Câu 1: Vì sao nhân dân Việt Nam, dân tộc Việt Nam lựa chọn sự ra đời của ĐCS Việt Nam?
Ý nghĩa của vấn đề này đối với cách mạng Việt Nam hiện nay?
ĐCS VN ra đời đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi của XH thời Pháp thuộc, sự ra đời là một tất
yếu khách quan, đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân Việt Nam.
1. Bối cảnh TG và trong nước tác động đến xã hội VN những năm cuối thế kỷ 19 đầu thế
kỷ 20
a. Những tác động khách quan của tình hình TG
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, sau khi CNTB tự do cạnh tranh phát triển thành chủ nghĩa
đế quốc đã chiếm hàu hết các vùng đất trên thế giới, biến các nước nhỏ yếu thành những nước
thuộc địa và phụ thuộc. Các dân tộc phải đứng lên đấu tranh tự giải phóng khỏi ách chủ nghĩa đế
quốc, thực dân, trở thành phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ, nhất là ở châu Á.
Hai năm sau CMTM Nga thắng lợi, tháng 3/1919, Quốc tế cộng sản được thành lập trở
thành bộ tham mưu chiến đấu, tổ chức lãnh đạo phong trào cách mạng vô sản toàn thế giới. Quốc
tế cộng sản đã tiến hành hàng loạt hoạt động truyền bá tư tưởng các mạng vô sản, thúc đẩy phong
trào yêu nước khu vực này đi theo khuynh hướng vô sản, trong đó có VN. b. Đòi hỏi từ lịch sử xã
hội trong nước ở Việt Nam
Tình hình xã hội VN cũng có nhiều biến đổi dưới chính sách thống trị của thực dân Pháp đối với
Việt Nam và cả Đông Dương nói chung. Đó là chính sách thống trị chuyên chế về chính trị, bóc
lột nặng nề về kinh tế nhằm đem lại lợi nhuận tối đa về kinh tế, kìm hãm và nô dịch về văn hóa,
giáo dục. Tính chất xã hội Việt Nam thay đổi từ một xã hội phong kiến độc lập thống nhất trở
thành một xã hội nữa thuộc địa, nữa phong kiến. Trong lòng XH VN đã hình thành những mâu
thuẫn đan xen nhau: mâu thuẫn giữa nong dân với địa chủ phong kiến, nhưng mâu thuẫn cơ bản
và chủ yếu là mâu thuẫn giữa dân tộc VN với thực dân Pháp và tay sai phản động. Sự thống trị,
áp bức và bóc lột càng tăng thì mâu thuẫn đó càng sâu sắc, sự phản kháng và đấu tranh vì sự tồn
vong của dân tộc càng phát triển mạnh mẽ, gay gắt về tính chất, đa dạng về nội dung và hình thức.
c. Giai cấp CN VN ra đời, cơ sở giai cấp xã hội để thành lập ĐCS
Chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp đã bước đầu du nhập QHSX TBCN, làm chuyển
biến cơ cấu kinh tế và cơ cấu xã hội của một nước phong kiến độc lập thành một nước thuộc địa
nửa phong kiến.
Chính sách thống trị của thực dân Pháp không chỉ làm phân hóa các giai cấp vốn có trong XHVN
như địa chủ phong kiến và nông dân mà còn làm xuất hiện các giai cấp mới như GCCN, GC tư
sản và các tầng lớp mới ra đời. Trái với ý muốn của thực dân Pháp, GCCN VN bắt đầu hình thành
từ đầu thế kỷ XX, khi tư bản Pháp cho xây cơ sở hạ tầng và thiết bị kinh tế phục vụ cho chương
trình khai thác ở Đông Dương. Ngoài những đặc điểm của GCCN quốc tế - đại diện cho LLSX
tiến bộ nhất, không có TLSX, bị bóc lột nên là giai cấp kiên quyết cách mạng nhất, có ý thức tổ
chức kỷ luật cao; GCCN VN có những đặc điểm riêng: ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc, do đó
không bị ảnh hưởng, tác động, chi phối của hệ tư tưởng tư sản, dễ dàng tiếp thu hệ tư tưởng mới,
đó là CN MLN; kế thừa truyền thống yêu nước của dân tộc, bị ba tầng áp bức là đế quốc, phong
kiến và tư sản nên có tinh thần CM triệt để; phần lớn xuất thân từ nông dân, là cơ sở khách quan
thuận lợi cho công nhân và nông dân liên minh chặt chẽ trong quá trình đấu tranh CM. Ngay khi
ra đời, GCCN VN đã tiếp thu ảnh hưởng của CMTM Nga. Do vậy, tuy lực lượng CNVN còn ít
nhưng sớm vươn lên tiếp nhận tư tưởng tiên tiến của thời đại, nhanh chóng phát triển đến tự giác,
thể hiện là GC có năng lực lãnh đạo CM. GCCN có sứ mệnh lịch sử là lãnh đạo quần chúng nhân
dân lao động đấu tranh xóa bỏ chế độ áp bức, bóc lột và xây dựng xã hội mới – XHCN và CSCN.
Để thực hiện sứ mệnh này thì GCCN cần phải thành lập một chính đảng lãnh đạo.
2. Các phong trào yêu nước ở Việt Nam trước khi có Đảng
Từ khi thực dân Pháp xâm lược (1958) đến những năm 20 của thế kỷ XX, tiếp tục truyền thống
yêu nước, bất khuất, kiên cường chống giặc ngoại xâm, các phong trào chống thực dân Pháp theo
ý thức hệ phong kiến: phong trào Cần Vương, các cuộc khởi nghĩa ở Ba Đình (Thanh Hóa), Bãi
Sậy (Hưng Yên), Hương Khê (Hà Tĩnh), phong trào nông dân Yên Thế (Bắc Giang)…hay theo ý
thức hệ tư sản: phong trào Đông Du, phong trào Duy Tân…của nhân dân ta diễn ra sôi nổi và liên
tục, nhưng tất cả đều không thàng công. Nguyên nhân thất bại chủ yếu là do thiếu một đường lối
chính trị đúng đắn (chưa giải quyết đúng đắn mâu thuẫn cơ bản của VN lúc đó), thiếu một tổ chức
cách mạng lãnh đạo chặt chẽ (một đảng chính trị); thiếu lực lượng cách mạng (không tập hợp được
rộng rãi các giai cấp, tầng lớp XH VN lúc đó); không đưa CM VN đi vào trào lưu CM của thế
giới, không kết hợp được sức mạng dân tộc với sức mạnh quốc tế. VN lâm vào khủng hoảng, bế
tắc đường lối cứu nước, nhiệm vụ lịch sử đặt ra cho các thế hệ yêu nước đương thời là cần phải
có một tổ chức CM tiên phong, có đường lối cứu nước đúng đắn, có khả năng tập hợp quần chúng
để giải phóng dân tộc. Đường lối cứu nước không phải là đường lối của phong kiến hay tư sản mà
phải là của vô sản, giai cấp lãnh đạo cũng phải là vô sản chứ không thể là địa chủ hay tư sản. Vì
vậy việc thành lập một chính đảng để lãnh đạo là điều cần thiết,
3. Vai trò của Nguyễn Ái Quốc trong quá trình chuẩn bị thành lập Đảng
Vai trò 1: Tìm con đường cứu nước
Trước yêu cầu cấp bách phải tìm một con đường cứu nước mới, ngày 5-6-1911 Nguyễn Ái
Quốc đã lên đường sang các nước phương Tây, xem các nước đó làm thế nào ròi quay trở về giúp
đồng bào mình thoát khỏi ách nô lệ. Người đi đến nhiều nơi trên thế giới để tìm hiểu các cuộc CM
lớn và khảo sát nhân dân các nước bị áp bức. Đầu năm 1919, Người tham gia Đảng XH Pháp.
Tháng 7/1920, người đọc Luận cương về các vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Leenin, nhờ
đó, Người trở nên sáng tỏ hơn về con đường đấu tranh giải phóng cho dân tộc mình. Tại Đại hội
lần thứ XVIII của Đảng xã hội Pháp (12/1920), Nguyễn Ái Quốc đã bỏ phiếu tán thành việc gia
nhập Quốc rế cộng sản và tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp. Từ đây, Người tiếp tục học tập
để bổ sung, hoàn thiện tư tưởng cứu nước, đồng thời tích cực truyền bá CNMLN về VN nhằm
chuẩn bị các tiền đề về tư tưởng, chính trị và tổ chức cho sự ra đời của chính đảng tiên phong ở
VN.
Vai trò 2: Chuẩn bị thành lập đảng
Về tư tưởng: NAQ truyền bá tư tưởng CNMLN về cách mạng VN thông qua hình thức báo chí
và mở các lớp tập huấn để đào tạo cán bộ. Giữa năm 1921, Nguyễn Ái Quốc cùng các đồng chí
của mình thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa và sáng lập tờ báo Le Paria (Người cùng
khổ). Người được cử làm trưởng tiểu ban nghiên cứu về Đông Dương tại Ban Nghiên cứu thuộc
địa của ĐCS Pháp. Vừa nghiên cứu lý luận, vừa tham gia hoạt động thực tiễn trong phong trào
cách mạng ở các nước trên thế giới, Nguyễn Ái Quốc đã tích cực tố cáo, lên án bản chất bóc lột
của chủ nghĩa thực dân đối với nhân dân các nước thuộc địa và kêu gọi, thức tỉnh nhân dân bị áp
bức đấu tranh giải phóng. Đồng thời tiến hành tuyên truyền tư tưởng Mác-Lenin, xây dựng mối
quan hệ gắn bó giữa những người cộng sản và nhân dân lao động Pháp với các nước thuộc địa và
phụ thuộc.
Về chính trị: lãnh tụ NAQ đã hình thành một hệ thống luận điểm chính trị (sau này phát triển
thành nội dung cơ bản trong cương lĩnh chính trị của Đảng). Một là, từ thực tiễn lịch sử phong
trào cách mạng của thế giới, NAQ khẳng định con đường cách mạng của các dân tộc bị áp bức là
chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ
có thể là sự nghiệp của CNCS và của cách mạng thế giới. Hai là, xác định cách mạng giải phóng
dân tộc là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới. Ba là, trong nước nông nghiệp lạc hậu,
nông dân là lực lượng đông đảo nhất, bị đế quốc phong kiến áp bức bóc lột nặng nề, vì vậy cần
phải thu phục và lôi cuốn được nông dân, cần phải xây dựng khối công nông làm động lực cách
mạng. Bốn là, CM muốn giành thắng lợi, trước hết phải có Đảng cách mạng nắm vai trò lãnh đạo.
Đảng muốn vững phải được trang bị CNMLN. Năm là, CM là sự nghiệp của QCND, vì vậy phải
tập hợp, giác ngộ và từng bước tổ chức QC đấu tranh từ thấp đến cao.
Về tổ chức: Sau 1.5 năm hoạt động ở Liên Xô, 11/1924 NAQ quyết định về Quảng Châu (Trung
Quốc) – nơi có rất đông người VN yêu nước để xúc tiến các công việc thành lập Đảng macsxit.
Tháng 6/1925, NAQ sáng lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, nòng cốt là Cộng Sản đoàn.
Hội đã công bố chương trình điều lệ của Hội, mục đích để làm cách mệnh dân tộc rồi sau đó làm
cách mạng thế giới. Đây được xem là tổ chức tiền thân dẫn đến sự ra đời của các tổ chức cộng sản
ở VN. Những hoạt động của Hội có ảnh hưởng và thúc đẩy mạnh mẽ sự chuyển biến của phong
trào công nhân, phong trào yêu nước những năm 1928 – 1929 theo khuynh hướng cách mạng vô
sản.
Sau khi thành lập đã mở lớp đào tạo, bồi dưỡng lý luận CNMLN cho những người trong Hội VN
cách mạng thanh niên. Theo sáng kiến của NAQ, Hội cho xuất bản tờ báo Thanh Niên làm cơ
quan tuyên truyền của Hội. Mục đích để truyền bá CNMLN về nước, giác ngộ quần chúng, đẩy
mạnh phong trào đấu tranh cách mạng theo khuynh hướng vô sản, đẩy lùi những tư tưởng dân tộc
chủ nghĩa tư bản và tiểu tư sản đang tồn tại ở VN lúc bấy giờ.
Tháng 7/1925, NAQ tham gia sáng lập Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông. Năm 1927,
các bài giảng của NAQ đã được Hội cho xuất bản thành cuốn Đường cách mệnh. Đây là cuốn sách
giáo khoa chính trị đầu tiên của CMVN, trong đó tầm quan trọng của lý luận được đặt ở vị trí hàng
đầu với cuộc vận động cách mạng và đối với đảng cách mạng tiên phong.
Từ đầu năm 1926 Hội Việt Nam cách mạng thanh niên đã bắt đầu phát triển cơ sở ở trong nước,
đầu năm 1927 các kỳ bộ được thành lập, ngoài ra còn chú trong xây dựng cơ sở trong Việt kiều ở
Thái Lan.
Như vậy HVNCMTN chưa phải là chính đảng cộng sản, nhưng chương trình hành động đã thể
hiện quan điểm lập trường của giai cấp công nhân là tổ chức tiền thân dẫn tới ra đời các tổ chức
cộng sản ở Việt Nam. Những hoạt động của Hội có ảnh hưởng và thúc đẩy mạnh mẽ sự chuyển
biến của phong trào công nhân, phong trào yêu nước VN những năm 1928 – 1929 theo khuynh
hướng CM vô sản.
Vai trò 3: Thành lập đảng
4. Hội nghị thành lập Đảng và cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng
Sau khi tích cực, khẩn trương mở lớp huấn luyện cán bộ cách mạng, tìm mọi phương thức truyền
bá CNMLN vào phong trào yêu nước VN, cuối năm 1928 HVNCMTN đưa ra chủ trương “vô sản
hóa”, nhằm đưa hội viên vào các nhà máy, đồn điền, hầm mỏ để đẩy mạnh việc truyền bá và kết
hợp CNMLN với phong trào đấu tranh của công nhân. Với không khí dân lên cao mạnh mẽ của
phong trào đấu tranh cách mạng, chỉ trong vòng 7 tháng (6/1929 – 1/1930), cả nước lần lượt đã ra
đời ba tổ chức cộng sản. Đó là, Đông Dương Cộng Sản Đảng (6/1929), An Nam Cộng Sản Đảng
(10/1929) và Đông Dương Cộng Sản liên đoàn (1/1930). Lúc này, việc thống nhất các tổ chức
cộng sản thành một Đảng Cộng Sản duy nhất, đủ khả năng lãnh đạo phong trào cách mạng của cả
nước vừa là yêu cầu của tất yếu khách quan, vừa là chỉ thị của Quốc tế cộng sản. Trước tình hình
cấp bách đó, NAQ từ Xiêm (Thái Lan) trở lại Hương Cảng (Hồng Kông) triệu tập ngay hội nghị
đại biểu các tổ chức cộng sản để thống nhất các tổ chức đó lại và thành lập một Đảng cộng sản
thống nhất.
Từ ngày 3 – 7/2/1930 tại Hương Cảng, với tư cách là đại diện của Quốc tế cộng sản, NAQ đã chủ
trì Hội nghị thống nhất các tổ chức cộng sản Việt Nam thành một tổ chức duy nhất lấy tên là Đảng
Cộng Sản Việt Nam. Tham dự hội nghị có các đồng chí Trịnh Đình Cửu, Nguyễn Đức Cảnh (đại
biểu của Đông Dương cộng sản đảng), Nguyễn Thiệu và Châu Văn Liêm (An Nam cộng sản đảng).
Hội nghị đã thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lượt vắn tắt, Điều lệ tóm tắt của Đảng và
lời kêu gọi do NAQ soạn thảo. Tất cả các tài liệu này được xem là Cương lĩnh chính trị đầu tiên
của Đảng ta. Nội dung Cương lĩnh chính trị đã nêu rõ đường lối chiến lược và sách lược phù hợp
với tình hình thực tế của cách mạng VN, đó là đấu tranh giành độc lập dân tộc, thực hiện mục tiêu
người cày có ruộng và tiến lên CNXH. ĐCS VN ra đời gắn liền với vai trò vĩ đại của lãnh tụ NAQ.
Như vậy, trong quá trình tìm đường cứu nước, NAQ đóng vai trò rất to lớn trong việc chuẩn bị về
chính trị, tư tưởng cho việc thành lập Đảng.
ĐCS VN ra đời là sản phẩm của sự kết hợp CNMLN với phong trào công nhân và phong
trào yêu nước VN. Học thuyết MLN khẳng định rằng, ĐCS là sản phẩm của sự kết hợp CNMLN
với phong trào công nhân. Quy luật chung này được đồng chí NAQ vận dụng sáng tạo vào điều
kiện VN, nơi giai cấp công nhân còn ít về số lượng, nhưng người vô sản bị áp bức, bóc lột thì
đông. Sự kết hợp CNMLN với phong trào công nông và phong trào yêu nước dẫn đến sự ra đời
của ĐCS VN. Đường lối chiến lược và sách lược cách mạng của Đảng được thể hiện trong Chính
cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt là phù hợp yêu cầu của toàn Đảng và toàn dân. Thực tiễn cách
mạng nước ta ngày càng khẳng định sự đúng đắn và sáng tạo của những tư tưởng chiến lược và
sách lược trên của đồng chí NAQ.
Như vậy ĐCS VN ra đời là đáp ứng được những đòi hỏi khách quan của XHVN thời Pháp
thuộc và nguyện vọng của nhân dân VN.
Ý nghĩa của vấn đề này đối với cách mạng Việt Nam hiện nay
Hội nghị hợp nhất các tổ chức đảng cộng sản ở Việt Nam thành một Đảng Cộng sản duy nhất Đảng Cộng sản Việt Nam - theo một đường lối chính trị đúng đắn, tạo nên sự thống nhất về tư
tưởng, chính trị và hành động của phong trào cách mạng cả nước, hướng tới mục tiêu độc lập dân
tộc và chủ nghĩa xã hội. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh dân
tộc và đấu tranh giai cấp, là sự khẳng định vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân Việt Nam và
hệ tư tưởng Mác-Lênin đối với cách mạng Việt Nam. Sự kiện Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là
sự kiện lịch sử cực kỳ trọng đại, một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt
Nam, đánh dấu một mốc son chói lọi trên con đường phát triển của dân tộc ta.
Sự ra đời của Đảng là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công
nhân và phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam, là sự kiện gắn liền với tên tuổi của Lãnh tụ
Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và việc ngay từ khi
ra đời, Đảng đã có Cương lĩnh chính trị xác định đúng đắn con đường cách mạng là giải phóng
dân tộc theo phương hướng cách mạng vô sản, chính là cơ sở để Đảng Cộng sản Việt Nam vừa ra
đời đã nắm được ngọn cờ lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam; giải quyết được tình trạng
khủng hoảng về đường lối cách mạng, về giai cấp lãnh đạo cách mạng diễn ra đầu thế kỷ XX, mở
ra con đường và phương hướng phát triển mới cho đất nước Việt Nam. Chính đường lối này là cơ
sở đảm bảo cho sự tập hợp lực lượng và sự đoàn kết, thống nhất của toàn dân tộc cùng chung tư
tưởng và hành động để tiến hành cuộc cách mạng vĩ đại giành những thắng lợi to lớn sau này. Đây
cũng là điều kiện cơ bản quyết định phương hướng phát triển, bước đi của cách mạng Việt Nam
trong suốt 85 năm qua.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và việc Đảng chủ trương cách mạng Việt Nam là một bộ
phận của phong trào cách mạng thế giới, đã tranh thủ được sự ủng hộ to lớn của cách mạng thế
giới, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại làm nên những thắng lợi vẻ vang. Đồng
thời cách mạng Việt Nam cũng góp phần tích cực vào sự nghiệp đấu tranh chung của nhân dân
thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội.
Liên hệ thực tiễn:
Trải qua 85 năm phấn đấu, xây dựng và trưởng thành, Đảng đã lãnh đạo, tổ chức và phát
huy sức mạnh to lớn của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, giành được nhiều thắng lợi vĩ đại trong
sự nghiệp cách mạng. Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011 đã chỉ ra 8 đặc trưng, 8 phương
hướng và 8 mối quan hệ để khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với CMVN hiện nay.
Với đường lỗi đề ra, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta đạt được nhiều thành tựu to lớn: Đất
nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát
triển có thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Kinh tế tăng trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước hình thành,
phát triển. Chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường. Văn hóa - xã hội có
bước phát triển; bộ mặt đất nước và đời sống của nhân dân có nhiều thay đổi. Dân chủ xã hội chủ
nghĩa được phát huy và ngày càng mở rộng. Đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng
cường. Công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền và cả hệ thống chính trị được
đẩy mạnh. Sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên; độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn
vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững. Quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và
đi vào chiều sâu; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao.
Những thành tựu đó tạo tiền đề quan trọng để nước ta tiếp tục đổi mới và phát triển mạnh
mẽ trong những năm tới; khẳng định đường lối lãnh đạo của Đảng là đúng đắn, sáng tạo; con
đường đi lên CNXH của nước ta là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của
lịch sử.
Liên hệ bản thân: nhận thức, thái độ, động cơ, tình cảm đối với vấn đề, hành vi (trong
công việc, trong học tập). Kiên định lập trường cách mạng của giai cấp công nhân, trung thành
với lý tưởng cộng sản, đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ chế
độ XHCN, vững vàng, không dao động trước bất kỳ khó khăn, thử thách nào. Ra sức phấn đấu lập
thân, lập nghiệp, đi đầu trong việc thực hiện Đường lối đổi mới đất nước của Đảng, không ngại
gian khổ, không sợ khó khắn, dám nghĩ, dám làm, quyết không cam chịu nghèo nàn, lạc hậu; cống
hiến hết mình vì mục tiêu dân giầu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.
Tích cực tham gia đấu tranh chống tham nhũng, chống các tiêu cực xã hội và tệ nạn xã hội,
phê phán những biểu hiện mơ hồ, cực đoạn hay tư tưởng sai lệch. Học tập, nắm vững lý luận
MácLênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Thường xuyên trau dồi đạo đức cách mạng, thấm nhuần đạo
đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Sự giác ngộ lý tưởng cộng sản, lòng
trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của giai cấp công nhân, suốt đời hy sinh phấn đấu
vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản là phẩm chất hàng đầu
mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra cho mỗi đảng viên cộng sản. Không ngừng học tập, rèn luyện
nâng cao trình độ và năng lực chuyên môn, hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao. Hòa đồng, hòa
nhã và có thái độ đúng đắn với đồng nghiệp và nhân dân; thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của cấp
trên, sắp xếp công việc một cách hợp lý để đạt được kết quả với năng suất và chất lượng cao nhất.
Câu 2: Nội dung cơ bản trong đường lối cách mạng giải phóng dân tộc của Đảng ta thời kỳ
1930 – 1975? Liên hệ thực tiễn quan điểm của Đảng ta hiện nay (văn kiện Đại hội XII).
I. Đường lối đấu tranh giành chính quyền (1930 - 1945)
1. Đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân được Đảng ta xác định đường lối ngay từ trong
Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng 2/1930 đã xác định:
Tại Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản thành lập một chính đảng duy nhất của Việt
Nam - Đảng Cộng sản Việt Nam tại Cửu Long - Hương Cảng (Trung Quốc) được tiến hành trong
thời gian từ ngày 6-1-1930 đến ngày 7-2-1930 (sau này tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III
của Đảng ngày 10-9-1960 quyết nghị "từ nay trở đi sẽ lấy ngày 3 tháng 2 dương lịch mỗi năm làm
ngày kỷ niệm thành lập Đảng".
Những nội dung cơ bản của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng được Hội nghị thống
nhất thông qua là:
1Khẳng định phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam. Đó là: "chủ trương
làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản (Sau này gọi là
cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa). Tính chất giai đoạn và lý luận cách
mạng không ngừng đã được thể hiện trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng: cách mạng tư sản dân
quyền là thời kỳ dự bị để tiên lên cách mạng xã hội chủ nghĩa. Đây là con đường cứu nước mới,
khác với những chủ trương, những con đường cứu nước của những nhà yêu nước đương thời đã
đi vào bê tắc và thất bại. Như vậy, ngay từ đầu Đảng ta đã tiếp thu và vận dụng sáng tạo lý luận
MÁCLÊNIN vào hoàn cảnh cụ thể của đất nước. Đường lối cơ bản của cách mạng Việt Nam được
phản ánh trong Cương lĩnh đã thiện được tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghiã xã hội.
Việc xác định đúng đắn phương hướng, con đường của cách mạng Việt Nam ngay từ đầu có ý
nghĩa hết sức quan trọng. Đó là ngọn cờ tập hợp lực lượng cách mạng, là cơ sở để giải quyết đứng
đắn các vấn đề cơ bản của cách mạng việt Nam.
2Nhiệm vụ, mục tiêu cơ bản của cách mạng Việt Nam, Cương lĩnh chỉ rõ: ''Đánh đố
đế quốc chủ nghĩa và bọn phong kiến. Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập". Tức là nhiệm
vụ của cách mạng tư sản dân quyền (sau này gọi là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân) là chống
đế quốc giành độc lập cho dân tộc và chống phong kiến để giành ruộng đất cho dân cày. Trong đó
nhiệm vụ chống đế quốc, giải phóng dân tộc là nhiệm vụ được đặt lên hàng đầu.
Xuất phát từ đặc điếm của chế độ thuộc địa nửa phong kiến, đây là hai nhiệm vụ cơ bản
của cách mạng Việt Nam. Sự kết hợp hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến đã khẳng
định tính toàn diện, triệt để của đường lối cách mạng Việt Nam. Những nhiệm vụ đó là biểu hiện
sinh động của việc kết hợp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và giải phóng
con người trong đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.
3Về lực lượng của cách mạng Việt Nam, phải đoàn kết công nhân, nông dân-đây là
lực lượng cơ bản trong đó giai cấp công nhân lãnh đạo; đồng thời Cương lĩnh nêu rõ: "Đảng phải
hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, Thanh niên, Tân Việt, v.v. đế kéo họ đi vào
phe vô sản giai cấp. Còn đối với bọn phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ
mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ đứng trung lập''. Đây là tư tưởng tập
hợp lực lượng cách mạng trên cơ sở đánh giá thái độ các giai cấp phù hợp với đặc điểm xã hội
Việt Nam.
4Về phương pháp cách mạng Việt Nam, Cương lĩnh đã khẳng định: phương pháp
cách mạng cơ bản của Việt Nam là dùng sức mạnh tổng hợp của quần chúng nhân dân để đánh đổ
đế quốc phong kiến, đó là bạo lực cách mạng. Phương pháp bạo lực cách mạng được nêu lên với
những biểu hiện cụ thể: đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến, đánh đổ các đảng
phản cách mạng như Đảng Lập hiến, đánh trúc bọn đại địa chủ và phong kiến. Chính sự thất bại
của khuynh hướng cải lương hoà bình ở Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX đã cho thấy cách
mạng muốn giành thắng lợi, không có con đường nào khác là phải sử dụng bạo lực cách mạng.
Việc nêu lên phương pháp cách mạng bạo lực trong sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta đã thể
hiện sự thấm nhuần và tiếp thu tư tưởng cách mạng bạo lực của chủ nghĩa MÁC-LÊNIN.
5Xác định vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công
nhân, phải thu phục và lãnh đạo được dân chúng.
Để thực hiện thành công sự nghiệp cách mạng, Cương lĩnh đã khẳng định vai trò quyết định
của Đảng: Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp. Để lám tròn sứ mệnh lịch sử là nhân tố tiên
phong quyết đinh thắng lơi của cách mạng Việt Nam, Đảng phải: "thu phục cho được đại bộ phận
giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng". Khẳng định bản chất giai
cấp của Đảng, vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân và chiến lược đại đoàn kết dân tộc trên cơ
sở liên minh công - nông là những vấn đế then chốt bảo đảm cho Đảng ta trở thành nhân tố duy
nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Cương lĩnh cũng nêu lên sự gắn bó, quan hệ máu thịt giữa
Đảng với quần chúng. Đây là điều kiện tạo cho Đảng có nguồn súc mạnh vĩ đại và trở thành lãnh
tụ chính trị cho cả dân tộc. Sự lãnh đạo của. Đảng là yếu tố quyết định nhất cho thắng lợi của cách
mạng Việt Nam.
6Phát huy tinh thần tự lực tự cường, đồng thời tranh thủ sự đoàn kết, ủng hộ của các
dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản thế giới, nhất là giai cấp vô sản Pháp.
7Xây dựng Đảng cách mạng vững mạnh, kêu gọi mọi người ủng hộ và gia nhập Đảng,
phải có tổ chức chặt chẽ.
Lần đầu tiên cách mạng Việt Nam có một bản cương lĩnh chính trị phản ánh được quy luật
khách quan của xã hội Việt Nam, đáp ứng những nhu cầu cơ bản và cấp bách của xã hội Việt Nam,
phù hợp với xu thế của thời đại. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Cương lĩnh ấy rất phù hợp
với nguyện vọng thiết tha của đại đa số nhân dân ta... Vì vậy, Đảng đã đoàn kết được những lực
lượng cách mạng to lớn chung quanh giai cấp mình. Còn các đảng phái của các giai cấp khác thì
hoặc bị phá sản, hoặc bị cô lập. Do đó, quyền lãnh đạo của Đảng ta - Đảng của giai cấp công nhân
- không ngừng củng cố và tăng cường".
Đường lối cách mạng DTDCND được thể rõ nhất trong giai đoạn 1939 – 1945. Đó là đường lối
giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc.
a. Bối cảnh lịch sử
Tình hình thế giới
Cuộc khủng hoảng kinh tế trong những năm 1929 – 1933 ở các nước tư bản chủ nghĩa đã
làm cho mâu thuẫn nội tại của chủ nghĩa tư bản ngày càng gay gắt và phong trào cách mạng của
quần chúng dâng cao.
Chủ nghĩa phát xít đã xuất hiện và thắng thế ở một số nơi. Chúng tiến hành chiến tranh
xâm lược, bành trướng và nô dịch các nước khác. Nguy cơ chủ nghĩa phát xít và chiến tranh thế
giới đe dọa nghiêm trọng nền hòa bình và an ninh quốc tế.
Trước tình hình đó, Đại hội lần thứ VII của Quốc tế cộng sản họp tại Matxcơva (tháng
7/1935). Đoàn đại biểu Đảng cộng sản Đông Dương do Lê Hồng Phong dẫn đầu đã tham dự Đại
hội.
Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ: Ngày 1/9/1939, phát xít Đức tấn công Ba Lan.
Hai ngày sau Anh, Pháp tuyên chiến với Đức. Tháng 6/1940, Đức tấn công Pháp. Chính phủ Pháp
đầu hàng Đức. Ngày 22/6/1941, quân phát xít Đức tấn công Liên Xô.
Tình hình trong nước
Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933 đã tác động sâu sắc không chỉ đến đời sống các giai
tầng và tầng lớp nhân dân lao động mà còn đến cả những nhà tư sản, địa chủ hạng vừa và nhỏ.
Trong khi đó, bọn cầm quyền phản động ở Đông Dương vẫn ra sức vơ vét, bóc lột, bóp nghẹt mọi
quyền tự do, dân chủ và thi hành chính sách khủng bố, đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân
ta.
Thực dân Pháp đã thi hành chính sách thời chiến rất trắng trợn. Chúng phát xít hóa bộ máy
thống trị, thẳng tay đàn áp phong trào cách mạng của nhân dân, tập trung lực lượng đánh vào Đảng
cộng sản Đông Dương
Ngày 22/9/1940, phát xít Nhật tiến vào Lạng Sơn và đổ bộ vào Hải Phòng. Ngày 23/9/1940,
tại Hà Nội, Pháp ký hiệp định đầu hàng Nhật. Từ đó, nhân dân chịu cảnh một cổ 2 tròng áp bức,
bóc lột của Pháp - Nhật. Mâu thuẫn giữa dân tộc ta với đế quốc, phát xít Pháp - Nhật trở nên gay
gắt hơn bao giờ hết.
b. Đường lối giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc
Hội nghị TW 6 (11/1939) nhận định đánh giá tình hình chiến tranh TG lần II kết thúc tạo
ra thời cơ cho CM Việt Nam:
•
Xác định nhiệm vụ mục tiêu mới là tập trung vào giải phóng dân tộc, làm cho Đông
Dương hoàn toàn độc lập.
• Thành lập mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương
• Thay đổi khẩu hiệu cách mạng “Chống Thực Dân Đế quốc”
• Chuyển hình thức đấu tranh sang hoạt động bí mật
• Tìm điều kiện khởi nghĩa
Tại hội nghị TW 7 (11/1940) Đảng đã chỉ đạo:
• Duy trì phát triển đội du kích
• Thành lập khu căn cứ CM lấy Bắc Sơn và Vũ Nhai làm trung tâm
Tại hội nghị TW 8 (5/1941) Đảng đã nhận định tình hình, hoàn chỉnh đường lối giải phóng
dân tộc:
• Đặt vấn đề chống đế quốc, giải phóng dân tộc lên hàng đầu. Mục tiêu trước mắt là đánh
đổ đế quốc và tay sai làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập. Vấn đề cần kíp là “dân
tộc giải phóng”.
• Chủ trương đoàn kết rộng rãi lực lượng toàn dân tộc, thành lập mặt trận Việt Minh để
tập hợp đông đảo mọi đảng phái, giai cấp, dân tộc, tôn giáo…miễn có lòng yêu nước,
mưu cầu độc lập nhằm đấu tranh giải phóng dân tộc.
• Chủ trương giải phóng dân tộc trong khuôn khổ từng nước.
• Đặt công tác chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang làm nhiệm vụ trung tâm của cách mạng Đông
Dương.
• Coi trọng nhiệm vụ xây dựng Đảng, đảm bảo vai trò tiên phong của giai cấp công nhân.
• Những chủ trương đúng đắn của Đảng thể hiện rõ sự trưởng thành vượt bậc của Đảng
về tư duy cách mạng, về lãnh đạo chính trị, độc lập, tự chủ trong xác định đường lối.
đặt nền tảng cho thành công của cuộc vận động, chuẩn bị khởi nghĩa và tổng khởi nghĩa
tháng 8.
c. Cách mạng tháng 8/1945
Đảng ta đã chuẩn bị mọi mặt về lực lượng Về
lực lượng chính trị:
• Thành lập mặt trận Việt Minh
• Xây dựng đề cương văn hóa với 3 nguyên tắc Dân tộc, khoa học, đại chúng nhằm mục
đích định hướng cho các nhà hoạt động văn hóa
• Xuất bản cuốn lịch sử nước ta 1941 của Nguyễn Ái Quốc nhằm định hướng tư tưởng
cho CMVN.
Về lực lượng vũ trang:
• Thành lập các đội tư vệ, đội cứu quốc, đội VN tuyên truyền giải phóng quân
• Xây dựng căn cứ địa cách mạng
Thời cơ cách mạng: Ngày 9-3-1945, phát-xít Nhật đảo chính Pháp, kéo theo đó là tình trạng
khủng hoảng chính trị ở Việt Nam. Ngay lập tức Ban Thường vụ Trung ương Ðảng đã họp và đưa
ra những nhận định khách quan về thời cơ khởi nghĩa đang đến rất gần: "Những cơ hội tốt đang
giúp cho những điều kiện khởi nghĩa mau chín muồi"; và ra Chỉ thị: "Nhật - Pháp bắn nhau và
hành động của chúng ta". Ðảng quyết định phát động cao trào chống Nhật cứu nước.
Ðến tháng 7-1945, phát-xít Ðức, Ý đã bại trận trên chiến trường châu Âu. Ở châu Á,
phátxít Nhật đang trên đường thất bại và sụp đổ. Dù đang bị ốm giữa rừng Tân Trào, Chủ tịch
Hồ Chí Minh vẫn chỉ thị cho các đồng chí: "Lúc này thời cơ đã đến, dù hy sinh tới đâu, dù phải
đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập".
Khi phát-xít Nhật đầu hàng Ðồng minh (13-8-1945), Ðảng ta khẳng định, tình thế cách
mạng đã xuất hiện, đây là cơ hội giải phóng dân tộc ngàn năm có một: "Giờ quyết định cho vận
mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta".
Cả dân tộc theo tiếng gọi của Người, nhất tề đứng lên khởi nghĩa, chỉ trong chưa đầy nửa tháng,
các địa phương trong cả nước đã giành thắng lợi.
Có thể khẳng định, thành công lớn nhất của nghệ thuật khởi nghĩa trong Cách mạng Tháng
Tám: Ðảng ta đã chọn đúng thời cơ "nổ ra đúng lúc". Ðó là lúc 16 nghìn quân Anh chưa vào miền
nam và 200 nghìn quân Tưởng chưa vào miền bắc để giải giáp quân Nhật (ngày 28/8); cũng là lúc
quân Nhật bại trận mất tinh thần, ngồi chờ Ðồng minh đến tước vũ khí; ngụy quyền tay sai bỏ trốn
hoặc đầu hàng chính quyền cách mạng. Chọn đúng thời cơ là một khoa học, là một nghệ thuật,
nhờ thế sức mạnh của toàn dân ta được nhân lên gấp bội, tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền
trong cả nước một cách nhanh, gọn, không đổ máu và thành công triệt để.
Thành công của Cách mạng Tháng Tám 1945 chứng tỏ, Ðảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ
Chí Minh có tầm nhìn vượt trước thời gian, xác định đúng thời cơ, cho nên đã chuẩn bị tốt lực
lượng, sẵn sàng chủ động, chớp thời cơ lãnh đạo nhân dân ta đứng lên tổng khởi nghĩa giành thắng
lợi. Ðây là sự vận dụng sáng tạo quy luật vận động phát triển của khởi nghĩa và cách mạng, khôn
khéo trong nghệ thuật chỉ đạo chớp thời cơ, giành thắng lợi.
Đảng ta đã lãnh đạo cao trào kháng Nhật cứu nước:
• Chuẩn bị về thời cơ và chớp thời cơ (dự báo chính xác khả năng xuất hiện thời cơ bằng
việc dự báo quân Nhật sẽ đầu hàng đồng minh là thời cơ ta đứng lên tổng khởi nghĩa)
• Chớp thời cơ lãnh đạo cuộc tổng khởi nghĩa thành công (chớp thời cơ trong vòng từ
ngày 13 - 28).
Cách mạng tháng 8 thành công trong 15 ngày nhưng đó là sự chuẩn bị chu đáo trong 15
năm của Đảng và nhân dân ta:
• Thắng lợi của cách mạng tháng Tám đã đập tan xiền xích nô lệ của chủ nghĩa đế quốc
trong gần một thế kỷ, chấm dứt sự tồn tại của chế độ quân chủ chuyên chế suốt mấy
ngàn năm và ách thống trị của phát xít Nhật.
• Ra đời nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ
trở thành người tự do, người làm chủ vận mệnh của mình.
• Đưa dân tộc Việt Nam vào kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.
2. Trong giai đoạn 1945 – 1954. Đường lối kháng chiến chống Thực dân Pháp:
a. Âm mưu của thực dân Pháp
Phát động cuộc chiến tranh ở Nam Bộ ngày 23/9/1945, những phần tử hiếu chiến trong giới
cầm quyền Pháp bộc lộ rõ âm mưu tái chiếm Đông Dương lần thứ hai. Với sức mạnh quân sự và
vũ khí vượt trội, TDP hy vọng là sẽ “đánh nhanh, thắng nhanh”. Cho nên tất cả các hoạt động đối
ngoại từ phía nhà nước ta cuối cùng đều bị vô hiệu hóa bởi dã tâm xâm lược của TDP. Vì mong
muốn hòa bình chúng ta đã phải nhân nhượng, còn TDP thì tìm mọi cách để thực hiện âm mưu
xâm lược nước ta nhanh hơn.
b. Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp
Đường lối kháng chiến chống Pháp được thực hiện thông qua các văn kiện:
• Chỉ thị kháng chiến, kiến quốc 25/11/1945
• Chỉ thị "Toàn dân kháng chiến" của trung ương Đảng (12-12-1946)
• Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chí Minh (19-12-1946)
• Tác phẩm "Kháng chiến nhất định thắng lợi" của đồng chí Trường Chinh (9-1947).
Nội dung của Đường lối xác định:
• Mục đích kháng chiến: Kế tục và phát triển sự nghiệp Cách mạng Tháng Tám, "Đánh
phản động thực dân Pháp xâm lược; giành thống nhất và độc lập".
• Tính chất kháng chiến: "Cuộc kháng chiến của dân tộc tạ là một cuộc chiến tranh cách
mạng của nhân dân, chiến tranh chính nghĩa. Nó có tính chất toàn dân, toàn diện và lâu
dài". "Là một cuộc chiến tranh tiến bộ Vì tự do, độc lập, dân chủ và hòa bình". Đó là
cuộc kháng chiến có tính chất dân tộc giải phóng và dân chủ mới.
• Chương trình và nhiệm vụ kháng chiến: “Đoàn kết toàn dân, thực hiện quân, chính, dân
nhất trí… Động viên nhân lực, vật lực, tài lực thực hiện toàn dân kháng chiến, toàn diện
kháng chiến, trường kỳ kháng chiến. Giành quyền độc lập, bảo toàn lãnh thổ, thống
nhất Trung, Nam, Bắc. Củng cố chế độ cộng hòa dân chủ…Tăng gia sản xuất, thực hiện
kinh tế tự túc…”
• Phương châm tiến hành kháng chiến: tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân, thực hiện
kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mạnh là chính.
Kháng chiến toàn dân: "Bất kỳ đàn ông, đàn bà không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc, bất
kỳ người già, người trẻ. Hễ là người Việt Nam phải đứng lên đánh thực dân Pháp", thực hiện mỗi
người dân là một chiến sỹ, mỗi làng xóm là một pháo đài.
Kháng chiến toàn diện: Đánh địch về mọi mặt chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá, ngoại
giao. Trong đó:
• Về chính trị: Thực hiện đoàn kết toàn dân, tăng cường xây dựng Đảng, chính quyền,
các đoàn thể nhân dân; đoàn kết với Miên, Lào và các dân tộc yêu chuộng tự do, hoà
bình.
• Về quân sự: Thực hiện vũ trang toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, tiêu
diệt địch, giải phóng nhân dân và đất đai, thực hiện du kích chiến tiến lên vận động
chiến, đánh chính quy, là "triệt để dùng du kích, vận động chiến. Bảo toàn thực lực,
kháng chiến lâu dài.... vừa đánh vừa võ trang thêm, vừa đánh vừa đào tạo thêm cán bộ".
• Về kinh tế: Tiêu thổ kháng chiến, xây dựng kinh tế tự cung tự túc, tập trung phát triển
nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp và công nghiệp quốc phòng.
• Về văn hoá: Xoá bỏ văn hoá thực dân, phong kiến, xây dựng nền văn hoá dân chủ mới
theo ba nguyên tắc: dân tộc, khoa học, đại chúng.
• Về ngoại giao: Thực hiện thêm bạn bớt thù, biểu dương thực lực. "Liên hiệp với dân
tộc Pháp, chống phản động thực dân pháp", sẵn sàng đàm phán nếu Pháp công nhận
Việt Nam độc lập.
Kháng chiến lâu dài (trường kỳ): Là để chống âm mưu đánh nhanh, thắng nhanh của Pháp,
để có thời gian để củng cố, xây dựng lực lượng, nhằm chuyển hoá tương quan lực lượng từ chỗ ta
yếu hơn địch đến chỗ ta mạnh hơn địch, đánh thắng địch.
Dựa vào sức mình là chính: “Phải tự cấp, tự túc về mọi mặt", vì ta bị bao vây bốn phía,
chưa được nước nào giúp đỡ nên phải tự lực cánh sinh. Khi nào có điều kiện ta sẽ tranh thủ sự
giúp đỡ của các nước, song lúc đó cũng không được ỷ lại.
Triển vọng kháng chiến: Mặc dù lâu dài, gian khổ, khó khăn, song nhất định thắng lợi.
Quá trình Đảng ta bổ sung, phát triển, hoàn chỉnh đường lối được cụ thể hóa tại Đại hội
toàn quốc lần thứ II (2/1951)
Đến đầu năm 1951, tình hình thế giới và cách mạng Đông Dương có nhiều chuyển biến
mới. Nước ta đã được các nước xã hội chủ nghĩa công nhận và đặt quan hệ ngoại giao. Cuộc kháng
chiến của nhân dân ba nước Đông Dương đã dành được những thắng lợi quan trọng. Song lợi dụng
tình thế khó khăn của thực dân Pháp, đế quổc Mỹ đã can thiệp trực tiếp vào cuộc chiến tranh Đông
Dương. Điều kiện lịch sử đó đặt ra yêu cầu bổ sung và hoàn chỉnh đường lối cách mạng, đưa cuộc
chiến tranh đến thắng lợi.
Đáp ứng yêu cầu đó, tháng 2-1951, Đảng Cộng sản Đông Dương đã họp Đại hội đại biểu
lần thứ II tại tỉnh Tuyên Quang. Đại hội đã nhất trí tán thành Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành
Trung ương do Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày và ra Nghị quyết chia tách Đảng Cộng sản Đông
Dương thành ba Đảng cánh mạng để lãnh đạo cuộc kháng chiến của ba dân tộc thắng lợi. Ở Việt
Nam, Đảng ra hoạt động công khai lấy tên là Đảng Lao động Việt Nam.
Báo cáo Hoàn thành giải phóng dân tộc, phát triển dân chủ nhân dân, tiến tới chủ nghĩa xã
hội do Tổng Bí thư Trường Chinh trình bày tại Đại hội của Đảng Lao động Việt Nam đã kể thừa
và phát triển đường lối cách mạng trong các cương lĩnh chính trị trước đây của Đảng thành đường
lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Đường lối đó được phản ánh trong Chính cương của
Đảng Lao động Việt Nam. Nội dung cơ bản là:
Tính chất xã hội: "Xã hội Việt Nam hiện nay gồm có ba tính chất: dân chủ nhân dân, một
phần thuộc địa và nửa phong kiến. Ba tính chất đó đang đấu tranh lẫn nhau. Nhưng mâu thuẫn chủ
yếu lúc này là mâu thuẫn giữa tính chất dân chủ nhân dân và tính chất thuộc địa. Mâu thuẫn đó
đang được giải quyết trong quá trình kháng chiến của dân Việt Nam chống thực dân pháp và bọn
can thiệp".
Đối tượng cách mạng: Cách mạng Việt Nam có hai đối tượng: đối tượng chính hiện nay là
chủ nghĩa đế quốc xâm lược, cụ thể lúc này là đế quốc Pháp và bọn can thiệp Mỹ; đối tượng phụ
hiện nay là phong kiến, cụ thể lúc này là phong kiến phản động.
Nhiệm vụ cách mạng: "Nhiệm vụ cơ bản hiện nay của cách mạng Việt Nam là đánh đuổi
bọn đế quốc xâm lược, giành độc lập và thống nhất thật sự cho dân tộc, xóa bỏ những di tích phong
kiến và nửa phong kiến, làm cho người cày có ruộng, phát triển chế độ dân chủ nhân đân, gây cơ
sở cho chủ nghĩa xã hội.
Ba nhiệm vụ đó khăng khít với nhau. Song nhiệm vụ chính trước mắt là hoàn thành giải
phóng dân tộc. Cho nên lúc này phải tập trung lực lượng vào việc kháng chiến để quyết thắng
quân xâm lược”
Động lực của cách mạng: Gồm "công nhân, nông dân, tiểu tư sản thành thị, tiểu tư sản trí
thức và tư sản dân tộc; ngoài ra là những thân sĩ (địa chủ) yêu nước và tiến bộ. Những giai cấp
tầng lớp và phần tử đó hợp thành nhân dân. Nền tảng của nhân dân là công, nông và lao động tri
thức"
Đặc điểm cách mạng: "giải quyết những nhiệm vụ cơ bản nói trên do nhân dân làm động
lực, công nông và lao động trí thức làm nền tảng và giai cấp công nhân lãnh đạo, cách mạng Việt
Nam hiện nay là một cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Cách mạng đó không phải là cách
mạng dân chủ tư sản lối cũ mà cũng không phải là cách mạng xã hội chủ nghĩa mà là một thứ cách
mạng dân chủ tư sản đổi mới tiến triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa".
Triển vọng của cách mạng; "Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam nhất định sẽ
đưa Việt Nam tiến tới chủ nghĩa xã hội".
Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội: "Đó là một con đường đấu tranh lâu dài, đại thể trải
qua ba giai đoạn: giai đoạn thứ nhất, nhiệm vụ chủ yếu là hoàn thành giải phóng dân tộc; giai đoạn
thứ hai, nhiệm vụ chủ yếu là xỏa bỏ những di tích phong kiến và nửa phong kiến, thực hiện triệt
để người cày có ruộng, phát triển kỹ nghệ, hoàn chỉnh chế độ dân chủ nhân dân; giai đoạn thứ ba,
nhiệm vụ chủ yếu là xây dựng cơ sở cho chủ nghĩa xã hội, tiến lên thực hiện chủ nghĩa xã hội. Ba
giai đoạn ấy không tách rời nhau, mà mật thiết liên hệ xen kẽ với nhau".
Giai cấp lãnh đạo và mục tiêu của Đảng: "Người lãnh đạo cách mạng là giai cấp công nhân
. "Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam. Mục
đích của Đảng là phát triển chế độ dân chủ nhân dân, tiến lên chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam,
để thực hiện tự do, hạnh phúc cho giai cấp công nhân, nhân dân lao động và tất cả các dân tộc đa
số, thiểu số ở Việt Nam".
Chính sách của Đảng: Có 15 chính sách lớn nhằm phát triển chế độ dân chủ nhân dân, gây
mầm mống cho chủ nghĩa xã hội và đẩy mạnh kháng chiến đến thắng lợi.
Quan hệ quốc tế: Việt Nam đứng về phe hòa bình và dân chủ, phải tranh thủ sự giúp đỡ của
các nước xã hội chủ nghĩa và nhân dân thế giới, của Trung Quốc, Liên Xô; thực hiện đoàn kết
Việt - Trung - Xô và đoàn kết Việt - Miên - Lào.
Đường lối, chính sách của Đại hội đã được bổ sung, phát triển qua các hội nghị Trung ương
tiếp theo.
Tại Hội nghị Trung ương lần thứ nhất (tháng 3-1951), Đảng đã phân tích tình hình quốc tế
và trong nước, nhấn mạnh chủ trương phải tăng cường hơn nữa công tác chỉ đạo chiến tranh, "củng
cố và gia cường quân đội chủ lực, củng cố bộ đội địa phương và dân quân du kích"; "gia cường
việc lãnh đạo kinh tế tài chính", "thực hiện việc khuyến khích, giúp đỡ tư sản dân tộc kinh doanh
và gọi vốn của tư nhân để phát triển công thương nghiệp", "Tích cực tham gia phong trào bảo vệ
hòa bình thế giới", "Củng cố Đảng về tư tưởng, chính trị và tổ chức".
Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ hai (họp từ ngày 27-9 đến ngày 5-10-1951) đã
nêu lên chủ trương đẩy mạnh cuộc kháng chiến trên cơ sở thực hiện tốt ba nhiệm vụ lớn là "ra sức
tiêu diệt sinh lực của địch, tiến tới giành ưu thế quân sự"; "ra sức phá âm mưu thâm độc của địch:
lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt", đẩy mạnh kháng chiến ở vùng
tạm bị chiếm; "củng cố và phát triển sức kháng chiến của toàn quốc, toàn dân, củng cố và phát
triển đoàn kết".
Tại Hội nghị Trung ương lần thứ tư (tháng 1-1953), vấn đề cách mạng ruộng đất được Đảng
tập trung nghiên cứu, kiểm điểm và đề ra chủ trương thực hiện triệt để giảm tô, chuẩn bị tiến tới
cải cách ruộng đất. Hội nghị cho rằng: muốn kháng chiến hoàn toàn thắng lợi, dân chủ nhân dân
thật thà thực hiện, thì phải thiết thực nâng cao quyền lợi kinh tế và chính trị của nông dân, phải
chia ruộng đất cho nông dân.
Đến Hội nghị Trung ương lần thứ năm (tháng 11- 1953), Đảng quyết định phát động quần
chúng triệt để giảm tô và tiến hành cải cách ruộng đất trong kháng chiến. "Cải cách ruộng đất để
đảm bảo cho kháng chiến thắng lợi". "Cải cách ruộng đất là chính sách chung của cả nước, nhưng
phải làm từng bước tùy điều kiện mà nơi thì làm trước nơi thì làm sau". Hội nghị cũng khẳng định:
"Cải cách ruộng đất là một cuộc cách mạng nông dân, một cuộc giai cấp đấu tranh ở nông thôn,
rất rộng lớn, gay go và phức tạp. Cho nên chuẩn bị phải thật đầy đủ, kế hoạch phải thật rõ ràng,
lãnh đạo phải thật chặt chẽ.
Đường lối hoàn thành giải phóng dân tộc, phát triển chế độ dân chủ nhân dân, tiến lên chủ
nghĩa xã hội của Đảng được thực hiện trên thực tế trong giai đoạn 1951-1954.
3. Giai đoạn 1954 – 1975. Đường lối kháng chiến chống Mỹ cứu nước:
a. Âm mưu của Đế quốc Mỹ và tay sai
Đế quốc Mỹ có tiềm lực kinh tế, quân sự hùng mạnh, âm mưu làm bá chủ thế giới với các
chiến lược toàn cầu phản cách mạng. Mỹ tìm mọi cách mở rộng phạm vi ảnh hưởng, bao vây
chống phá CNXH.
Mỹ không ký vào tuyên bố cuối cùng của hiệp định Giơnevo, tìm mọi cách thay thế TDP
ở miền Nam.
Đưa Ngô Đình Nhiệm lên làm thủ tướng chính phủ bù nhìn
Mỹ đã gạt bỏ Pháp bằng quyết định NSC 5429/2: trực tiếp viện trợ cho Ngụy quyền SG;
loại bỏ Bảo Đại
Mỹ từng bước biến Miền Nam thành căn cứ quân sự và thuộc địa kiểu mới ở Đông Nam
Á.
b. Đường lối của cách mạng Miền Nam
Đường lối của CMMN qua 21 năm được thực hiện qua rất nhiều hội nghị TW và đại hội
lần thứ III của Đảng, cụ thể:
Hội nghị lần thứ sáu BCHTW khóa II (7/1954) đã xác định: đế quốc Mỹ là kẻ thủ chính
của nhân dân thế giới và hiện đang trở thành kẻ thù chính trực tiếp của nhân dân Đông Dương.
Như vậy, Đảng ta đã sớm xác định được: kẻ thù của cách mạng Việt Nam.
9-1954 BCT ra Nghị quyết về tình hình mới, nhiệm vụ mới và chính sách mới của Đảng.
Nghị quyết đã chỉ ra những đặc điểm chủ yếu của tình hình trong lúc cách mạng Việt Nam bước
vào một giai đoạn mới là: từ chiến tranh chuyển sang hoà bình; nước nhà tạm chia làm hai miền;
từ nông thôn chuyển vào thành thị; từ phân tán chuyển đến tập trung.
Tại Hội nghị lần thứ bảy (tháng 3-1955) và lần thứ tám (tháng 8-1955) Trung ương Đảng
nhận định: muốn chống đế quốc Mỹ và tay sai, củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành
độc lập và dân chủ, điều cốt lõi là phải ra sức củng cố miền Bắc, đồng thời giữ vững và đẩy mạnh
cuộc dấu tranh của nhân dân miền Nam.
Đề cương của CMMN do đồng chí Lê Duẩn soạn thảo (6/1956) khẳng định: “Nhiệm vụ
của cách mạng miền Nam là trực tiếp đánh đổ chính quyền độc tài, phát xít Ngô Đình Diệm, tay
sai của Mỹ, giải phóng nhân dân miền Nam khỏi ách đế quốc, phong kiến, thiết lập ở miền Nam
một chính quyền liên hiệp có tính chất dân tộc, dân chủ để cùng với miền Bắc thực hiện một nước
Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập và dân chủ nhân dân”.
Đặc biệt, tháng 12-1957, tại Hội nghị Trung ương lần thứ 13, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
khẳng định: ta đang đồng thời tiến hành hai chiến lược cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và
cách mạng xã hội chủ nghĩa. Nhiệm vụ củng cố miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội có tính
chất quyết định cho toàn bộ thắng lợi cách mạng trong giai đoạn mới. Lực lượng cách mạng ở
miền Nam được duy trì và phát triển là nhân tố trực tiếp quyết định thắng lợi của cuộc đấu tranh
cách mạng của miền Nam.
Từ năm 1954 đến năm 1959, Mỹ - Diệm trắng trợn vi phạm Hiệp định Giownevơ tiến hành
tổng tuyển cử riêng rẽ khủng bố, đàn áp dã man phong trào yêu nước của nhân dân miền Nam.
Tình hình đó đặt cách mạng miền Nam vào tình trạng hết sức cấp bách. Chính vì vậy, tháng 11959,
Ban Chấp hành Trung ương đã triệu tập Hội nghị lần thứ 15 khoá II. Hội nghị họp nhiều đợt, ra
Nghị quyết về nhiệm vụ cách mạng ở miền Nam. Những nội dung cơ bản của Nghị quyết gồm:
• Hội nghị xác định cách mạng Việt Nam lúc này có hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng
xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Hai
nhiệm vụ chiến lược đó tuy có tính chất khác nhau, nhưng có quan hệ hữu cơ với nhau,
song song tiến hành.
• Nghị quyết chỉ rõ nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là: "giải phóng
miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc vaà
người cày có ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, xây
dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập và giàu mạnh"'.
• Phương hướng phát triển của cách mạng miền Nam: "ngoài con đường cách mạng, nhân
dân miền Nam không có con đường nào khác", cho nên con đường phát triển cơ bản của
cách mạng miền Nam là "khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân... đó là lấy sức
mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hơp
với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên
chính quyền cách mạng của nhân dân"'.
• Hội nghị dự kiến: "cuộc khởi nghĩa của nhân dân miền Nam cũng có khả năng chuyển
thành cuộc đấu tranh vũ trang trường kỳ. Trong tình hình đó, cuộc đấu tranh sẽ chuyển
sang một cục diện mới: đó là chiến tranh trường kỳ giữa ta và địch, và thắng lợi cuối
cùng nhất định về ta".
• Nghị quyết chỉ rõ ở miền Nam cần có Mặt trận dân tộc thống nhất riêng cho phù hợp với
tính chất và nhiệm vụ của cách mạng.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 có ý nghĩa lịch sử to lớn, không những đã mở đường cho
cách mạng miền Nam tiến lên, mà còn thể hiện rõ bán lĩnh độc lập, tự chủ, sáng tạo của Đảng ta
trong những năm tháng khó khăn của cách mạng. Có thể nói, đến Hội nghị 15, đường lối cách
mạng ở miền Nam đã được hoạch định một cách căn bản. Sau đó, đến Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ III của Đảng (từ ngày 5 đến ngày 10-9-1960), Đảng ta đã khẳng định những nội dung căn
bản đó. Đại hội đã bổ sung và hoàn chỉnh đường lối chiến lược chung của cách mạng Việt Nam.
Trong đó, Đại hội đã vạch ra nhiệm vụ chung, nhiệm vụ chiến lược, mục tiêu chiến lược của cách
mạng, đồng thời nêu bật mối quan hệ giữa hai chiến lược cách mạng ở hai miền. ĐH đề ra nhiệm
vụ chiến lược cho cách mạng cả nước và từng miền: Miền Bắc: cách mạng XHCN có vai trò quyết
định nhất. Miền Nam: Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân có vai trò quyết định trực tiếp. Cách
mạng hai miền có quan hệ mật thiết, gắn bó nhau nhằm hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ
nhân dân trong cả nước, thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà.
Quá trình Đảng bổ sung, phát triển đường lối
Hội nghị của BCT 1961, 1962: Giữ vững và phát triển thế tiến công mà ta đã giành được
sau cuộc "đồng khởi" năm 1960, đưa cách mạng miền Nam từ khởi nghĩa từng phần phát triển
thành chiến tranh cách mạng trên quy mô toàn miền.
Kết hợp khởi nghĩa của quần chúng với chiến tranh cách mạng, giữ vững và đẩy mạnh đấu
tranh chính trị, đồng thời phát triển đấu tranh vũ trang nhanh lên một bước mới, ngang tầm với
đấu tranh chính trị.
Thực hành kết hợp đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị song song, đẩy mạnh đánh địch
bằng ba mũi giáp công, ba vùng chiến lược.
Hội nghị TW lần 9 (11/1963): Hướng hoạt động đối ngoại vào việc kết hợp sức mạnh dân
tộc với sức mạnh thời đại để đánh Mỹ và thắng Mỹ. Kết hợp đấu tranh chính trị, đấu tranh vũ trang
đi đôi, cả hai đều có vai trò quyết định cơ bản, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu mới của đấu tranh
vũ trang.
Hội nghị Trung ương lần thứ 11 (tháng 3-1965) và Hội nghị Trung ương lần thứ 12 (tháng
12-1965). Hai Hội nghị đã phân tích toàn diện sâu sắc chiến lược mới của Mỹ:
+ Tính chất cơ bản của cuộc chiến tranh của Mỹ ở miền Nam vẫn là chiến tranh xâm lược
thực dân mới. Mỹ tuy có tăng về lực lượng quân sự nhưng lại có nhiều chỗ yếu cơ bản, nhất là về
chính trị.
+ Về phía ta, từ một nửa nước có chiến tranh thành cả nước có chiến tranh với mức độ và
hình thức khác nhau. Cuộc chiến đấu gay go, quyết liệt nhưng ta đã vững mạnh hơn hẳn trước, đã
có chuẩn bị về tư tưởng và tổ chức.
Từ đó, Đảng rút ra kết luận: Một là, so sánh lực lượng giữa ta và địch căn bản không thay
đổi. Vì thế, ta cần giũ vững và phát huy chiến lược tiến công. Hai là, tiếp tục tiến công và phản
công, kết hợp đấu tranh quân sự và chính trị nhưng đấu tranh quân sự ngày càng có tác dụng quyết
định trực tiếp. Ba là, chủ trương đẩy mạnh hơn nữa hoạt động đối ngoại và đấu tranh ngoại giao,
tăng cường tiếp xúc cả công khai và bí mật với nhiều nước trên thế giới, làm rõ chính nghĩa và
thiện chí của ta.
Hội nghị lần thứ 13 (1/1967) quyết định mở mặt trận ngoại giao tranh thủ sự ủng hộ của
quốc tế, phát huy sức mạnh tổng hợp để đánh Mỹ. Đây là điều kiện để chúng ta chuẩn bị cho cuộc
đàm phán ở hội nghị Pari.
Nghị quyết hội nghị lần thứ 14 (1/1968): “anh dũng tiến lên, thực hiện tổng công kích và
tổng khởi nghĩa giàng thắng lợi quyết định cho sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước”
Hội nghị lần thứ 18 (1/1970) đề ra nhiệm vụ trước mắt là đẩy mạnh cuộc kháng chiến trên
tất cả các mặt, vừa tấn công, vừa xây dựng lực lượng, giành thắng lợi từng bước đi lên giành thắng
lợi quyết định.
Hội nghị đã phân tích những thắng lợi của nhân dân hai miền Nam, Bắc, chỉ ra thất bại to
lớn của địch và đánh giá: “Qua hai năm, từ khi chuyển sang giai đoạn mới, ta đã giành được những
thắng lợi về chiến lược to lớn, toàn diện, chưa từng có, gây cho địch những thất bại nặng nề về
mọi mặt''. Thắng lợi của cách mạng hai miền đã buộc địch phải bị động, xuống thang ở miền Bắc,
từ thực hiện ném bom hạn chế (tháng 3-1968), đi đến phải chấm dứt không điều kiện cuộc chiến
tranh phá hoại (tháng 11-1968). Hội nghị xác định nhiệm vụ trước mắt của cách mạng là: kiên trì
và đẩy mạnh cuộc kháng chiến, tiếp tục phát triển chiến lược tiến công một cách toàn diện, liên
tục và mạnh mẽ, đẩy mạnh tiến công quân sự và chính trị, kết hợp với tiến công ngoại giao, vừa
tiến công địch vừa ra sức xây dựng lực lượng quân sự và chính trị của ta ngày càng lớn mạnh;
đánh bại âm mưu “Việt Nam hoá chiến tranh” của đế quốc Mỹ; tạo điều kiện cơ bản để thực hiện
một miền Nam độc lập, dân chủ, hoà bình, trung lập, tiến tới thống nhất đất nước. Hội nghị đã
vạch ra các phương châm chiến lược trong giai đoạn mới của cách mạng: 1- Đẩy mạnh tiến công
toàn diện về quân sự, chính trị, ngoại giao; kết hợp tiến công quân sự và nổi dậy của quần chúng;
kết hợp việc tiêu diệt địch với việc giành lấy và giữ vững quyền làm chủ của nhân dân. 2- Vận
dụng đúng đắn phương châm tiến công địch trên cả ba vùng chiến lược. 3- Vận dụng đúng đắn
phương châm chiến lược đánh lâu dài, trên cơ sở đó tranh thủ giành thắng lợi quyết định trong
thời gian tương đối ngắn. Về mặt tác chiến, phải thực hiện cho kỳ được một chuyển biến mạnh
mẽ trong phong trào chiến tranh du kích ở địa phương. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đặc
biệt là ở vùng thành thị, đẩy mạnh đấu tranh quân sự và nổi dậy của quần chúng ở nông thôn, mở
rộng vùng giải phóng. Hội nghị nhấn mạnh để cách mạng miền Nam tiến công thắng lợi, nhiệm
vụ của miền Bắc trước tình hình mới là: tiếp tục đưa sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội tiến
lên; ra sức tăng thêm tiềm lực kinh tế và quốc phòng, củng cố hậu phương vững mạnh; có kế
hoạch làm tròn nghĩa vụ thiêng liêng của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn; luôn luôn sẵn
sàng chiến đấu và chiến đấu tốt, đánh bại mọi âm mưu khiêu khích vũ trang hoặc mở rộng chiến
tranh xâm lược của đế quốc Mỹ và tay sai. Hội nghị kết luận: Cuộc chiến tranh đang ở bước quyết
định của giai đoạn cuối, vấn đề tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo chiến tranh của Đảng các cấp có
một ý nghĩa hết sức quan trọng.
Hội nghị lần thứ 21 (7/1973): Hội nghị đã tổng kết 18 năm chiến đấu của cuộc kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước và đề ra nhiệm vụ của cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới. Đó là sự
tổng kết có giá trị sâu sắc cả về lý luận và thực tiễn, làm cơ sở cho những quyết sách trong giai
đoạn mới.
Hội nghị nhận định đế quốc Mỹ vẫn thực hiện "học thuyết Níchxơn", áp đặt chủ nghĩa thực
dân mới ở miền Nam, chia cắt lâu dài đất nước ta, từ đó khẳng định dù tình hình phát triển như
thế nào, con đường cách mạng miền Nam vẫn là con đường bạo lực. Vì vậy, phải nắm vững thời
cơ giữ vững thế chiến lược tiến công và chỉ dạo linh hoạt để đưa cách mạng tiến lên.
Hội nghị Trung ương lần thứ 21 cũng dự kiến hai khả năng phát triển của cách mạng miền
Nam, tuy nhiên Trung ương Đảng cũng cho rằng: Dù tình hình phát triển theo khả năng nào, con
đường tiến lên giành thắng lợi của cách mạng miền Nam chỉ có thể là con đường bạo lực diễn ra
dưới hình thức này hay hình thức khác. Ta phải sẵn sàng đối phó chắc thắng với khả năng xấu
nhất là địch gây lại chiến tranh. Đồng thời, Nghị quyết Trung ương lần thứ 21 cũng đề ra những
biện pháp cơ bản để thúc đẩy cách mạng miền Nam phát triển và bảo đảm cho thắng lợi hoàn toàn.
Hội nghị của BCT cuối 1974 đầu 1975 chỉ rõ: nắm vững thời cơ lịch sử, mở nhiều chiến
dịch tổng hợp liên tiếp, đánh những trận quyết định, kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Như vậy, lần qua nhiều Hội nghị, đại hội Đảng ta đã đưa ra đường lối cho CMMN trong
từng giai đoạn có những bước khác nhau, những đều thể hiện được quyết tâm, chỉ rõ con đường,
bước đị, biện pháp để đưa nhân dân ta giành thắng lợi, Nam Bắc thống nhất một nhà.
Liên hệ thực tiễn quan điểm của Đảng ta hiện nay (văn kiện Đại hội XII): Thực chất là quan
điểm của Đảng về bảo vệ tổ quốc XHCN VN hiện nay
Câu 3: Đảng lãnh đạo đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam (miền Bắc
19541975; cả nước 1976-1986; đổi mới CNXH 1986-nay)? Lấy những thành tựu nổi bật
trong thực tiễn xây dựng CNXH để chứng minh?
A. Giai đoạn 1954 – 1975: CM CNXH ở miền Bắc
1. Đặc điểm của miền Bắc Thuận
lợi:
• Trên thế giới, hệ thống XHCN do Liên Xô đứng đầu được hình thành. Phong trào cách
mạng giải phóng dân tộc có điều kiện phát triển, trở thành một dòng thác cách mạng. Phong
trào dân chủ và hòa bình cũng đang vươn lên mạnh mẽ. Được sự giúp đỡ của các nước
XHCN anh em (Liên Xô và Trung Quốc) về nhiều mặt như: Vốn, trang thiết bị, đào tạo
nguồn nhân lực… định hướng cho XHCN phát triển.
• Ở trong nước, chính quyền dân chủ nhân dân được thành lập, có hệ thống từ trung ương
đến cơ sở. Nhân dân lao động đã làm chủ vận mệnh của đất nước. Lực lượng vũ trang nhân
dân được tăng cường.3 dòng thác cách mạng của thời đại phát triển. Miền Bắc được hòa
bình, giải phóng. Khát vọng đi lên XHCN như một động lực thúc đẩy mạnh mẽ làm cho
mọi con người cố gắng hết sức để cống hiến, quên đi khó khăn cực khổ, nghèo nàn. Khó
khăn:
• Thứ nhất, đất nước tạm thời bị chia cắt làm hai miền. Ở miền Nam, đế quốc Mỹ và tay sai
mở cuộc chiến tranh thực dân mới kéo dài suốt 20 năm, với phạm vi ngày càng mở rộng,
quy mô ngày càng leo thang. Trong thời kỳ này, miền Bắc phải đương đầu với hai cuộc
chiến tranh phá hoại có tính huỷ diệt bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ, hòng
ngăn chặn cuộc chiến tranh giải phóng của nhân dân ta ở miền Nam. Vì vậy, công cuộc
xây dựng chủ nghĩa xã hội phải trải qua ba lần khôi phục kinh tế, vừa phải bảo đảm đời
sống nhân dân và chiến đấu chống chiến tranh phá hoại, vừa phải làm tròn nghĩa vụ của
hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn miền Nam. Đặc điểm này chi phối trực tiếp đến
đường lối và chính sách trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.
• Thứ hai, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc cũng như cuộc kháng chiến
chống Mỹ, cứu nước trong cả nước đã nhận được sự giúp đỡ hết sức to lớn về mọi mặt của
các nước xã hội chủ nghĩa. Mặt khác, từ những năm 60 thế kỷ XX, trong hệ thống các nước
xã hội chủ nghĩa cũng xảy ra những chia rẽ sâu sắc, nhất là giữa Liên Xô và Trung Quốc,
đòi hỏi Đảng ta phải có đường lối sáng tạo, độc lập tự chủ, bảo đảm vừa tranh thủ được sự
giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, góp phần đấu tranh vì sự thống nhất của phong trào
cộng sản và công nhân quốc tế, vừa giữ vững được độc lập, tự chủ trong tiến trình cách
mạng.
• Thứ ba, xuất phát điểm đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội của nước ta rất thấp - từ một nước
nông nghiệp, sản xuất nhỏ là phổ biến, cơ sở vật chất nghèo nàn, lạc hậu, lại bị chiến tranh
tàn phá nặng nề. Trong khi đó, mô hình chủ nghĩa xã hội mà Liên Xô và các nước Đông
Âu áp dụng có điều kiện, hoàn cảnh, xuất phát điểm không giống nước ta. Vì vậy, việc xác
định mô hình, bước đi phải có thời gian để tìm tòi, khảo nghiệm. Đây cũng là đặc điểm lớn
chi phối đến đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc.
2. Đường lối CM XHCN
a. Khôi phục kinh tế , hàn gắn vế t thương chiế n tranh, hoàn thành về cơ bản những nhiệm vụ còn
lại của cách mạng dân tộc dân chủ (1954-1957)
Sau chín năm kháng chiến trường kỳ, gian khổ, miền Bắc bị chiến tranh tàn phá nặng nề.
Đứng trước tình hình đó, Hội nghị Bộ Chính trị tháng 9-1954 đã chỉ rõ: công việc trước mắt là ổn
định đời sống nhân dân, chống chính sách cưỡng ép di cư vào Nam của địch, hàn gắn vết thương
chiến tranh, phục hồi nền kinh tế quốc dân. Trong đó, phục hồi và phát triển sản xuất nông nghiệp
là vấn đề trọng tâm. Đây là chủ trương đúng đắn của Đảng, có ý nghĩa lớn đối với việc cải thiện
đời sống nhân dân, tạo tiền đề cho công cuộc cải tạo nông nghiệp và xây dựng mô hình quản lý
nông nghiệp phù hợp với tình hình đất nước.
Việc khôi phục kinh tế nông nghiệp có liên quan mật thiết với việc giải quyết vấn đề ruộng
đất nhằm giải phóng lực lượng sản xuất của hàng triệu nông dân, thực hiện khẩu hiệu "Người cày
có ruộng" đã được nêu lên trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng. Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy
Ban Chấp hành Trung ương khóa II (5-1955) nêu rõ chủ trương: để củng cố miền Bắc, trước hết
cần phải hoàn thành cải cách ruộng đất và coi đây là chính sách bất di bất dịch. Để đảm bảo cho
công cuộc cải cách ruộng đất giành được thắng lợi, Đảng xác định rõ phương pháp tiến hành là:
dựa hẳn vào bần cố nông, đoàn kết chặt chẽ với trung nông, liên hiệp với phú nông, đánh đổ giai
cấp địa chủ, tiêu diệt chế độ phong kiến từng bước. Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung
ương Đảng khẳng định: cải cách ruộng đất quan hệ đến củng cố miền Bắc, chẳng những đưa lại
quyền làm chủ ruộng đất cho nông dân, mà còn tạo điều kiện cho công cuộc khôi phục và phát
triển sản xuất, củng cố quốc phòng, củng cố cơ sở của Đảng và chính quyền ở nông thôn, củng cố
và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất.
Tháng 12-1955, cải cách ruộng đất đợt 5 được triển khai ở 1.732 xã, với 6 triệu dân trong
20 tỉnh và 2 thành phố. Toàn đợt cải cách ruộng đất và giảm tô (từ tháng 9-1954 đến tháng 71956)
đã đạt được kết quả như sau:
+ Tiến hành 8 đợt giảm tô ở 1.777 xã với 1.106.995 ha ruộng đất; 5 đợt cải cách ruộng đất
ở 3.653 xã trên toàn vùng đồng bằng, trung du và 280 xã miền núi với 2.435.518 nhân khẩu, can
thiệp vào 1,5 triệu hécta; đã tịch thu, trưng thu, trưng mua: 810.000 ha ruộng đất chia cho 2,2 triệu
hộ nông dân gồm 9,5 triệu người (72,8% số hộ ở nông thôn được chia ruộng đất).
+ Hoàn thành việc xoá bỏ giai cấp địa chủ và quan hệ sản xuất phong kiến ở miền Bắc;
nâng cao quyền làm chủ cho nông dân ở nông thôn, giải phóng một bước sức sản xuất trong nông
nghiệp, nông thôn.
Kế hoạch 3 năm 1955-1957: Khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, phát triển
SX, ổn định ĐSND
• Nông nghiệp: Là hoạt động trọng tâm. Chính sách cụ thể: miễn thuế, giảm thuế, tự do thuê
mướn nhân công, trâu bò, phát triển nghề phụ...
• Công nghiệp, thương nghiệp, thủ công nghiệp: Nhà nước bảo hộ cho các XN công, tư được
sản xuất, tự do lưu thông hàng hóa; công thương nghiệp tư nhân nếu không làm hại đến
quốc kế dân sinh thì được tự do phát triển. Kết quả: 1957: 150.000 cơ sở sx, 1958: 78 XN
quốc doanh, 46.430 CN.
• GTVT: Mau chóng khôi phục và phát triển các tuyến đường sắt cũng như đường bộ, đường
thủy, đường không.
• Các lĩnh vực giáo dục, văn hoá, y tế phát triển nhanh. Sau ba năm đã có hơn một triệu
người thoát nạn mù chữ. Tổng số học sinh phổ thông lên tới trên 1 triệu. Số học sinh trung
học chuyên nghiệp là 7.783 người. Số sinh viên đại học lên tới 3.664 người, gấp hơn 6 lần
số sinh viên thời kỳ chiến tranh, gần 2.000 học sinh được gửi đi học tại các nước xã hội
chủ nghĩa.
Bên cạnh những thắng lợi to lớn đó, trong khi tiến hành cải cách ruộng đất và chỉnh Đảng,
chúng ta đã phạm một số sai lầm nghiêm trọng trong chỉ đạo thực hiện. Với tinh thần tự phê bình
và phê bình, với ý thức trách nhiệm cao trước toàn thể nhân dân, Đảng ta một mặt nhanh chóng
sửa chữa sai lầm, mặt khác có những biện pháp củng cố và phát huy thắng lợi. Cho đến cuối năm
1957, công tác sửa sai đã đưa lại kết quả tốt: nông thôn dần dần ổn định; nội bộ Đảng đoàn kết,
nhất trí; lòng tin của quần chúng đối với Đảng được khôi phục; sản xuất nông nghiệp được đẩy
mạnh; khối liên minh công - nông được củng cố.
b. Cải tạo xã hội chủ nghĩa, bước đầu phát triển kinh tế và văn hoá (1958-1960)
HN TW 8 (8.1955): Xây dựng thí điểm HTX
Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá II) tháng 11-1958 đã xác định:
Nhiệm vụ chung của toàn Đảng, toàn dân ta là ra sức củng cố miền Bắc, đưa miền Bắc tiến dần
lên chủ nghĩa xã hội, đồng thời kiên quyết đấu tranh chống Mỹ - Diệm nhằm thực hiện thống nhất
nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ. Đề ra kế hoạch 3 năm lấy cải tạo làm trọng tâm. Nhiệm
vụ trước mắt của miền Bắc là đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với thành phần kinh tế cá thể
của nông dân, thợ thủ công và thành phần kinh tế tư bản tư doanh; đồng thời ra sức phát triển
thành phần kinh tế quốc doanh, làm cho thành phần kinh tế này giữ vai trò nền tảng của nền kinh
tế quốc dân.
Hội nghị lần thứ 16 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (4-1959) đã xác định những vấn đề
cơ bản của đường lối, chính sách hợp tác hoá nông nghiệp. Hội nghị khẳng định chỉ có đi vào con
đường hợp tác hoá, làm ăn tập thể mới khắc phục được những khó khăn trong sản xuất, cải thiện
đời sống. Phương châm tiến hành hợp tác hoá là: "tích cực lãnh đạo, vững bước tiến lên; quy hoạch
về mọi mặt, sát với từng vùng; làm tốt, vững và gọn". Hình thức, bước đi, tốc độ của quá trình cải
tạo xã hội chủ nghĩa phải phù hợp, từ thấp lên cao, tập dượt cho nông dân và thợ thủ công quen
dần với cung cách làm ăn tập thể, từ tổ đổi công, hợp tác xã bậc thấp, tiến lên hợp tác xã bậc cao.
Quy mô cũng phải từ nhỏ lên lớn. Việc đẩy mạnh cải tạo quan hệ sản xuất cũ và xây dựng quan
hệ sản xuất mới phải tuân thủ nguyên tắc "tự nguyện, cùng có lợi và quản lý dân chủ". Thông qua
quyết định hợp tác hóa nông nghiệp và cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh.
Thực hiện chủ trương của Đảng, phong trào hợp tác hoá được đẩy mạnh từ cuối năm 1958
và nhanh chóng trở thành cao trào. Mùa thu năm 1958, tiến hành thí điểm ở 134 hợp tác xã, đến
cuối năm 1960 miền Bắc về cơ bản đã hoàn thành cải tạo xã hội chủ nghĩa trong nông nghiệp, có
41.401 hợp tác xã (chủ yếu là hợp tác xã bậc thấp) với 85% số hộ nông dân tham gia, chiếm 76%
ruộng đất của nông dân. Phong trào hợp tác hoá nhanh chóng hoàn thành là do nhiều nhân tố: sự
quyết tâm của Đảng và chính quyền các cấp; khí thế cách mạng và khát vọng của nông dân muốn
sớm thoát khỏi cuộc sống đói nghèo và niềm tin tuyệt đối vào con đường cách mạng xã hội chủ
nghĩa. Phong trào hợp tác hoá nông nghiệp thời gian này đã có tác dụng tích cực trong việc đẩy
mạnh sản xuất, đưa mức tăng trưởng bình quân của sản xuất nông nghiệp đạt 5,6%, đưa tổng sản
lượng lương thực lên mức cao vào năm 1959 là 5,15 triệu tấn; đời sống vật chất và văn hoá của
nhân dân miền Bắc được cải thiện một bước.
Bên cạnh những thành công nổi bật đó, quá trình tiến hành hợp tác hoá nông nghiệp bộc lộ
một số thiếu sót. Nhiều địa phương chạy theo thành tích, gò ép, áp đặt theo kiểu hành chính mệnh
lệnh, cưỡng bức tập thể hoá tư liệu sản xuất, vi phạm nguyên tắc tự nguyện, dân chủ, cùng có lợi,
vi phạm nguyên tắc của Đảng về hợp tác hoá. Các hợp tác xã mới thiết lập gặp nhiều khó khăn,
lúng túng trong tổ chức lao động, sản xuất, quản lý và phân phối. Tham ô, lãng phí dần xuất hiện.
Nguyên nhân cơ bản của tình trạng này là do bệnh chủ quan, nóng vội trong quá trình hợp
tác hoá; đồng nhất hợp tác hoá với tập thể hoá; chưa chuẩn bị được những điều kiện cần thiết
cho hợp tác xã tồn tại và phát triển. Đặc biệt là cơ sở vật chất - kỹ thuật còn nghèo nàn, lạc hậu,
sản xuất hàng hoá còn yếu kém; cán bộ quản lý vừa yếu lại vừa thiếu, chưa được đào tạo; quần
chúng chưa được chuẩn bị tốt về tư tưởng, v.v..
Cùng với nhiệm vụ cải tạo xã hội chủ nghĩa, Nhà nước tăng cường đầu tư xây dựng một
bước cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Từ năm 1958 đến năm 1960, đã xây dựng 130
công trình công nghiệp trên hạn ngạch như: khu gang thép Thái Nguyên, nhà máy Súppe phốt phát
Lâm Thao... với tổng số vốn là 3.481 triệu đồng và đã đưa được 86 nhà máy, xí nghiệp vào sản
xuất. Nếu như năm 1957, miền Bắc mới có 97 xí nghiệp thì đến năm 1960 đã có 172 xí nghiệp do
trung ương quản lý và trên 500 xí nghiệp do địa phương quản lý. Công nghiệp quốc doanh tăng
từ 10,8% năm 1955 lên 52,4% năm 1960 trong tổng sản lượng công nghiệp.
Những thành quả kinh tế tạo thêm điều kiện cho sự nghiệp văn hoá, giáo dục, y tế phát
triển. Hệ thống giáo dục phổ thông phát triển mạnh, số học sinh năm 1960 tăng 80 lần so với năm
1957. Cơ sở y tế năm 1960 tăng hơn 11 lần so với năm 1955. Đời sống văn hoá, trình độ hiểu biết
của các tầng lớp nhân dân được nâng lên rõ rệt.
c. Đại hội lần thứ III (9.1960) và kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965) Mục tiêu:
• Đưa MB tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên CNXH
• Xây dựng cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc ở MB
• Củng cố MB thành cơ sở vững mạnh cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà
• Góp phần tăng cường phe XHCN và bảo vệ hòa bình Đông Nam Á Biện pháp:
•
•
Chính trị: Sử dụng chính quyền DCND làm nhiệm vụ lịch sử của chuyên chính vô sản.
Kinh tế: Thực hiện cải tạo XHCN đối với các thành phần KT; Thực hiện CNH XHCN bằng
cách phát triển CN nặng một cách hợp lý đồng thời ra sức phát triển NN và CN nhẹ.
• Văn hóa – Khoa học: Đẩy mạnh cách mạng về văn hóa, tư tưởng và khoa học.
d. Kế hoạch 5 năm (1961-1965): có nhiệm vụ
• Xây dựng CNXH làm trọng tâm
• Thực hiện một bước CNH XHCN
• Xây dựng bước đầu cơ sở vật chất cho CNXH
• Hoàn thành cải tạo XHCN
• Quá trình thực hiện: Các phong trào thi đua được phát động: 3 xây, 3 chống (cải tiến quản
lý HTX, kỹ thuật NN, nâng cao ý thức trách nhiệm; chống tham ô, lãng phí, quan liêu) =>
Bắt đầu bộc lộ một số hạn chế trong phát triển KT
e. Chuyển hướng phát triển kinh tế , tiế p tục xây dựng CNXH trong điều kiện cả nước có chiế n
tranh (1965 – 1975):
HN TW 11 (3.1965): Kịp thời chuyển hướng về tư tưởng, tổ chức và xây dựng kinh tế, tăng
cường lực lượng quốc phòng để có đủ sức mạnh bảo vệ miền bắc, sẵn sàng chi viện cho miền nam,
đáp ứng yêu cầu xây dựng cơ sở VC – KT cho CNXH.
HN TW 12 (12.1965): Xây dựng miền bắc vững mạnh về kinh tế, quốc phòng, khắc phục
khó khăn, đẩy mạnh SXNN, công nghiệp và thủ công nghiệp.
HN TW 19 (1.1971): Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ
tập thể của NDLĐ, tiến hành 3 cuộc CM QHSX, KHKT (then chốt), tư tưởng và VH; ưu tiên phát
triển CN nặng 1 cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, xây dựng kinh
tế TW đồng thời phát triển kinh tế địa phương, kết hợp kinh tế và quốc phòng.
HN TW 22 (cuối 1973): Phải đưa nền kinh tế miền bắc từ SX nhỏ lên SX lớn XHCN, nắm
vững nhiệm vụ trọng tâm trong suốt TKQĐ là công nghiệp hóa XHCN.
3. Thành tựu: trong 21 năm XD XHCN
Bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc và công cuộc xây dựng CNXH ở mBắc
Xóa bỏ chế độ người bóc lột người, đào tạo cán bộ khoa học KT, công nhân tăng gấp nhiều
lần.
Xác lập quan hệ sản xuất mới XHCN với 2 hình thức sở hữu: quốc doanh và tập thể làm
cho nền kinh tế XHCN chiếm ưu thế tuyệt đối trong nền kinh tế quốc dân..
Xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật của CNXH: nhiều khu công nghiệp và công trình lớn
được hình thành, công tác đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật tăng gấp nhiều lần so với khi
giải phóng.
Sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và lưu thông phân phối về cơ bản được giữ vững.
Giáo dục, y tế, văn hóa nghệ thuật, TDTT phát triển. Mạng lưới y tế được mở rộng từ trung
ương đến cơ sở, từ đồng bằng đến miền núi, văn hóa nghệ thuật phát triển nhiều mặt góp phần xây
dựng con người mới, tiến hành cách mạng tư tưởng văn hóa; Trong điều kiện chiến tranh ác liệt
đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân vẫn ổn định và có nhiều mặt được cải thiện.
Tạo dựng một XH lành mạnh, có trật tự, kỷ cương, bình đẳng và quan hệ tốt đep giữa người
với người, an ninh chính trị trật tự an toàn xã hội được giữ vững.
Làm tròn nghĩa vụ đối với Lào và Campuchia.
Miền Bắc hoàn thành vai trò là căn cứ địa cách mạng của cả nước, là hậu phương vững
chắc cho chiến trường miền Nam. Thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị quyết giải phóng Miền
Nam trong năm 1975, với khẩu hiệu: “Tất cả cho tiền tuyến”, “Tất cả để chiến thắng”; với phương
châm: “thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”, thông qua 6 tuyến đường HCM, Miền Bắc đã tập
trung nỗ lực cao nhất để chi viện cho Miền Nam một khối lượng vật chất khổng lồ, gồm: 154.271
tấn vật chất sinh hoạt, 93.540 tấn xăng dầu, 103.455 tấn vũ khí, đã đưa các quân đoàn chủ lực và
gần 20 lữ đoàn, trung đoàn xe tăng, pháo binh, pháo cao xạ vào Miền Nam. Hậu phương lớn miền
Bắc đã động viên một nguồn nhân lực trên 3 triệu người phục vụ chiến tranh (chiếm trên 12% số
dân miền Bắc), trong đó gia nhập quân đội trên 1,5 triệu người. Ở miền Bắc có tới trên 70% số hộ
gia đình có người thân chiến đấu trên các chiến trường; trên đồng ruộng, phụ nữ chiếm trên 63%
trong số lao động trực tiếp, để nam giới đi đánh giặc, cứu nước. Ngoài nhân lực, hậu phương lớn
miền Bắc đã chi viện cho miền Nam trên 700.000 tấn vật chất, trong đó có trên 180.000 tấn vũ
khí, trang bị kỹ thuật...
Không có miền bắc XHCN, không thể duy trì đường HCM.
B. Giai đoạn 1975 – 1985: CM XHCN trên cả nước
1. Tình hình CM cả nước sau 1975
* Thuận lợi
Đất nước hòa bình độc lập thống nhất, quá độ lên CNXH từ một nền kinh tế còn phổ biến
là SX nhỏ bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN.
Có những kinh nghiệm bước đầu về xây dựng chủ nghĩa xã hội và tiếp thu được gần như
nguyên vẹn các cơ sở kinh tế ở Miền Nam.
Tiếp tục nhận được sự ủng hộ giúp đỡ của các nước XHCN (đặc biệt là của Liên Xô và
Trung Quốc) và sự tương trợ giữa các nước trong Hội đồng tương trợ kinh tế.
* Khó khăn
Hậu quả nặng nề về nhiều mặt của cuộc chiến tranh; tình hình chính trị xã hội phức tạp do
các tàn dư của chủ nghĩa thực dân gây ra, thiếu việc làm; nền kinh tế: sản xuất nhỏ, lạc hậu, yếu
kém.
Những khó khăn của các nước XHCN về mô hình, bước đi đang bộc lộ khuyết tật, yếu
kém, trì trệ, đòi hỏi phải cải cách – cải tổ.
Mỹ và các thế lực thù địch, phản động tăng cường chống phá cách mạng VN, cuộc đấu
tranh giữa CM và phản CM trên TG còn nhiều gay go và phức tạp.
Xung đột biên giới dẫn đến chiến tranh biên giới Tây- Nam và phía bắc.
2. Đường lối CM XHCN
Chủ yếu trong đường lối Đại hội Đảng lần IV, lần V a.
Đại hội IV (12/1976 ) và Kế hoạch 5 năm 1976 - 1980
* Đường lối chung của CM XHCN
Điều kiện quyết định của CMXHCN
• Công cụ: Nắm vững chuyên chính vô sản.
• Động lực: Phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động.
Con đường hình thành CNXH: Tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng về quan hệ sản
xuất, khoa học - kỹ thuật, tư tưởng và văn hoá; đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa là
nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ lên CNXH CMang về QHSX:
• Xóa bỏ thành phần KTTBCN và chế độ người bóc lột người… xác lập chế độ công hữu
về TLSX bằng sở hữu toàn dân và tập thể
• Xây dựng quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động về tổ chức và quản lý nền kinh
tế xây dựng một hệ thống quản lý và kế hoạch hóa có hiệu lực nhằm sử dụng có hiệu
quả TLSX, TNTN…
• Xây dựng quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động về phân phối sản phẩm thực
hiện phân phối theo lao động
CM về KHKT: Giữ vị trí then chốt.
CM về VHTT: Xây dựng nền văn hóa mới, con người mới.
Mục tiêu của CNXH
• Xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa,
• Xây dựng nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa,
• Xây dựng nền văn hoá mới,
• Xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa;
• Xoá bỏ chế độ người bóc lột người, xoá bỏ nghèo nàn và lạc hậu.
Vấn đề bảo vệ CNXH: Xây dựng CNXH phải gắn liền với bảo vệ CNXH, “phải không
ngừng đề cao cảnh giác, thường xuyên củng cố quốc phòng, giữ gìn an ninh chính trị và trật tự xã
hội”.
Mục đích cuối cùng của CMXHCN: Xây dựng thành công tổ quốc Việt Nam hòa bình, độc
lập, thống nhất và XHCN, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình,
độc lập dân tộc, dân chủ và CNXH.
ĐH IV còn nhiều hạn chế như chưa tổng kết kinh nghiệm 21 năm xd CNXH ở miền bắc,
chưa coi nhiệm vụ trọng tâm là khắc phục hậu quả chiến tranh nên hầu như bỏ qua thời kỳ khôi
phục kinh tế, đề ra những chỉ tiêu quá cao, vượt quá khả năng thực tế, chưa nêu được những giải
pháp có hiệu quả, ...
b. Đại hội V (3/1982): Tổng kế t, đánh giá thực tiễn, bổ sung đường lối CM XHCN, phản ánh
những tư duy đổi mới của Đảng. Nội dung chủ yế u:
Coi ổn định tình hình kinh tế - xã hội là nhiệm vụ bức thiết nhất.
Phát triển và sắp xếp lại sản xuất, tiếp tục thực hiện việc phân công và phân bố lại lao động
xã hội, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, đẩy mạnh SX hàng tiêu dùng, trang bị thêm thiết bị
kỹ thuật cho các ngành kinh tế.
Bố trí lại xây dựng cơ bản cho phù hợp với khả năng và theo hướng tạo thêm điều kiện để
phát huy các cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có nhằm vào các mục tiêu cấp bách nhất về kinh tế và
xã hội: điều chỉnh lại quy mô, tốc độ thực hiện công nghiệp hóa, phát triển công nghiệp nặng hợp
lý, không đầu tư dàn trải.
Cải tiến công tác phân phối lưu thông, thiết lập một bước trật tự mới trên mặt trận này.
Đổi mới một bước hệ thống quản lý kinh tế: Xóa bỏ cách quản lý cũ, chuyển sang cách
quản lý mới.
c. Đảng ta từng bước khảo nghiệm thực tiễn, tìm tòi, khảo nghiệm con đường đổi mới, khắc phục
khủng hoảng
Đảng ta đã có những bước đột phá về tư duy, cụ thể:
* Hội nghị TW6 (8.1979):
Bước đột phá đầu tiên trong quan điểm của Đảng về đổi mới (làm cho sản xuất bung ra)
Hội nghị đã thống nhất tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước và
phát huy quyền làm chủ tập thể của công nhân và nhân dân lao động. Đặc biệt coi trọng lãnh đạo
chính sách và cải tiến quản lý. Chống quan liêu, bảo thủ, mạnh dạn đổi mới để có tác động thực
sự đến sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước. Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành
Trung ương khoá IV là nghị quyết “bung ra” của Đảng ta về phát triển kinh tế. Nghị quyết tạo
động lực mới cho nền kinh tế - xã hội chuyển động, góp phần vào quá trình tìm tòi con đường xây
dựng chủ nghĩa xã hội trên đất nước Việt Nam. Đây là Nghị quyết đánh dấu sự nghiệp đổi mới
bắt đầu.
* Hội nghị TW 8 khóa V (6.1985)
Bàn về giá, lương, tiền - Bước đột phá thứ hai
Quyết định dứt khoát xóa bỏ cơ chế quan liêu bao cấp chuyển sang hạch toán kinh tế và
kinh doanh XHCN, lấy giá – lương –tiền làm khâu độ phá.
Về giá: Thay đổi cách làm, tính đúng, tính đủ trong giá thành sản phẩm, tiến tới thực hiện
cơ chế một giá.
Thay đổi tiền lương, làm cho người lao động có đủ calo để tái sản xuất lao động. Xóa bỏ
tem phiếu, trả lương bằng tiền. Các tổ chức kinh tế phải chịu trách nhiệm lỗ lãi. Thay đổi đơn vị
tiền tệ để chống lạm phát.
* Kế t luận của Bộ chính trị (9/1986): KL về một số vấn đề cơ cấu kinh tế , đầu tư và quản lý Bước đột phá thứ 3:
Về cơ cấu kinh tế, thay đổi cơ cấu kinh tế ở nước ta, thực hiện chính sách kinh tế nhiều
thành phần, cho phép sở hữu các thành phần kinh tế.
Đổi mới cơ chế quản lý, xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, thực hiện cơ chế hạch
toán kinh tế, kinh doanh xã hội chủ nghĩa, vận dụng đúng các quy luật kinh tế, sử dụng quan hệ
hàng hóa – tiền tệ, thị trường trong cơ chế kế hoạch hóa.
Đổi mới cơ cấu sản xuất và đặc biệt coi trọng nông nghiệp, đưa sản xuất nông nghiệp lên
hàng đầu.
3 bước đột phá về tư duy để hình thành đường lối đổi mới
d. Các Nghị quyế t
Nghị quyết số 26 (6.1980) của Bộ Chính trị về cải tiến công tác phân phối lưu thông, cụ thể
hóa tinh thần tạo điều kiện cho sản xuất “bung ra” của Hội nghị TW6 (8.1979).
Thông báo số 22 (10.1980) của Ban bí thư:
• Điều chỉnh quy mô các hợp tác xã và đội sản xuất cho phù hợp với cơ sở vật chất và
trình độ quản lý của các cán bộ.
• Cho phép các địa phương khoán thử cây lúa, song phải kiên quyết và kịp thời sửa chữa
tình trạng “khoán trắng”, tiếp tục nghiên cứu vận dụng hình thức khoán sản phẩm cho
người lao động trong cây vụ đông, cây màu, cây công nghiệp và cây lúa.