MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU:
I. Lý do chọn đề tài
4
II. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
5
III. Phương pháp nghiên cứu
6
IV.Kết cấu đề tài
6
PHẦN NỘI DUNG
7
CHƯƠNG I : CƠ SỞ KHOA HỌC
7
1. Cơ sở lý luận
7
1.1. Một số khái niêm cơ bản
7
1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề bồi dưỡng năng lực đội ngũ giáo viên tiểu học 8
1.3. Những quan điểm của Đảng về vấn đề chất lượng đội ngũ giáo viên.
8
1.4. Những quy định của Nhà nước về vấn đề bồi dưỡng chất lượng đội ngũ giáo viên. 10
2. Cơ sở thực tiễn
10
CHƯƠNG II : KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH SỐ LIỆU
13
I. Đánh giá thực trạng, nguyên nhân và một số kinh nghiệm
13
1.Tình hình kinh tế và xã hội và giáo dục ở địa phương.
13
2. Thực trạng trường Tiểu học Vĩnh Thủy
13
2.1. Những thành tựu và kết quả đạt được
15
2.2. Những tồn tại và yếu kém
17
2.3. Nguyên nhân
17
2.4. Một số kinh nghiệm
19
CHƯƠNG III: ĐỀ XUẤT VÀ KẾT LUẬN
20
I.CÁC GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT
20
II. PHẦN KẾT LUẬN
30
TÀI LIỆU THAM KHẢO
33
1
PHẦN MỞ ĐẦU
I- Lí do chọn đề tài
Quá trình phát triển của lịch sử đã khẳng định: giáo dục luôn đóng vai tro
hết sức quan trọng đối với sự phát triển của mỗi cá nhân, tập thể, cộng đồng,
dân tộc và cả nhân loại. Sự phát triển của một quốc gia trong thế kỷ XXI phụ
thuộc rất lớn vào tiềm năng tri thức của dân tộc đó mà giáo dục cùng với khoa
học - công nghệ là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội.
Hội nghị TW 4 khoá VII đã khẳng định "Giáo dục - Đào tạo là chìa khoá
để mở cửa tiến vào tương lai" (Báo Điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam) . Nghị
quyết TW 2 khoá VIII khẳng định "Muốn tiến hành CNH, HĐH thắng lợi
phải phát triển mạnh giáo dục - đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố
cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững" (Báo Điện tử Đảng Cộng Sản
Việt Nam). Trong thời đại công nghệ thông tin và khoa học phát triển như vũ
bão, cùng với xu thế toàn cầu hoá, Đảng ta khẳng định "Phát triển giáo dục và
đào tạo là một trong những động lực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá, là điều kiện phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để
phát triển xã hội, tăng cường kinh tế nhanh, bền vững" (Văn kiện Đại hội X
của Đảng Cộng sản Việt Nam-Báo Điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam). Nghị
quyết Hội nghị lần thứ 8, BCHT.Ư Ðảng khóa XI về "Ðổi mới căn bản, toàn
diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong
điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế" đã khẳng
định vai tro quyết định chất lượng giáo dục của đội ngũ nhà giáo. Ðiều này
vừa thể hiện niềm tin vừa thể hiện sự mong đợi rất nhiều từ Ðảng và Nhà
nước đối với đội ngũ nhà giáo các cấp trong công cuộc đổi mới giáo dục.
Nhiệm vụ "đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục" đang đặt lên vai đội
ngũ nhà giáo Việt Nam những yêu cầu mới với trách nhiệm lớn hơn trong dạy
học và giáo dục. Mỗi thầy giáo, cô giáo theo yêu cầu đổi mới không những là
người giỏi về chuyên môn mà con phải là người có năng lực sư phạm, năng
lực giáo dục và truyền động lực học tập, tu dưỡng đạo đức nhân cách tới mỗi
học sinh. Bên cạnh đó, để thực hiện tốt nhiệm vụ của mình, mỗi thầy giáo, cô
giáo cũng cần có năng lực huy động và hợp tác rộng rãi hơn với đồng nghiệp,
với cha mẹ học sinh, cộng đồng và các tổ chức xã hội cùng tham gia hiệu quả
vào các hoạt động giáo dục. Không những thế, mỗi thầy cô giáo con có trách
nhiệm góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng và tham gia
rộng rãi các hoạt động ngoài nhà trường.
2
Vì vậy, việc xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo đáp ứng yêu cầu đổi
mới được ngành giáo dục và đào tạo xác định là nhiệm vụ quan trọng, là
khâu then chốt trong công cuộc đổi mới giáo dục. Trong đó, công tác bồi
dưỡng và phát triển năng lực- trình độ cho đội ngũ giáo viên là giải pháp có
tính chất quyết định chất lượng giáo dục và dạy học trong nhà trường, bởi lẽ
lao động sư phạm là lao động sáng tạo, đoi hỏi người giáo viên phải có kiến
thức sâu rộng, toàn diện, luôn biết bổ sung cái mới nhằm hoàn thiện nghệ
thuật sư phạm. Tính đa dạng, phức tạp của hoạt động giảng dạy - giáo dục đoi
hỏi người lãnh đạo nhà trường phải thường xuyên chú ý đến việc phát triển,
bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận và nghiệp vụ của giáo viên.
Qua thực trạng về đội ngũ giáo viên chưa đồng đều về trình độ chuyên
môn, nhận thức của giáo viên về công tác bồi dưỡng chuyên môn con hạn
chế, việc tổ chức triển khai công tác này thiếu sự tuân thủ những nguyên tắc
nhất định; nội dung nhiều khi thực hiện chưa đầy đủ, thiếu kế hoạch, biện
pháp chỉ đạo triển khai công tác này chưa khoa học, không thường xuyên…
Đó là nguyên nhân thực tiễn dẫn đến kết quả công tác bồi dưỡng chuyên môn
cho giáo viên trong các trường tiểu học con hạn chế. Đây là những băn khoăn
trăn trở và là bài toán cần có lời giải đáp của những người làm công tác quản
lí giáo dục.
Bản thân là người làm công tác quản lí giáo dục, trực tiếp phụ trách
chuyên môn của nhà trường, nhận thức được tầm quan trọng của việc bồi
dưỡng và nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên, tôi quyết định chọn nghiên
cứu đề tài “Bồi dưỡng và phát triển năng lực đội ngũ giáo viên” tại trường TH
Vĩnh Thủy
II-Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu:
1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu để xác định đúng nguyên nhân của thực trạng công tác bồi
dưỡng và phát triển năng lực đội ngũ, tìm ra các yếu tố có thể thúc đẩy hiệu
quả công tác này, qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm bồi dưỡng và phát
triển năng lực đội ngũ giáo viên trường TH Vĩnh Thủy- đáp ứng yêu cầu giáo
dục trong giai đoạn hiện nay.
2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Bước đầu xác định một số cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác bồi
dưỡng năng lực đội ngũ giáo viên tiểu học.
3
Thu thập thông tin, khảo sát và đánh giá thực trạng và rút ra bài học kinh
nghiệm của công tác bồi dưỡng và phát triển năng lực đội ngũ giáo viên
trường TH Vĩnh Thủy, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị.
Kiến nghị và đề xuất những biện pháp quản lý nhằm bồi dưỡng, phát
triển năng lực đội ngũ giáo viên trường TH Vĩnh Thủy trong giai đoạn hiện
nay.
III-Phương pháp nghiên cứu.
Nhóm nghiên cứu lí luận: Đọc và nghiên cứu các tài liệu
Nhóm nghiên cứu thực tiễn và các phương pháp hỗ trợ khác như: Quan
sát, đàm thoại, phỏng vấn, điều tra, khảo sát, thống kê, xử lí số liệu...
IV- Kết cấu đề tài:
Trong đề tài này, ngoài phần mở đầu, kết cấu nội dung đề tài gồm 3
chương:
Chương I. Cơ sở khoa học:
Nêu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài.
Chương II. Kết quả và phân tích số liệu:
Nêu thực trạng giáo dục tiểu học và vấn đề bồi dưỡng đội ngũ giáo viên
ở trường Tiểu học Vĩnh Thủy.
Chương III. Đề xuất và kết luận.
Nêu những đề xuất, kiến nghị nhằm phát triển năng lực đội ngũ giáo viên
tại trường TH Vĩnh Thủy.
PHẦN NỘI DUNG
4
CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC
1. Cơ sở lí luận.
1.1 Một số khái niệm cơ bản:
1.1.1 Bồi dưỡng:
Bồi dưỡng có thể coi là: quá trình cập nhật hóa kiến thức con thiếu hoặc
đã lạc hậu, bổ túc nghề nghiệp, đào tạo thêm hoặc cũng cố các kỹ năng nghề
nghiệp theo các chuyên đề. Các hoạt động này nhằm tạo điều kiện cho người
lao động có cơ hội để củng cố và mở mang một cách có hệ thống những tri
thức, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ sẵn có để lao động nghề nghiệp một
cách có hiệu quả hơn.(Nguyễn Minh Đường -1996)
1.1.2 Phát triển:
Theo Giáo trình Triết học Mác-Lê nin, NXB Giáo dục:
Phát triển là một phạm trù triết học chỉ khái quát quá trình vận động tiến
lên từ thấp đến cao, từ kém hoàn thiện đến hoàn hoàn thiện hơn của sự vật.
Phát triển mang tính khó khăn, phức tạp. Vì vậy trong nhận thức cũng
như trong hoạt động thực tiễn nếu gặp khó khăn phải bình tĩnh, tin vào tương
lai.
1.1.3 Năng lực:
Khái niệm năng lực (competency) có nguồn gốc tiếng La tinh
„competentia“. Ngày nay khái niệm năng lực được hiểu nhiều nghĩa khác
nhau. Theo quan điểm của những nhà tâm lý học: Năng lực là tổng hợp các
đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của
một hoạt động, nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao.
Các năng lực hình thành trên cơ sở của các tư chất tự nhiên của cá nhân nó
đóng vai tro quan trọng, năng lực của con người không phải hoàn toàn do tự
nhiên mà có, phần lớn do công tác, do tập luyện mà có.( Mạc Văn Trang, Thử
đề xuất một quan niệm về nhân cách trong cơ chế thị trường, Tạp chí Tâm lý
học số (8/2000))
1.1.4 Đội ngũ giáo viên:
Đội ngũ giáo viên là tập hợp người làm nhiệm vụ dạy học, giáo dục
trong nhà trường hoặc các cơ sở giáo dục khác, cùng bị ràng buộc bởi những
quy tắc hành chính của ngành và Nhà nước. (Luật GD-NXBGD- Hà Nội
1998)
5
1.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề bồi dưỡng năng lực đội
ngũ giáo viên tiểu học.
Những điều kiện hiện nay của đời sống gia đình và xã hội đã làm thay
đổi về cơ bản chức năng của nhà trường tiểu học trong xã hội.
Ngày nay, người giáo viên tiểu học ngày càng đảm nhiệm những trách
nhiệm trước kia thuộc về cha mẹ, cách thức hoạt động của giáo viên và tác
động của họ lên học sinh luôn thay đổi dưới ảnh hưởng của những tiến bộ của
tâm lý học, xã hội học giáo dục. Vì vậy, công tác bồi dưỡng giáo viên chịu
ảnh hưởng của nhiều nhân tố” (Vụ tiểu học- Chiến lược phát triển giáo dục và
đào tạo đến năm 2020).
Hoàn cảnh công tác của giáo viên cũng như điều kiện sống của họ ảnh
hưởng đến công tác bồi dưỡng giáo viên. Điều kiện những người đứng lớp là
phải công tác liên tục nên thời gian bồi dưỡng cũng bị hạn chế. Đời sống kinh
tế con nhiều khó khăn ảnh hưởng lớn tới sự tập trung, tinh thần tiếp thu tri
thức mới. Đặc biệt là do trình độ đào tạo ban đầu thấp nên việc tiếp thu gặp
rất nhiều trở ngại.
Trong điều kiện nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo
cơ chế thị trường dưới sự điều tiết của nhà nước cũng như tác động mạnh tới
giáo dục và đào tạo. Vì vậy, cần có một đội ngũ giáo viên có bản lĩnh chính trị
vững vàng, năng động, có trình độ chuyên môn đảm bảo góp phần nâng cao
hiệu quả đào tạo.
Chất lượng của việc bồi dưỡng giáo viên tiểu học chịu sự tác động và sự
chi phối của văn hóa, kinh tế xã hội, khoa học công nghệ và đặc biệt là sự
phát triển của ngành Giáo dục –Đào tạo. Việc đổi mới kinh tế xã hội có ảnh
hưởng lớn đến từng giáo viên.
1.3. Những quan điểm của Đảng về vấn đề chất lượng đội ngũ giáo
viên.
Nghị quyết TW2 khóa VIII chỉ rõ: “giáo viên là nhân tố quyết định chất
lượng giáo dục và được xã hội tôn vinh” và “muốn nâng cao chất lượng giáo
dục toàn diện bậc tiểu học, giáo viên tiểu học phải được đào tạo liên tục trong
giai đoạn học ở trường sư phạm, trong thời gian hành nghề”.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng khẳng định: “Phát triển
giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt
Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập
quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo
viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt”. Đây là tư duy mang tầm chiến
6
lược, thể hiện quan điểm toàn diện, khách quan, khoa học của Đảng Cộng sản
Việt Nam. Bởi hơn lúc nào hết, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên vững mạnh, toàn
diện, vừa hồng vừa chuyên là yêu cầu cấp thiết của giáo dục Việt Nam hiện
tại. Yêu cầu bồi dưỡng và phát triển đội ngũ giáo viên được Đại hội chỉ rõ là
phải "xây dựng đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, đáp ứng yêu cầu về chất
lượng", là khâu then chốt, là tiền đề trong đổi mới giáo dục và đào tạo.
Nghị quyết yêu cầu: “Nâng cao nhận thức về vai tro quyết định chất
lượng giáo dục và đào tạo của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục”
Nghị quyết đã xác định nhiệm vụ giải pháp về Phát triển đội ngũ nhà giáo và
cán bộ quản lý, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo :
“Xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và
cán bộ quản lý giáo dục gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm
an ninh, quốc phong và hội nhập quốc tế. Thực hiện chuẩn hóa đội ngũ nhà
giáo theo từng cấp học và trình độ đào tạo. Tiến tới tất cả các giáo viên tiểu
học, trung học cơ sở, giáo viên, giảng viên các cơ sở giáo dục nghề nghiệp
phải có trình độ từ đại học trở lên, có năng lực sư phạm, giảng viên cao đẳng,
đại học có trình độ từ thạc sĩ trở lên và phải được đào tạo, bồi dưỡng nghiệp
vụ sư phạm. Cán bộ quản lý giáo dục các cấp phải qua đào tạo về nghiệp vụ
quản lý.
Phát triển hệ thống trường sư phạm đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đào tạo,
bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; ưu tiên đầu tư xây
dựng một số trường sư phạm, trường sư phạm kỹ thuật trọng điểm; khắc phục
tình trạng phân tán trong hệ thống các cơ sở đào tạo nhà giáo. Có cơ chế
tuyển sinh và cử tuyển riêng để tuyển chọn được những người có phẩm chất,
năng lực phù hợp vào ngành sư phạm.
Đổi mới mạnh mẽ mục tiêu, nội dung, phương pháp đào tạo, đào tạo lại,
bồi dưỡng và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của nhà giáo theo yêu cầu
nâng cao chất lượng, trách nhiệm, đạo đức và năng lực nghề nghiệp.
Có chế độ ưu đãi đối với nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Việc
tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ, tôn vinh nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục
phải trên cơ sở đánh giá năng lực, đạo đức nghề nghiệp và hiệu quả công tác.
Có chế độ ưu đãi và quy định tuổi nghỉ hưu hợp lý đối với nhà giáo có trình
độ cao; có cơ chế miễn nhiệm, bố trí công việc khác hoặc kiên quyết đưa ra
khỏi ngành đối với những người không đủ phẩm chất, năng lực, không đáp
ứng yêu cầu, nhiệm vụ . Lương của nhà giáo được ưu tiên xếp cao nhất trong
7
hệ thống thang bậc lương hành chính sự nghiệp và có thêm phụ cấp tùy theo
tính chất công việc, theo vùng.
Khuyến khích đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý nâng cao trình độ
chuyên môn nghiệp vụ. Có chính sách hỗ trợ giảng viên trẻ về chỗ ở, học tập
và nghiên cứu khoa học. Bảo đảm bình đẳng giữa nhà giáo trường công lập
và nhà giáo trường ngoài công lập về tôn vinh và cơ hội đào tạo, bồi dưỡng
chuyên môn nghiệp vụ...”
1.4. Những quy định của Nhà nước về vấn đề bồi dưỡng chất
lượng đội ngũ giáo viên.
Để tạo hành lang pháp lý cho hoạt động giảng dạy và giáo dục của nhà
trường và ngành giáo dục, Nhà nước đã ban hành luật giáo dục sửa đổi và bổ
sung năm 2009, Bộ GD-ĐT đã ban hành điều lệ trường TH kèm theo Thông
tư số 41/2010/TT-BGD&ĐT ngày 30/12/2010 của Bộ GD-ĐT, đó chính là cơ
sở pháp lý của đề tài.
Điều 15 chương I luật giáo dục quy định "Nhà giáo giữ vai tro quyết
định trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục. Nhà giáo phải không ngừng học
tập, rèn luyện, nêu gương tốt cho người học. Nhà nước tổ chức đào tạo, bồi
dưỡng nhà giáo, có chính sách bảo đảm các điều kiện cần thiết về vật chất và
tinh thần để nhà giáo thực hiện nhiệm vụ của mình". Về nhiệm vụ nhà giáo,
luật giáo dục yêu cầu nhà giáo phải có nhiều tiêu chuẩn, trong đó có các tiêu
chuẩn "Có phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt. Đạt trình độ chuẩn được đào tạo
về chuyên môn nghiệp vụ". Điều 72 - Chương IV: "Rèn luyện đạo đức, học
tập văn hoá, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ để nâng cao chất lượng chuyên
môn nghiệp vụ để nâng cao chất lượng và hiệu qủa giảng dạy và giáo dục".
Điều lệ trường tiểu học: “Trình độ chuẩn của giáo viên tiểu học là tốt
nghiệp THSP. Giáo viên chưa đạt trình độ chuẩn quy định này được nhà
trường, cơ quan quản lý giáo dục tạo điều kiện để đạt trình độ chuẩn”. Nhiệm
vụ, quyền hạn của trường Tiểu học là "Quản lý giáo viên nhân viên và học
sinh"; "tổ chức giảng dạy, học tập và các hoạt động giáo dục khác theo
chương trình giáo dục tiểu học do Bộ trưởng Bộ GD-ĐT ban hành".
2.Cơ sở thực tiễn:
2.1. Xuất phát từ vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công tác bồi
dưỡng và phát triển năng lực đội ngũ giáo viên.
Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là truyền đạt
và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử xã hội của các thế hệ loài người đi trước. Nhờ
8
có giáo dục mà các thế hệ tiếp nối phát triển, tinh hoa văn hóa của dân tộc và
cả nhân loại được kế thừa, bổ sung. Chính nhờ vậy xã hội loài người không
ngừng tiến lên.
Nhiệm vụ của ngành giáo dục đặt ra trong giai đoạn hiện nay là: tất cả
các thầy, cô giáo, cán bộ quản lý giáo dục phải tạo được bước chuyển biến cơ
bản về chất lượng giáo dục toàn diện theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa và
hội nhập quốc tế, phục vụ thiết thực cho sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội.
Chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là “chìa khóa vàng”
và là điều kiện tiên quyết để nâng cao chất lượng và đổi mới giáo dục.
Đội ngũ giáo viên tiểu học hiện nay đa dạng về nguồn gốc đào tạo, nhiều
nơi chưa có cán bộ cốt cán (người làm quản lí chưa qua đào tạo mà chủ yếu
chỉ dựa vào kinh nghiệm bản thân). Đa số giáo viên chỉ tập trung vào hai môn
chính là Toán và Tiếng Việt và chỉ mới tập trung vào dạy đọc viết và tính toán
chứ chưa dạy các em cách học, phương pháp tiếp cận tri thức. Nguyên nhân
của vấn đề là do trình độ của giáo viên con thấp.
Với những lí do trên thì muốn nâng cao chất lượng giáo viên tiểu học
làm nền tảng vững chắc cho hệ thống giáo dục quốc dân, thì không thể không
tiến hành việc bồi dưỡng và phát triển năng lực cho giáo viên tiểu học.
2.2. Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn cuộc sống hiện nay.
Trong điều kiện xã hội phát triển mạnh mẽ và toàn diện như hiện nay,
giáo dục cũng phải phát triển theo hướng đa dạng hóa, xã hội hóa do đó nhiều
vấn đề mới đặt ra đoi hỏi giáo dục phải giải quyết. Trước yêu cầu của thời đại,
giáo dục nói chung và nghề dạy học nói riêng cũng không thể nằm ngoài
những đoi hỏi của yêu cầu đó. Người thầy không thể bằng long với vốn kiến
thức được học trong trường sư phạm. Vì vậy, giáo dục phải luôn quan tâm tới
vấn đề bồi dưỡng làm phong phú và cập nhật kiến thức, sự hiểu biết và năng
lực sư phạm cho giáo viên. Song trong thực tế cho thấy đội ngũ giáo viên đặc
biệt là giáo viên tiểu học hiện nay “vừa thiếu lại vừa yếu” “chất lượng đội ngũ
chưa đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục và đào tạo trong giai đoạn mới”
(Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị quốc gia, Hà
Nội) nguyên nhân chính là do một số bất cập sau :
Một là: Đội ngũ giáo viên chưa được đào tạo tốt, rất ít giáo viên có trình
độ cao đẳng và đại học chính quy.
Hai là: Đa số giáo viên hiện nay có đời sống rất khó khăn, nên thời gian
đầu tư cho việc nghiên cứu tài liệu giảng dạy con nhiều hạn chế, dẫn đến chất
lượng trong từng giờ dạy chưa được đảm bảo.
9
Ba là: Trong thời đại khoa học công nghệ phát triển như hiện nay, việc
vận dụng các phương pháp dạy học tiên tiến, các phương tiện kỹ thuật hiện
đại vào nhà trường là điều kiện cần thiết để học sinh tiếp cận và nắm bắt được
những tiến bộ của loài người nhưng trình độ của giáo viên tiểu học chưa thể
tiếp cận được những vấn đề nói trên.
Bốn là: Hiện nay nội dung chương trình, sách giáo khoa, phương pháp
giảng dạy vẫn chưa được thống nhất, nhiều chỗ con bất cập với thời đại dẫn
đến những xáo trộn nhất định trong công tác giảng dạy ở các trường. Vì vậy
đoi hỏi người giáo viên phải có trình độ hiểu biết nhất định để tự mình có thể
lựa chọn thông tin phù hợp phục vụ dạy và học đạt kết quả tốt góp phần nâng
cao chất lượng giáo dục và đào tạo.
Từ bốn vấn đề nêu trên ta có thể nhận thấy rằng, muốn phát triển giáo
dục và đào tạo nói chung, bậc tiểu học nói riêng làm cơ sở là động lực thúc
đẩy, phát triển KT-XH thì vấn đề bồi dưỡng và phát triển năng lực cho đội
ngũ giáo viên được đặt ra như một vấn đề tất yếu.
2.3. Xuất phát từ mong muốn khắc phục những yếu kém, hạn chế
của công tác bồi dưỡng và nâng cao năng lực cho đội ngũ giáo viên
trường TH Vĩnh Thủy.
Hiện tại, đội ngũ giáo viên cơ bản đủ về số lượng. Nhà trường đã xây
dựng được quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng theo kế hoạch. Năng lực của đội ngũ
giáo viên không đồng đều, thiếu sự trải nghiệm thực tiễn. Đội ngũ thường
xuyên bị biến động do thuyên chuyển công tác. Cơ sở vật chất chưa đáp ứng
yêu cầu đổi mới phương pháp đào tạo. Điều kiện khách quan về cơ chế chưa
tạo điều kiện cho giáo viên phát huy hết khả năng và sở trường của mình.
Công tác phát triển đội ngũ giáo viên của nhà trường chưa đáp ứng yêu cầu
đổi mới giáo dục phổ thông trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước.
Đề tài mong muốn đề xuất một số biện pháp nhằm khắc phục những hạn
chế, trong công tác bồi dưỡng và phát triển năng lực cho đội ngũ giáo viên.
Hướng đến, xây dựng đội ngũ nhà giáo: vững về chuyên môn, tinh thông về
nghiệp vụ, có phẩm chất đạo đức, luôn giữ vững và phát huy vai tro của mình
trong nghề nghiệp.
CHƯƠNG II: KẾT QUẢ VÀ PHÂN TÍCH SỐ LIỆU.
I. Đánh giá thực trạng, nguyên nhân và một số kinh nghiệm
1.Tình hình kinh tế và xã hội và giáo dục ở địa phương.
10
Vĩnh Thủy, vùng đất bán sơn địa, là một xã thuộc huyện Vĩnh Linh, tỉnh
Quảng Trị. Với truyền thống văn hóa và lịch sử lâu đời, được tạo dựng qua
nhiều thế hệ, Vĩnh Thủy là vùng đất linh thiêng, oai hùng và giàu tiềm năng.
Con người nơi đây cần cù trong lao động sản xuất, thông minh sáng tạo trong
chế ngự thiên nhiên, có tinh thần thượng võ trong đấu tranh diệt trừ ác thú;
đoàn kết, dũng cảm, kiên cường trong chống giặc ngoại xâm.
Từ truyền thống quê hương nhiều người con Vĩnh Thủy đã trưởng thành
trong chiến đấu, lao đông, học tập và trở thành anh hùng lực lượng vũ trang
nhân dân, sĩ quan cao cấp trong quân đội, trở thành người lãnh đạo quản lý
chủ chốt ở các ngành cấp xã huyện, tỉnh và trung ương. Hàng nghìn người
con Vĩnh Thủy có trình độ đại học, kĩ sư, hàng chục tiến sĩ, phó tiến sĩ, giáo
sư, nhà giáo ưu tú…đang ngày đêm đem tài sức cống hiến cho quê hương đất
nước. Và hôm nay, ở mảnh đất anh hùng Vĩnh Thủy có trường lớp khang
trang cho các cháu mầm non, học sinh Tiểu học và Trung học cơ sở, thu hút
100% con em trong độ tuổi đến trường, 98% số học sinh tốt nghiệp trung học
cơ sở vào học cấp Trung học phổ thông và các loại hình, hàng năm có bình
quân 30 em được vào Đại học và trung học chuyên nghiệp. Tháng 10 năm
2003 trường Tiểu học và tháng 11 năm 2012 trường Trung học cơ sở của xã
đạt chuẩn quốc gia, trường mầm non đang trong lộ trình xây dựng và kiểm tra
công nhận chuẩn quốc gia.
Cùng với nền giáo dục nước nhà, giáo dục Vĩnh Thủy có nhiệm vụ
“Nâng cao dân trí, bước đầu đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” cho quê
hương đất nước. Với những số liệu đạt được và niềm tin vững chắc, giáo dục
Vĩnh Thủy đã và đang ngày càng phát triển góp phần thúc đẩy kinh tế-xã hội
xã Vĩnh Thủy ngày càng phát triển, cùng cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến
vững chắc trên con đường CNH-HĐH đất nước, vì mục tiêu “Dân giàu, nước
mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”.
2. Thực trạng trường Tiểu học Vĩnh Thủy
Trường Tiểu học Vĩnh Thủy được thành lập từ năm 1990 (chia tách từ
trường cấp I-II Vĩnh Thủy). Trường đã nhận được sự quan tâm chỉ đạo sâu sát
từ Phong giáo dục Vĩnh Linh, các cấp lãnh đạo chính quyền huyện, xã và các
thôn trên địa bàn nên bộ mặt của nhà trường ngày càng có nhiều chuyển biến
đáng phấn khởi. Tuy con gặp nhiều khó khăn nhưng trường đã biết huy động
các nguồn lực để xây dựng cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng giảng dạy
nhằm đưa chất lượng giáo dục của nhà trường đi lên.Vì vậy trường đã nhiều
năm liên tục đạt trường tiên tiến cấp huyện và cấp tỉnh, nhiều cá nhân được
tặng các danh hiệu thi đua xuất sắc các cấp.
11
Tình hình đội ngũ:
Trình độ đội ngũ:
Chức vụ
Trình độ CM
Số lượng
ĐH
BGH
3
TT Tổ CM
3
GV
Nhân viên
CĐ
TĐCT
TC
3
TCCT
3
18
8
7
2
1
1
3
Chất lượng Giáo viên
GIÁO
GIỎI
VIÊN
NĂM HỌC
DẠY
2009-2010
2010-2011
2011-2012
2012-2013
CẤP TRUỜNG
6
6
7
6
CẤP HUYỆN
5
5
4
4
CẤP TỈNH
0
1
1
2
2009-2010
2010-2011
2011-2012
2012-2013
GIỎI
11
12
12
13
KHÁ
7
9
7
6
TRUNG BÌNH
1
0
1
0
XẾP LOẠI CB-GV
Đội ngũ cán bộ quản lí: 3 đồng chí - nữ: 2, đều là cán bộ trẻ, có năng lực
quản lí, nhiệt tình với công tác và được đánh giá cao trong các hoạt động giáo
dục
Trường có số lượng học sinh khá đông: 407 em /17 lớp (mỗi khối 3-4
lớp)
Số lượng giáo viên thiếu so với quy định trường Tiểu học hạng 2, thiếu
giáo viên năng khiếu như Tin học, Thể dục, Ngoại ngữ.
2.1. Những thành tựu, kết quả đạt được.
Trong những năm qua, dựa vào tình hình thực tế của trường, phát huy
những thuận lợi, khắc phục khó khăn, công tác quản lí nhằm bồi dưỡng và
12
phát triển năng lực đội ngũ của trường TH Vĩnh Thủy đã thực hiện thành công
những việc làm sau:
Lãnh đạo nhà trường đã đảm bảo tính hệ thống và chủ trương phát triển
của Bộ GD&ĐT và Sở GD&ĐT cho giáo viên tiểu học, nhận thức đúng đắn
về chất lượng đội ngũ giáo viên quyết định chất lượng giáo dục trong mỗi nhà
trường. Trên cơ sở đó, nhà trường vận dụng vào thực tiễn của trường, xây
dựng kế hoạch cụ thể, chỉ đạo kịp thời, sát sao, phân công bố trí đội ngũ một
cách hợp lý, đúng người, đúng việc. Tổ chức và chỉ đạo triển khai thực hiện
kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên đạt hiệu quả: hằng năm, bám
sát kế hoạch của Phong giáo dục, kế hoạch của chuyên môn, trường cử giáo
viên tham gia đầy đủ các lớp bồi dưỡng thường xuyên, bồi dưỡng thay sách,
tham gia dự án chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học, dự các chuyên đề hội
thảo về phương pháp dạy học tích cực, hoạt động ngoài giờ lên lớp, sinh hoạt
tổ chuyên môn, giáo dục trẻ hoà nhập...để trau dồi và nâng cao trình độ
nghiệp vụ cho cán bộ và giáo viên.
Để công tác bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên đạt kết quả
tốt, nhà trường đã đặt ra một số yêu cầu cơ bản sau:
Hiệu trưởng phải nhận thức đúng về tầm quan trọng và xác định đúng
nhu cầu, mục tiêu, nội dung cần bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo
viên.Tổ chức và chỉ đạo triển khai thực hiện kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn
cho giáo viên đạt hiệu quả. Kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn phải là một phần
trong kế hoạch chung thể hiện rõ trong các hoạt động giáo dục của nhà
trường, của các tổ, khối chuyên môn. Mỗi hoạt động bồi dưỡng đều có mục
đích riêng, nội dung và phương pháp, phương tiện thực hiện riêng và cuối
cùng phải được Hiệu trưởng đánh giá.
Nội dung bồi dưỡng:
Bồi dưỡng, nâng cao tư tưởng, nhận thức chính trị; chuyên môn nghiệp
vụ năng lực công tác, sức khoẻ cho đội ngũ giáo viên. Vì vậy, đa số giáo viên
của trường tiếp cận và áp dụng phương pháp dạy học tích cực, dạy trẻ khuyết
tật tại lớp tương đối hiêụ qủa. Động viên, khuyến khích và tạo điều kiện thuận
lợi để cán bộ, giáo viên trong trường học tập nâng cao trình độ (cao đẳng, đại
học, trung cấp lí luận chính trị, quản lí nhà nước, tin học, ngoại ngữ, thư viện
thiết bị, kế toán- văn phong… nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho
đội ngũ. Phát huy vai tro tích cực, chủ động của giáo viên trong việc bồi
dưỡng và phát triển. Từng giáo viên phải tự giác, tích cực chủ động trong việc
tiếp nhận nội dung bồi dưỡng của cấp trên, đồng thời nêu cao tinh thần tự học,
tự bồi dưỡng.
13
Hiệu trưởng giữ vai tro quyết định trong việc tổ chức các hoạt động bồi
dưỡng. Phó Hiệu trưởng tham mưu, lập kế hoạch bồi dưỡng về chuyên môn
trình hiệu để thống nhất được yêu cầu xây dựng và phát triển đội ngũ của toàn
trường với mục tiêu phấn đấu của mỗi giáo viên, thu hút mọi giáo viên vào
các hình thức học tập phù hợp, đạt hiệu quả cao.
Hằng năm, 100% giáo viên được dự tập huấn chuyên môn, mỗi tháng có
sinh hoạt chuyên môn cấp trường và cấp tổ, tất cả các giáo viên trẻ và có điều
kiện đã tham gia học tập nâng cao trình độ sư phạm và các lĩnh vực khác phục
vụ cho chuyên môn, quản lí như trung cấp lí luận chính trị, quản lí nhà nước,
tin học, ngoại ngữ, thư viện thiết bị, kế toán- văn phong... Chất lượng giáo
dục ngày một tăng cao, chất lượng đại trà luôn đạt và vượt chỉ tiêu đề ra,
không có hiện tượng tiêu cực trong thi cử, không có học sinh ngồi nhầm lớp.
Số lượng và chất lượng học sinh giỏi các loại hình luôn dẫn đầu trong các
trường cùng cụm chuyên môn (học sinh giỏi văn hoá, năng khiếu văn - thểmĩ, hoạt động đội, các cuộc thi khác như tin học trẻ, giải toán qua mạng
Internet, giao lưu các lọai hình...)
Đẩy mạnh ứng dụng Công nghệ thông tin trong nhà trường: công tác
quản lí chuyên môn, tài chính, tài sản...đều được sử dụng trên máy vi tính,
việc cập nhật số liệu, báo cáo thông tin 2 chiều, khai thác mạng được áp dụng
phổ biến trong đội ngũ quản lí và giáo viên. Giáo viên soạn bài bằng máy vi
tính, dạy giáo án điện tử chiếm 65% toàn đội ngũ. Các hoạt động ngoài giờ
lên lớp, các hội thi đều khai thác tối đa hiệu quả từ công nghệ thông tin, tạo
điều kiện thuận lợi và tăng tính hiệu quả của hoạt động, thu hút được nhiều
học sinh tham gia, tạo không khí thi đua sôi nổi trong nhà trường.
Phối hợp với tổ chức Công đoàn đảm bảo tốt chế độ, chính sách, quyền
lợi hợp pháp cho giáo viên trong trường, tự đó tạo niềm tin, sự phấn khởi cho
cán bộ, giáo viên yên tâm công tác.
2.2. Những yếu kém, tồn tại, khuyết điểm.
Bên cạnh những thành công như đã kể trên, công tác bồi dưỡng và phát
triển năng lực đội ngũ trường TH Vĩnh Thủy vẫn con những mặt hạn chế như:
-Việc bố trí giáo viên đứng lớp và làm các công tác khác như văn phong,
y tế, phụ trách bán trú...đôi khi con lúng túng, có sự thay đổi công tác giữa
năm học làm cho công việc gặp nhiều khó khăn, hiệu quả công tác bị hạn chế.
Tuy đã có sự đầu tư cho vệc bồi dưỡng và phát triển năng lực chuyên môn
cho đội ngũ cán bộ giáo viên, song do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan,
trong đội ngũ giáo viên con một số người năng lực con hạn chế, tiếp thu và
14
vận dụng cái mới con thụ động, chưa tích cực học tập và tự bồi dưỡng mình
hoặc con ngại đưa cái mới vào giảng dạy (đặc biệt là việc áp dụng CNTT vào
giảng dạy). Qua dự giờ thường kỳ, qua các đợt thao giảng, sinh hoạt chuyên
môn trường nhận thấy: Rất nhiều giáo viên nhất là số giáo viên mới vào nghề
chất lượng giảng dạy quá thấp, như: lúng túng về phương pháp giảng dạy và
giáo dục, kỹ năng thiết kế giờ dạy yếu, thậm chí có giáo viên kiến thức chưa
vững vàng.Về phương pháp giảng dạy con nặng về truyền thụ, chưa đổi mới
phương pháp nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo của học sinh. Trong công
tác chủ nhiệm, có một số giáo viên chưa có năng lực tổ chức sinh hoạt tập thể,
thuyết phục, cảm hóa học sinh, ứng xử các tình huống sư phạm. Hầu hết giáo
viên đã có hiểu biết về tin học, về máy tính, có thể thiết kế giảng dạy bằng
giáo án điện tử nhưng vẫn con ngại thiết kế và giảng dạy vì phải bỏ ra nhiều
thời gian để soạn bài và việc bố trí phong học con gặp nhiều khó khăn.
-Công tác chủ nhiệm và liên lạc đối với phụ huynh học sinh có phần hạn
chế, chưa phát huy mối liên hệ mật thiết và quan trọng giữa nhà trường và gia
đình để giảm bớt gánh nặng cho giáo viên trong công tác toàn diện giáo dục
học sinh.
-Vai tro của Tổ chuyên môn cũng như Tổ trưởng chuyên môn chưa được
phát huy một cách tối đa. Hiện nay, tổ trưởng chuyên môn được bổ nhiệm dựa
vào kinh nghiệm và hiệu quả giảng dạy, năng lực công tác của một số giáo
viên. Lãnh đạo nhà trường quản lý tổ chuyên môn phần lớn bằng kinh
nghiệm, bằng sự học hỏi lẫn nhau. Số tổ trưởng chuyên môn được đào tạo
nghiệp vụ quản lý nhà trường hầu như không có vì vậy hiệu quả hoạt động
của tổ chuyên môn trong nhà trường chưa phát huy được hiệu quả. Đặc biệt là
những người mới được bổ nhiệm, họ rất lúng túng trong việc thực thi các
chức năng nhiệm vụ của người quản lý cấp tổ.
2.3. Nguyên nhân,
2.3.1. Nguyên nhân thành tựu, kết quả đạt được.
Để đạt được những thành công trong công tác bồi dưỡng và phát triển
năng lực đội ngũ của trường TH Vĩnh Thủy như kể trên, có những nguyên
nhân sau:
-Sự chỉ đạo sát sao, sự quan tâm và đầu tư đúng mức cho công tác giáo
dục nói chung và công tác phát triển đội ngũ nhà trường nói riêng của Phong
giáo dục, các cấp lãnh đạo Đảng và chính quyền địa phương trong việc đầu tư
cơ sở vật chất, tạo điều kiện để phát triển chuyên môn trong đội ngũ giáo viên
của trường.
15
-Sự nhận thức đúng đắn, sự năng động, nhiệt tình của đội ngũ làm công
tác quản lí tại trường. Ban giám hiệu nhà trường đã tìm hiểu kĩ về năng lực,
trình độ chuyên môn, nguyện vọng của từng giáo viên để bố trí, sắp xếp đúng
người, đúng việc, phát huy tối đa năng lực, sở trường của từng người trong
hội đồng sư phạm.
-Bản thân những người làm công tác quản lí cũng đã có ý thức đi đầu
trong công tác bồi dưỡng và tự bồi dưỡng bản thân để đáp ứng như cầu quản
lí giáo dục trong thời kì mới, tạo sự tiên phong, gương mẫu, tạo niềm tin để
giáo viên noi theo.
-Có kế hoạch và quản lí việc tổ chức thực hiện kế hoạch một cách hợp lí
trong suốt từng năm học, có sự điều chỉnh, phân cấp kịp thời để mang lại hiệu
quả cao trong công tác giáo dục.
-Đội ngũ giáo viên được động vỉên kịp thời, được tạo điều kiện ( về tinh
thần, vật chất, thời gian...) vượt qua khó khăn để học tập và tự học tập nâng
cao trình độ, rèn luyện nghiệp vụ phục vụ cho công tác của mình. Đa số giáo
viên trong trường đều có sự nhiệt tình, tâm huyết với nghề, có trình độ, năng
lực sư phạm tốt, có ý thức kỉ luật nghề nghiệp cao, ham học hỏi và cầu tiến,
đây chính là nguyên nhân chủ quan quan trọng nhất để mỗi người có thể phát
triển năng lực của bản thân thông qua con đường học tập và tự bồi dưỡng, rèn
luyện bản thân.
-Công tác thi đua khen thưởng, động viên tinh thần kịp thời và chính xác
của nhà trường đã góp phần thúc đẩy việc học tập nâng cao trình độ của giáo
viên đạt hiệu quả cao.
2.3.2. Nguyên nhân yếu kém, tồn tại, khuyết điểm.
Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong công tác bồi dưỡng và phát
triển năng lực đội ngũ trường TH Vĩnh Thủy:
Đội ngũ quản lí của nhà trường trẻ, kinh nghiệm quản lí đội ngũ con ít
nên việc quản lí việc phát triển đội ngũ trước mắt và tầm nhìn lâu dài có phần
hạn chế. Trong những năm học gần đây, nhà trường luôn thiếu số lượng cán
bộ- giáo viên và nhân viên theo quy định của ngành. Việc thiếu giáo viên
đứng lớp sẽ dẫn đến tình trạng bố trí giáo viên gặp nhiều khó khăn, phân công
dạy thay, bồi dưỡng học sinh giỏi các loại hình... gặp lúng túng và có sự thay
đổi trong năm học. Ngoài ra trường thiếu giáo viên dạy năng khiếu giáo viên
dạy thể dục, ngoại ngữ, tin học nên phải hợp đồng thêm giáo viên, vì vậy việc
quản lí giáo viên hợp đồng cũng gặp nhiều khó khăn, không ổn định. Ngoài
ra, nhà trường con thiếu nhân viên trong một số bộ phận như văn phong, thủ
16
quỹ, y tế học đường..., giáo viên phải kiêm nhiệm thêm những công tác này
nên nhiều lúc công việc chồng chéo, khó thực hiện theo một quy cũ nhất định
được. Nhiều giáo viên tuổi cao, sức khoẻ yếu, năng lực sư phạm hạn chế, con
nhỏ, nhà xa trường... Đây là nguyên nhân làm ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu
quả công tác giáo dục nói chung, việc vươn lên để học tập và trau dồi chuyên
môn nghiệp vụ của bản thân nói riêng, ảnh hưởng đến phong trào học tập phát
triển chung của nhà trường. Bản thân một số giáo viên vẫn con ngại khó, ngại
khổ, không muốn thay đổi vì vậy việc áp dụng cái mới, tự học tập và tham gia
tiếp cận cái mới, triển khai và áp dụng vào dạy học cón chưa thực sự hiệu
quả.
Đội ngũ Tổ trưởng chuyên môn hiện nay phần lớn đang làm công tác
quản lý một cách cảm tính, theo kinh nghiệm. Hầu như Tổ trưởng chuyên
môn chưa được trang bị, bồi dưỡng những kiến thức lý luận cần thiết, đặc biệt
là những kỹ năng cơ bản của quản lý. Họ quản lý tổ chuyên môn phần lớn
bằng kinh nghiệm, bằng sự học hỏi lẫn nhau. Số Tổ trưởng chuyên môn được
đào tạo nghiệp vụ quản lý nhà trường hầu như không có. Chính sự non kém
về kiến thức, kỹ năng quản lý của các Tổ trưởng chuyên môn đã và đang là
một nguyên nhân làm ảnh hưởng tới sự phát triển chất lượng giáo dục trong
các trường.
2.4.Một số kinh nghiệm.
Từ những nguyên nhân trên, bản thân tôi đã rút ra được một số kinh
nghiệm sau:
Một là, Người quản lý phải nắm được đặc điểm cơ bản của tập thể sư
phạm, đội ngũ giáo viên. Hiệu trưởng phải hiểu và nắm chắc đội ngũ của
mình từ việc tìm hiểu nhận thức về nghề, ý thức vươn lên trong giảng dạy,
sinh hoạt chuyên môn, sinh hoạt tập thể. Tìm hiểu về trình độ chuyên môn,
tuổi tác, điều kiện sống gia đình, điều kiện sức khoẻ… của từng giáo viên để
từ đó có kế hoạch bố trí sắp xếp hợp lý. Người quản lý hiểu được đội ngũ sẽ
giúp họ phân công đúng người, đúng việc và mang lại hiệu quả cao.
Hai là, người quản lý phải tự xây dựng cho mình một kế hoạch hoạt
động chỉ đạo dạy và học, kế hoạch bồi dưỡng giáo viên hàng năm, theo chu kì
sao cho sát với thực tế nhà trường và nhiệm vụ năm học. Chỉ đạo Phó Hiệu
trưởng phụ trách chuyên môn, các khối lập được kế hoạch chuyên môn của bộ
phận mình phụ trách, trong đó đặc biệt quan tâm đến nội dung sinh hoạt khối,
toàn trường; xây dựng kế hoạch thanh - kiểm tra một cách cụ thể phù hợp với
tình hình thực tế của trường, từng giáo viên; người quản lý phải là người theo
dõi chặt chẽ việc thực hiện kế hoạch đó.
17
Ba là, bên cạnh việc tham gia các lớp tập huấn, tự học nâng cao trình
độ, phát triển tay nghề, người quản lý cần đặc biệt quan tâm đến công tác bồi
dưỡng tại chỗ, quản lý các khối thực hiện nghiêm túc có chiều sâu các buổi
sinh hoạt chuyên môn.
Bốn là, bản thân mỗi một giáo viên cần có ý thức vươn lên, không an
phận, biết phấn đấu, mạnh dạn tiếp cận cái mớí, áp dụng hợp lí vào công tác
của mình. Ngoài ra phải không ngừng học tập, nâng cao trình độ chuyên môn
nghiệp vụ và trau dồi kĩ năng sư phạm, đáp ứng nhu cầu giáo dục trong thời
kì mới.
Năm là, làm tốt công tác động viên, khuyến khích giáo viên, công tác thi
đua khen thưởng, Khen chê đúng người, đúng việc để kịp thời động viên giúp
đỡ họ nỗ lực phấn đấu đạt kết quả cao hơn.
Sáu là, tập trung đầu tư tăng cường cơ sở vật chất, tiếp cận và khai thác
mức độ cao công nghệ thông tin, tạo điều kiện để cán bộ giáo viên vận dụng
công nghệ thông tin vào công tác giáo dục, nâng cao tay nghề, hiểu biết và
tăng hiệu quả dạy học.
CHƯƠNG III: ĐỀ XUẤT VÀ KẾT LUẬN
I. CÁC GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT:
Trong công tác bồi dưỡng, phát triển năng lực đội ngũ giáo viên, hiệu
trưởng cần quán triệt các nguyên tắc sau:
-Đảm bảo tính hệ thống và chủ trương phát triển của Bộ GD-ĐT và Sở
GD-ĐT cho giáo viên Tiểu học. Trên cơ sở đó, nhà trường vận dụng phát triển
vào thực tiễn của trường một cách hợp lí.
-Đảm bảo tính tích cực, chủ động của giáo viên trong việc bồi dưỡng và
phát triển. Từng giáo viên, phải tự giác, tích cực chủ động trong việc tiếp
nhận nội dung bồi dưỡng của cấp trên, đồng thời nêu cao tinh thần tự học, tự
bồi dưỡng. Mỗi giáo viên, khi nhận thức rõ sự cần thiết phải bồi dưỡng và tự
bồi dưỡng họ sẽ có động cơ, thái độ đúng đắn, có quyết tâm cao, và từ đó
nâng cao chất lượng công tác.
-Đảm bảo sự kết hợp hài hoà giữa yêu cầu trước mắt và lâu dài. Trước
mắt cần đảm bảo cho giáo viên được cập nhật những kiến thức cần được điều
chỉnh và đổi mới trong chương trình môn học, đổi mới phương pháp dạy học,
giáo dục. Về lâu dài, giáo viên cần được bồi dưỡng nâng chuẩn lên trình độ
cao hơn để đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ của người giáo viên trong thời kỳ
mới.
18
-Đảm bảo vai tro quản lý và ý thức trách nhiệm của người quản lý trong
công tác bồi dưỡng là một nguyên tắc cơ bản. Hiệu trưởng giữ vai tro quyết
định trong việc tổ chức các hoạt động bồi dưỡng. Hiệu trưởng cần giáo dục để
giáo viên nhận thức sâu sắc sự cần thiết phải nâng cao và tự nâng cao trình
độ, năng lực. Hiệu trưởng cần thống nhất được yêu cầu xây dựng và phát triển
đội ngũ của toàn trường với mục tiêu phấn đấu của mỗi giáo viên, thu hút mọi
giáo viên vào các hình thức học tập phù hợp.
Có rất nhiều biện pháp để phát triển đội ngũ giáo viên. Với đặc điểm tình
hình riêng của trường TH Vĩnh Thủy và vận dụng các nguyên tắc bồi dưỡng
phát triển, tôi xin đề xuất một số giải pháp sau:
Thứ nhất: Tăng cường nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lí và
giáo viên về vấn đề phát triển đội ngũ.
Những nội dung cần bồi dưỡng về nhận thức như sau:
Bồi dưỡng nhận thức về vai tro của giáo dục đối với sự phát triển. Phải
làm cho mọi người thấu triệt giáo dục có vai tro to lớn trong việc phát triển cá
nhân và xã hội. Giáo dục được coi là đồng nghĩa với sự phát triển
Bồi dưỡng nhận thức về quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục, nhiệm vụ
giáo dục trong thời kỳ CNH, HĐH. Đảng ta thực sự coi giáo dục là quốc sách
hàng đầu. Mục tiêu, nhiệm vụ của giáo dục là: "Tiếp tục nâng cao chất lượng
toàn diện, đổi mới nội dung phương pháp dạy và học... phát huy tinh thần độc
lập suy nghĩ, sáng tạo của học sinh... thực hiện giáo dục cho mọi người, cả
nước thành một xã hội học tập".
Tăng cường nhận thức về thực trạng giáo dục của đất nước, đặc biệt thấy
rõ những yếu kém của nền giáo dục, như: chất lượng GD-ĐT đại trà con thấp,
đội ngũ giáo viên thiếu về số lượng, chất lượng thấp, phương pháp giảng dạy,
giáo dục chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội hiện tại và tương lai.
Tăng cường nhận thức về vai tro của người thầy giáo trong việc thực
hiện mục tiêu, chiến lược phát triển giáo dục. Phải làm cho mọi người thấy
được vai tro của chất lượng đội ngũ giáo viên là yếu tố quyết định chất lượng
nền giáo dục của đất nước. Mục tiêu của nền giáo dục chúng ta là đào tạo
những con người phát triển toàn diện, phải tạo ra chất lượng mới cho nguồn
nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước. Muốn làm tron sứ mệnh cao
cả đó, giáo dục phải có sự thay đổi đồng bộ trên các mặt, trong đó yếu tố có ý
nghĩa quyết định là phải nâng cao chất lượng toàn diện của đội ngũ giáo viên.
Có thể vận dụng nhiều hình thức tăng cường như:
19
Đẩy mạnh công tác chính trị - tư tưởng, mời cán bộ tuyên huấn nói
chuyện thời sự, chính trị, mời các chuyên gia, nhà tư vấn bồi dưỡng đổi mới
phương pháp giảng dạy, tổ chức học tập chính trị cho cán bộ, giáo viên, phổ
biến các văn kiện của Đảng, Nhà nước, bổ sung các tài liệu trong thư viện
trường và khuyến khích giáo viên tăng cường đọc sách, báo, tài liệu, bồi
dưỡng qua các sinh hoạt tập thể
Thứ hai: Đa dạng hoá các nội dung, hình thức bồi dưỡng, phát triển
đội ngũ giáo viên.
1. Đa dạng hoá các nội dung bồi dưỡng, phát triển đội ngũ giáo
viên.
1.1. Bồi dưỡng phẩm chất đạo đức và lòng nhân ái sư phạm.
Trong quá trình bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ, phẩm chất đạo
đức của người thầy phải được coi trọng. Trong bất cứ hoàn cảnh nào người
thầy cũng phải xứng đáng là tấm gương sáng cho học sinh noi theo. Người
hiệu trưởng khi xây dựng phong cách người thầy phải chú ý tới hai mặt. Đó là
thái độ đối với công việc và cách ứng xử trước những vấn đề, tình huống
trong quan hệ với cấp trên, với đồng nghiệp, với học sinh hoặc tình huống của
cuộc sống. Người thầy muốn làm tốt công tác giáo dục phải có tác phong mẫu
mực, tôn trọng và công bằng trong đối xử với học sinh, phải xây dựng uy tín
trước học sinh, nhân dân và xã hội. Dù trong hoàn cảnh nào cũng không được
làm hoen ố danh dự người thầy. Phải xây dựng thói quen làm việc có kỷ
cương, nề nếp, lương tâm, trách nhiệm. Thông qua bồi dưỡng tư tưởng chính
trị, thầy cô giáo có thêm long tự hào, gắn bó với nghề, với trường để tạo động
lực phát triển nhà trường.
Bồi dưỡng long nhân ái sư phạm đội ngũ giáo viên là nội dung quan
trọng trong công tác bồi dưỡng chất lượng giáo viên. Long nhân ái - tình yêu
thương con người là cái gốc của đạo lý làm người. Với giáo viên thì tình yêu
thương ấy là cốt lõi, là cội nguồn sâu xa của lý tưởng nhân văn, là đặc trưng
của giáo dục. Tình thương yêu học sinh là điểm xuất phát của mọi sự sáng tạo
sư phạm và làm cho giáo viên có trách nhiệm cao với công việc. Tình yêu
thương học sinh thể hiện trong các hoạt động dạy học và giáo dục, đó cũng là
điểm xuất phát của tình yêu nghề nghiệp. Ý thức, thái độ và tình yêu nghề
nghiệp thể hiện ở việc không ngừng nâng cao phẩm chất đạo đức để trở thành
tấm gương sáng, tạo niềm tin trước học sinh và nhân dân. Sinh thời Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã đặt yêu cầu về đạo đức của người thầy lên hàng đầu "Dĩ nhân
nhi giáo, dĩ ngôn nhi giáo" (nghĩa là: trước hết phải giáo dục bằng tấm gương
20
sống của chính mình, sau đó mới giáo dục bằng lời nói). Phải làm cho mọi
giáo viên thấm nhuần khẩu hiệu "Tất cả vì học sinh thân yêu".
1.2. Bồi dưỡng năng lực sư phạm
Đây là một yêu cầu cơ bản, quan trọng trong công tác bồi dưỡng giáo
viên. Năng lực sư phạm bao gồm: năng lực tổ chức quá trình dạy học và tổ
chức quá trình giáo dục. Tri thức khoa học sâu rộng là nền tảng của năng lực
sư phạm. Người giáo viên phải có tri thức khoa học sâu rộng, vững chắc để từ
đó phát triển năng lực sư phạm. Do vậy cần tập trung bồi dưỡng những nội
dung cơ bản sau:
Thường xuyên cung cấp cho giáo viên những điều chỉnh, hoặc đổi mới
trong nội dung hoặc phương pháp giáo dục và dạy học của từng mặt giáo dục,
của từng môn học trong chương trình. (Ví dụ: Thực hiện tích hợp, lồng ghép
kĩ năng sống, giáo dục môi trường, giáo dục pháp luật…). Hoặc đổi mới
phương pháp giảng dạy và giáo dục theo hướng phát huy tính tích cực, chủ
động, sáng tạo của học sinh.
Bồi dưỡng năng lực thiết kế giáo án môn học, đề kiểm tra, chấm và trả
bài. Bồi dưỡng năng lực ứng xử các tình huống sư phạm trong giáo dục. Đối
với giáo viên chủ nhiệm cần bồi dưỡng năng lực tổ chức các hoạt động tập
thể, năng lực thuyết phục, cảm hoá học sinh. Giáo viên chủ nhiệm là người
thay mặt hiệu trưởng quản lý toàn diện các hoạt động giáo dục trong lớp. Giáo
viên chủ nhiệm là người cố vấn trong tập thể học sinh, là người trực tiếp giáo
dục học sinh, trực tiếp chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá công bằng, khách quan quá
trình rèn luyện, phấn đấu, tu dưỡng của học sinh trong lớp. Do đó giáo viên
chủ nhiệm cần rèn luyện kỹ năng vận dụng các tri thức khoa học giáo dục vào
thực tiễn sinh động và đa dạng trong quá trình giáo dục học sinh của mình.
1.3. Bồi dưỡng năng lực chuyên môn.
Năng lực chuyên môn là nền tảng, là đon bẩy của năng lực sư phạm.
Muốn có năng lực sư phạm tốt phải có năng lực chuyên môn vững vàng. Bởi
"Có bột mới gột nên hồ".
Năng lực chuyên môn hay trình độ chuyên môn bao gồm nhiều yếu tố
như:
Kiến thức khoa học về bộ môn và các kiến thức liên quan. Phương pháp
giảng dạy bộ môn với từng bài, kiểu bài. Sự sáng tạo, khả năng đúc rút và phổ
biến kinh nghiệm. Khả năng tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc về chuyên
môn cho mình và đồng nghiệp. Chất lượng bài dạy, giờ dạy và chất lượng học
tập của học sinh
21
Do đó, bồi dưỡng năng lực chuyên môn là thực hiện những nội dung sau:
Thường xuyên cung cấp những tư liệu, tài liệu, thiết bị cần thiết liên
quan đến nội dung kiến thức và phương pháp giảng dạy bộ môn. Phát huy,
ủng hộ sự sáng tạo của giáo viên trong giảng dạy. Đặc biệt là hiện đại hoá
phương pháp giảng dạy. Tạo điều kiện để giáo viên đúc rút kinh nghiệm giảng
dạy,vững vàng kiến thức để dạy tất cả các khối lớp. Đánh giá đúng chất lượng
giảng dạy của giáo viên, kết quả học tập của học sinh. Bồi dưỡng kĩ năng làm
và sử dụng đồ dùng dạy học
1.4. Bồi dưỡng năng lực công tác xã hội hoá giáo dục
Đây là một trong bảy nhóm giải pháp để phát triển giáo dục của Đảng và
Nhà nước trong thời kỳ CNH, HĐH, thực hiện phương châm "Nhà nước và
nhân dân cùng làm". Chính nhờ chủ trương này mà nguồn lực đầu tư cho giáo
dục tăng lên và làm cho bộ mặt giáo dục nước nhà khởi sắc, tạo ra một phong
trào học tập rầm rộ và cả xã hội làm giáo dục.
Đối với trường TH Vĩnh Thủy, bước đầu nhờ công tác này mà bộ mặt
nhà trường có thay đổi, vì vậy phải tiếp tục bồi dưỡng cho giáo viên năng lực
làm công tác xã hội hoá giáo dục. Phải làm cho giáo viên nắm được nội dung,
yêu cầu của xã hội hoá giáo dục là "khuyến khích, huy động và tạo điều kiện
để toàn xã hội tham gia phát triển giáo dục. Tạo cơ hội cho mọi người, ở mọi
lứa tuổi, mọi trình độ được học thường xuyên học suốt đời; tiến tới một xã hội
học tập". Phải lập chương trình kế hoạch và tổ chức, chỉ đạo công tác này một
cách nghiêm túc, khoa học để giáo viên có cơ sở thực hiện. Giáo viên cũng
phải tự mình học tập, tự mình tạo mối liên hệ nhà trường - gia đình - xã hội
trong giáo dục học sinh. Phải phát huy vai tro người thầy trong việc phát triển
giáo dục.
1.5. Bồi dưỡng kiến thức khoa học bổ trợ.
Trong xu thế toàn cầu hoá, các nước đang mở rộng hợp tác và hội nhập,
đặc biệt bước vào thế kỷ XXI, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, nhất là
khoa học công nghệ thông tin đang phát triển như vũ bão, Ngoại ngữ và tin
học đang trở thành thứ vũ khí không thể thiếu được đối với sự hợp tác và phát
triển. Ở nước ta phong trào học ngoại ngữ và tin học đang dấy lên rầm rộ.
Vốn ngoại ngữ và tin học nghèo nàn sẽ cản trở rất lớn trong việc nâng cao
chất lượng giảng dạy, giáo dục và nhiều hoạt động khác. Do đó phải tổ chức
bồi dưỡng năng lực ngoại ngữ và tin học cho giáo viên. Phải tổ chức cho giáo
viên học ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh để giáo viên biết đọc, biết viết tiếng
Anh, biết sử dụng ở mức độ cần thiết. Phải bồi dưỡng cho giáo viên hiểu được
22
tin học, biết sử dụng máy vi tính để sử dụng hỗ trợ cho giảng dạy và các công
tác khác.
2. Đa dạng hoá các hình thức bồi dưỡng chất lượng đội ngũ giáo
viên
Để thực hiện được những nội dung bồi dưỡng trên, tôi đề xuất các hình
thức bồi dưỡng như sau:
2.1. Bồi dưỡng tại trường.
Tổ chức các hoạt động bồi dưỡng tại trường mang lại hiệu quả cao phù
hợp với điều kiện và hoàn cảnh của đa số giáo viên. Tổ trưởng chuyên môn,
giáo viên dạy giỏi các cấp là những cốt cán trong công tác bồi dưỡng. Họ vừa
là người gương mẫu đi đầu trong việc bồi dưỡng, vừa có trách nhiệm giúp đỡ
những thành viên trong tổ. Cải tiến nội dung và hình thức sinh hoạt tổ chuyên
môn cũng mang lại hiệu quả bồi dưỡng tốt.
Tổ chức hội giảng (như hội giảng chào mừng theo chủ điểm, hội thi chọn
giáo viên giỏi trường) tổ chức các cuộc thi nghiệp vụ sư phạm để khích lệ
giáo viên có tình yêu nghề nghiệp và say sưa bồi dưỡng tay nghề.
Tổ chức học tập, hội thảo theo chuyên đề: Có thể mời chuyên gia,
chuyên viên Giáo dục để cung cấp những kiến thức cập nhật và giải quyết
những băn khoăn, thắc mắc của giáo viên khi dạy những bài khó, chương khó.
Hoặc nhà trường tự tổ chức, giao cho tổ trưởng chuyên môn, những người có
năng lực cao chuẩn bị nội dung theo chủ đề hội thảo. Khi đã thống nhất thì
phải quyết tâm biến nó thành hiện thực sâu rộng.
Đầu tư xây dựng thư viện và tổ chức hoạt động thư viện góp phần không
nhỏ trong công tác bồi dưỡng. Thư viện phải có đầy đủ sách giáo khoa, sách
hướng dẫn, nhiều sách tham khảo, các loại báo và tạp chí đặc biệt là báo và
tập san chuyên ngành. Xây dựng phong đọc đáp ứng nhu cầu giáo viên và học
sinh. Nhân viên thư viện phải được đào tạo. Tổ chức giới thiệu sách mới, thảo
luận những vấn đề mà báo chí đặt ra, thiết thực phục vụ giảng dạy và giáo
dục, khuyến khích giáo viên mượn đọc, học tập.
Tổ chức cho giáo viên nghiên cứu và ứng dụng khoa học. Khuyến khích
động viên phong trào viết sáng kiến kinh nghiệm làm đồ dùng dạy học. Cần tổ
chức nghiệm thu sáng kiến kinh nghiệm một cách nghiêm túc, có sự đánh giá
khách quan và những sáng kiến kinh nghiệm cần được áp dụng phổ biến cho
giáo viên toàn trường.
23
Tổ chức các lớp học ngoại ngữ và tin học cho giáo viên. Có thể động
viên giáo viên theo học ở các trung tâm, nhưng cách làm tốt nhất là tự tổ chức
tại trường bằng cách vận động, khuyến khích giáo viên bộ môn giảng dạy,
giáo viên học góp kinh phí ở mức độ vừa phải và nhà trường dùng một ít tiền
trong quỹ khuyến học để hỗ trợ.
2.2. Bồi dưỡng ngắn hạn.
Cử giáo viên tham dự các lớp bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ ngắn
hạn do cấp trên tổ chức theo chuyên đề. Sau khi tham dự phải tổ chức phổ
biến, áp dụng.
2.3. Học các lớp đào tạo bồi dưỡng từ xa và các lớp đào tạo tập
trung.
Bố trí, tạo điều kiện để giáo viên tham gia các lớp học từ xa, tập trung
để nâng cao trình độ trên chuẩn (Đại học, cao đẳng, các lớp nghiệp vụ quản
lí...)
2.4. Bồi dưỡng qua tự học, tự rèn.
Xây dựng nội dụng này thành một phong trào thi đua. Giáo viên đăng ký
vấn đề tự học theo định kỳ. Sau đó viết thu hoạch trình bày để giáo viên toàn
trường hoặc tổ thảo luận, đánh giá, góp ý. Đối với giáo viên phải xây dựng
thành ý thức thường xuyên.
Thứ ba: Bồi dưỡng và phát triển năng lực cho đội ngũ Tổ trưởng
chuyên môn.
Ở các trường Tiểu học, Hiệu trưởng là người trực tiếp tuyển chọn, bổ
nhiệm, đồng thời cũng là người trực tiếp bồi dưỡng nâng cao năng lực cho đội
ngũ Tổ trưởng chuyên môn. Chính vì vậy, Hiệu trưởng có vai tro quyết định
trong việc quản lý phát triển đội ngũ Tổ trưởng chuyên môn. Hiệu trưởng có
thể căn cứ vào các tiêu chuẩn, các quy định để quy hoạch, bổ nhiệm Tổ
trưởng chuyên môn đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu theo quy định của
ngành, đảm bảo chất lượng theo yêu cầu thực tế. Chọn được người có đủ
phẩm chất, năng lực, uy tín, tác phong tốt đáp ứng với cương vị mới; có những
năng lực quản lý ngang tầm với yêu cầu và nhiệm vụ...
Nâng cao nhận thức cho đội ngũ Tổ trưởng chuyên môn : làm thay đổi,
nâng cao nhận thức về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; bồi dưỡng các phẩm
chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp cho lực lượng quản lý tổ chuyên môn
trong nhà trường; giúp cho Tổ trưởng chuyên môn nhận thức đầy đủ và đúng
đắn về sự cấp bách cần phải nâng cao phẩm chất, năng lực cho Tổ trưởng
24
chuyên môn và coi đó là một biện pháp nâng cao chất lượng dạy học trong
các nhà trường.
Đào tạo nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ Tổ trưởng chuyên
môn : Để làm tốt vấn đề này, hàng năm các Sở GD&ĐT cần xây dựng được
kế hoạch cụ thể về công tác đào tạo bồi dưỡng cho đội ngũ trong đó chú trọng
đội ngũ Tổ trưởng chuyên môn. Bằng nhiều hình thức, nhiều con đường để có
thể tiến hành công tác đào tạo bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ cho đội
ngũ Tổ trưởng chuyên môn. Hiệu trưởng mỗi trường phải chủ động lập được
kế hoạch cụ thể, đề xuất cho Sở về việc cử tổ trưởng, tổ phó chuyên môn đi
học hằng năm; đảm bảo chế độ chính sách đào tạo, có kinh phí thường xuyên
để hỗ trợ người học nâng cao trình độ.
Bồi dưỡng nâng cao năng lực quản lý cho đội ngũ Tổ trưởng chuyên
môn: Bồi dưỡng năng lực quản lý cho đội ngũ Tổ trưởng chuyên môn là trang
bị kiến thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo trong công tác quản lý. Chương trình
bồi dưỡng năng lực quản lý cho đội ngũ Tổ trưởng chuyên môn phải xuất phát
từ thực tế, đáp ứng được những yêu cầu chung của một chương trình theo quy
định. Nên hướng trọng tâm bồi dưỡng vào một số chuyên đề phục vụ thiết
thực cho công tác quản lý tổ chuyên môn. Hiệu trưởng cần chú trọng nâng cao
năng lực kế hoạch hóa cho đội ngũ Tổ trưởng chuyên môn như cách thức nắm
bắt và phân tích thực trạng của tổ, nâng cao năng lực tổ chức, chỉ đạo thực
hiện cho đội ngũ Tổ trưởng chuyên môn, biết cách phân công công việc cho
các giáo viên trong tổ, hướng dẫn họ hợp tác với nhau trong hoạt động. Một
giải pháp nữa là Hiệu trưởng quan tâm nâng cao năng lực kiểm tra đánh giá
cho đội ngũ Tổ trưởng chuyên môn. Hiệu trưởng giúp Tổ trưởng chuyên môn
xác định tiêu chí khách quan để kiểm tra đánh giá các hoạt động chuyên môn
của tổ. Hướng dẫn Tổ trưởng chuyên môn đưa các hoạt động kiểm tra vào kế
hoạch, kết hợp các hình thức và phương pháp kiểm tra đánh giá, biết cách làm
cho việc kiểm tra đánh giá trở thành quá trình tự kiểm tra đánh giá của mỗi
giáo viên trong tổ.
Thực hiện việc kiểm tra, thanh tra, đánh giá, xếp loại cán bộ giáo viên
chính xác, công bằng, công khai và hợp lí theo công việc
Việc đánh giá xếp loại cán bộ giáo viên được thực hiện đột xuất hoặc
theo định kì, cuối phong trào thi đua, cuối học kì, cuối năm học...Có thể áp
dụng việc đánh giá năng lực hay sự tiến bộ về chuyên môn giáo viên thông
qua:
Đánh giá chất lượng giảng dạy của giáo viên thông qua kết quả của học
sinh, sản phẩm của người thầy là chất lượng học sinh, có thể nói: về cơ bản
25