1. Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội
a. Khái niệm tồn tại xã hội và ý thức xã hội
Khái niệm tồn tại xã hội dùng để chỉ phương diện sinh hoạt vật chất và các điều kiện
sinh hoạt vật chất của xã hội.
Các yếu tố cấu thành tồn tại xã hội gồm: phương thức sản xuất vật chất, các yếu tố
thuộc điều kiện tự nhiên, hoàn cảnh địa lý, dân cư. Các yếu tố đó tồn tại trong mối
quan hệ thống nhất biện chứng, tác động lẫn nhau tạo thành điều kiện sinh tồn và phát
triển của xã hội, trong đó phương thức sản xuất vật chất là quan trọng nhất.
Khái niệm ý thức xã hội dùng để chỉ toàn bộ phương diện sinh hoạt tinh thần của xã
hội, nảy sinh từ tồn tại xã hội và phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát
triển nhất định.
Ý thức xã hội và ý thức cá nhân có quan hệ với nhau nhưng không đồng nhất với
nhau.
Cấu trúc của ý thức xã hội: Lĩnh vực tinh thần của đời sống xã hội có cấu trúc hết sức
phức tạp và có thể tiếp cận từ nhiều phương diện khác nhau.
Theo nội dung và lĩnh vực phản ánh đời sống xã hội, ý thức xã hội bao gồm: ý thức
chính trị, ý thức pháp quyền, ý thức đạo đức, ý thức thẩm mỹ, ý thức khoa học.
Theo trình độ phản ánh của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội thì ý thức xã hội được
chia thành:
Ý thức xã hội thông thường: là toàn bộ những tri thức, những quan niệm của con
người trong một cộng đồng nhất định, được hình thành một cách trực tiếp từ hoạt
động trực tiếp hàng ngày, chưa được hệ thống, khái quát thành lý luận.
Ý thức lý luận: là những tư tưởng, quan điểm đã được hệ thống hóa, khái quát hóa
thành các học thuyết xã hội, được trình bày dưới dạng những khái niệm, phạm trù,
quy luật. Ý thức lý luận có khả năng phản ánh hiện thực khách quan một cách khái
quát, sâu sắc và chính xác, vạch ra các mối liên hệ bản chất của các sự vật, hiện
tượng. Ý thức lý luận đạt trình độ cao và mang tính hệ thống tạo thành các hệ tư
tưởng.
Nếu căn cứ theo hai trình độ và hai phương thức phản ánh đối với tồn tại xã hội có thể
phân thành tâm lý xã hội và hệ tư tưởng xã hội:
Tâm lý xã hội là toàn bộ đời sống tình cảm, tâm trạng, khát vọng, ý chí... của những
cộng đồng người nhất định, phản ánh trực tiếp và tự phát hoàn cảnh sống của họ.
Hệ tư tưởng xã hội là toàn bộ các hệ thống quan niệm, quan điểm xã hội: chính trị,
triết học, đạo đức, nghệ thuật, tôn giáo... là sự phản ánh gián tiếp và tự giác đối với
tồn tại xã hội.
Trong xã hội có giai cấp thì ý thức xã hội cũng có tính giai cấp, phản ánh điều kiện
sinh hoạt vật chất và lợi ích khác nhau, đối lập nhau giữa các giai cấp.
Mỗi giai cấp đều có đời sống sinh hoạt tinh thần đặc thù của nó, nhưng hệ tư tưởng
thống trị xã hội bao giờ cũng là hệ tư tưởng của giai cấp thống trị xã hội,nó có ảnh
hưởng đến ý thức của các giai cấp khác trong xã hội.
b. Vai trò quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội
Tồn tại xã hội quyết định nội dung của ý thức xã hội; nội dung của ý thức xã hội là sự
phản ánh tồn tại xã hội C.Mác và Ph.Ăngghen đã chứng minh rằng tồn tại xã hội thế
nào thì ý thức xã hội thế ấy, đời sống tinh thần của xã hội hình thành và phát triển trên
cơ sở đời sống vật chất, do đó không thể tìm nguồn gốc của tư tưởng, tâm lý xã hội
trong bản thân nó mà phải tìm trong hiện thực vật chất.
Ý thức xã hội là sự phản ánh đối với tồn tại xã hội và phụ thuộc vào tồn tại xã hội. Ở
những thời kỳ lịch sử khác nhau, điều kiện đời sống vật chất khác nhau thì ý thức xã
hội cũng khác nhau. Mỗi khi tồn tại xã hội (nhất là phương thức sản xuất) biến đổi thì
những tư tưởng và lý luận xã hội, những quan điểm về chính trị, pháp quyền, triết
học, đạo đức, văn hóa, nghệ thuật... tất yếu sẽ biến đổi theo.
Tồn tại xã hội quyết định sự biến đổi của ý thức xã hội. Khi tồn tại xã hội nhất là
phương thức sản xuất thay đổi thì ý thức xã hội cũng thay đổi theo; sự biến đổi của ý
thức xã hội là sự phản ánh đối với sự biến đổi của tồn tại xã hội. Sự biến đổi của một
thời đại nào đó sẽ không thể giải thích được nếu chỉ căn cứ vào ý thức của thời đại đó.
Theo C.Mác: “ ...không thể nhận định về một thời đại đảo lộn như thế căn cư vào ý
thức của thời đại đó. Trái lại, phải giải thích ý thức ấy bằng những mâu thuẫn của đời
sống vật chất, bằng sự xung đột hiện có giữa các lực lượng sản xuất xã hội và những
quan hệ sản xuất xã hội”(C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị Quốc gia,
Hà Nội, 1995, t.3, tr.15.).
Quan điểm duy vật lịch sử về nguồn gốc của ý thức xã hội cũng chỉ ra rằng tồn tại xã
hội quyết định ý thức xã hội không phải một cách giản đơn, trực tiếp mà thường thông
qua các khâu trung gian. Không phải bất cứ tưtưởng, quan niệm, hình thái ý thức xã
hội nào cũng phản ánh rõ ràng và trực tiếp những quan hệ kinh tế của thời đại, nhưng
nếu xét đến cùng thì các mối quan hệ kinh tế bao giờ cũng được phản ánh bằng cách
này hay cách khác trong các tư tưởng ấy.
Ý nghĩa phương pháp luận: việc nắm vững mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội
và ý thức xã hội có vai trò quan trọng để xây dựng phương pháp nhận thức và hoạt
động thực tiễn đúng đắn, khắc phục bệnh chủ quan, duy ý chí trong hoạt động nhận
thức và thực tiễn.
2. Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội
Quan điểm duy vật biện chứng về xã hội không chỉ khẳng định tồn tại xã hội quyết
định ý thức xã hội mà còn làm sáng tỏ tính độc lập tương đối của ý thức xã hội.
Thứ nhất, ý thức xã hội thường lạc hậu so với tồn tại xã hội Tồn tại xã hội quyết định
ý thức xã hội, do đó khi tồn tại xã hội biến đổi thì ý thức xã hội cũng biến đổi theo.
Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp, sự biến đổi của tồn tại xã hộiđều ngay
lập tức dẫn đến sự biến đổi của ý thức xã hội. Trong nhiều trường hợp, ý thức xã hội
có thể tồn tại lâu dài ngay cả khi tồn tại xã hội đã thay đổi. Điều đó là do:
- Ý thức xã hội là sự phản ánh tồn tại xã hội nên ý thức xã hội chỉ có thể biến đổi sau
khi có sự biến đổi của tồn tại xã hội.
- Do sức mạnh của thói quen, truyền thống, tập quán và do tính bảo thủ của một số
hình thái ý thức xã hội.
- Ý thức xã hội luôn gắn với lợi ích của những nhóm, những tập đoàn người, những
giai cấp nhất định trong xã hội. Vì vậy, những tư tưởng cũ, lạc hậu thường được các
lực lượng xã hội phản tiến bộ cố tình duy trì để bảo vệ lợi ích của mình.
Thứ hai, ý thức xã hội có thể vượt trước tồn tại xã hội: chủ nghĩa duy vật lịch sử thừa
nhận trong điều kiện nhất định tư tưởng con người có thể vượt trước tồn tại xã hội,
nhất là các dự báo khoa học. Tuy nhiên, suy đến cùng khả năng phản ánh vượt trước
của ý thức xã hội vẫn phụ thuộc vào tồn tại xã hội.
Thứ ba, ý thức xã hội có tính kế thừa trong sự phát triển của nó: Lịch sử phát triển của
đời sống tinh thần của xã hội cho thấy ý thức xã hội của một xã hội có thể kế thừa
những giá trị của ý thức xã hội của các xã hội trước đó.Do ý thức có tính kế thừa
trong sự phát triển nên không thể giải thích một tư tưởng nào đó chỉ dựa vào những
quan hệ kinh tế hiện có mà cần phải dựa vào cả những quan hệ kinh tế trước đó.
Thứ tư, sự tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội trong sự phát triển của
chúng làm cho mỗi hình thái ý thức xã hội có những mặt, những tính chất không thể
giải thích được một cách trực tiếp từ tồn tại xã hội.
Thứ năm, ý thức xã hội có khả năng tác động trở lại tồn tại xã hội, nhất là ý thức tư
tưởng tiến bộ góp phần to lớn vào thúc đẩy tồn tại xã hội phát triển, ngược lại ý thức
xã hội lạc hậu, phản tiến bộ có thể kìm hãm sự pháttriển của tồn tại xã hội.
Nguyên lý của chủ nghĩa duy vật lịch sử về tính độc lập tương đối của ý thức xã hội
đã chỉ ra động thái phức tạp trong lịch sử phát triển của ý thức xã hội và đời sống tinh
thần của xã hội nói chung; nó bác bỏ mọi quan điểm siêu hình, máy móc, tầm thường
về mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội.
Ý nghĩa phương pháp luận:
Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về tính quyết định của tồn tại xã hội đối với ý
thức xã hội và tính độc lập tương đối của ý thức xã hội là cơ sở phương pháp luận căn
bản của hoạt động nhận thức và thực tiễn. Theo nguyên lý này, một mặt, nhận thức
các hiện tượng của đời sống tinh thần xã hội phải căn cứ vào tồn tại xã hội nhưng mặt
khác cũng phải thấy được sự độc lập tương đối giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội.
Do đó, trong thực tiễn cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới phải tiến hành đồng thời
trên cả hai mặt tồn tại xã hội và ý thức xã hội, trong đó thay đổi tồn tại xã hội là điều
kiện cơ bản để thay đổi ý thức xã hội; đồng thời, cũng cần phải thấy rằng những tác
động của đời sống tinh thần xã hội, với những điều kiện xác định cũng có thể tạo ra
những biến đổi mạnh mẽ, sâu sắc trong tồn tại xã hội. \
VẤN ĐỀ XÂY DỰNG Ý THỨC XÃ HỘI MỚI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
Trong công cuộc đổi mới đất nước, xây dựng ý thức xã hội mới là vấn đề bức thiết. Xây dựng ý
thức xã hội mới là sự nghiệp của toàn dân, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, trên cơ sở xây dựng và
phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”. Xây dựng ý thức xã
hội mới, chúng ta cần phải đẩy mạnh công cuộc xây dựng đời sống kinh tế mới, văn hoá mới, con
người mới; không ngừng hoàn thiện ý thức xã hội theo hướng khoa học, cách mạng, tiến bộ; đồng
thời tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục ý thức xã hội mới. Trong sự phát triển của mỗi cá
nhân, ngoài các yếu tố thuận về chủ thể, họ còn bị chi phối bởi quan điểm, tư tưởng, tình cảm, tâm
trạng, truyền thống của cộng đồng, tức là bị chi phối bởi ý thức xã hội. Vì vậy, khi ý thức xã hội tiến
bộ, lành mạnh sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của cá nhân và ngược lại. Bởi thế, muốn
xây dựng xã hội mới, tất yếu phải xây dựng ý thức xã hội mới và việc xây dựng ý thức xã hội mới
trở thành một nhiệm vụ của công cuộc xây dựng xã hội mới. Có thể hiểu ý thức xã hội mới mà
chúng ta đang xây dựng là toàn bộ quan điểm, tư tưởng, tình cảm, tâm trạng... của xã hội mới mà hạt
nhân là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà
nước phản ánh lợi ích căn bản của nhân dân nhằm phục vụ công cuộc xây dựng xã hội mới. Trên
thực tế, ý thức xã hội mới đó biểu hiện rất phong phú, đa dạng. Ngoài hệ tư tưởng, nó còn được biểu
hiện ra ở tâm trạng, tình cảm, nhu cầu và cả thói quen, phong tục, tập quán của cộng đồng xã hội.
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Đảng ta đã xác định: "Xã hội xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Nhà
nước và nhân dân ta xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh; do
nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản
xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc
dân tộc; con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc,
phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp
nhau cùng tiến bộ; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân
dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế
giới" (1). Có thể nói, mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa mà Đảng ta đã xác định đó là định hướng có
tính chiến lược trong việc xây dựng ý thức xã hội mới ở nước ta hiện nay. Cùng với định hướng cơ
bản trong việc phát triển các lĩnh vực của đời sống xã hội, Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
X cũng tiếp tục khẳng định một số định lớn trong quá trình xây dựng ý thức xã hội mới. Vấn đề này
có thể khái quát lại trên một số điều cơ bản sau: Thứ nhất, xây dựng ý thức xã hội mới là sự nghiệp
của toàn dân, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Về bản chất, xã hội mới là xã hội
dân chủ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "I - NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ Bao nhiêu
quyền lợi đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công cuộc đổi mới, xây dựng là trách
nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến
Chính phủ Trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm
lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân" (2). Đây là tư tưởng cơ bản khẳng định chủ thể tích cực
cũng là đối tượng phục vụ chính của xã hội mới. Ý thức xã hội mới phản ánh lợi ích của nhân dân và
chính do nhân dân xây dựng. Tinh thần này được thể hiện trong các quan điểm, chủ trương của
Đảng và Nhà nước, trong các chính sách cụ thể của từng ngành, từng địa phương. Vì vậy, mọi chủ
trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đều có sự tham gia xây dựng của nhân dân,
phản ánh lợi ích của nhân dân. Nhân dân có quyền và trách nhiệm trong việc xây dựng, hoạch định
và thi hành các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; xây dựng, tuyên truyền, quảng bá,
phát triển ý thức xã hội mới. Như vậy, có thể nói, sự nghiệp đổi mới không thể thành công nếu thiếu
sự đóng góp của nhân dân; công cuộc xây dựng nền văn hoá mới, bảo tồn giá trị truyền thống dân
tộc, kế thừa những cái tốt, l ọc bỏ những thói hư tật xấu, chống sự xuyên tạc, bóp méo của các thế
lực thù địch, không thể thành công nếu thiếu sự đóng góp của nhân dân. Mặt khác, phải thấy rằng,
việc xây dựng ý thức xã hội mới cũng không thể thành công nếu thiếu sự lãnh đạo của Đảng Cộng
sản - đội tiên phong của giai cấp cách mạng, cũng là đội tiên phong của toàn dân tộc, bởi Đảng ta là
một tổ chức chính trị bao gồm những cá nhân ưu tú nhất của xã hội. Tuy nhiên, để làm tốt vai trò
lãnh đạo, Đảng phải đổi mới, tự chỉnh đốn nhằm nâng cao năng lực, sức chiến đấu mà trước hết là
bản lĩnh chính trị, trình độ trí tuệ của Đảng. Thứ hai, xây dựng ý thức xã hội mới trên cơ sở đẩy
mạnh sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, làm cho văn hoá
thực sự trở thành mục tiêu, động lực của phát triển, thành nền tảng tinh thần của xã hội. Sự phát
triển xã hội không chỉ có đời sống vật chất, mà còn có đời sống tinh thần. Đó là hai mặt không thể
thiếu và giữa chúng có sự gắn bó, tác động tương hỗ có thể làm giàu, phong phú cho nhau và cũng
có thể kìm hãm nhau trong quá trình phát triển. Bên cạnh kinh tế, văn hoá luôn đóng vai trò quyết
định trong quá trình phát triển và sự trường tồn của mỗi quốc gia, dân tộc. Hơn nữa, từ trong bản
chất, văn hoá đã mang tính nhân văn, chứa đựng cái đúng, cái tốt, cái đẹp được cộng đồng dân tộc
sáng tạo, lưu giữ, truyền lại cho thế hệ sau thành truyền thống văn hoá, thành hồn thiêng dân tộc.
Các truyền thống này được chuyển tải vào các lĩnh vực chính trị, đạo đức, pháp luật, nghệ thuật, tôn
giáo, v.v. tạo thành môi trường văn hoá nuôi dưỡng đời sống tinh thần mỗi cá nhân và cả cộng đồng.
Trong điều kiện hiện nay, văn hoá còn đóng vai trò quan trọng trong việc điều tiết nền kinh tế thị
trường theo hướng phát triển bền vững, hạn chế bớt những mặt trái của kinh tế thị trường. Chính vì
vậy, xây dựng và phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là nội dung cốt lõi trong
đời sống tinh thần xã hội, là nhiệm vụ quan trọng trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới. Quan điểm
xây dựng và phát triển nền văn tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đã được Đảng ta đề cập đến từ rất
sớm, được phản ánh trong Đề cương văn Việt Nam (năm 1943), trong các văn kiện sau đó của Đảng.
Ngay trong Đề cương văn hoá Việt Nam, Đảng ta đã xác định văn hoá là một trong ba mặt trận: kinh
tế, chính trị, văn hoá và ba mặt trận này có quan hệ biện chứng với nhau, tạo thành động lực đưa
cách mạng tới thành công. Và cũng ở đây, văn hoá được xác định "gồm cả tư tưởng, học thuật, nghệ
thuật". Như vậy, văn là cốt lõi của ý thức xã hội và xây dựng nền văn mới là cốt lõi của việc xây
dựng ý thức xã hội mới. Với quan niệm đó, Đảng ta đã xác định ba phương châm xây dựng văn mới
là: dân tộc, khoa học và đại chúng. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên
chủ nghĩa xã hội được thông qua tại Đại hội VII (1991), Đảng ta đã chỉ rõ, xã hội mà chúng ta xây
dựng là xã hội có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Mốc đánh giá sự đổi mới toàn diện
trong tư duy về văn của Đảng thể hiện ở Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII Về xây dựng và phát
triển nền văn Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Trong Văn kiện này, Đảng ta đã khẳng
định: trong quá trình xây dựng nền văn mới, chúng ta không chỉ chú ý giữ gìn, kế thừa những giá trị
và bản sắc văn dân tộc, mà còn phải chú trọng tiếp thu, kế thừa tinh hoa văn của nhân loại. Thứ ba,
xây dựng ý thức xã hội mới gắn với việc tăng cường học tập lý luận, tuyên truyền, giáo dục, vận
dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cho hệ tư tưởng của
Đảng trở thành nền tảng và kim chỉ nam cho nhận thức, hành động của toàn Đảng và nhân dân. Bài
học đầu tiên từ 5 bài học lớn mà Đảng ta đã rút ra sau 20 năm đổi mới là: "Trong quá trình đổi mới
phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh". Đây không phải là mới, bởi tinh thần này đã được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí
Minh đặt ra ngay từ những ngày đầu cách mạng. Năm 1939, khi đưa ra quan điểm của mình về
đường lối, của Đảng trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ (1936-1939), Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: " Phải tổ
chức học tập có hệ thống chủ nghĩa Mác - Lênin để nâng cao trình độ văn và chính trị cho các đảng
viên"(3). Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đi vào giai đoạn quyết định, trong Báo cáo
chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II, Người đã khẳng định: "Học tập chủ nghĩa, dùi mài tư
tưởng, nâng cao lý luận, tổ chức - là những việc cần thiết của Đảng"(4). Tại Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ III, trong Diễn văn khai mạc, một lần nữa, Người khẳng định: "Chúng ta phải ra sức học tập
chủ nghĩa Mác - Lênin, tăng cường giáo dục tư tưởng trong Đảng"(5). Vấn đề này tiếp tục được
Đảng ta khẳng định qua các thời kỳ cách mạng. Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, nó được coi là
một nội dung quan trọng trong công tác xây dựng Đảng. Bởi lẽ, để giữ vững vai trò lãnh đạo của
Đảng, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, bên cạnh yêu cầu về năng lực, trình độ chuyên môn,
đạo đức cách mạng, đảng viên còn phải có phẩm chất chính trị tốt, kiên định lập trường độc lập dân
tộc và chủ nghĩa xã hội... Do vậy, xây dựng ý thức xã hội mới cần tiếp tục tăng cường hoạt động lý
luận, nghiên cứu sâu rộng và có những bổ sung về lý luận để làm phong phú kho tàng tri thức của
chủ nghĩa Mác - Lênin trong tình hình mới. Thứ tư, xây dựng ý thức xã hội mới cần ý thức sâu sắc
sự kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”. Ý thức xã hội mới là cốt lõi trong đời sống tinh thần xã
hội mới; nó không hình thành một cách tự phát trong lòng xã hội cũ; nó cần được chủ động nhận
thức, xây dựng, truyền bá thành ý thức chung của con người trong xã hội mới, thành động lực tinh
thần của con người trong quá trình xây dựng xã hội mới. Vì vậy, cần xây dựng ý thức xã hội mới
đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước trong thời kỳ đổi mới và hội nhập. Trước hết, đó là tri thức, tình
cảm, quyết tâm kiên định con đường xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
dưới sự lãnh đạo của Đảng. Bên cạnh đó, cần trang bị cho con người những tri thức mới của thời
đại, tri thức về kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, đặc biệt là những tri thức về khoa học và công
nghệ... Đó là yêu cầu tiên quyết trong quá trình xây dựng xã hội ta hiện nay. Đi cùng với nó là việc
bồi dưỡng lý tưởng sống, hoài bão, ước mơ, khát vọng cống hiến, đặc biệt là đối với thế hệ trẻ.
Ngoài ra, cần đẩy mạnh việc xây dựng và phát huy ý thức làm chủ trong nhân dân, bồi dưỡng và
phát huy lòng yêu nước, ý thức về dân tộc và tinh thần đoàn kết dân tộc; nâng cao ý thức phòng
chống tham nhũng, lãng phí, trước hết là trong đội ngũ cán bộ Đảng viên. Cùng với việc xây dựng,
bồi dưỡng ý thức xã hội mới, cần chống những biểu hiện cản trở sự nghiệp xây dựng đó. Về hệ tư
tưởng, đó là việc tập trung khắc phục tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị trong một bộ phận
cán bộ, đảng viên với các biểu hiện như: dao động về lý tưởng, mục tiêu và con đường phát triển của
dân tộc; phủ nhận thành quả cách mạng và giá trị truyền thống của dân tộc; thiếu thống nhất với các
quan điểm, chủ trương của Đảng, từ đó nói và làm không theo đường lối chính sách của Đảng và
Nhà nước; ý thức mất cảnh giác trước âm mưu và thủ đoạn “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù
địch; không kịp thời và kiên quyết phê phán, đấu tranh với những ý kiến, quan điểm sai trái...Tại hội
nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ chín khoá IX, Đảng ta đã nhấn mạnh: "Thường xuyên chỉ
đạo uốn nắn những nhận thức lệch lạc, mơ hồ, những biểu hiện dao động về tư tưởng, suy giảm
niềm tin vào chủ nghĩa xã hội và sự lãnh đạo của Đảng, đấu tranh không khoan nhượng chống chủ
nghĩa cá nhân, những biểu hiện cơ hội, thực dụng, bè phái, cục bộ, phê phán bác bỏ các quan điểm
sai trái thù địch, chủ động đối phó với các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực lợi dụng vấn đề tôn
giáo, dân tộc và nhân quyền chống phá cách mạng nước ta"(6). Không dừng ở góc độ hệ tư tưởng
trong tâm lý xã hội cũng cần có những biểu hiện phải khắc phục. Chủ tịch Hồ Chí Minh đ ã nhắc
nhở: “Thói quen và truyền thống lạc hậu cũng là kẻ địch to; nó ngấm ngầm ngăn trở cách mạng tiến
bộ”(7). Hiện nay, chúng ta cần phải khắc phục những biểu hiện tâm lý vốn được coi là hậu quả của
nền kinh tế tập trung, quan liêu, bao cấp - tâm lý thụ động, trông chờ, ỷ lại, xin cho, đối phó; khắc
phục tâm lý của nền kinh tế tiểu nông, sản xuất nhỏ lâu dài của lịch sử và hiện vẫn còn tồn tại là tâm
lý lạc hậu, kinh nghiệm chủ nghĩa, tuỳ tiện, đố kỵ, coi thường pháp luật và cả những tâm lý vốn khá
phổ biến ở những nước chịu nhiều ảnh hưởng của Nho giáo, như tâm lý trọng nam khinh nữ, tâm lý
gia trưởng... Đặc biệt, trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, những tâm lý này còn có nhiều biểu
hiện, biến tướng và gây hậu quả nặng nề, biến họ thành những kẻ cơ hội, cá nhân chủ nghĩa, v.v..
Xây dựng ý thức xã hội mới là quá trình lâu dài, phức tạp, để có hiệu quả, chúng ta phải thực hiện
đồng bộ các giải pháp sau: Thứ nhất, đẩy mạnh công cuộc xây dựng đời sống kinh tế mới, văn hoá
mới, con người mới. Nghiên cứu sự vận động của lịch sử qua các thời kỳ, C.Mác và Ph.Ăngghen đã
khái quát: “Không phải ý thức của con người quyết định tồn tại của họ; trái lại, tồn tại xã hội của họ
quyết định ý thức của họ”(8). Ý thức xã hội mới luôn bị chi phối bởi điều kiện sinh hoạt vật chất,
điều kiện kinh tế của xã hội mới. Vì vậy, xây dựng ý thức xã hội mới phải bắt đầu từ việc xây dựng
đời sống vật chất của xã hội mới. Những biểu hiện lệch lạc trong đời sống tinh thần ở xã hội ta thời
gian qua có nguyên nhân từ những yếu kém trong công tác tư tưởng, nhưng cũng có nguyên nhân từ
những kết quả còn rất hạn chế trong việc xây dựng nền kinh tế mới. Bên cạnh đó, xây dựng ý thức
xã hội mới cũng phụ thuộc rất nhiều vào kết quả xây dựng nền văn hoá mới, con người mới, bởi
giữa kinh tế, văn hoá và con người luôn có mối liên hệ chặt chẽ, gắn bó mật thiết với nhau, chi phối
và ảnh hưởng qua lại lẫn nhau. Thứ hai, không ngừng hoàn thiện ý thức xã hội mới theo hướng khoa
học, cách mạng, tiến bộ, đáp ứng yêu cầu xây dựng xã hội mới, con người mới. Về mặt lý luận,
chúng ta cần đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, kịp thời làm sáng tỏ những vấn đề lý
luận mà cuộc sống đang đặt ra, như vấn đề phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, vấn đề xây dựng Đảng cầm quyền trong điều kiện kinh tế nhiều thành phần, vấn đề xây dựng
Nh à nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa... Mặt khác, chúng ta cũng cần chú trọng vấn đề kế thừa và
đổi mới những giá trị truyền thống của dân tộc. Đó không chỉ là sự gìn giữ, bảo lưu các giá trị truyền
thống, mà còn tiếp thu có chọn lọc các giá trị tinh thần được du nhập từ bên ngoài. Quá trình này
cần được nhìn nhận một cách cụ thể trong điều kiện cụ thể ở nước ta hiện nay. Lòng yêu nước nồng
nàn, lòng tự hào dân tộc là những giá trị tinh thần truyền thống, song trong điều kiện hiện nay, nó
cần được thể hiện ở tinh thần cần cù, sáng tạo, ý chí quyết tâm vượt khó để cải tạo cuộc sống, đưa
đất nước thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu. Tinh thần đoàn kết dân tộc phải được thể hiện
thành tinh thần đồng athuận trên cơ sở giải quyết hài hoà lợi ích cá nhân và lợi ích cộng đồng, xoá
bỏ mặc cảm về thành phần, giai cấp, dân tộc, tôn giáo vì một nước Việt Nam độc lập, thống nhất,
dân gi àu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Thứ ba, tăng cường công tác tư tưởng
phải đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, phát huy vai trò của các phương tiện thông tin đại chúng
trong quá trình tuyên truyền, giáo dục ý thức xã hội mới. Trong công tác tư tưởng, chúng ta cần bám
sát thực tiễn, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng và tìm ra những vướng mắc trong tư tưởng của cán bộ,
đảng viên và nhân dân để kịp thời giải đáp. Tăng cường vai trò của báo chí, của các phương tiện
thông tin đại chúng khác trong việc tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước,
định hướng dư luận theo chiều hướng tích cực, đồng thời phê phán những quan điểm sai trái, luận
điệu phản động. Trong công tác giáo dục, tuyên truyền chủ nghĩa Mác-Lênin, cần tiếp tục đổi mới
nội dung, phương pháp và hình thức để việc tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin hiệu quả
hơn. Thứ tư, phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng, mở rộng dân chủ, khơi dậy tính chủ động, tự giác
của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Xây dựng ý thức xã hội mới là quá trình đấu tranh
gay go, phức tạp nhằm khắc phục những tư tưởng, tập quán lạc hậu, làm thất bại cuộc tấn công về tư
tưởng của các thế lực phản động, kế thừa những giá trị tích cực trong truyền thống và hình thành ý
thức xã hội mới. Đây là quá trình lâu dài, phức tạp, đòi hỏi tính tự giác cao. Vì vậy, thông qua chủ
trương, chính sách, Đảng cần phải khắc phục những biểu hiện của khuynh hướng coi nhẹ vai trò của
nhân tố tư tưởng, chính trị, đạo đức. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ
chức trong các cơ quan báo chí, khắc phục những biểu hiện lệch lạc trong hoạt động báo chí, xuất
bản, văn hoá, văn nghệ, nhất là những biểu hiện xa rời tôn chỉ, mục đích, chạy theo thị hiếu thấp
kém... Cùng với sự lãnh đạo của Đảng, cần mở rộng các hình thức dân chủ để nhân dân có thể tham
gia vào quá trình xây dựng ý thức xã hội mới một cách chủ động và trực tiếp. Sự nghiệp xây dựng ý
thức xã hội mới phải là quá trình tự giác, cần sự đóng góp của tất cả mọi người, trong đó đội ngũ cán
bộ, đảng viên, các chủ thể lãnh đạo, quản lý có vai trò đặc biệt quan trọng. (*)