MỞ ĐẦU
Theo thống kê mới nhất của tổ chức y tế thế giới WHO, Việt Nam là một
trong những nước ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương có tỉ lệ sinh thấp nhất
nhưng tỉ lệ vô sinh thì cao nhất. Cũng theo dự báo của tổ chức này thì vô sinh và
hiếm muộn là vấn đề nguy hiểm thứ ba, chỉ đứng sau ung thư và bệnh tim mạch, vì
vậy mà vấn đề này đã và đang là gánh nặng đặt trên vai những chuyên gia, bác sĩ
giới y học. Hiện nay, để giải quyết vấn đề về đường con cái cho các cặp đôi vô
sinh, hiếm muộn thì mang thai hộ được coi là một trong những biện pháp. Vậy
pháp luật có quy định điều kiện để thực hiện biện pháp mang thai hộ này hay
không? Nếu có thì đó là những điều kiện gì? Để trả lời cho câu hỏi này, em xin
chọn đề số 2: “Phân tích và đánh giá các điều kiện mang thai hộ”.
NỘI DUNG
I.
1.
Khái quát chung về mang thai hộ
Khái niệm
Mang thai hộ được hiểu là dùng biện pháp kỹ thuật lấy trứng của vợ và tinh
trùng của chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của một
phụ nữ khác để nhờ người này mang thai hộ. Theo Luật HN&GĐ 2014 thì có hai
loại mang thai hộ đó là: mang thai hộ vì mục đích nhân đạo (phi thương mại) và
mang thai hộ vì mục đích thương mại.
Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo quy định tại khoản 22, Điều 3 Luật
HN&GĐ 2014 được hiểu là việc một người phụ nữ tự nguyện, không vì mục đích
thương mại giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và
sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, bằng việc lấy noãn của
người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy
vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh
con.
Mang thai hộ vì mục đích thương mại theo quy định tại khoản 23, điều 3 Luật
HN&GĐ 2014 được hiểu là việc một người phụ nữ mang thai cho người khác bằng
việc áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản để được hưởng lợi về kinh tế hoặc lợi ích
khác.
Hiện nay, Luật HN&GĐ 2014 chỉ ghi nhận việc mang thai hộ vì mục đích nhân
đạo và không cho phép việc mang thai hộ vì mục đích thương mại. Bởi lẽ, việc
mang thai hộ với mục đích thương mại trái với văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹ
tục của dân tộc ta, không khác gì dùng tiền để mua con. Do đó, trong bài này em sẽ
chỉ đi nghiên cứu vấn đề mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
2.
Ý nghĩa của quy định về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
Về mặt xã hội
Thứ nhất,mang thai hộ đem lại cho các cặp vợ chồng vô sinh cơ hội trở thành
cha mẹ, đem lại hạnh phúc gia đình trọn vẹn, giữ vững mối quan hệ hôn nhân cho
mõi gia đình.
Thứ hai, thể hiện tính nhân văn sâu sắc, đó là sự giúp đỡ của những người phụ
nữ với nhau trong xã hội để thực hiện quyền làm mẹ
Thứ ba, mang thai hộ góp phần mang lại cho xã hội những thế hệ tương lai,
nguồn nhân lực để góp phần phát triển kinh tế, xã hội.
Về mặt pháp luật
Thứ nhất, pháp luật về mang thai hộ tạo khung pháp lý an toàn cho các giao
dịch về mang thai hộ và có cơ chế phân biệt các hình thức mang thai hộ để có
hướng xử lý thích hợp khi có xâm phạm. Giúp các cơ quan chức năng có thể kiểm
soát một phần nào đó thực trạng mang thai hộ hiện nay.
Thứ hai, bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em, tránh tình trạng lạm dụng phụ
nữ, bảo vệ những đứa trẻ được sinh ra không bị bỏ rơi, tranh chấp về quyền nuôi
dưỡng.
II.
1.
Điều kiện mang thai hộ
Điều kiện chung
Theo quy định tại điều 95 Luật HN&GĐ 2014 thì điều kiện chung đối với hai
bên trong quan hệ mang thai hộ bao gồm:
Thứ nhất, việc mang thai hộ phải được thực hiện trên cơ sở tự nguyện của các
bên.
Sự tự nguyện của các bên thể hiện ở chỗ không ai bị ép buộc, đe dọa hay cưỡng
bức thực hiện việc mang thai hộ, bên nhờ mang thai hộ mong muốn có con, bằng
nguyện vọng, ý chí của chính hai vợ chồng tự thỏa thuận việc mang thai hộ với
người nhận mang thai hộ, đối với người nhận mang thai hộ hoàn toàn vì muốn giúp
đỡ vợ chồng nhờ mang thai hộ có được người con nên đồng ý mang thai hộ mà
không bị bất kỳ ai ép buộc, đe dọa.
Thứ hai, việc mang thai hộ phải được lập thành văn bản có công chứng, chứng
thực.
Luật mới ghi nhận các bên phải tự nguyện trong việc mang thai hộ, và việc
đồng ý mang thai hộ phải được lập thành văn bản. Điều này là hoàn toàn hợp lí, vì
mang thai hộ là vấn đề nhạy cảm và chứa đựng nhiều tình cảm, tính nhân văn do
vậy không có điều gì chắc chắn rằng bên nhận mang thai hộ sẽ không thay đổi ý
định. Các bên trong quan hệ mang thai hộ phải thỏa thuận cụ thể về quyền và nghĩa
vụ của các bên, trách nhiệm cấp dưỡng cho người mang thai hộ, chi phí vê thăm
khám sức khỏe, thăm khám thai nhi định kỳ… bên cạnh đó trách nhiệm của bên
nhận mang thai hộ về việc giao con, thời hạn giao con là không thể thiếu.
Thỏa thuận mang thai hộ là vấn đề vô cùng quan trọng mà các nhà lập pháp
phải dự định và cân nhắc nhiều vấn đề. Nếu như có bất cứ kẽ hở nào trong vấn đề
này thì việc mang thai hộ sẽ tiềm ẩn rất nhiều tiêu cực, không những không đảm
bảo tính nhân đạo mà còn có thể gây ra những mâu thuẫn gay gắt. Do đó thỏa
thuận này cần phải lập thành văn bản và công chứng để đảm bảo cho sau này nếu
tranh chấp phát sinh giữa các bên, văn bản đó sẽ là căn cứ pháp lý để giải quyết
tranh chấp.
Theo quy định tại khoản 1, Điều 96 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy
định: “Thỏa thuận về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo giữa vợ chồng nhờ mang
thai hộ (sau đây gọi là bên nhờ mang thai hộ) và vợ chồng người mang thai hộ
(sau đây gọi là bên nhờ mang thai hộ) phải có các nội dung sau đây: Thông tin
đầy đủ về bên nhờ mang thai hộ và bên mang thai hộ theo các điều kiện có liên
quan quy định tại Điều 95 của Luật này; Cam kết thực hiện các quyền, nghĩa vụ
quy định tại Điều 97 và Điều 98 của Luật này; Việc giải quyết hậu quả trong
trường hợp có tai biến sản khoa; hỗ trợ để đảm bảo sức khỏe sinh sản cho người
mang thai hộ trong thời gian mang thai và sinh con, việc nhận con của bên nhờ
mang thai hộ, quyền và nghĩa vụ của hai bên đối với con trong trường hợp con
chưa được giao cho bên nhờ mang thai hộ và các quyền, nghĩa vụ khác có liên
quan; Trách nhiệm dân sự trong trường hợp một hoặc cả hai bên vi phạm cam kết
theo thỏa thuận”.
Theo quy định tại Khoản 2, Điều 96 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014
thì: “Thỏa thuận về việc mang thai hộ phải được lập thành văn bản có công
chứng. Trong trường hợp vợ chồng bên nhờ mang thai hộ ủy quyền cho nhau hoặc
vợ chồng bên mang thai hộ ủy quyền cho nhau về việc thỏa thuận thì việc ủy quyền
phải lập thành văn bản có công chứng. Việc ủy quyền cho người thứ ba không có
giá trị pháp lý. Trong trường hợp thỏa thuận về mang thai hộ giữa bên mang thai
hộ và bên nhờ mang thai hộ được lập cùng với cơ sở y tế thực hiện việc sinh con
bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì thỏa thuận này phải có xác nhận của người có
thẩm quyền của cơ sở y tế này”.
Thứ ba, hai bên đã được tư vấn về y tế, pháp lý và tâm lý
Điểm c, Khoản 2, và điểm đ, Khoản 3, Điều 95 của Luật Hôn nhân và Gia
đình năm 2014 quy định bên nhờ mang thai hộ và bên mang thai hộ phải được
“tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý”. Theo Điều 15, Điều 16, Điều 17 Nghị định
10/2015/NĐ – CP Quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm
và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo thì việc tư vấn về y tế, pháp lý,
tâm lý cho bên mang thai hộ và bên nhờ mang thai hộ là việc tư vấn một số vấn đề
như:
Đối với bên mang thai hộ đó là: Các nguy cơ, tai biến có thể xảy ra khi mang
thai như sảy thai, thai ngoài tử cung, băng huyết sau sinh và các tai biến khác; Khả
năng phải mổ lấy thai; Khả năng đa thai; Khả năng em bé bị dị tật và phải bỏ thai;
Tâm lý, tình cảm của người trong gia đình, bạn bè trong thời gian mang thai hộ;
Tâm lý trách nhiệm đối với cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ nếu để sảy thai; Tác
động tâm lý đối với con ruột của mình; Cảm giác mất mát, mặc cảm sau khi trao lại
con cho cặp vợ chồng nhờ mang thai; Chỉ thực hiện mang thai hộ khi động lực
chính là mong muốn giúp đỡ cho cặp vợ chồng nhờ mang thai, không vì mục đích
lợi nhuận;
Đối với bên nhờ mang thai hộ: Các phương án khác ngoài việc mang thai hộ
hoặc xin con nuôi; Quy trình thực hiện mang thai hộ; Các khó khăn có thể có khi
thực hiện mang thai hộ; Tỷ lệ thành công của kỹ thuật có thể rất thấp nếu dự trữ
buồng trứng thấp hay trên 35 tuổi; Chí phí điều trị cao; Các vấn đề về tâm lý trước
mắt và lâu dài của việc nhờ mang thai hộ lên cặp vợ chồng, người thân và bản thân
đứa trẻ sau này; Khả năng đa thai; Người mang thai hộ có thể có ý muốn giữ đứa
trẻ sau sinh; Khả năng đứa trẻ bị dị tật bẩm sinh; Nguy cơ các hành vi, thói quen
của người mang thai hộ có thể ảnh hưởng đến sức khỏe đứa trẻ…
Tư vấn về vấn đề pháp lý như xác định cha mẹ con trong trường hợp mang thai
hộ, quyền và nghĩa vụ của các bên .
2.
Điều kiện đối với bên nhờ mang thai hộ
Để được áp dụng phương pháp mang thai hộ thì bên nhờ mang thai hộ phải đáp
ứng các điều kiện sau:
Thứ nhất, về nguyên tắc, cặp vợ chồng nhừ mang thai hộ phải là vợ chồng hợp
pháp, nghĩa là quan hệ hôn nhân được pháp luật thừa nhận và bảo hộ. Tuy nhiên
cần lưu ý các trường hợp sau:
-Theo như quy định của Luật HN&GĐ hiện hành thì trường hợp nam nữ sống
chung với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không được pháp luật
công nhận là vợ chồng, không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng. Tuy
nhiên đối với những trường hợp nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng mà
không đăng ký kết hôn trước ngày 03/01/1987 thì vẫn được công nhận là vợ chồng.
-Trường hợp kết hôn vi phạm điều kiện kết hôn, tà ánh ủy việc kết hôn trái
pháp luật khi có yêu cầu. Tuy nhiên quan hệ hôn nhân vẫn có thể được tòa án công
nhận nếu đến thời điểm tòa án xử hủy việc kết hôn trái luật cả hai bên đã đủ điều
kiện kết hôn và hai bên yêu cầu tòa án công nhận quan hệ hôn nhân của họ thì tòa
án sẽ công nhận quan hệ hôn nhân đó. Như vậy, cặp vợ chồng trong hai trường hợp
trên vẫn được pháp luật công nhận là vợ chồng và đuccự thực hiện việc mang thai
hộ khi họ đáp ứng đủ các điều kiện về mang thai hộ.
Thứ hai, có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về việc người vợ không
thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.
Theo điểm đ, khoản 1 điều 14 Nghị định 10/2015/NĐ-CP Quy định về sinh
con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích
nhân đạo thì trong hồ sơ đề nghị thực hiện kỹ thuật mang thai hộ vì mục đích nhân
đạo phải có “Bản xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thực hiện kỹ
thuật thụ tinh trong ống nghiệm về việc người vợ có bệnh lý, nếu mang thai sẽ có
nhiều nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của người mẹ, thai nhi và người
mẹ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản”.
Như vậy tổ chức y tế có thẩm quyền xác nhận việc người vợ không thể mang thai
và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là các cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh được thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm. Mặt khác, vì biện
pháp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là biện pháp thể hiện tính nhân văn, do đó
nó chỉ được áp dụng khi cặp vợ chồng vô sinh đó không còn cách nào khác ngoài
việc thực hiện biện pháp này để có con.
Thứ ba, vợ chồng đang không có con chung. Với quy định này, do chưa có văn
bản hướng dẫn cụ thể nên có thể suy đoán các trường hợp sau:
-
Vợ chồng vô sinh, chưa có con chung với nhau;
Vợ chồng tuy đã có con chung nhưng con sau khi sinh ra đã chết;
Mỗi bên vợ, chồng đã có con riêng nhưng chưa có con chung
Biện pháp này không áp dụng cho các cặp vợ chồng đã có con chung, do muốn
có thêm con nhưng người vợ lại không thể mang thai tiếp được, vì trong trường
hợp này, ít nhiều họ đã được làm tròn trách nhiệm của một người cha, một người
mẹ.
3.
Điều kiện đối với người mang thai hộ
Thứ nhất, là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang
thai hộ;
Theo khoản 7, Điều 2 Nghị định 10/2015/NĐ-CP Quy định về sinh con bằng kỹ
thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân
đạothì: “ Người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai
hộ bao gồm: Anh, chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; anh,
chị, em con chú, con bác, con cô, con cậu, con dì của họ; anh rể, em rể, chị dâu,
em dâu của người cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha với
họ”. Việc nhà nước hạn chế phạm vi người nhận mang thai hộ là để giảm bớt rủi ro
cho bên nhờ mang thai hộ, vì khi người thân thích nhận mang thai hộ phần nhiều là
họ mong muốn giúp đỡ anh (chị) mình chứ không nhằm mục đích thương mại, còn
để người ngoài mang thai hộ thì đa phần sẽ ít có sự sẻ chia, giúp đỡ mà họ sẽ vì
một lợi ích nào đó, rủi do cũng cao hơn. Do đó, để tránh những biến tướng của việc
mang thai hộ làm mất đi những giá trị nhân văn vốn có của nó, nhà nước đã quy
định điều kiện này đối với người nhận mang thai hộ.
Thứ hai, đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ một lần;
Người phụ nữ muốn nhận mang thai hộ thì họ phải đã từng sinh con, không giới
hạn số lần sinh con mà chỉ cần đáp ứng được yêu cầu là đã từng sinh con là đủ.
Việc quy định “người mang thai hộ đã từng sinh con” là nhằm bảo vệ cho người
mang thai hộ và đứa trẻ được mang thai. Người đã từng sinh con thì chắc chắn họ
đã có kinh nghiệm trong việc chăm sóc sức khỏe của chính họ và đứa bé trong suốt
quá trình mang thai. Bên cạnh đó, người mang thai hộ này “chỉ được mang thai hộ
một lần”, quy định này nhằm bảo vệ sức khỏe cho người mang thai hộ và đồng thời
còn có nhiệm vụ là hạn chế việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo bị biến tướng
thành mang thai hộ vì mục đích thương mại, việc chỉ được mang thai hộ một lần
thì tránh người phụ nữ mang thai hộ có thể sống bằng nghề “cho thuê tử cung”, từ
đó vấn đề thương mại hóa sẽ được ngăn chặn.
Thứ ba, người mang thai hộ phải ở độ tuổi phù hợp và có xác nhận của tổ chức
y tế có thẩm quyền về khả năng mang thai hộ;
Quy định này nhằm bảo đảm việc mang thai hộ đạt được kết quả như mong
muốn, đồng thời bảo vệ sức khỏe của người nhận mang thai hộ cũng như đứa trẻ
được mang thai hộ. Sau khi thụ tinh trong ống nghiệm tạo phôi, phôi sẽ được cấy
vào tử cung của người mang thai hộ cho nên có thể hiểu rằng người mang thai hộ
là người nhận phôi. Theo quy định tại khoản 4, điều 5 Nghị định 10/2015/NĐ-CP
Quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang
thai hộ vì mục đích nhân đạothì: “Người nhận tinh trùng, nhận noãn, nhận phôi
phải có đủ sức khỏe để thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, mang thai và
sinh con; không đang mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục, nhiễm HIV,
bệnh truyền nhiễm thuộc nhóm A, B; không bị bệnh di truyền ảnh hưởng đến thế
hệ sau, không bị mắc bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức,
làm chủ được hành vi của mình”.
Thứ tư, nếu người nhận mang thai hộ có chồng thì phải có sự đồng ý bằng văn
bản của người chồng.
Đây là điều kiện về mặt ý chí của các bên trong mang thai hộ, khi người nhận
mang thai hộ có chồng thì việc mâng thai hộ không còn à việc riêng của người
nhận mang thai hộ mà trở trành việc chung, ảnh hưởng đến chung của cả hai vợ
chồng và gia đình. Bởi lẽ, mang thai là cả một quá trình dài và nguy hiểm, người
phụ nữ sẽ phải mang nặng đẻ đau suốt 9 tháng 10 ngày, và trong suốt quá trình đó
có thể xảy ra nhiều sự việc đáng tiếc không những ảnh hưởng đến tính mạng đứa
trẻ mà còn cả tính mạng của người phụ nữ. Ngoài ra, khi nhận mang thai hộ sẽ làm
ảnh hưởng ít nhiều đến đời sống hàng ngày của gia đình người nhận mang thai hộ
như việc chăm sóc con cái, nhu cầu sinh lý của người chồng… do đó, việc nhận
mang thai hộ của người đang có chồng thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của
người chồng để là cơ sở pháp lý trong việc phát sinh và thực hiện các quyền và
nghĩa vụ của hai bên trong quá trình mang thai hộ cũng như giả quyết các hệ quả
pháp lý liên quan đến mang thai hộ.
III.
Đánh giá điều kiện mang thai hộ
Trước khi Luật HN&GĐ năm 2014 được ban hành thì pháp luật nước ta cấm
mang thai hộ, chỉ khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 ra đời thì mang thai hộ
vì mục đích nhân đạo đã được ghi nhận và cho phép, Luật này có hiệu lực từ ngày
01/01/2015. Để hướng dẫn thi hành những điều liên quan đến vấn đề mang thai hộ,
ngày 28/01/2015, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 10/2015/NĐ-CP quy định
về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì
mục đích nhân đạo, Nghị định này có hiệu lực từ ngày 15/3/2015. Chỉ sau một năm
ban hành, tức là năm 2016 cả nước đã có gần 100 bộ hồ sơ đăng ký và em bé đầu
tiên đã được trào đời nhờ kĩ thuật mang thai hộvào ngày 22/1/2016. Tính đến nay,
sau gần 4 năm cho phép mang thai hộ vì mục đích nhân đạo cả nước đã có rất
nhiều hồ sơ đăng ký thực hiện kỹ thuật mang thai hộ, và rất nhiều em bé đã được
trào đời, điều đó phần nào đã đem lại niềm vui, hi vọng cho các cặp vợ chồng vô
sinh. Có thể thấy, những vấn đề pháp lý liên quan đến mang thai hộ đi vào cuộc
sống chưa lâu, bản thân những quy phạm pháp luật này cũng chưa bộc lộ hết
những hiệu quả cũng như những hạn chế của nó và dưới đây là một vài những ưu
điểm, hạn chế về quy định điều kiện mang thai hộ ở nước ta hiện nay:
1.
Ưu điểm
Quy định cho phép mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là phù hợp với thực tế
xã hội hiện nay, đáp ứng nhu cầu, nguyện vong chính đáng của các cặp vợ chồng
vô sinh, mong muốn có con mang quan hệ huyết thống của vợ chồng. Có thể nói
đây là bước tiến quan trọng bảo đảm quyền con người, quyền nghĩa vụ cơ bản của
công dân.
Pháp luật cho phép mang thai hộ vì mục đích nhân đạo cũng góp phần ổn định
được các quan hệ hôn nhân gia đình; giảm tải hạn chế, tiêu cực từ hiện tượng
“chửa hộ, đẻ thuê”, buôn bán noãn, tinh trùng trong xã hội.
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về điều kiện mang hai hộ, đối với
người nhận mang thai hộ phải là người thân thích cùng hàng bên vợ hoặc bên
chồng, người nhận mang thai hộ phải đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ
một lần. Đây là quy định mà Nhà nước nhằm loại bỏ tình trạng một người có thể
mang thai hộ nhiều lần và vì mục đích thương mại mà làm giảm đi tính nhân đạo
của việc mang thai hộ.
Quy định như vậy cũng là hợp lý, tuy nhiên quy đình này có lẽ cần phải có
trường hợp ngoại lệ, đó là trường hợp mà việc mang thai hộ chưa đạt được kết quả
cuối cùng. Giả sử trong trường hợp mà vợ chồng bị hạn chế khả năng mang thai tự
nhiên chỉ có một người thân thích duy nhât cùng hàng bên vợ hoặc bên chồng,
người này đáp ứng đủ các điều kiện mang thại hộ và tự nguyện mang thai hộ,
nhưng đứa trẻ sinh ra không may chết ngay sau khi sinh hoặc trước thời điểm sinh.
Trong trường hợp này có thể nói là mục đich cuối cùng của mang thai hộ chưa đạt
được, nhưng theo quy định mới thì người nhận mang thai hộ không thể mang thai
hộ thêm lần thứ hai. Do vậy pháp luật cần ghi nhận trường hợp ngoại lệ đối với
quy định về số lần được mang thai hộ, để đảm bảo cho mục đích cuối cùng của
việc mang thai hộ đạt được, nếu không quy định trường hơp ngoại lệ này có lẽ
nhiều trường hợp mang thai hộ sẽ là rất dở dang, gây nhiều bất mãn.
Về mặt pháp lý, pháp luật quy định rất chặt chẽ về hồ sơ đề nghị thực kiện kỹ
thuật mang thai hộ vì mục đích nhân đạo. Việc quy định chặt chẽ như vậy là cần
thiết, nó đảm bảo cho việc mang thai hộ là vì mục đích nhân đạo, tránh tình trạng
thương mại hóa việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
2.
Hạn chế
Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quy định về điều kiện để được nhờ
người mang thai hộ là: Vợ chồng đang không có con chung. Nói cách khác là chỉ
có những cặp vợ chồng chưa có người con chung nào mới được thực hiện kỹ thuật
mang thai hộ. Và đây chính là bất cập, là rào cản đối với những cặp vợ chồng tuy
đã có con chung rồi nhưng đứa con đó bị tật nguyền, tàn tật do trong quá trình sinh
nở phải can thiệp sản khoa chứ không phải tật nguyền do bệnh lý di truyền.Những
trường hợp này, nếu họ được sinh thêm con nữa là hoàn toàn chính đáng. Trẻ được
sinh ra bằng mang thai hộ sau này sẽ là chỗ dựa, chăm sóc cho bố mẹ và người
anh/chị bị tật nguyền.
Ngoài ra quy định về điều kiện người nhận mang thai hộ phải là người thân
thích cùng hàng của vợ hoặc chồng cũng là một rào cản lớn đối với những cặp vợ
chồng mà không có bất cứ một người chị, em ruột hay họ hàng nào. Những cặp vợ
chồng trong trường hợp này thì coi như hoàn toàn bất lực, không thể tiến hành
mang thai hộ theo đúng quy định của pháp luật, do đó rất dễ nảy sinh việc nhờ
mang thai hộ trái pháp luật.
Về mặt pháp lý, như chúng ta biết, một hồ sơ để duyệt được mang thai hộ phải
có rất nhiều dấu ở trong đó, nào là dấu chứng nhận người mang thai hộ cùng huyết
thống, cùng dòng máu họ hàng, rồi chứng nhận về hôn nhân gia đình... đây vừa là
ưu điểm (như đã nêu ở trên) nhưng bên cạnh đó nó lại là khó khăn đối với người
nhờ mang thai hộ. Nếu như không đầy đủ hồ sơ thì trung tâm hỗ trợ sinh sản không
dám làm bởi làm nó sẽ liên quan đến các mặt pháp lý. Nhiều khi nó trở nên quá
khó khăn cho các cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ mà không có cách nào khác.
3. Một số đề xuất, kiến nghị sửa đổi, hoàn thiện pháp luật
Quy định về cho phép mang thai hộ là tiến bộ và được nhiều người đón nhận
khá tích cực. Tuy nhiên cũng có những vấn đề, những quy định về mang thai hộ
trong luật Hôn nhân gia đình và Nghị định 10 của Chính phủ vẫn còn những điểm
còn có ý kiến khác nhau đòi hỏi các cơ quan tiếp tục xem xét để quy định về điều
kiện mang thai hộ được hoàn thiện hơn. Và em xin có một só đề xuất, kiến nghị để
sử đổi, hoàn thiện như sau:
Thứ nhất, cần cho phép vợ chồng đã có con chung nhưng không may đứa trẻ đó
bị khuyết tật do quá trình sinh nở chứ không phải do di truyền được phép nhờ
mang thai hộ, bởi lẽ việc khuyết tật của đưa trẻ là do quá trình sinh nở trong tử
cung của người mẹ mà không phải do di truyền, do đó nếu được nhờ mang thai hộ
cái phôi sẽ phát triển bình thường và đồng nghĩa với việc vợ chồng nhờ mang thai
hộ sẽ có được người con bình thường. Có thể có nhiều người cho rằng,việc quy
định như vậy là phân biệt đối xử đối với người khuyết tật , tuy nhiên suy cho cùng,
việc quy định như vậy sẽ bảo vệ được quyền lợi cho người bị khuyết tật vì người
con khỏa mạnh được sinhh ra bằng phương pháp nhờ mang thai hộ này sẽ trở thành
chỗ dựa cho cha mẹ và người anh, chị bị khuyết tật của mình.
Thứ hai, cần mở rộng phạm vi đối tượng được nhận mang thai hộ, từ việc chỉ
những người thân thích cùng hàng với vợ hoặc chồng mới được nhận mang thai hộ
có thể cho người khác không phải là người thân thích cùng hàng với vợ, chồng
cũng được nhận mang thai hộ. Bởi lẽ, trong trường hợp cả vợ và chồng đều không
có bất kì một người chị, em ruột thịt hay họ hàng nào thì họ hoàn toàn bất lực trước
điều kiện mang thai hộ của pháp luật và sẽ rất dễ dẫn tới việc thuê người khác
mang thai hộ. Như vậy thay vì không cho phép mà có thể dẫn tới hành vi vi phạm
pháp luật thì chi bằng chúng ta nên cho phép và quy định quản lý chặt chẽ hơn.
KẾT LUẬN
Như vậy, qua những phân tích trên thì ta có thể trả lời được câu hỏi đã đặt ra
ở trên, đó là để đảm bảo quyền và lợi ích của các bên cũng như tránh tình trạng lạm
dụng việc mang thai hộ mà pháp luật đã có quy định về điều kiện mang thai hộ,
theo đó chỉ được mang thai hộ khi cả hai bên đáp ứng được các điều kiện nhất định
như phải tự nguyện, phải được sự đồng ý của người chồng…. Trong quá trình tìm
hiểu, do kiến thức còn hạn chế nên bài làm vẫn còn nhiều sai xót, mong thầy cô
góp ý để bài làm được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Trường Đại học Luật Hà Nội, giáo trình Luật hôn nhân và gia đình năm
2.
3.
2017, nxb Công an nhân dân;
Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Nghị định số 10/2015/NĐ-CP Quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh
4.
5.
trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo;
Nguyễn Văn Cừ, Pháp luật về mang thai hộ ở Việt Nam
/>
6.
ItemID=166
/>