụng và
cải tạo các điều kiện tự nhiên miền Tây Bắc [12].
Trong cuốn “Địa chất Việt Nam phần miền Bắc” của Trần Văn Trị. Trong
giáo trình này tác giả đã nêu lên những quan điểm chính về kiến tạo miền Bắc
Việt Nam, đặc biệt ở hệ uốn nếp Tây Bắc với đới phức nếp lồi Sông Hồng và
đới phức nếp lồi Sông Mã [13].
Trong cuốn “Cảnh quan địa lý miền Bắc Việt Nam” của Vũ Tự Lập, tác
giả đã đưa ra hệ thống phân loại các kiểu địa hình miền Bắc Việt Nam. Từ đó có
cách phân loại phù hợp cho địa hình núi khu vực Tây Bắc [17].
Trong giáo trình “Địa lí tự nhiên Việt Nam 2 (phần khu vực)” của Đặng
Duy Lợi. Trong giáo trình này tác giả đã nêu lên cấu trúc địa chất, lịch sử phát
triển, đặc điểm địa hình và tác động của địa hình Tây Bắc tới các thành phần tự
nhiên trong khu [15].
Trong những công trình khoa học địa lí tiêu biểu của Lê Bá Thảo, có công
trình nghiên cứu về miền núi và con người, giúp cho chúng ta thấy được nguồn
gốc phát sinh của miền núi, hình thái học miền núi.
Luận án “Thiết lập cơ sở địa lý học phục vụ tổ chức lãnh thổ, sử dụng

hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường vùng Tây Bắc Việt Nam" của tác giả Phan
Hoàng Linh, đã phân tích rõ đặc điểm tự nhiên của khu vực Tây Bắc.
Luận văn “Nghiên cứu tiềm năng Tây Bắc phát triển du lịch” của tác giả
Lê Minh An đã phân tích tiềm năng của địa hình khu Tây Bắc phát triển du lịch.


8

Trong đề tài nghiên cứu về “Động đất ở khu vực Tây Bắc Việt Nam” của
tác giả Ngô Thị Ươm, trong chương 1 tác giả đã nghiên cứu về đặc điểm tự
nhiên của khu vực Tây Bắc.
Như vậy các công trình nghiên cứu nói trên chủ yếu đi vào nghiên cứu về
nguồn gốc hình thành, cấu trúc địa chất, địa hình và lịch sử phát triển khu vực
địa hình núi Tây Bắc, từ đó thấy được tác động của địa hình tới các thành phần
tự nhiên khác, đồng thời thấy được tác động trở lại của các thành phần tự nhiên
và con người tới địa hình. Đề xuất ra một số giải pháp khai thác và sử dụng hợp
lý cho khu vực địa hình núi ở Tây Bắc.
3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Khóa luận tập trung vào nghiên cứu cơ sở lí luận về địa hình núi như:
khái niệm, nguồn gốc hình thành, đặc điểm và phân loại của địa hình núi. Từ đó
tìm hiểu đặc điểm, nguồn gốc – lịch sử hình thành và cấu trúc địa hình núi Tây
Bắc Việt Nam, và tác động của các thành phần tự nhiên, con người đến địa hình
núi Tây Bắc. Đồng thời thấy được tiềm năng, ý nghĩa của địa hình núi Tây Bắc
trong phát triển kinh tế và đề ra phương hướng khai thác và sử dụng hợp lý địa
hình núi Tây Bắc
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về địa hình núi.
- Nghiên cứu về đặc điểm, nguồn gốc – lịch sử hình thành và cấu trúc địa
hình núi Tây Bắc Việt Nam.

- Nghiên cứu tác động của các thành phần tự nhiên và con người đến địa
hình núi Tây Bắc.
- Tiềm năng, ý nghĩa của địa hình núi Tây Bắc trong phát triển kinh tế.
- Đề ra một số giải pháp khai thác và sử dụng hợp lý địa hình núi Tây
Bắc.


9

4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Địa hình núi Tây Bắc Việt Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung: Nghiên cứu về đặc điểm, nguồn gốc – lịch sử hình
thành, cấu trúc địa hình núi Tây Bắc Việt Nam và tác động của các thành phần
tự nhiên và con người đến địa hình khu vực núi Tây Bắc.
Phạm vi không gian:
Không gian địa lý của vùng Tây Bắc hiện chưa có sự thống nhất. Một số
ý kiến cho rằng đây là vùng phía nam (hữu ngạn) sông Hồng. Một số ý kiến lại
cho rằng đây là vùng phía tây của dãy núi Hoàng Liên Sơn.
Theo Lê Bá Thảo, vùng Tây Bắc được giới hạn ở phía đông bởi dãy núi
Hoàng Liên Sơn và ở phía tây là dãy núi Sông Mã.
Theo phương án phân vùng lãnh thổ của Viện chiến lược phát triển (đã
điều chỉnh ranh giới năm 2001 và năm 2004) cũng như theo các nghiên cứu gần
đây nhất về vùng Tây Bắc của Nguyễn Quang Mỹ và Viện nghiên cứu môi
trường và phát triển bền vững: lãnh thổ vùng Tây Bắc bao gồm 4 tỉnh Hòa Bình,
Sơn La, Điện Biên và Lai Châu.
Trong khuôn khổ khóa luận, giới hạn lãnh thổ nghiên cứu vùng Tây Bắc
được giới hạn ở phía đông bởi dãy núi Hoàng Liên Sơn và ở phía tây là dãy núi
Sông Mã.

5. Quan điểm, phương pháp nghiên cứu
5.1. Quan điểm nghiên cứu
5.1.2. Quan điểm lãnh thổ
Bất kì một đối tượng địa lí nào đều gắn với một không gian cụ thể, đó
chính là tính không gian của địa lí. Trong không gian đó, các đối tượng địa lí
được phản ánh những đối tượng đặc trưng của lãnh thổ, phân biệt lãnh thổ này
với lãnh thổ khác. Trong một không gian cụ thể, các đối tượng địa lí có các quy


10

luật hoạt động riêng gắn bó và phụ thuộc chặt chẽ vào đặc điểm của lãnh thổ đó.
Do đó, quan điểm lãnh thổ là một quan điểm đặc thù của địa lí học.
Áp dụng quan điểm lãnh thổ vào quá trình nghiên cứu, ta cần nghiên cứu
về đặc điểm, nguồn gốc hình thành, cấu trúc đại chất – lịch sử phát triển, và
thành phần tự nhiên của địa hình núi Tây Bắc như một lãnh thổ nhất định, trong
đó có mối quan hệ tác động qua lại phụ thuộc lẫn nhau giữa yếu tố địa hình và
thành phần tự nhiên như: khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng – sinh vật, đồng thời là
mối quan hệ qua lại giữa lãnh thổ miền Tây Bắc với các lãnh thổ lân cận. Và bất
cứ một sự thay đổi nào của một thành phần tự nhiên của lãnh thổ nghiên cứu
đều có ảnh hưởng tới khu vực và lãnh thổ xung quanh. Đây là một vấn đề đáng
quan tâm trong khi nghiên cứu, khai thác và sử dụng lãnh thổ mà con người
trong thời đại ngày nay cần đặc biệt lưu ý.
5.1.1. Quan điểm tổng hợp
Mỗi một thành phần tự nhiên đều có những quy luật và đặc thù riêng,
nhưng chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và tác động vao nhau một cách
sâu sắc. Mỗi một thành phần là một thành phần nhỏ của một thành phần khác
lớn hơn, nhưng lại là tổng thể của các thành phần khác nhỏ hơn. Vì vậy khi nhìn
nhận một vấn đề phải đứng trên quan điểm tổng hợp để thấy được sự tác động
qua lại lẫn nhau giữa các thành phần, và để thấy được sự kìm hãm của các thành

phần đó.
Nghiên cứu về: “ Nghiên cứu đặc điểm địa hình núi Tây bắc Việt Nam”
nhằm hiểu rõ hơn về nguồn gốc hình thành địa hình núi trên bề mặt Trái Đất
cũng như những đặc điểm, cấu trúc – lịch sử phát triển một địa hình núi trên thế
giới cũng như ở Việt Nam, mà đặc biệt trong địa hình núi Tây Bắc Việt Nam.
5.1.3. Quan điểm lịch sử và viễn cảnh
Bất kì đối tượng địa lí nào cũng có nguồn gốc phát sinh, quá trình tồn tại
và phát triển. Các biến động đều xảy ra trong điều kiện địa lí nhất định và
những xu hướng nhất định. Xu hướng phát triển của chúng là đi từ quá khứ đến


11

hiện tại và hướng tới tương lai. Với quan điểm lịch sử - viễn cảnh ta sẽ nhìn
thấy đối tượng trong quá khứ, liên hệ đến hiện tại và sau đó phát họa bức tranh
toàn cảnh cho sự phát triển trong tương lai.
Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về đặc điểm địa hình núi
cũng như cấu trúc, lịch sử phát triển và ảnh hưởng của nó tới thành phần tự
nhiên khác trong các khu vực khác nhau. Ở Việt Nam đề tài về đặc điểm địa
hình núi cũng đang được nghiên cứu khá nhiều. Khi chúng ta nghiên cứu một
vấn đề chúng ta cần có cái nhìn về lịch sử để hiểu rõ hơn về đề tài và từ đó giúp
chúng ta nghiên sâu và rõ hơn về tương lai. Lãnh thổ Việt Nam với 3/4 diện tích
là đồi núi, chủ yếu là đồi núi thấp. Đặc biệt có Tây Bắc được đánh giá là khu
vực có địa hình núi cao, mở rộng, chia cắt mạnh và đồ sộ nhất so với các khu
địa lí khác ở Việt Nam. Đồng thời đây cũng là khu có cấu tạo địa chất được hoạt
hóa nhiều lần và hoạt động tân kiến tạo được nâng lên mạnh nhất ở Đông
Dương. Chính những đặc điểm địa hình núi Tây Bắc nói trên đã chi phối, ảnh
hưởng tới các thành phần tự nhiên khác trong khu vực và tạo cho Tây Bắc có
nhiều tiềm năng, lợi thế phát triển kinh tế, đặc biệt là lĩnh vực du lịch.
5.1.5. Quan điểm thực tiễn

Thực tiễn là một trong những cơ sở để đề tài hướng vào đó mà nghiên
cứu và kết quả nghiên cứu lại được áp dụng vào thực tiễn.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
5.2.1. Phương pháp thực địa
Việc tiếp cận với đối tượng nghiên cứu cho phép thu nhận trực tiếp những
thông tin cập nhật, cụ thể mà các tài liệu thành văn cũng như bản đồ không có
ưu thế hơn. Với phương pháp này, giúp chúng ta có thể chủ động quan sát, điều
tra, ghi chép, chụp ảnh, phỏng vấn nhân dân địa phương và những người làm
việc hay cơ quan có liên quan đến địa hình núi Tây Bắc. Các kết quả điều tra
thực địa là cơ sở quan trọng để thẩm định lại số liệu nhận định trong quá trình
nghiên cứu.


12

5.2.2. Phương Pháp thu thập và xử lí số liệu, tài liệu
Đây là phương pháp truyền thống được sử dụng trong nghiên cứu nói
chung và trong nghiên cứu địa lí tự nhiên nói riêng. Dựa vào số liệu đã thu thập
được tiến hành phân tích, so sánh, đối chiếu và cân đối các chỉ tiêu, nội dung,
hiện tượng có quan hệ với nhau trong tổng thể.
Tiến hành thu thập những tài liệu có liên quan đến đặc điểm địa hình núi
Tây Bắc Việt Nam. Dựa trên nền tảng các tài liệu của công trình nghiên cứu,
sách báo, báo cáo của tổng cục địa chất, khoáng sản Việt Nam, Viện Địa Lý,
….em đã tiến hành phân tích, tổng hợp, thông tin theo mục đích và nhiệm vụ
của đề tài.
5.2.3. Phương pháp phân tích, tổng hợp so sánh
Phương pháp này được thực hiện ngay sau khi đã thu thập được tài liệu.
Việc sử dụng phương pháp này có ý nghĩa quan trọng trong xử lí các tài liệu,
phân tích, tổng hợp, so sánh và cho ra một kết quả cuối cùng.
Đây là nhóm phương pháp rất qaun trọng được sử dụng trong quá trình

thực hiện đề tài. Dựa trên những tài liệu đã thu thập được, sử dụng phương pháp
thống kê, xử lí số liệu tiến hành phân tích đặc điểm, nguồn gốc hình thành, cấu
trúc địa chất – lịch sử phát triển và ảnh hưởng của địa hình núi đến các thành
phần tự nhiên khác trong khu vực địa hình núi Tây Bắc Việt Nam. Tổng hợp lại
những giai đoạn lịch sử phát triển cùng với các chu kì vận động kiến tạo phát
triển địa hình núi Tây Bắc.
6. Cấu trúc khóa luận
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung chính của khóa luận được
chia thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc nghiên cứu về đặc điểm
địa hình núi Tây Bắc Việt Nam.


13

Chương 2: Đặc điểm địa hình núi Tây Bắc và một số đơn vị địa hình
chính.
Chương 3: Tác động của các thành phần tự nhiên và con người đến khu
vực địa hình núi Tây Bắc. Đề xuất một số biện pháp khai thác và sử dụng hợp lý
địa hình núi Tây Bắc.

PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU ĐẶC
ĐIỂM ĐỊA HÌNH NÚI TÂY BẮC VIỆT NAM
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Các khái niệm
1.1.1.1. Khái niệm địa hình
Theo N.V. Basenina (1967), đưa ra định nghĩa: “Địa hình là một tập hợp
có quy luật của các dạng trung địa hình, được quyết định do hướng và lịch sử

phát triển kiến tạo, do cấu trúc bên trong, do tính chất của quá trình bóc mòn
hay bồi tụ và giai đoạn phát triển”[17; 116].
Theo I.X.Sukin, cho rằng: “Địa hình là thể tổng hợp các dạng dương và
âm khác nhau, liên quan tới nhau về mặt phát sinh và phát triển, dưới tác động
của cùng một tổng hợp thể các lực tạo thành địa hình, trong một mối tương
quan giữa các nhân tố nội lực và ngoại lực thay đổi một cách đồng nhất trong
thời gian và cuối cùng là ở một giai đoạn phát triển nhất định” [17; 116].


14

Địa mạo học xem địa hình như những sự vật có phát sinh, phát triển theo
logic tiến hóa và là kết quả của tác động tương hỗ và đồng thời lên bề mặt Trái
Đất của các quá trình nội sinh và ngoại sinh. Hai nhóm động lực này luôn đồng
thời tồn tại và gây những tác động ngược nhau đối với mặt đất. Tùy thuộc vào
tương quan mạnh yếu giữa chúng mà địa hình mặt đất sẽ phát triển theo những
khuynh hướng khác nhau [1;8].
Ngày nay, địa hình là một khái niệm được sử dụng rộng rãi trong khoa
học và đời sống để mô tả diện mạo bề mặt lớp vỏ cứng của Trái đất. Nó là tập
hợp của vô vàn những thể gồ ghề, lồi lõm hoặc tương đối bằng phẳng, phân
cách với nhau bởi những đường ranh giới rõ ràng, tức là tập hợp của các dạng
địa hình. Ví dụ như quả đồi, con sông, gò đất, quả núi, đụn cát, bãi bồi,…[1;11].
Từ định nghĩa về địa hình của N.V. Basenina và I.X.Sukin, tôi nhận thấy
địa hình phải đồng nhất về bốn phương diện mà khi đã thay đổi một mặt nào đó
thì sẽ sang một kiểu địa hình khác, đó là:
1. Tập hợp các dạng trung địa hình âm và dương.
2. Cấu tạo địa chất cùng với hướng và cường độ của các quá trình kiến
tạo, nhất là Tân kiến tạo (nội lực).
3. Tính chất của các quá trình ngoại lực.
4. Giai đoạn phát triển.

Một tập hợp các dạng trung địa hình thì thường bao gồm nhiều dạng, nên
tương quan về số lượng, diện tích và vị trí đều phải được chú ý, bởi đặc điểm
này sẽ quyết định cấu trúc ngang của cảnh, nghĩa là quyết định tập hợp các dạng
địa lí chủ yếu và thứ yếu để cấu tạo nên cảnh quan.
Theo phương diện thứ hai thì ở những nơi sụt võng, nơi tương đối yên
tĩnh, hay những nơi được nâng lên sẽ hình thành các kiểu địa hình khác nhau
trong các khu vực đồng hướng. Ví dụ như tại khu vực Tân kiến tạo nâng lên, với
cường độ nâng lên từ yếu, trung bình, mạnh, rất mạnh, đã là cơ sở để phân ra
các địa hình đồi, núi thấp, núi trung bình, núi cao.


15

Kiểu địa hình được dựa vào tác động của các quá trình ngoại lực như thủy
triều, sóng, gió, trọng lực, cacxto, sinh vật và con người,… Khi có quá trình ưu
thế rõ rệt, thì dựa vào tính chất ưu thế đó để xác định kiểu địa hình, nhưng gặp
trường hợp có hai ba quá trình cũng chi phối, khó phân biệt chính phụ, ta sẽ coi
như một kiểu riêng, kiểu hỗn hợp: sông – hồ, sông – biển, hòa tan – sụt lở,…
Các giai đoạn phát triển của cùng một quá trình cũng tạo nên các kiểu địa
hình khác nhau.
1.1.1.2. Khái niệm về nguồn gốc địa hình
Từ thời kì Phục Hưng, do những phát hiện của nghề khai khoáng, địa chất
học và một số khoa học tự nhiên khác, bắt đầu có những tư duy khoa học về
nguồn gốc địa hình.
Địa mạo học hiện đại đã giải thích được quá trình quá trình phát sinh,
phát triển và quy luật phân bố của phần lớn các dạng địa hình trên bề mặt Trái
đất, từ cỡ lớn nhất là các khối lục địa và bồn địa đại dương đến những dạng nhỏ
hơn, thậm chí cả các dạng vi địa hình.
Cũng như mọi sự vật trong tự nhiên, các dạng địa hình cũng là những
thành tạo có phát sinh, phát triển và cuối cùng thoái hóa để tạo ra những dạng

địa hình khác. Nói cách khác, toàn bộ sự đa dạng muôn màu muôn vẻ của địa
hình có thể được hệ thống hóa thành những dãy phát sinh nhất định và các dạng
cụ thể quan sát được ngày nay thể hiện những giai đoạn kế tiếp nhau của chúng
trong những dãy phát sinh ấy. Sự phát sinh, phát triển phức tạp này phụ thuộc
chặt chẽ vào hai nhóm động lực chủ yếu là nội lực và ngoại lực. Các quá trình
ngoại sinh như quá trình gió, các loại dòng chảy của nước trên mặt, sóng biển,
sóng hồ, các quá trình do hoạt động của băng tuyết, sinh vật,… còn các quá
trình nội sinh bao gồm vận động kiến tạo của vỏ Trái đất, các quá trình lí hóa
trong lòng đất, hoạt động của núi lửa, động đất, và cấu trúc địa chất. Hai nhóm
động lực này luôn luôn cùng tồn tại, tranh giành ảnh hưởng với nhau và gây ra
những tác dụng ngược nhau đối với địa hình. Tương quan giữa chúng quyết


16

định sự vận chuyển vật chất trên bề mặt và trong lớp vỏ quả đất, đồng thời quy
định sự xuất hiện của các dạng địa hình trong từng trường hợp cụ thể.
Tuy nhiên, trong cơ chế thành tạo các địa hình dạng cỡ lớn như các hệ
thống núi, các miền đồng bằng rộng lớn, các đại lục, đại dương, còn có những
điều mang tính giả thuyết. Những giả thuyết ấy thường dựa trên cơ sở học
thuyết kiến tạo địa máng, trong đó vai trò chủ yếu thuộc về vận động thẳng
đứng, còn vận động ngang chỉ được xem như hợp phần thứ yếu.
1.1.1.3. Khái niệm về tuổi địa hình
Xác định tuổi địa hình là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của khoa
học địa mạo. Bởi vì nó cho phép khôi phục được lịch sử phát triển của địa hình,
thấy được những giai đoạn phát triển kế tiếp nhau mà nó trải qua, nghĩa là giải
quyết được những vấn đề cổ địa lí nói chung và cổ địa mạo nói riêng.
Tuổi địa hình là khoảng thời gian, trong đó nó đã được hình thành và các
dạng của nó vẫn còn giữ được những đường nét chính cho tới ngày nay. Như
vậy, khi nói tới tuổi địa hình tức là nói tới tuổi của địa hình cổ mà bây giờ ta còn

thấy được dạng tương đồng, dạng gần giống của nó. Điều đó dễ hiểu bởi vì địa
hình luôn luôn biến đổi do chịu tác động liên tục của các quá trình ngoại sinh và
nội sinh, còn nếu như một dạng địa hình đã bị biến đổi hoàn toàn thì nó đã trở
thành dạng địa hình khác và tuổi của dạng địa hình mới này cũng đã khác hẳn
[1;17].
Tuổi của dạng địa hình có thể khác với tuổi của các bộ phận thành phần
của chính nó, ngay ở một nơi các dạng địa hình thuộc những cấp khác nhau lại
có tuổi khác nhau.
Dạng địa hình bóc mòn việc xác định tuổi gặp khó khăn bởi vì bề mặt địa
hình không trùng với bề mặt đất. Vì vậy phải xác định gián tiếp qua tuổi của
trầm tích đồng sinh với bề mặt bào mòn của địa hình.


17

Dạng địa hình tích tụ, tuổi địa hình được xác định dễ dàng hơn bởi vì bề
mặt địa hình trùng với bề mặt đại chất, nghĩa là nếu xác định được tuổi địa chất
của trầm tích thì sẽ xác định được tuổi của bản thân dạng của địa hình tích tụ.
Đối với dạng địa hình bị chôn vùi, tuổi của nó được xác định theo tuổi
của trầm tích phủ trên và trầm tích nằm dưới bề mặt của nó.
1.1.1.4. Khái niệm núi
Theo Phùng Ngọc Đĩnh, Núi là dạng địa hình dương có độ cao tương đối
trên 200m so với các địa hình tạo mặt bằng xung quanh. Trên bản đồ địa hình,
nó được giới hạn bề mặt bởi các đường bình độ khép kín tăng dần trị số vào
trung tâm. Trên mặt cắt, nó tạo nên khúc gãy chuyển một cách đột ngột từ sườn
núi sang địa hình xung quanh. Núi có thể đứng đơn lẻ hoặc tập hợp thành dãy
núi, vùng núi, hoặc miền núi hoặc rộng lớn hơn tạo nên cảnh quan miền núi
[11;135]
Miền núi là khu vực rộng lớn của bề mặt Trái đất, được nâng cao trên mặt
nước biển – đại dương hoặc đồng bằng lân cận, bao gồm tập hợp các ngọn núi,

dãy núi, khối núi, dải núi, đặc điểm nổi bật là có độ chia cắt ngang và chia cắt
sâu rất lớn. Chia cắt ngang là mức độ chia cắt bề mặt khu vực theo chiều ngang,
được thể hiện bởi mật độ lưới sông, suối trong khu vực, đơn vị tính là km/km 2.
Chia cắt sâu là chênh lệch độ cao giữa đỉnh núi với bề mặt xâm thực địa phương
(thường là đáy các thung lũng sông suối trong khu vực). Độ chia cắt sâu lớn
đồng nghĩa với năng lượng địa hình của khu vực cũng lớn tương ứng [11; 135 –
137].
Dãy núi là tập hợp của nhiều ngọn núi nằm kề liên tục với nhau có đường
sống núi và đường phân thủy thống nhất và kéo dài dạng tuyến [1;239]. Một số
dãy núi điển hình ở Việt Nam như dãy Hoàng Liên Sơn, dãy Bạch Mã,…
Dải núi (hệ thống núi) là tập hợp của nhiều dãy núi tạo thành một thể
thống nhất có liên quan với nhau về nhiều mặt [1;239]. Ví dụ như dải An đét
(Andes), dải Trường Sơn Úc,…


18

Khối núi là tập hợp của nhiều ngọn núi liên tục theo dạng khối [1;239].
Ví dụ như khối núi Ahacga trong hoang mạc Xahara.
Cao nguyên là những nơi có bề mặt tương đối bằng phẳng hoặc lượn sóng
có diện tích phân bố đáng kể, có độ cao từ vài trăm mét trở lên tạo vách rõ khi
chuyển sang các địa hình xung quanh, và thường có cấu trúc đơn giản, các lớp
đá gần nằm ngang [8;151]. Ví dụ như cao nguyên Sơn La, cao nguyên Mộc
Châu.
Sơn nguyên là những khu vực rộng lớn trên bề mặt Trái đất gồm các cao
nguyên, các dãy núi và khối núi bị chia cắt bởi các thung lũng hoặc các lòng
chảo rộng lớn, các thung lũng sông, bồn địa nhỏ,…[8;152]
1.1.2. Nguồn gốc phát sinh địa hình núi
Hơn một thế kỉ nay, các nhà bác học đã đưa ra nhiều ý kiến để cắt nghĩa
về quá trình tạo núi. Có người cho rằng núi được tạo nên là do Trái đất nguyên

ngày xưa là một khối lửa khổng lồ bị nguội dần đi. Và vì nguội đi như thế nên
bề mặt Trái Đất phải “co rút” lại để cho phù hợp với thể tích của nhân Trái Đất
phải thu nhỏ đi. Vì vậy mà xuất hiện trên bề mặt Trái Đất những nếp nhăn có
kích thước lớn mà bây giờ chúng ta gọi là núi.
Nhiều nhà khoa học lại đưa ra ý kiến độc đáo khác như ý kiến về lục địa
trôi, về phóng xạ, về trọng lực,…Các ý kiến đó đều có giá trị khoa học của
chúng nhưng chưa giải quyết được triệt để vấn đề tạo núi.
Đến ngày nay, người ta cho rằng núi được tạo nên chủ yếu từ hai nguồn
phát sinh chính là nội lực và ngoại lực. Nếu như nội lực chiếm ưu thế thì độ cao
tương đối và độ cao tuyệt đối của núi tăng, các thung lũng bị chia cắt sâu hơn,
sườn trở nên dốc mạnh, tác động xâm thực hay xói mòn lớn. Trái lại, nếu như
ngoại lực chiếm ưu thế thì địa hình hạ thấp xuống, các đỉnh núi bị san bằng đi
nhanh chóng, sườn thoải ra, quá trình xâm thực giảm bớt, sông có độ dốc kém.
Nếu quá trình hạ thấp cứ tiếp tục thì đến một lúc nào đó, chúng ta sẽ thấy một
bề mặt không phù hợp với bề mặt của các vỉa đá cấu tạo. Đỉnh của các nếp uốn


19

hình như bị một lưỡi dao vô hình phạt ngang. Bề mặt của chúng được gọi là bề
mặt san phẳng và bản thân miền núi cũng trở thành một bán bình nguyên.
1.1.2.1. Nguồn gốc nội lực
Nội lực là quá trình hình thành địa hình liên quan tới các nguồn nhiệt tạo
ra trong thạch quyển. Nguồn nhiệt này sinh ra do quá trình phân hủy các nguyên
tố phóng xạ (urani, thori), do các phản ứng hóa học tỏa nhiệt, do thay đổi mật
độ vật chất theo quy luật trọng lực. Sự tăng nhiệt độ cao làm vật chất nóng chảy,
tăng thể tích. Quá trình này dẫn tới các đá trầm tích bị uốn nếp hoặc nứt vỡ làm
thay đổi cấu trúc ban đầu tạo nên cấu trúc mới từ đó làm biến đổi bề mặt của
thạch quyển.
Trong quá trình tạo núi, vận động kiến tạo đóng vai trò chủ yếu. Qua

nghiên cứu, các nhà bác học cho rằng: núi và vật chất tạo núi là đá, được cấu tạo
từ trong lòng đất mà ra, dưới ảnh hưởng của các lực bắt nguồn từ các vận động
của vật chất bên trong Trái Đất. Những lực tạo núi đó có tên là nội lực. Biểu
hiện của nội lực chính là các dao động và các vận động tạo núi. Hoạt động của
núi lửa và của các trận động đất là những biểu hiện cụ thể nhất của nội lực đang
làm thay đổi địa hình của miền núi.
Chẳng khác gì một người khổng lồ bị lớp vỏ rắn bên ngoài của Trái Đất
đóng đai lại, khối mắc-ma nóng chảy ở bên trong luôn luôn cựa quậy và vùng
vẫy tìm cách thoát ra bên ngoài, đẩy những khối trầm tích dày hàng chục
kilomet lên thành núi.
Hiện nay, tồn tại hai quan điểm khác nhau về quá trình tạo núi do nội lực
tạo thành. Đó là quan điểm của thuyết kiến tạo “Địa máng” và quan điểm của
thuyết “kiến tạo mảng”[8]
Theo quan điểm của thuyết kiến tạo “Địa máng” cho rằng miền núi ứng
với miền có quá trình tạo núi. Đó là miền đã diễn ra các pha nâng cao uốn nếp
tạo núi sau thời kì sụt lún mạnh của địa máng. Miền núi còn có thể hình thành
bởi các đứt gãy sâu dạng khối trong các miền nền hình thành từ trước do ảnh


20

hưởng của các pha nâng cao uốn nếp của các địa máng nằm liền kề. Địa hình
miền núi hiện nay là kết quả của quá trình nâng cao Tân kiến tạo diễn ra từ kỉ
Neogen tới ngày nay (N – Q) với cường độ nâng cao lớn hơn cường độ bóc mòn
bồi tụ.
Theo quan điểm của thuyết “kiến tạo mảng” thì miền núi được hình
thành do sự va chạm giữa các mảng thạch quyển khi di chuyển ngược chiều
nhau hoặc do quá trình tách giãn trong nội bộ mảng ở lục địa. Khi hai mảng
thạch quyển va chạm nhau sẽ dẫn tới hiện tượng một mảng luồn xuống, mảng
kia chờm lên trên. Mảng chờm lên do lực cân bằng đẳng tĩnh nên được dâng cao

và các đá bị uốn nếp, đứt gẫy.
1.1.2.2. Nguồn gốc ngoại lực
Trong quá trình tạo núi vận động kiến tạo đóng vai trò chủ yếu, tuy nhiên
các quá trình ngoại lực cũng góp phần khá quan trọng.
Ngoại lực là quá trình tạo địa hình, diễn ra trên bề mặt hoặc ở độ sâu
không lớn của thạch quyển. Nguồn năng lượng chủ yếu là năng lượng mặt trời
và sự phân dị trọng lực của vật chất. Dưới tác dụng nhiệt của mặt trời, đá trên bề
mặt thạch quyển bị phá hủy. Sự luân chuyển của khí quyển và thủy quyển đã di
chuyển vật liệu phá hủy tới nơi khác, tích tụ lại và làm thay đổi địa hình vốn do
quá trình nội lực sinh ra.
Trong quá trình tạo núi vai trò của ngoại lực được thể hiện rõ nét trong độ
cao cũng như tính phân tầng của địa hình núi.
Thứ nhất về độ cao núi. Từ lâu người ta đã nhận thấy những đỉnh núi cao
nhất trên cùng một đới khí hậu thường xấp xỉ bằng nhau. Điều này nói lên sự
phụ thuộc của độ cao miền núi với khí hậu và được giải thích như sau: Cùng với
quá trình nâng lên tạo núi, tốc độ bóc mòn cũng ngày một tăng cho đến một lúc
tốc độ của cả hai quá trình đối lập kia vừa bằng nhau thì núi không tiếp tục cao
lên nữa. Độ cao đó của đỉnh núi duy trì cho đến khi tốc độ nâng lên thua tốc độ
bóc mòn. Tốc độ bóc mòn phụ thuộc trước hết vào các điều kiện khí hậu, sau đó


21

trong một chừng mực nhất định còn phụ thuộc cả vào độ cứng của đá thành tạo
trên núi. Vì vậy ngay trong cùng một đới khí hậu các đỉnh núi cao nhất cũng có
sai biệt nhất định về độ cao, mặc dù như trên đã nói chúng thường cao xấp xỉ
như nhau.
Độ cao tối đa của đỉnh núi thường bắt gặp ở vành đai chí tuyến, vì ở đây
thiếu tác nhân bóc mòn chủ yếu là nước.
Thứ hai là tính phân tầng của địa hình núi. Sự thay đổi của khí hậu không

chỉ diễn ra theo vĩ độ mà còn diễn ra theo cả độ cao. Điều đó đã ảnh hưởng tới
địa hình và là nguyên nhân của việc phân chia địa hình núi thành một số tầng
với những đặc trưng riêng biệt của chúng. Hiện tượng này được nghiên cứu kĩ
hơn ở vùng ôn đới, bao gồm 3 tầng:
Tầng băng hà bắt đầu từ trên đường ranh giới tuyết hiện đại. Trong phạm
vi tầng này đang hình thành những đấu băng, những đỉnh hình tháp.
Tầng ngoại vi băng hà bắt đầu từ trên đường ranh giới rừng cho đến
đường ranh giới tuyết vĩnh cửu. Ở đây quá trình phong hóa vật lí diễn ra rất
mạnh. Các vật liệu phong hóa rơi xuống dưới tác dụng của trọng lực hay được
cuốn đi nhờ nước mưa và nước tuyết tan trong điều kiện độ dốc lớn và thực vật
thưa thớt. Trong phạm vi của tầng này người ta tìm thấy những địa hình băng hà
hình thành từ Pleixtoxen đang bị các quá trình ngoại lực khác phá hủy.
Tầng ôn đới là tầng có thực vật và đất che phủ. Đỉnh núi tròn, sống núi
rộng. Hiện tượng rửa trôi trên sườn và đào sâu lòng sông, suối là quá trình địa
mạo chủ yếu.
Theo nhiều tác giả, việc có mặt hay không của tầng băng hà và ngoại vi
băng hà là tiêu chuẩn quan trọng nhất để phân biệt núi cao và núi trung bình. Vì
vị trí của tầng địa hình nói trên có quan hệ chặt chẽ với điều kiện khí hậu địa
phương, nên không thể có một độ cao tuyệt đối được dùng là tiêu chuẩn để phân
định núi cao và núi trung bình ở mọi khu vực trên Trái đất. Điều này giải thích
vì sao có sự sai khác rất lớn về ranh giới này: 1500m – 2000m – 2500m.


22

1.1.2.3. Mỗi quan hệ giữa nội lực và ngoại lực
Nhìn chung các quá trình nội lực có khuynh hướng tăng tính gồ ghề của
bề mặt thạch quyển, còn các quá trình ngoại lực thì có khuynh hướng ngược lại.
Và trong quá trình hình thành địa hình, thông thường ứng với dạng địa hình lớn
thì nội lực đóng vai trò chủ yếu, còn đối với dạng địa hình nhỏ thì vai trò chủ

yếu là ngoại lực.
Mặc dù các quá trình nội lực và ngoại lực đối lập nhau, song chúng vẫn
ảnh hưởng lẫn nhau để phát triển. Ở những nơi vỏ Trái Đất hạ thấp, quá trình
tích tụ phát triển, bề dày trầm tích tăng. Chính sự tăng khối lượng trầm tích dẫn
tới vùng hạ thấp lún sâu hơn trong vỏ Trái Đất. Tại đây nhiệt độ tăng cao, các
lớp trầm tích dưới bị nóng chảy, thể tích tăng, nén ép các tầng trầm tích phía
trên nó, làm uốn nếp rồi nâng cao bề mặt đất.
Trong sự hình thành núi, các quá trình ngoại lực không ngừng phá hủy đá
rồi vận chuyển đi đến nơi khác ngay từ khi quá trình nâng cao. Nhưng sở dĩ núi
vẫn tiếp tục nhô cao hơn trước chính là do tốc độ nâng cao lớn hơn tốc độ của
các quá trình ngoại lực.
1.1.3. Phân loại địa hình núi
Theo Phùng Ngọc Đĩnh và Đào Đình Bắc núi được phân loại theo độ cao
và theo nguồn gốc [1;8].
Dựa vào độ cao núi được chia ra làm ba loại là núi cao, núi trung bình,
núi thấp.
Núi cao: là núi có độ cao tuyệt đối từ 3000m trở lên hoặc cao hơn đường
tuyết nếu ứng với các vùng vĩ độ cao (đới ôn hòa hoặc đới lạnh). Độ phân cắt
sâu đạt tới 1000m, sườn dốc, đỉnh dạng tháp nhọn. Đôi khi trên đó còn bảo tồn
các phần vết tích của bề mặt san bằng bóc mòn nguyên vẹn chưa bị phân cắt.
Giữa các đỉnh núi cao là thung lũng hẹp trắc diện dọc dốc. Địa hình núi kiểu
Anpơ là đặc trưng địa hình núi cao.


23

Núi trung bình: núi có độ cao tuyệt đối từ 2000m – 3000m, chúng có thể
tập trung tạo nên một miền riêng biệt hoặc phân bố ở rìa các vùng núi cao.
Trong vùng địa hình núi trung bình các vết tích bề mặt san bằng tương đối rõ và
phân bố rộng rãi. Hình thái bề mặt đỉnh thường tròn và rộng phát triển các sản

phẩm tàn tích và sườn tích.
Núi thấp: núi có độ cao không đáng kể tạo nên một mực thấp nhất của địa
hình miền núi. Có ý kiến cho rằng núi thấp có độ cao tuyệt đối khoảng 1000m
trở xuống, hoặc núi thấp có thể đạt tới độ cao 2000m trên mực nước đại dương.
Trừ một số núi thấp mang tính chất tàn dư hoặc núi sót. Nhìn chung địa hình núi
thấp được hình thành chủ yếu liên quan tới vận động tạo núi cường độ nhỏ. Núi
thấp có thể tạo nên các diện tích phân bố độc lập hoặc ở phần rìa của miền núi
cao hoặc núi trung bình. Vết tích của bề mặt san bằng rát phổ biến và bảo tồn tốt
trong vùng núi thấp. Về hình thái bình thường có bề mặt đỉnh rộng và tròn, sườn
thoải và thung lũng rộng.
Theo cách phân loại trên, ở Việt Nam nhóm địa hình đồi núi rất phong
phú, từ cao xuống thấp có các kiểu địa hình núi cao, núi trung bình, núi thấp,
sơn nguyên, cao nguyên, đồi và bán bình nguyên.
Kiểu núi cao : có độ cao tuyệt đối trên 2500m, chiếm tỉ lệ diện tích rất
nhỏ tập trung ở khu vực Tây Bắc, nhưng rất đáng chú ý vì chúng có hệ thống
đai cao địa lí đầy đủ nhất cần phải nghiên cứu kỹ, nếu thực sự muốn tìm hiểu về
đặc điểm của tự nhiên Việt Nam. Do được nâng mạnh tới trên 2000m và do tính
chất cứng rắn của đá cấu tạo, chủ yếu là granit và xyenit mà chúng có địa hình
sắc sảo kiểu Anpo chứ không dạng vòm như núi nâng Tân kiến tạo khác, điển
hình là đỉnh phanxipang cao 3143m, với nhiều răng cưa hẹp, có nơi chỉ đủ đặt
bước chân người, nhiều mũi kim nhọn hoắt, dốc đứng.
Sườn núi rất dốc, đến 35 – 40 0 nhất là ở nơi gần đỉnh và dưới chân, giáp
với các thung lũng, độ dốc có khi tới 45 – 50 0 hay hơn nữa. Sự dao động về độ
cao tương đối cũng rất lớn, so với các thung lũng dưới chân độ cao của đỉnh


24

chênh tới 1500 – 2000m, có nơi tới 3000m ( Phanxipang 3143m, Lào Cai
112m). Do đó, tại khu vực núi cao quá trình đất lở , đa lở và hoạt động xâm thực

của sông ngòi diễn ra mãnh liệt. Các thung lũng thường là những hành lang hẹp,
vách đứng, nên được gọi chúng là nhát xẻ. Trắc diện dọc lao thẳng xuống, nước
chảy xiết, hoàn toàn không có tích tụ, những nón phóng vật nhiều khi bao gồm
cả những tảng đá lớn.
Kiểu núi trung bình: có đỉnh cao từ 1500 – 2500m, phân bố tại vùng có
cường độ nâng Tân kiến tạo 1000 – 2000m, thấy ở phía Bắc, Tây Bắc, Bắc
Trung Bộ và Nam Trung Bộ. Hình dáng vòm – khối tảng khá rõ và cấu tạo chủ
yếu từ nham biến chất và macma và macma granit xâm nhập. Độ chia cắt sâu có
thể đạt 1000 – 1500m, cho nên thung lũng hẹp, sườn dốc 25 – 30 0. Do đó các
quá trình đất lở, đất trượt nhiều khi mang tính chất tai họa. Các khe rãnh phát
triển, khiến cho hình dáng sườn rất phức tạp.
Kiểu núi thấp: độ cao từ 500 – 1500m, hình thành tại các nơi có cường độ
nâng Tân Kiên tạo 500 – 1000m, gặp thấy ở khắp mọi miền, nhưng thành những
khu vực rộng lớn thì chie thấy ở khu vực Tây Bắc và Nam Trung Bộ. Ở phía
Bắc và Đông Bắc chỉ là những khối núi rời rạc trừ cánh cung Ngân sơn, còn ở
Bắc Trung Bộ chỉ là một dải hẹp biên giới Việt – Lào. Độ chia cắt sâu đã giảm
xuống 300 – 800m, độ dốc còn 15 – 20 0. Cấu trúc nham đa dạng, đủ các loại đá
trầm tích, biến chất, macma. Qúa trình tích tụ vãn yếu, vì thế thung lũng vẫn
hẹp, không thể khai thác được, trừ tại những nơi có đứt gãy mạnh cắt qua để
sông tranh thủ phá rộng.
Kiểu sơn nguyên có độ cao tuyệt đối của núi do vùng cường độ nâng Tân
kiến tạo, nhưng điểm khác nhau mấu chốt là vùng đỉnh vẫn giữ được dạng đồi
thấp lượn sóng với độ cao tương đối 25 – 100m. Nguyên nhân có thể do xâm
thực giật lùi của sông suối chưa đủ thì giờ để cắt xẻ bề mặt san bằng cổ như sơn
nguyên Đà Lạt, hoặc do tính chất nham thạch như sơn nguyên đá vôi, mà vẫn
quen gọi là cao nguyên, vì chỉ chú ý đến các cánh đồng và thung lũng cacxto,


25


không tính đến các khối núi đá vôi chiếm tỉ lệ diện tích lớn hơn bao quanh hay
ngăn cách chúng.
Kiểu cao nguyên: so với kiểu sơn nguyên thì kiểu cao nguyên có độ cao
tương đối trên bề mặt dưới 25m, đạt tiêu chuẩn của đồng bằng. Ở Việt Nam chỉ
có cao nguyên bazan, do lớp dung nham khi còn lỏng đã bao phủ hết các điểm
nhấp nhô của nền móng cũ. Mặt khác do tuổi rất trẻ, Polioxen – Đệ tứ, cho nên
xâm thực nước chảy chưa kịp chia cắt.
Kiểu đồi: có độ cao tuyệt đối 500m và độ cao tương đối 25 – 200m, sườn
dốc đến thoải 8 – 150. Ở Việt Nam, những quả đồi riêng lẻ trong lòng đồng bằng
hay đứng ven biển thì có độ cao tương đối chẳng khác gì núi. Vì thế tất cả vẫn
được gọi là núi, vì cao bao nhiêu thì chênh với đồng bằng và bờ biển bấy nhiêu.
Vùng đồi rộng nhất Việt Nam là vùng đồi Đông Bắc từ chân cánh cung Ngân
sơn đến chân cánh cung Duyên Hải. Tại vùng đồi, quá trình xâm thực bóc món
vẫn là ưu thế, nhất là tại các đồi diệp thạch, nhưng quá trình tích tụ đã mạnh lên,
đôi nơi đã có thung lũng rộng với nhiều bậc thềm và bãi bồi cho nên đã được
con người khai phá từ lâu đời.
Kiểu bán bình nguyên: hình thành tại vùng Tân kiến tạo ổn định, nơi ranh
giới giữa vùng nâng và vùng sụt. Đó là một bề mặt lượn sóng còn được gọi là
đồng bằng đồi hay đồi bằng, nói lên tính chuyển tiếp của nó giữa đồi và đồng
bằng, với độ cao tuyệt đối 100 – 200m, độ cao tương đối dưới 25m, độ dốc dưới
80. Ở Việt Nam, các bán bình nguyên hiếm, tuy nhiên vẫn thấy ở rìa các đồng
bằng lớn như ở vùng trung du Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Bắc Giang và
Đông Nam Bộ. Đôi khi cũng thấy ở miền đồi núi như vùng Ea Sup ở phía tây
Đắk Lắk, hoặc phía bên trong các đồng bằng Duyên Hải như các bán bình
nguyên ở Móng Cái, Thừa Thiên Huế, Bình Thuận.
Theo Đào Đình Bắc, dựa vào nguồn gốc hình thành thì núi được chia ra
thành núi kiến tạo, núi xâm thực và núi lửa [1;240], cụ thể như sau:



×