MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hội
chủ nghĩa đã và đang đặt ra yêu cầu mới đối với tăng cường, củng cố, rèn
luyện kỷ luật của ngành công an. Vì vậy, vấn đề xây dựng ý thức kỷ luật
của cán bộ, chiến sĩ công an nói chung, của học viên ở Học viện an ninh
nhân dân nói riêng là vấn đề đặc biệt quan trọng. Bởi lẽ, học viên ở Học
viện an ninh nhân dân là những cán bộ, sĩ quan tương lai, theo đó sau này
họ sẽ là “cái gốc” của mọi công việc, kể cả đối với nhiệm vụ tăng cường,
rèn luyện kỷ luật. Ý thức kỷ luật cao, sự gương mẫu rèn luyện, chấp hành
kỷ luật của họ là cơ sở vững chắc cho việc duy trì nghiêm kỷ luật trong
từng đơn vị và toàn ngành; là tấm gương sáng cho mọi chiến sĩ thuộc
quyền học tập, noi theo. Do đó, cần phải coi trọng việc xây dựng ý thức kỷ
luật của đội ngũ này.
Kỷ luật cũng là yếu tố cơ bản tạo thành sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ
trang nói chung, trong đó có công an, bảo đảm cho lực lượng công an hoàn thành
thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. Vì vậy, tăng cường, củng cố, rèn luyện phát
triển ý thức kỷ luật cho cán bộ, chiến sĩ công an là tất yếu khách quan trong
sự nghiệp xây dựng “Công an nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy,
tinh nhuệ, từng bước hiện đại” [7, tr.149].
Học viện An ninh nhân dân trải qua hơn 70 năm xây dựng và phát triển,
từ một trường huấn luyện công an, đào tạo nghề, đến nay Học viện An ninh
nhân dân trở thành một trong những trung tâm đào tạo đại học, sau đại học và
nghiên cứu khoa học lớn của cả nước, một trường đại học hàng đầu của
ngành Công an; Học viện cũng là một trong những đơn vị dẫn đầu về nguồn
nhân lực chất lượng cao trong hệ thống giáo dục đào tạo và nghiên cứu khoa
học của ngành Công an. Vì vậy, vấn đề xây dựng ý thức kỷ luật đối với học
3
viên ở Học viện An ninh nhân dân, luôn luôn được Đảng ủy, Ban Giám đốc Học
viện, Lãnh đạo các Khoa, phòng quan tâm sâu sắc. Do đó, trong những năm qua
tình hình kỷ luật của học viên đã đáp ứng được yêu cầu của công tác giáo dục,
đào tạo, rèn luyện của Học viện. Song, bên cạnh đó vấn đề xây dựng ý thức kỷ
luật đối với học viên ở góc độ nào đó vẫn còn hạn chế, khuyết điểm cần phải
được khắc phục đáp ứng với mục tiêu, yêu cầu đào tạo của Học viện trong thời
kỳ mới.
Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên là cơ sở để tác giả lựa
chọn: “Phát triển ý thức kỷ luật của học viên ở Học viện An ninh nhân dân
hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ triết học.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Vấn đề kỷ luật và phát triển ý thức kỷ luật của cán bộ, chiến sĩ trong
ngành công an nói chung, học viên ở Học viện an ninh nhân dân nói riêng đã
được nhiều tập thể, cá nhân nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Song, theo
hướng nghiên cứu của đề tài, luận văn tiếp cận những vấn đề cơ bản sau:
Thứ nhất, những công trình nghiên cứu có liên quan đến ý thức kỷ
luật của cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân.
Đề cập ở vấn đề này có những công trình tiêu biểu sau:
Nguyễn Văn Bảo (chủ nhiệm) đề tài , “Nâng cao chất lượng giáo dục chính
trị, pháp luật trong các trường Công an nhân dân” [43]. Đề tài đã xác định đổi
mới công tác giáo dục, phổ biến chính trị, pháp luật là nội dung quan trọng của
công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong Công an nhân dân, góp phần nâng cao
hiệu quả giáo dục ý thức pháp luật, xây dựng tình cảm pháp lý, phong cách sống
và làm việc theo pháp luật của chiến sĩ, bảo đảm thực hiện tốt phương châm quản
lý đơn vị theo điều lệnh Công an nhân dân, pháp luật nhà nước.
Đinh Văn Mậu, Phạm Hồng Thái (chủ biên) chủ đề, “Ý thức pháp luật”
trong Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật, [38]. Các tác giả
đã đưa ra khái niệm ý thức pháp luật bao gồm tri thức pháp luật, tình cảm,
4
niềm tin và ý chí thái độ hành vi quyết tâm thực thi pháp luật có hiệu quả
trong đời sống xã hội, cũng như tính tích cực pháp luật của công dân; mối
quan hệ ý thức pháp luật với văn hoá pháp lý.
Đào Duy Tấn, Luận án Tiến sĩ Triết học, “Những đặc điểm quá trình hình
thành ý thức pháp luật của Việt Nam hiện nay” [44]. Đã tập trung làm sáng tỏ
những đặc điểm hình thành ý thức pháp luật ở Việt Nam hiện nay và những vấn
đề đặt ra từ đặc điểm đó; xác định cơ sở lý luận của sự hình thành ý thức pháp
luật dưới góc độ triết học Mác - Lênin; phân tích và phát hiện những vấn đề nảy
sinh từ đặc điểm hình thành ý thức pháp luật của Việt Nam; đánh giá thực trạng
ý thức pháp luật của nhân dân ta; đưa ra một số giải pháp cơ bản, nhằm góp phần
nâng cao ý thức pháp luật của nhân dân Việt Nam hiện nay.
Lê Hữu Hòa, “ Tăng cường giáo dục ý thức pháp quyền lực lượng Công
an nhân dân trong tình hình hiện nay” [15]. Tác giả đã khái quát ý thức pháp
quyền và đi sâu phân tích tính tất yếu cần phải tăng cường giáo dục ý thức
pháp quyền trong lực lượng Công an nhân dân hiện nay; Trên cơ sở đó đã đưa
ra một số biện pháp cụ thể nhằm tăng cường giáo dục ý thức pháp quyền
trong lực lượng Công an nhân dân.
Trịnh Văn Hưng “Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp luật, kỷ
luật trong giáo dục, rèn luyện học viên ở các trường công an nhân dân” [19];
Nguyễn Khắc Tùng - Trịnh Văn Hiệp, “Bồi dưỡng ý thức pháp luật cho sinh
viên đào tạo trong các trường công an nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh”
[47] v.v.. Các tác giả đã chỉ rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp luật, kỷ luật,
đồng thời đề cập đến sự cần thiết cần phải quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về
pháp luật, kỷ luật trong giáo dục, rèn luyện học viên ở các trường công an
nhân dân. Theo các tác giả một trong những biện pháp chủ yếu nhằm nâng
cao chất lượng giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện học viên ở các trường công an
nhân dân nhất thiết cần phải quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về pháp luật, kỷ
luật của các chủ thể trong giáo dục, rèn luyện học viên ở các trường công an
nhân dân hiện nay.
5
Thứ hai, những công trình nghiên cứu có liên quan đến phát triển ý
thức kỷ luật của học viên ở Học viện công an nhân dân.
Đề cập về vấn đề này có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả đã
công bố, tiêu biểu như: Trần Văn Nam “Tăng cường công tác quản lý, giáo
dục ý thức tổ chức kỷ luật trong sinh viên Học viện Cảnh sát nhân dân” [4].
Theo tác giả, với đích chung nhất thực hiện mục tiêu giáo dục, đào tạo của
Học viện Cảnh sát nhân dân. Ở phương diện rèn đức cho người học thì một
trong biện pháp có ý nghĩa quyết định là cần phải tăng cường các biện pháp
quản lý, giáo dục nâng cao ý thức tổ chức kỷ luật trong sinh viên Học viện
Cảnh sát nhân dân hiện nay.
Đặng Thành Công, “Ý thức tổ chức kỷ luật tự giác - một giá trị văn hóa
đặc sắc của Thanh niên công an” [2]; Trịnh Thị Thúy - Đinh Xuân Vĩ, “Một
số biện pháp nâng cao tính tự giác chấp hành kỷ luật giờ tự học của học viên
trong các học viện, nhà trường Công an nhân dân hiện nay” [46]; Vũ Văn
Cường, “Giáo dục tính kỷ luật học tập cho sinh viên các trường Công an
nhân dân trong đào tạo theo học chế tín chỉ” [3]; v.v.. Các tác giả đã chỉ rõ
vấn đề giáo dục nâng cao ý thức tự giác chấp hành kỷ luật cho sinh viên đại
học hệ đào tạo các trường Công an nhân dân là hết sức cần thiết. Đồng thời,
theo các tác giả một trong những biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao ý thức tự
giác chấp hành kỷ luật cho sinh viên đại học hệ đào tạo các trường Công an
nhân dân, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp từ hệ thống lãnh đạo, chỉ
huy, đến sự giáo dục trực tiếp của các thầy, cô giáo; sức mạnh tổng hợp từ các
lực lượng, môi trường của người học. Song, một trong giải pháp có ý nghĩa
quyết định là cần phải nâng cao tính tự giác chấp hành kỷ luật giờ tự học của
học viên trong các học viện, nhà trường Công an nhân dân hiện nay.
Nguyễn Văn Hiếu, “Nâng cao ý thức kỷ luật trong đội ngũ cán bộ lớp
hệ đào tạo tại Học viện An ninh nhân dân” [18]; Nguyễn Hoài Thương,
“Giáo dục nâng cao ý thức tự giác chấp hành kỷ luật cho sinh viên đại học hệ
đào tạo các trường Công an nhân dân” [45]; Lê Văn Giang, “Thực trạng và
một số giải pháp nhằm phát triển ý thức kỷ luật học viên Học viện An ninh
6
nhân dân trong tình hình hiện nay” [16] v.v..Các tác giả đã thống nhất trong
việc khẳng định vấn đề giáo dục và nâng cao ý thức chấp hành kỷ luật cho
học viên, sinh viên đại học ở các trường Công an nhân dân nói chung, ở Học
viện An ninh nhân dân nói riêng. Đặc biệt, tác giả Lê Văn Giang đã khái quát
được những nét cơ bản về thực trạng và đề xuất một số giải pháp có tính chất
khái quát nhằm phát triển ý thức kỷ luật học viên Học viện An ninh nhân dân
trong tình hình hiện nay.
Tất cả những công trình khoa học nêu trên đề cập dưới các góc độ, cấp độ
tiếp cận khác nhau về pháp luật, ý thức pháp luật và hình thành phát triển ý
thức kỷ luật cho học viên Học viện An ninh nhân dân trong tình hình hiện nay.
Nhìn chung, các công trình trên đều khẳng định: kỷ luật là yếu tố cơ bản
tạo nên khả năng chiến đấu của lực lượng vũ trang nói chung, lực lượng
công an nói riềng. Ý thức kỷ luật của quân nhân, nhất là của đội ngũ sĩ
quan là cơ sở vững chắc để tăng cường củng cố kỷ luật trong lực lượng vũ
trang, trong đó có Công an nhân dân. Vì vậy, kết quả nghiên cứu của các
công trình khoa học đã công bố có ý nghĩa quan trọng trong tham khảo,
nghiên cứu những vấn đề liên quan tới giáo dục ý thức kỷ luật của quân nhân
trong Công an nhân dân Việt Nam nói chung, học viên ở Học viện An ninh nhân
dân hiện nay nói riêng. Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi vào luận giải cơ sở
lý luận, thực tiễn và đề xuất giải pháp cơ bản phát triển ý thức kỷ luật của học
viên ở Học viện An ninh nhân dân hiện nay có tính hệ thống. Vì vậy, đề tài
nghiên cứu “phát triển ý thức kỷ luật của học viên ở Học viện An ninh nhân
dân hiện nay” không trùng lặp với các công trình khoa học đã công bố.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Phân tích, làm rõ một số vấn đề lý luận, thực tiễn và đề xuất giải pháp
cơ bản nhằm phát triển ý thức kỷ luật của học viên ở Học viện An ninh nhân
dân hiện nay.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
7
- Làm rõ những vấn đề thực chất và những nhân tố cơ bản quy định đến
phát triển ý thức kỷ luật của học viên ở Học viện An ninh nhân dân.
- Đánh giá thực trạng phát triển ý thức kỷ luật của học viên ở Học viện
An ninh nhân dân hiện nay.
- Đề xuất giải pháp cơ bản nhằm phát triển ý thức kỷ luật của học viên
ở Học viện An ninh nhân dân hiện nay.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Phát triển ý thức kỷ luật của học viên ở Học viện An ninh nhân dân.
* Phạm vi nghiên cứu
Phát triển ý thức kỷ luật của học viên đào tạo trình độ đại học chính quy ở
Học viện An ninh nhân dân hiện nay. Số liệu khảo sát từ năm 2011 đến nay.
5. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
* Cơ sở lý luận
Đề tài nghiên cứu dựa trên hệ thống các quan điểm cơ bản của chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng
sản Việt Nam; của Đảng ủy Công an Trung ương, Đảng ủy Học viện Công
an Nhân dân về kỷ luật và giáo dục, rèn luyện kỷ luật quân nhân; về các
chế độ, quy định, điều lệnh, điều lệ kỷ luật Công an và Học viện An ninh
nhân dân về tăng cường giáo dục, rèn luyện phát triển ý thức kỷ luật của
học viên Công an.
* Cơ sở thực tiễn
Từ thực trạng ý thức kỷ luật và phát triển ý thức kỷ luật của học viên ở
Học viện an ninh nhân dân; các văn bản báo cáo tổng kết của Học viện về
thực trạng phát triển ý thức kỷ luật của học viên ở Học viện An ninh nhân dân
từ năm 2011 đến nay.
8
* Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu chủ yếu dựa vào phương pháp luận của chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp với các phương
pháp cụ thể như: phương pháp lịch sử và lô gích; phương pháp phân tích
và tổng hợp; phương pháp khái quát hoá, trừu tượng hoá; phương pháp hệ
thống - cấu trúc; phương pháp khảo sát - điều tra xã hội học; phương pháp
chuyên gia...
6. Ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần nâng cao chất lượng
giáo dục, rèn luyện, phát triển ý thức kỷ luật của học viên ở Học viện An
ninh nhân dân hiện nay.
Đề tài cũng có thể dùng làm tài liệu tham khảo, phục vụ cho hoạt
động giáo dục, rèn luyện kỷ luật tại Học viện An ninh nhân dân và các
nhà trường khác trong ngành Công an.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm: phần mở đầu; 2 chương (4 tiết); kết luận; danh mục tài
liệu tham khảo và phụ lục.
9
Chương 1
MỘT SÔ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN Ý THỨC KỶ LUẬT CỦA HỌC
VIÊN Ở HỌC VIỆN AN NINH NHÂN DÂN
1.1. Một số vấn đề lý luận về phát triển ý thức kỷ luật của học viên
ở Học viện An ninh nhân dân
1.1.1. Ý thức và ý thức kỷ luật
* Ý thức
Theo quan điểm của triết học Mác - Lênin, sự ra đời của ý thức không
phải chỉ là sản phẩm thuần tuý tự nhiên, mà sự phát triển của giới tự nhiên
mới tạo ra tiền đề vật chất có năng lực phản ánh, chỉ là nguồn gốc sâu xa của
ý thức. Hoạt động thực tiễn của loài người mới là nguồn gốc trực tiếp quyết
định sự ra đời của ý thức. C. Mác và Ph. Ăngghen đã khẳng định: “Con người
cũng có cả “ý thức” nữa. Song đó không phải là một ý thức bẩm sinh sinh ra
đã là ý thức “thuần tuý” v.v.. Do đó, ngay từ đầu, ý thức đã là một sản phẩm
xã hội, và vẫn là như vậy chừng nào con người còn tồn tại” [22, tr.43]. Trong
các công trình nghiên cứu khoa học của mình, cả C. Mác và Ph. Ăngghen đã
nhiều lần chỉ rõ rằng, ý thức không những có nguồn gốc tự nhiên mà chủ yếu
chính là một hiện tượng mang bản chất xã hội.
Thực tế hiển nhiên để tồn tại, con người phải tạo ra những vật phẩm để
thoả mãn nhu cầu của mình. Hoạt động lao động sáng tạo của con người có ý
nghĩa thật đặc biệt, nó trực tiếp thúc đẩy sự ra đời của ý thức Ph. Ăngghen khẳng
định: “Trước hết là lao động; sau lao động và đồng thời với lao động là ngôn
ngữ; đó là hai sức kích thích chủ yếu đã ảnh hưởng đến bộ óc của con vượn, làm
cho bộ óc đó dần dần biến chuyển thành bộ óc con người” [22, tr. 646]. Thông
qua hoạt động lao động cải tạo thế giới khách quan mà con người đã từng bước
nhận thức được thế giới, có ý thức ngày càng sâu sắc về thế giới đó.
Ý thức hình thành không phải là quá trình con người tiếp nhận thụ động
các tác động từ thế giới khách quan vào bộ óc của mình, mà chủ yếu từ hoạt
10
động thực tiễn, con người sử dụng công cụ lao động tác động vào đối tượng
hiện thực bắt chúng phải bộc lộ thành những hiện tượng, những thuộc tính,
kết cấu... nhất định, tác động vào bộ óc để con người phân loại, nhận biết nó
ngày càng sâu sắc. Theo quan điểm của Ph. Ăngghen, cùng với sự phát triển
của bàn tay thì từng bước một đầu óc cũng phát triển, ý thức xuất hiện, trước
hết về những điều kiện của các kết quả có ích thực tiễn và về sau,...là về
những quy luật tự nhiên, chi phối các hiệu quả có ích đó.
Trải qua quá trình hoạt động thực tiễn lâu dài, trong những điều kiện hoàn
cảnh khác nhau, với nhiều loại đối tượng khác nhau; cùng với sự phát triển của
tri thức khoa học, các phương pháp tư duy khoa học cũng dần được hình thành,
phát triển giúp nhận thức lý tính của loài người ngày càng sâu sắc. Nhận thức lý
tính phát triển làm cho ý thức ngày càng trở nên năng động, sáng tạo hơn. Ý thức
không chỉ là sự phản ánh tái tạo mà còn chủ yếu là sự phản ánh sáng tạo hiện
thực khách quan. Thông qua thực tiễn những sáng tạo trong tư duy được con
người hiện thực hoá, cho ra đời nhiều vật phẩm chưa có trong tự nhiên. Đó là
“giới tự nhiên thứ hai” in đậm dấu ấn của bàn tay và khối óc của con người.
Như vậy, về bản chất ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan,
là sự phản ánh năng động của con người đối với thế giới. Nội dung của ý thức do
thế giới khách quan quy định. Đồng thời, bản thân ý thức luôn thể hiện dấu ấn cá
nhân của chủ thể nhận thức. Ý thức là một hiện tượng hết sức phức tạp, nghiên
cứu kết cấu của ý thức có nhiều góc độ tiếp cận khác nhau. Xét theo kết cấu
chiều dọc, ý thức bao gồm tự ý thức, tiềm thức, vô thức. Xét theo kết cấu chiều
ngang, ý thức bao gồm: tri thức, tình cảm, niềm tin, ý chí,... xét theo cấp độ ý thức
gồm có ý thức thông thường và ý thức bậc cao. Trong quá trình nghiên cứu luận
văn, tác giả tập trung tiếp cận kết cấu của ý thức được xem xét với các yếu tố hợp
thành các quá trình tâm lý tích cực đem lại sự hiểu biết của con người về thế
giới khách quan thì ý thức bao gồm: tri thức, tình cảm, niềm tin, ý chí...; trong
11
đó tri thức là nhân tố cơ bản, cốt lõi nhất. Muốn cải tạo đợc sự vật,
trước
hết con người phải có sự hiểu biết sâu sắc về sự vật đó. Do đó, nội dung và
phương thức tồn tại cơ bản của ý thức phải là tri thức. Ý thức mà không bao
hàm tri thức, không dựa vào tri thức thì ý thức đó là một sự trừu tượng trống
rỗng, không giúp ích gì cho con ngời trong hoạt động thực tiễn.
Theo C.Mác, phương thức mà theo đó ý thức tồn tại và theo đó một cái
gì tồn tại đối với ý thức là tri thức..., cho nên một cái gì đó nảy sinh ra đối với
ý thức, chừng nào ý thức biết cái đó. Tri thức có nhiều lĩnh vực khác nhau
nhưng tri thức về tự nhiên, xã hội, con người và có nhiều cấp độ khác nhau
như: tri thức cảm tính và tri thức lý tính; tri thức kinh nghiệm và tri thức lý
luận; tri thức tiền khoa học và tri thức khoa học v.v...Theo đó, tích cực tìm
hiểu, tích luỹ tri thức về thế giới xung quanh là yêu cầu thường xuyên của con
người trên bước đường cải tạo thế giới. Tuy nhiên, không thể đồng nhất ý
thức với sự hiểu biết, tri thức về sự vật.
Cùng với quá trình nhận thức sự vật, trong ý thức còn nảy sinh thái độ
của con người đối với đối tượng phản ánh. Tình cảm là một hình thái đặc biệt
của sự phản ánh tồn tại, nó phản ánh quan hệ giữa người với người và quan hệ
giữa người với thế giới khách quan. Tình cảm tham gia và trở thành một trong
những động lực quan trọng của hoạt động con người. Sự hoà quyện giữa tri
thức với tình cảm và trải nghiệm thực tiễn đã tạo nên tính bền vững của niềm
tin thôi thúc con người hoạt động vươn lên trong mọi hoàn cảnh.
Nhận thức không phải là một quá trình dễ dàng, phẳng lặng mà là một
quá trình phản ánh với những khó khăn, gian khổ thường gặp phải trên mỗi
bước đường đi tới chân lý. Muốn vượt qua khó khăn để đạt tới mục đích, chủ
thể nhận thức phải có ý chí, quyết tâm cao. Ý chí chính là những cố gắng, nỗ
lực, khả năng huy động mọi tiềm năng trong mỗi con người vào hoạt động để
có thể vượt qua mọi trở ngại đạt mục đích đề ra. Do đó, đòi hỏi mỗi chủ thể
12
phải luôn tích cực học tập, rèn luyện, bồi dưỡng nâng cao tri thức, tình cảm,
niềm tin, ý chí trong nhận thức và cải tạo thế giới.
* Ý thức kỷ luật
Theo từ điển tiếng Việt: “Kỷ luật là tổng thể những quy định có tính
chất bắt buộc đối với hoạt động của các thành viên trong một tổ chức, để bảo
đảm tính chặt chẽ của tổ chức” [42, tr.346]. Theo đó, có thể hiểu kỷ luật là sự
rèn luyện đặc biệt về tinh thần và tính cách nhằm tạo ra sự tự chủ, phục tùng.
Kỷ luật giúp đào tạo con người, nhờ có kỷ luật năng lực con người được tập
trung để hướng đến một mục tiêu, nhờ đó ta có thể đi tới chỗ thành công.
Thực chất của kỷ luật là ý chí của giai cấp thống trị được thể chế hóa và được
thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của một tổ chức nhất định. Do vậy, bên
cạnh sự phản ánh công bằng xã hội theo những chuẩn mực nhất định, ý thức
kỷ luật phản ánh sâu sắc ý chí của tập thể trong xã hội. Ý thức kỷ luật là một
hình thái ý thức xã hội trong xã hội có giai cấp; trong đó thể hiện tri thức và
sự đánh giá về tính công bằng của những quy tắc được chấp nhận trong một tổ
chức xã hội nhất định. Theo hướng tiếp cận trên bước đầu luận văn quan
niệm: Ý thức kỷ luật là một hình thái ý thức xã hội phản ánh những quan
điểm, tư tưởng, lý luận, tình cảm, tâm trạng, truyền thống, tập quán, thói
quen của con người trong hoạt động của một tổ chức ở từng giai đoạn lịch sử
nhất định; thể hiện ở tri thức, tình cảm, niềm tin, thái độ và ý chí của mỗi
thành viên trong thực hiện các nguyên tắc, chế độ, quy định của tổ chức mà
họ tham gia.
Như vậy, về bản chất, ý thức kỷ luật thuộc hình thái ý thức pháp quyền
được hình thành từ tồn tại xã hội, phản ánh tồn tại xã hội dưới góc độ pháp
luật và cụ thể hoá ở những nguyên tắc, quy tắc, quy chế, quy định cụ thể của
một tổ chức nhất định. Thông qua những nguyên tắc, quy tắc, quy chế, quy
định có tính pháp lý cao nhằm định hướng tư tưởng, điều chỉnh hành vi của
mỗi thành viên nhằm thiết lập trật tự của tổ chức đó.
13
Là một hình thái ý thức xã hội, ý thức kỷ luật phản ánh sâu sắc đời
sống pháp luật, truớc hết là sự phản ánh quá trình nhận thức về pháp luật, ý
thức chấp hành pháp luật của nhân dân và việc điều chỉnh hành vi của họ
nhằm duy trì trật tự kỷ cuơng xã hội theo pháp luật của Nhà nuớc. Ý thức kỷ
luật bao gồm các yếu tố cơ bản như: tri thức kỷ luật; tình cảm, niềm tin kỷ
luật; thái độ và ý chí kỷ luật. Các yếu tố trên có vai trò, vị trí không ngang
bằng nhau, nhưng có quan hệ biện chứng, tác động qua lại, gắn bó chặt chẽ
với nhau trong một chỉnh thể thống nhất. Bởi vậy, ý thức kỷ luật của một tập
thể hay của một cá nhân chỉ trở nên có hiệu lực, tích cực khi nó kết hợp được
các yếu tố tri thức, tình cảm, niềm tin và thái độ, ý chí trong chấp hành kỷ luật
của mỗi cá nhân hay một tổ chức cụ thể.
1.1.2. Đặc điểm và ý thức kỷ luật của học viên ở Học viện An ninh
nhân dân
* Đặc điểm Học viên ở Học viện An ninh nhân dân
Học viên ở Học viện An ninh nhân dân là những quân nhân thực hiện
nghĩa vụ quân sự trong ngành Công an, học sinh tốt nghiệp phổ thông trung
học, được tuyển chọn chặt chẽ theo chế độ tuyển sinh Công an (hoặc cử
tuyển) của Bộ Công an. Trong quá trình học tập rèn luyện tại Học viện, họ
đựơc hưởng các chế độ chính sách theo quy định chung của Nhà nước và
ngành Công an; có nhiệm vụ thực hiện kế hoạch học tập, rèn luyện theo mục
tiêu yêu cầu đào tạo; sau khi tốt nghiệp, phục tùng sự phân công công tác của
ngành Công an. Do đó, cùng với những đặc điểm chung của học viên các Học
viện, trường đào tạo Công an, học viên ở Học viện An ninh nhân dân còn có
những nét đặc thù:
Thứ nhất, họ là những thanh niên hoặc quân nhân có tuổi đời còn trẻ;
những thanh niên đã tốt nghiệp Trung học phổ thông, hoặc đang tham gia làm
nghĩa vụ quân sự trong ngành Công an, trúng tuyển qua kỳ thi xét tuyển theo
14
quy định của Bộ Giáo dục, đào tạo và Bộ Công an; có thể lực tốt; tâm sinh lý,
trí tuệ phát triển tốt; có ước mơ, hoài bão, lý tưởng cách mạng; có năng khiếu
và bước đầu lựa chọn nghề Công an trong đời binh nghiệp làm nghề nghiệp;
nhạy cảm với cái mới, ham hiểu biết, cầu tiến bộ; thích giao tiếp, sinh hoạt
cộng đồng, thích thử nghiệm bản thân trong môi trường đòi hỏi tính kỷ luật
khắt khe, nghiêm túc. Nhìn chung, họ có động cơ, thái độ học tập, rèn luyện
đúng đắn; tinh thần trách nhiệm cao trong học tập và chấp hành kỷ luật; xuất
thân từ thành phần cơ bản, có nhận thức tốt về nhiệm vụ bảo vệ an ninh Tổ
quốc và xây dựng đất nước; bước đầu đã thể hiện khả năng tự giác, tự trọng,
tự kiềm chế, kiểm soát bản thân và có độ chín chắn nhất định trong quan hệ
ứng xử giao tiếp v.v.. Đây là những điều kiện thuận lợi cho rèn luyện, phát
triển ý thức kỷ luật của học viên ở Học viện An ninh nhân dân.
Tuy nhiên, vẫn còn một số học viên do nhiều nguyên nhân khác nhau
dẫn đến chưa định hình rõ xu hướng nghề nghiệp; còn băn khoăn, trăn trở, suy
nghĩ nhiều về gia đình, về cuộc sống thường nhật; động cơ học tập, rèn luyện
chưa rõ ràng, chưa kiên định theo hướng công tác trong ngành Công an lâu
dài; còn xuất phát từ các lý do như: không đủ điểm vào các trường đại học
khác; gia đình khó khăn không đủ điều kiện học ở các trường dân sự; hoặc,
còn theo “ý thích, nguyện vọng” của bố mẹ và người thân v.v..Vì thế, một số
có tâm lý “nín thở, qua cầu”, ít quan tâm phấn đấu, rèn luyện, khả năng tự
kiềm chế kém, độ chọn lọc, lĩnh hội kiến thức, kinh nghiệm thực tiễn còn hạn
chế. Số này tuy ít, nhưng nếu không phát hiện, quản lý, giáo dục, rèn luyện
kịp thời sẽ dễ lây lan, chi phối, tác động không nhỏ đến động cơ, thái độ học
tập, rèn luyện của họ và các học viên khác.
Thứ hai, trước đó học viên đều đã được học tập cơ bản từ các trường
phổ thông hoặc các nhà trường khác; có tri thức xã hội khá toàn diện kể cả tri
15
thức về kỷ luật; một số người đã được rèn luyện thử thách trong môi trường
Công an. Tuy nhiên, ở họ kinh nghiệm sống còn hạn chế, trình độ nhận thức,
sự hiểu biết về xã hội, sự nhạy cảm về chính trị chưa nhiều; sự hiểu biết về tổ
chức Công an và kỷ luật trong ngành Công an chưa sâu; đặc biệt là đối tượng
học viên từ học sinh phổ thông. Những thiếu hụt, bất cập trên, chẳng những
làm hạn chế việc tiếp nhận tri thức lý luận mà còn làm cho việc giáo dục, rèn
luyện và tự giáo dục, tự rèn luyện, phát triển ý thức kỷ luật của họ gặp những
khó khăn, cản trở nhất định.
Thứ ba, ý thức của không ít học viên còn chịu ảnh hưởng thói quen, tập
tục từ thành phần xuất thân và nơi cư trú. Hơn 70% học viên xuất thân từ
nông dân, nông nghiệp, nông thôn; với nhiều dấu ấn bao gồm cả tích cực và
tiêu cực tác động đến phát triển ý thức kỷ luật của họ.
Quá trình xây dựng, phát triển ý thức kỷ luật của học viên ở Học viện
An ninh nhân hiện nay cần nắm vững những đặc điểm trên đây để làm cơ sở
xây dựng chương trình, nội dung, hình thức, biện pháp giáo dục, rèn luyện kỷ
luật cho phù hợp nhằm phát huy các mặt tích cực, tiến bộ, khắc phục gạy bỏ
những tiêu cực, lạc hậu; góp phần nâng cao hiệu quả của cả quá trình.
* Ý thức kỷ luật của học viên ở Học viện An ninh nhân
Vận dụng phương pháp tiếp cận ý thức kỷ luật ở trên vào đối tượng cụ
thể là học viên ở Học viện An ninh nhân, bước đầu chúng tôi quan niệm: Ý
thức kỷ luật của học viên ở Học viện An ninh nhân dân là tổng thể những tri
thức, tình cảm, niềm tin, thái độ và ý chí của họ đối với luật pháp Nhà
nước, điều lệnh kỷ luật của ngành Công an và chế độ, quy định của Học
viện nhằm định hướng tư tưởng, điều chỉnh hành vi trong học tập, rèn
luyện đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đào tạo.
16
Về bản chất, ý thức kỷ luật của học viên ở Học viện An ninh nhân dân
phản ánh sự đòi hỏi tất yếu, khách quan việc chấp hành pháp luật Nhà nước;
điều lệnh, điều lệ kỷ luật của Công an; các chế độ, quy định của Học viện đối
với mỗi học viên. Biểu hiện ở sự nhận thức sâu sắc tính tất yếu khách quan;
đồng tình ủng hộ và tin tưởng vào tính khoa học của các chế độ, quy định đó;
đồng thời, tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp với luật pháp Nhà
nước, điều lệnh công an nhân dân, các quy chế, quy định của Học viện và của
từng đơn vị một cách nghiêm minh.
Về cấu trúc, ý thức kỷ luật của học viên ở Học viện An ninh nhân dân,
bao gồm các yếu tố cơ bản như: tri thức, tình cảm, niềm tin, thái độ và ý chí
quyết tâm của họ đối với kỷ luật.
Tri thức kỷ luật của học viên ở Học viện An ninh nhân dân là sự hiểu
biết của người học viên về kỷ luật. Cụ thể là những nhận thức về tính tất yếu
khách quan của kỷ luật, ý thức kỷ luật, xây dựng và củng cố kỷ luật, vai trò
của kỷ luật với bất cứ tổ chức xã hội nào, đặc biệt là với tổ chức trong lực
lượng vũ trang nói chung, Công an và học viên ở các Học viện, nhà trường
đào tạo cán bộ Công an; nội dung của kỷ luật là gì và cơ sở lý luận, thực tiễn,
ý nghĩa xã hội của kỷ luật ra sao v.v...
Trong đó, những nội dung chủ yếu bao gồm: những tri thức, hiểu biết
của họ về pháp luật, kỷ luật theo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh; về đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước;
điều lệnh, điều lệ kỷ luật của Công an; các chế độ, quy định của Học viện;
chức trách, nhiệm vụ của học viên, các chuẩn mực và quy tắc ứng xử v.v...
Tri thức, hiểu biết của học viên về kỷ luật và trực tiếp là kỷ luật Công an
là nhân tố hàng đầu trong ý thức kỷ luật của họ. Bởi lẽ, tri thức kỷ luật giữ vai
trò định hướng, điều chỉnh tư tưởng, tình cảm, niềm tin và thái độ hành vi kỷ
luật của họ; là cơ sở để họ tự ý thức (tự nhận thức), tự kiểm tra đánh giá thái
17
độ hành vi rèn luyện, chấp hành kỷ luật của mình. Trên cơ sở đó, giúp họ tự
điều chỉnh tư tưởng và hành vi cho phù hợp với những nguyên tắc, chuẩn
mực, đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đào tạo. Những tri thức, hiểu biết đó là cơ sở
quan trọng cho tình cảm, niềm tin, thái độ, ý chí hành vi kỷ luật cũng như
hình thành, phát triển quan niệm, lối sống, làm việc theo hiến pháp và pháp
luật của mỗi học viên.
Tình cảm, niềm tin của học viên đối với kỷ luật và chấp hành kỷ luật là
bộ phận rất cơ bản và quan trọng trong cấu trúc ý thức kỷ luật của học viên ở
Học viện An ninh nhân dân. Niềm tin kỷ luật của người học viên là kết quả
thống nhất giữa tri thức kỷ luật với tình cảm kỷ luật của họ. Trong đó, tình
cảm kỷ luật là cơ sở, nguồn nội lực hình thành, phát triển, củng cố niềm tin
vào tính chân lý của kỷ luật; tin vào sự đúng đắn, khoa học của điều lệnh,
điều lệ, các chế độ quy định của nhà trường và từng đơn vị. Trên cơ sở hiểu
biết sâu sắc nội dung khoa học của các quy định, điều lệnh kỷ luật Công an,
luật pháp Nhà nước, người học viên sẽ làm cho các tri thức, hiểu biết đó
chuyển biến thành niềm tin bên trong của mỗi cá nhân. Tình cảm, niềm tin kỷ
luật của mỗi học viên được thể hiện ở sự đồng tình, ủng hộ, tinh thần lạc
quan; tính chủ động, tích cực, sáng tạo... tu dưỡng, rèn luyện bản thân theo
các giá trị, chuẩn mực của kỷ luật, đấu tranh chống lại những nhận thức và
hành vi sai trái lệch lạc về kỷ luật. Đồng thời, khi người học viên có tình cảm,
niềm tin kỷ luật tốt sẽ là cơ sở thuận lợi để họ có thái độ đúng đắn và ý chí
quyết tâm cao trong tu dưỡng, rèn luyện và chấp hành kỷ luật nghiêm minh.
Thái độ và ý chí quyết tâm của học viên ở Học viện An ninh nhân dân
đối với kỷ luật và rèn luyện, chấp hành kỷ luật là những yếu tố vô cùng quan
trọng trong ý thức kỷ luật của họ. Nhưng các yếu tố đó phải được chuyển hoá
thành thái độ, ý chí quyết tâm của người học viên trong rèn luyện, chấp hành
kỷ luật thì mới có ý nghĩa. Nếu thái độ không đúng, ý chí quyết tâm không
cao thì họ không thể huy động, chuyển hoá, hiện thực hoá được tri thức, tình
cảm, niềm tin kỷ luật của mình trong thực tiễn rèn luyện, chấp hành kỷ luật;
18
nhất là khi gặp những khó khăn, trở ngại, phức tạp trong cuộc sống và trong
quá trình học tập tại Học viện.
Ý chí quyết tâm trong rèn luyện, chấp hành kỷ luật tạo cho học viên ở
Học viện An ninh nhân dân có tinh thần độc lập, tự chủ, tập trung trí tuệ, tài
năng để xem xét và giải quyết chính xác mọi vấn đề, có hành động đúng đắn,
sáng tạo, tự giác chấp hành mọi chỉ thị, mệnh lệnh, quy chế, quy định, vượt
qua mọi khó khăn để hoàn thành chức trách, nhiệm vụ; khộng chịu bó tay
trước những khó khăn, trở ngại trong học tập và công tác. Ý thức kỷ luật của
học viên ở Học viện An ninh nhân dân được thể hiện ở thái độ của họ trong
rèn luyện và chấp hành kỷ luật; giữ gìn tư thế tác phong người công an cách
mạng; trong cách ứng xử, giao tiếp theo điều lệnh Công an; thái độ tiếp nhận,
tôn trọng và chấp hành mệnh lệnh cấp trên, tuân thủ nghiêm túc các quy chế,
quy định về giáo dục - đào tạo, bảo đảm sự nhất quán giữa lời nói và việc làm
trong các hoạt động học tập, tu dưỡng, rèn luyện theo quy định của pháp luật,
kỷ luật Công an, quy định của Học viện; tích cực đấu tranh với những hiện
tượng tiêu cực, vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật Công an.
Ý thức kỷ luật của học viên ở Học viện An ninh nhân dân vừa là phạm
trù thuộc hình thái ý thức pháp quyền, vừa là phạm trù thuộc hình thái ý thức
chính trị - đạo đức; được biểu hiện trong việc tự giác điều chỉnh hành vi của
bản thân theo quy định của luật pháp Nhà nước, điều lệnh Công an, các quy
chế, quy định của Học viện trong học tập, rèn luyện hàng ngày. Ý thức kỷ luật
của học viên ở Học viện An ninh nhân dân được hình thành, phát triển trên cơ
sở hiểu biết về bản chất, vai trò của kỷ luật và chuyển hoá thành tình cảm,
niềm tin, sự thôi thúc nội tâm thành thái độ, ý chí quyết tâm thực thi kỷ luật
của họ. Những vấn đề trên có quan hệ biện chứng với nhau, tạo nên tính chỉnh
thể; là cơ sở nghiên cứu phát triển ý thức kỷ luật của học viên ở Học viện An
ninh nhân dân hiện nay.
1.1.3. Phát triển ý thức kỷ luật của học viên ở Học viện An ninh nhân
dân và tiêu chí dánh giá
19
* Khái niệm phát triển ý thức kỷ luật của học viên ở Học viện An ninh
nhân dân.
Theo lý luận triết học Mác – Lênin, phát triển là một quá trình vận
động từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến ngày
càng hoàn thiện hơn của các sự vật, hiện tượng. Nguồn gốc, động lực phát
triển là sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập; quá trình giải quyết
mâu thuẫn nội tại của sự vật. Cách thức, trạng thái phát triển phản ánh quan
hệ biện chứng giữa lượng và chất; đó là quá trình tích luỹ dần dần về lượng
dẫn tới sự thay đổi, nhảy vọt về chất và ngược lại. Con đường phát triển của
mọi sự vật, hiện tượng không diễn ra theo đường thẳng mà theo đường xoáy
ốc, thông qua các chu kỳ phủ định biện chứng kế tiếp nhau.
Như vậy, phát triển của các sự vật, hiện tượng là tất yếu, tuân theo các
quy luật khách quan, là quá trình tự thân phủ định và phát triển. Tuy nhiên,
quy luật chi phối sự vận động phát triển của mọi sự vật hiện tượng trong xã
hội nói chung, phát triển ý thức kỷ luật của học viên ở Học viện An ninh nhân
dân nói riêng chỉ được thực hiện thông qua hoạt động thực tiễn dưới sự chỉ
đạo của ý thức. Do đó, nghiên cứu phát triển ý thức kỷ luật của học viên ở
Học viện An ninh nhân dân phải đặt trong quá trình hoạt động tích cực, chủ
động, tự giác của con người với tư cách chủ thể nhận thức và vận dụng sáng
tạo các quy luật đó trong hoạt động thực tiễn theo chức trách.
Từ cách tiếp cận trên bước đầu luận văn có thể quan niệm: Phát triển ý
thức kỷ luật của học viên ở Học viện An ninh nhân dân là quá trình hoạt động
tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo của các chủ thể và người học viên làm
cho các yếu tố cấu thành ý thức kỷ luật của đội ngũ học viên ngày càng hoàn
thiện, đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đào tạo của nhà trường.
Theo sự khái quát trên, nội hàm khái niệm phát triển ý thức kỷ luật của
học viên ở Học viện An ninh nhân dân bao gồm những vấn đề cơ bản sau đây:
20
Thứ nhất, phát triển ý thức kỷ luật của học viên ở Học viện An ninh nhân
dân là một quá trình hoạt động tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo của các
chủ thể giáo dục, quản lý, rèn luyện học viên và tự tu dưỡng rèn luyện kỷ luật
của đội ngũ học viên.
Ý thức kỷ luật của học viên ở Học viện An ninh nhân dân không tự hình
thành và phát triển. Đó là kết quả của quá trình hoạt động tự giác, tích cực, chủ
động, sáng tạo của con người. Trước hết, là quá trình hoạt động tự giác, tích cực,
chủ động, sáng tạo, hợp quy luật của các chủ thể, các tổ chức, các lực lượng tham
gia quản lý, giáo dục, rèn luyện đội ngũ học viên; bao gồm: tổ chức lãnh đạo, chỉ
huy các cấp và các lực lượng giáo dục trong Học viện và đội ngũ học viên với tư
cách chủ thể tự giáo dục, tự tu dưỡng, rèn luyện kỷ luật.
Sự tác động của các tổ chức, các lực lượng với tư cách chủ thể phát
triển ý thức kỷ luật của học viên ở Học viện An ninh nhân dân phải phù hợp
với lôgíc nhận thức, phù hợp với đối tượng và điều kiện, hoàn cảnh khách
quan của từng năm học và khoá học. Sự phối hợp đồng bộ, nhịp nhàng của
các lực lượng chủ thể tạo động lực to lớn thúc đẩy phát triển ý thức kỷ luật
của đội ngũ học viên này. Các chủ thể giáo dục, rèn luyện kỷ luật giữ vai trò
quan trọng, không chỉ trang bị tri thức khoa học mà còn truyền thụ tình cảm,
niềm tin, xác định thái độ, ý chí quyết tâm cho học viên trong rèn luyện, chấp
hành kỷ luật theo chức trách nhiệm vụ của từng chủ thể.
Tuy nhiên, nếu coi sự phát triển ý thức kỷ luật của học viên ở Học viện
An ninh nhân dân là một quá trình “tự thân” thì sự tác động của các chủ thể
nêu trên chỉ là khách quan. Tính tự giác, khả năng tự giáo dục, tự tiếp nhận, tự
rèn luyện của học viên với tư cách chủ thể tự phát triển giữ vai trò quyết định
đối với phát triển ý thức kỷ luật của họ. Bởi vì, tính tự giác của người học
viên được phát huy thì họ mới chủ động, tích cực tích luỹ tri thức và chuyển
hoá thành tình cảm, niềm tin, thái độ, ý chí quyết tâm trong thực tiễn rèn
luyện và chấp hành kỷ luật. Tính tự giác của học viên được phát huy cao độ,
21
họ sẽ ý thức đầy đủ về vai trò, trách nhiệm của mình, chuyển hoá những yêu
cầu cao của mục tiêu đào tạo thành nhu cầu tự thân của mỗi người và tạo
thành động lực trực tiếp bên trong, thôi thúc họ vượt qua mọi khó khăn, thử
thách để rèn luyện kỷ luật.
Vai trò của chủ thể giáo dục, rèn luyện rất quan trọng, song nhân tố có ý
nghĩa quyết định đến sự phát triển ý thức kỷ luật của học viên ở Học viện An
ninh nhân dân là chính bản thân họ với tư cách chủ thể tiếp thu, lĩnh hội tri
thức và rèn luyện để tự phát triển. Vì vậy, quá trình phát triển này chỉ có ý
nghĩa và mang lại hiệu quả cao khi nó thực sự trở thành một nhu cầù tự thân,
tự phát triển của học viên.
Thứ hai, phát triển ý thức kỷ luật của học viên ở Học viện An ninh nhân
dân là quá trình các chủ thể liên tục nhận thức và giải quyết mâu thuẫn nhằm
không ngừng nâng cao tri thức, tình cảm, niềm tin, thái độ và ý chí quyết tâm
rèn luyện, chấp hành kỷ luật của đội ngũ học viên.
Phát triển ý thức kỷ luật của học viên ở Học viện An ninh nhân dân
tuân theo quy luật của quá trình nhận thức, quá trình lĩnh hội, tiếp thu kinh
nghiệm xã hội - lịch sử và chuyển những kinh nghiệm ấy thành tri thức của
bản thân. Ý thức kỷ luật của họ bao gồm những yếu tố cơ bản, có mối quan
hệ biện chứng với nhau. Chính sự vận động tổng hợp, đồng bộ của các yếu
tố đó dẫn đến sự tích luỹ dần dần về lượng và sự chuyển hoá, nhảy vọt về
chất trong ý thức kỷ luật của họ.
Quan điểm này khẳng định, phát triển ý thức kỷ luật của học viên ở
Học viện An ninh nhân dân thông qua sự phát triển của các yếu tố cấu thành nó:
tri thức, hiểu biết của học viên về kỷ luật và kỷ luật quân sự; tình cảm, niềm tin,
thái độ và ý chí của học viên trong rèn luyện, chấp hành luật pháp Nhà nước, điều
lệnh, điều lệ Công an và các chế độ quy định của Học viện trong quá trình học tập.
22
Phát triển ý thức kỷ luật của học viên thông qua quá trình giải quyết hệ
thống những mâu thuẫn vốn có của nó. Nguồn gốc, động lực phát triển ý thức
kỷ luật của học viên ở Học viện An ninh nhân dân là quá trình liên tục xuất
hiện và giải quyết các mâu thuẫn trong hiện thực. Trong đó, mâu thuẫn cơ bản
tồn tại trong suốt quá trình phát triển ý thức kỷ luật của học viên ở Học viện
An ninh nhân dân là mâu thuẫn giữa yêu cầu cao về tri thức, hành vi rèn
luyện, chấp hành kỷ luật của người học viên nhằm đáp ứng mục tiêu yêu cầu
đào tạo với một bên là những hạn chế, cản trở của tri thức, tình cảm, niềm tin,
thái độ, ý chí và thói quen hành vi kỷ luật từ thành phần xuất thân, từ môi
trường kỷ luật trước khi trở thành học viên của họ. Giải quyết mâu thuẫn này
sẽ tạo nên động lực chủ yếu thúc đẩy phát triển ý thức kỷ luật của học viên ở
Học viện An ninh nhân dân trong cả quá trình.
Vì vậy, giải quyết mâu thuẫn cơ bản đó là quá trình họ tích cực phát
hiện và đấu tranh giải quyết hàng loạt mâu thuẫn cụ thể trong học tập, rèn
luyện tại Học viện An ninh nhân dân nhằm hình thành, phát triển ý thức kỷ
luật của người Sĩ quan Công an nhân dân tương lai theo mục tiêu yêu cầu đào
tạo của Học viện. Tuy nhiên, cần hiểu rằng, không phải cứ có mâu thuẫn nảy
sinh và được giải quyết sẽ lập tức tạo ra động lực phát triển ý thức kỷ luật của
học viên ở Học viện An ninh nhân dân. Việc giải quyết các mâu thuẫn chỉ trở
thành động lực khi các chủ thể nhận thức đầy đủ, sâu sắc, đúng đắn những
nguyên nhân, điều kiện phát sinh mâu thuẫn ấy và tập trung giải quyết đúng
đắn. Vì lẽ đó, quá trình phát triển ý thức kỷ luật của học viên ở Học viện An
ninh nhân dân, các chủ thể cần phát hiện kịp thời và giải quyết đúng từng loại
mâu thuẫn.
Quá trình học tập, rèn luyện của đội ngũ học viên ở Học viện An ninh
nhân dân là quá trình liên tục tìm tòi, phát hiện, khám phá để nhận thức và
giải quyết các mâu thuẫn tạo động lực cho sự phát triển.Vì vậy, phát triển ý
23
thức kỷ luật của học viên ở Học viện An ninh nhân dân là một quá trình
thường xuyên liên tục nhận thức và giải quyết mâu thuẫn. Quá trình này diễn
ra trên hai bình diện, trong từng tập thể và ở mỗi cá nhân học viên; đồng thời,
luôn được gắn kết với những đặc điểm riêng, những yêu cầu về nhiệm vụ và
vai trò của họ trong quá trình học tập, rèn luyện ở Học viện.
Giải quyết mâu thuẫn nhằm phát triển ý thức kỷ luật của học viên ở Học
viện An ninh nhân dân là quá trình tiếp nhận, chuyển hoá tri thức thành tình cảm,
niềm tin, thái độ và ý chí quyết tâm phát triển ý thức kỷ luật của họ diễn ra trong
môi trường đặc thù của Học viện An ninh nhân dân với những đặc điểm của đối
tượng đào tạo.
Là một trung tâm đào tạo cán bộ của Công an, môi trường giáo dục, rèn
luyện ở Học viện An ninh nhân dân luôn đặt ra những yêu cầu cao đối với
mỗi học viên. Một mặt, học viên được trang bị khá toàn diện về hệ thống tri
thức khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm,
đường lối của Đảng; tri thức khoa học hình sự, nghệ thuật điều tra, xét hỏi; và
tri thức theo từng lĩnh vực nghiệp vụ, trong đó có hệ thống tri thức về pháp
luật, kỷ luật Công an. Đây là một thuận lợi lớn đối với học viên trong quá
trình tích luỹ tri thức khoa học nói chung và phát triển ý thức kỷ luật của mình
nói riêng. Đặc thù của Học viện với tính kỷ luật chặt chẽ, yêu cầu cao về rèn
luyện năng lực thực tiễn, trí tuệ và bản lĩnh chính trị - tinh thần của học viên
trong môi trường quân sự, mọi hoạt động của nhà trường luôn hướng đến mục
tiêu đào tạo người học viên cả về thể lực, trí lực và bản lĩnh chính trị. Do vậy,
học viên ở Học viện An ninh nhân dân luôn có ý thức, tổ chức kỷ luật tốt, có
bản lĩnh chính trị vững vàng, có ý chí quyết tâm cao, chấp hành pháp luật nhà
nước, rèn luyện kỷ luật công an nhân dân một cách tự giác, nghiêm minh.
Trong môi trường đặc thù đó, việc đấu tranh để tự giải quyết những
mâu thuẫn nhằm phát triển ý thức kỷ luật của người học viên diễn ra khá
24
thuận lợi. Môi trường pháp lý, kỷ luật nghiêm minh của Học viện đã giúp cho
học viên sớm tiếp cận với những tri thức kỷ luật Công an và trực tiếp thực
hiện các hành vi kỷ luật. Qua đó, họ có điều kiện so sánh, rút ra những bài
học kinh nghiệm, bày tỏ thái độ, tình cảm, niềm tin kỷ luật và ý chí, quyết tâm
thực thi kỷ luật tự giác, nghiêm minh.
Thứ ba, phát triển ý thức kỷ luật của học viên ở Học viện An ninh nhân
dân là quá trình làm cho tri thức, hiểu biết, tình cảm, niềm tin kỷ luật của đội ngũ
học viên ở đây ngày càng sâu sắc, thái độ và ý chí quyết tâm của họ đối với rèn
luyện, chấp hành kỷ luật ngày càng đáp ứng mục tiêu yêu cầu, đào tạo của Học viện
và nhiệm vụ xây dựng Công an nhân dân cách mạng chính quy, tinh nhuệ, từng
bước hiện đại.
Mục đích phát triển ý thức kỷ luật của học viên ở Học viện An ninh
nhân dân là làm cho các yếu tố cấu thành ý thức kỷ luật của họ tích luỹ dần
dần về lượng dẫn đến sự chuyển hoá về chất; tổng hoà những chuyển hoá về
chất bộ phận ấy sẽ làm cho ý thức kỷ luật của họ không ngừng phát triển; là
quá trình hình thành, phát triển ở họ khả năng tự ý thức, tự chủ, tự giác tiếp
nhận, rèn luyện và chấp hành Luật pháp Nhà nước, kỷ luật quân đội; kiên
quyết đấu tranh với những hiện tượng tiêu cực, sự phá hoại của các thế lực
thù địch dẫn đến cản trở phát triển ý thức kỷ luật của học viên.
Mục đích trên quy định nội dung phát triển ý thức kỷ luật của học viên
ở Học viện An ninh nhân dân. Đó là lĩnh hội toàn bộ các kiến thức, kinh
nghiệm, rèn luyện các kỹ năng lãnh đạo, chỉ huy, quản lý kỷ luật; xây dựng
niềm tin, ý chí thói quen chấp hành nghiêm minh pháp luật Nhà nước, điều
lệnh kỷ luật Công an, quy chế giáo dục - đào tạo và các mối quan hệ với đồng
chí, đồng đội theo chuẩn mực chung.
Vì vậy, phát triển ý thức kỷ luật của học viên ở Học viện An ninh nhân
dân phải được thể hiện ở kết quả của quá trình các chủ thể hoạt động hợp quy
25
luật làm cho những tri thức, hiểu biết về kỷ luật của họ ngày càng phong phú,
toàn diện và sâu sắc; tình cảm, niềm tin của họ đối với kỷ luật ngày càng gắn
bó, bền vững; thái độ đối với kỷ luật ngày càng đúng đắn, ý chí quyết tâm rèn
luyện, chấp hành kỷ luật của họ ngày càng cao; biểu hiện cụ thể ở kết quả rèn
luyện, chấp hành kỷ luật của đội ngũ học viên trong thực hiện nhiệm vụ học
tập, rèn luyện cũng như các nhiệm vụ khác. Đặc biệt, trong thực hiện nhiệm
vụ, học viên sẽ trưởng thành hơn về mặt nhân cách, bản lĩnh chính trị, nâng
cao nhận thức, tình cảm, niềm tin và ý chí kỷ luật của mình. Do đó, ý thức kỷ
luật của họ tiếp tục được củng cố và phát triển thường xuyên và ngày càng
vững chắc.
Học viên ở Học viện An ninh nhân dân là lực lượng kế cận, trực tiếp bổ
sung cho đội ngũ cán bộ xây dựng Công an nhân dân cách mạng, chính qui, tinh
nhuệ và từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng. Từ vị trí
của người học viên hôm nay - người cán bộ, sĩ quan Công an trong tương lai cho
thấy, phát triển ý thức kỷ luật của học viên ở Học viện An ninh nhân dân là vấn
đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, một nhân tố cơ bản, thúc đẩy quá trình tự giác
học tập, rèn luyện của học viên, đáp ứng mục tiêu yêu cầu đào tạo của Học viện
và sự nghiệp xây dựng Công an nhân dân trong thời kỳ mới.
* Một số tiêu chí đánh giá phát triển ý thức kỷ luật của học viên ở Học
viện An ninh nhân dân.
Tiêu chí là những “Tính chất, dấu hiệu làm căn cứ để nhận biết, xếp loại
một sự vật, một khái niệm” [43, Tr.927] Theo đó, tiêu chí đánh giá phát triển ý
thức kỷ luật của học viên ở Học viện An ninh nhân dân là những tính chất, dấu
hiệu phản ánh bản chất phát triển ý thức kỷ luật, làm căn cứ đế xem xét, đánh giá
phát triển ý thức kỷ luật của họ. Có thể khái quát một số tiêu chí đánh giá về
thực trạng phát triển ý thức kỷ luật của học viên ở Học viện An ninh nhân dân
như sau:
26
Một là, nhận thức, trách nhiệm và năng lực thực tiễn của các chủ thể
giáo dục, quản lý, rèn luyện học viên ở Học viện An ninh nhân dân.
Nhận thức, trách nhiệm và năng lực thực tiễn của các chủ thể giáo dục,
quản lý, rèn luyện học viên biểu hiện rõ nét tính tự giác, tích cực, chủ động, sáng
tạo của họ trong hoạt động nhằm phát triển ý thức kỷ luật của học viên. Đồng thời,
đây còn là nội dung phản ánh kết quả quá trình phát triển ý thức kỷ luật của học
viên. Do đó, đánh giá, xem xét thực trạng phát triển ý thức kỷ luật của học viên
ở Học viện An ninh nhân dân, trước hết phái căn cứ vào tiêu chí khách quan này.
Thông qua vai trò, chức trách, nhiệm vụ của từng chủ thể, từng lực
lượng mà họ tham gia thúc đẩy hay kìm hãm sự phát triển ý thức kỷ luật của
học viên. Tính tự giác của các chủ thể quy định phương hướng, cách thức,
quy mô hoạt động thực tiễn tác động đến phát triển ý thức kỷ luật của học
viên. Nếu hoạt động này của chủ thể mang tính tự giác cao, họ sẽ có kế hoạch
cụ thể, tỷ mỷ cho các hoạt động của mình nhằm thúc đẩy quá trình hình thành,
phát triển ý thức kỷ luật của người học viên; tìm tòi nhiều hình thức, biện
pháp, sáng kiến làm cho quá trình đó ngày càng hiệu quả hơn và ngược lại.
Vì vậy, nhận thức, trách nhiệm và năng lực thực tiễn của các chủ thể,
các lực lượng giáo dục, quản lý, rèn luyện kỷ luật học viên ở Học viện An
ninh nhân dân là một cơ sở, một tiêu chí đánh giá thực trạng phát triển ý thức
kỷ luật của đối tượng học viên này.
Hai là, hệ thống tri thức, tình cảm, niềm tin, thái độ, ý chí quyết tâm
rèn luyện kỷ luật của học viên ở Học viện An ninh nhân dân.
Hệ thống tri thức, tình cảm, niềm tin, thái độ, ý chí quyết tâm rèn luyện,
chấp hành kỷ luật của người học viên là kết quả quá trình hoạt động của các
chủ thể. Đây là tiêu chí quan trọng trong đánh giá phát triển ý thức kỷ luật của
học viên ở Học viện An ninh nhân dân.
Thông qua phát triển ý thức kỷ luật của học viên ở Học viện An ninh
nhân dân được củng cố ngày càng sâu sắc, toàn diện. Nếu trước đây, những
27