Tải bản đầy đủ (.docx) (32 trang)

HIỆN TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP ĐÔ THỊ THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (253.14 KB, 32 trang )

BỘ GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
PHÒNG SAU ĐẠI HỌC



PHẠM HỒNG MƠ

HIỆN TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT
TRIỂN NÔNG NGHIỆP ĐÔ THỊ
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

TIỂU LUẬN HỌC PHẦN
(NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ QUẦN CƯ VÀ ĐÔ THỊ)

Thành phố Hồ Chí Minh – 2016


BỘ GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
PHÒNG SAU ĐẠI HỌC



TIỂU LUẬN HỌC PHẦN
(NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ QUẦN CƯ VÀ ĐÔ THỊ)

HIỆN TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT
TRIỂN NÔNG NGHIỆP ĐÔ THỊ
THÀNH PHỐ CẦN THƠ


Giảng viên hướng dẫn: TS. PHẠM THỊ XUÂN THỌ
Học viên thực hiện: PHẠM HỒNG MƠ
Chuyên ngành: Địa lí học
Khóa học: 26 (2015 – 2017)

Thành phố Hồ Chí Minh – 2016


MỤC LỤC


CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Nông nghiệp một trong 2 ngành sản xuất vật chất quan trọng nhất của nhân loại,
trong thời đại mới, dưới sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp và dịch vụ,
song nông nghiệp vẫn giữ vai trò không thể thay thế được. Tại các khu vực đô thi trên
thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, dù được quy hoạch là trung tâm công
nghiệp-dịch vụ nhưng NNĐT vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp các nhu
cầu về lương thực, thực phẩm, nghỉ ngơi, thư giản tại chổ cho người dân và tạo cảnh
quan đô thị xanh.
Cần Thơ là thành phố trung tâm và là hạt nhân phát triển của vùng Đồng bằng Sông
Cửu Long, nằm trong vùng nông nghiệp lớn nhất cả nước, nông nghiệp thành phố Cần
Thơ càng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố.
Tuy nhiên, nông nghiệp thành phố đa phần vẫn còn mang dáng vấp của nông nghiệp
nông thôn nói chung, chưa thể hiện rõ các đặc điểm của một nền NNĐT. Trong những
năm gần đây, nông nghiệp Cần Thơ đã có những chuyển biến tích cực với việc xuất
hiện nhiều mô hình sản xuất theo hướng của NNĐT. Trước thực trạng đó, trong nội
dung nghiên cứu này, tác giả muốn tìm hiểu hiện trạng phát triển của NNĐT trên địa
bàn thành phố, bên cạnh đó tìm hiểu những định hướng của thành phố và giải pháp
phát triển NNĐT trong thời gian tới.

1.2. TỔNG QUAN VỀ NÔNG NGHIỆP ĐÔ THỊ
1.2.1. Khái niệm
Theo định nghĩa của FAO (1996): “NNĐT (NNĐT) là một ngành công nghiệp sản
xuất, chế biến và kinh doanh lương thực và năng lượng được tạo dựng ngay trong lòng
các thị trấn, thành phố hay đô thị lớn ở khu vực thành thị và ven đô, áp dụng các biện
pháp sản xuất chuyên môn hóa, sử dụng và tái sử dụng tài nguyên thiên nhiên và chất
thải đô thị để sản xuất nhiều loại nông sản”.
Tiến sĩ Lê Văn Trưởng trích dẫn từ Mougeot (2000) cho rằng: “NNĐT là một
ngành sản xuất ở trung tâm, ngoại ô và vùng lân cận đô thị, có chức năng trồng trọt,
chăn nuôi, chế biến và phân phối các loại thực phẩm, lương thực và các sản phẩm
khác, sử dụng các nguồn lực tự nhiên và nhân văn, các sản phẩm cùng các dịch vụ ở
đô thị và vùng lân cận đô thị để cung cấp trở lại cho đô thị các sản phẩm và dịch vụ
cao cấp. NNĐT bao gồm nông nghiệp nội thị và nông nghiệp ngoại thị với các hoạt
động chủ yếu là trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản”.


Như vậy, có thể hiểu NNĐT là một lĩnh vực sản xuất dự trên nền tảng các ngành,
nghề nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, lâm nghiệp, chế
biến các sản phẩm nông nghiệp trong khu vực đô thị và vùng ven đô thị, bao gồm quá
trình sản xuất sản phẩm nông nghiệp từ nguyên liệu, bảo quản, chế biến đến tiêu thụ
sản phẩm phù hợp với điều kiện đất đai, khí hậu, thủy văn, bảo đảm sự cân bằng sinh
thái, tạo hiệu quả sản xuất, hiệu quả kinh tế, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng
môi trường.
1.2.2. Đặc điểm
- NNĐT có mối quan hệ cân bằng sinh thái, gắn kết các ngành, đồng thời có sự liên
kết theo không gian trên phạm vi rộng: giữa đô thị và nông thôn, giữa các không gian
kinh tế và không gian hành chính, có vai trò định hướng đối với các hoạt động nông
nghiệp khác ở các vùng lân cận.
- NNĐT mang những đặc điểm của nền nông nghiệp công nghệ cao, công nghệ
sạch để sản xuất sản phẩm chất lượng cao, an toàn.

- Năng suất cây trồng, hiệu quả kinh tế của NNĐT có thể thấp hơn nông nghiệp
thâm canh, nhưng giá trị sử dụng lại cao hơn.
1.2.3. Phân loại
Có 6 loại hình NNĐT, đó là:
• Nông nghiệp xanh, gồm các hoạt động lâm nghiệp, trồng trọt tạo mảng xanh đô
thị như trồng cây xanh, xây dựng công viên, trồng rừng tập trung, cây phân tán, hoa
cây kiểng; kể cả việc trồng cây ăn trái, cây công nghiệp dài ngày như cao su, tiêu,
điều.
• Nông nghiệp phục vụ khách sạn, tạo ra các sản phẩm cao cấp phục vụ nhu cầu
khách sạn như rau sạch, hoa cây kiểng, thủy sản, cây ăn trái…
• Nông nghiệp thu ngoại tệ, tạo ra sản phẩm xuất khẩu như hoa cây kiểng, cá cảnh,
chim cảnh, gà cảnh, rau sạch, da cá sấu…
• Nông nghiệp du lịch, xây dựng các làng nghề, vùng cây ăn trái kết hợp du lịch
sinh thái .
• Nông nghiệp an dưỡng, phục vụ cho nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí của cư dân đô thị,
và khách vãng lai.
• Nông nghiệp sinh thái


1.2.4. Vai trò
- NNĐT góp phần cung ứng nguồn lương thực, thực phẩm tươi sống tại chỗ cho các
đô thị.
- NNĐT tạo việc làm và thu nhập cho một bộ phận dân cư ở đô thị
- NNĐT dễ tiếp cận các dịch vụ đô thị
- NNĐT góp phần quản lý bền vững tài nguyên thiên nhiên, giảm ô nhiễm môi
trường; Có thể chuyển đổi các chất thải trong sản xuất công nghiệp thành phân bón,
nước tưới cho nông nghiệp.
- NNĐT góp phần tạo cảnh quan đô thị và cải thiện sức khỏe cộng đồng; Bảo vệ
môi trường sinh thái, tác động tích cực đến việc xanh hóa, làm trong lành vi khí hậu,
góp phần hạn chế những thiệt hại do biến đổi khí hậu gây nên;

- Góp phần xây dựng tính liên kết, tính cộng đồng trong sản xuất nông nghiệp
1.3. TỔNG QUAN VỀ THÀNH PHỐ CẦN THƠ
1.3. 1. Vị trí địa lí
Thành phố Cần Thơ nằm ở vùng hạ lưu của Sông Mê Kông và ở vị trí trung
tâm đồng bằng châu thổ Sông Cửu Long, nằm cách thành phố Hồ Chí Minh 169 km,
cách thành phố Cà Mau hơn 150 km, cách thành phố Rạch Giá gần 120 km, cách biển
khoảng hơn 80 km theo đường nam sông Hậu (quốc lộ 91C)
Cần Thơ có tọa độ địa lý 105 013’38" - 105050’35" kinh độ Đông và 9055’08" 10019’38" vĩ độ Bắc, trải dài trên 60 km dọc bờ Tây sông Hậu. Phía bắc giáp tỉnh An
Giang, phía đông giáp tỉnh Đồng Tháp và tỉnh Vĩnh Long, phía tây giáp tỉnh Kiên
Giang, phía nam giáp tỉnh Hậu Giang. Thành phố Cần Thơ có tổng diện tích tự nhiên
là 1.409,0 km², chiếm 3,49% diện tích toàn vùng trong đó diện tích nội thành là
53 km2.
Theo quy hoạch đến năm 2025, thành phố Cần Thơ sẽ trở thành trung tâm công
nghiệp, thương mại - dịch vụ, giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ, y tế và văn
hoá của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, đồng thời là đô thị cửa ngõ của vùng hạ lưu
sông Mêkông, là đầu mối quan trọng về giao thông vận tải nội vùng và liên vận quốc
tế, có vị trí chiến lược về quốc phòng, an ninh.
1.3.2. Điều kiện tự nhiên


Thành phố Cần Thơ nằm toàn bộ trên đất có nguồn gốc phù sa sông Mê Kông bồi
đắp và được bồi lắng thường xuyên qua nguồn nước có phù sa của dòng sông Hậu.Địa
chất trong thành phố được hình thành chủ yếu qua quá trình bồi lắng trầm tích biển và
phù sa của sông Cửu Long, trên bề mặt ở độ sâu 50 mét có hai loại trầm tích là
Holocen (phù sa mới) và Pleistocene (phù sa cổ).
Địa hình, nhìn chung tương đối bằng phẳng, phù hợp cho sản xuất nông, ngư
nghiệp, với độ cao trung bình khoảng 1 – 2 mét dốc từ đất giồng ven sông Hậu,
và sông Cần Thơ thấp dần về phía nội đồng tức là từ phía đông bắc sang phía tây nam.
Bên cạnh đó, thành phố còn có các cồn và cù lao trên sông Hậu như Cồn Ấu, Cồn
Khương, Cồn Sơn, Cù lao Tân Lập. Thành phố Cần Thơ có 3 dạng địa hình chính là

Địa hình ven sông Hậu hình thành dải đất cao là đê tự nhiên và các cù lao ven sông
Hậu.
Cần Thơ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, ít bão, quanh năm nóng ẩm,
không có mùa lạnh. Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 11
đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 28°C, số giờ nắng trung bình
cả năm khoảng 2.249,2 giờ, lượng mưa trung bình năm đạt 1600 mm. Độ ẩm trung
bình năm dao động từ 82% - 87%. Do chịu ảnh hưởng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có
lợi thế về nền nhiệt độ, chế độ bức xạ nhiệt, chế độ nắng cao và ổn định theo hai mùa
trong năm.
Bên cạnh đó, thành phố Cần Thơ còn có hệ thống kênh rạch dày đặc, với hơn 158
sông, rạch lớn nhỏ là phụ lưu của 2 sông lớn là Sông Hậu và sông Cần Thơ đi qua
thành phố nối thành mạng đường thủy. Các sông rạch lớn khác là sông Bình Thủy,
sông Trà Nóc, sông Ô Môn, sông Thốt Nốt, kênh Thơm Rơm và nhiều kênh lớn khác
tại các huyện ngoại thành là Thốt Nốt, Vĩnh Thạnh, Cờ Đỏ và Phong Điền, cho nước
ngọt suốt hai mùa mưa nắng, tạo điều kiện cho nhà nông làm thủy lợi và cải tạo đất.
Các lợi thế này rất thuận lợi cho sinh trưởng và phát triển của sinh vật, có thể tạo ra
1 hệ thống nông nghiệp nhiệt đới có năng suất cao, với nhiều chủng loại cây con, tạo
nên sự đa dạng trong sản xuất và trong chuyển dịch cơ cấu sản xuất. Tuy nhiên, mùa
mưa thường đi kèm với ngập lũ ảnh hưởng tới khoảng 50% diện tích toàn thành phố,
mùa khô thường đi kèm với việc thiếu nước tưới, gây khó khăn cho sản xuất và sinh
hoạt, nhất là khu vực bị ảnh hưởng của mặn, phèn làm tăng thêm tính thời vụ cũng
như nhu cầu dùng nước không đều giữa các mùa của sản xuất nông nghiệp.


1.3.3. Điều kiện kinh tế xã hội
Cần Thơ là thủ phủ và là đô thị hạt nhân của miền Tây Nam Bộ từ thời Pháp thuộc,
nay tiếp tục là trung tâm kinh tế của vùng Đồng bằng Sông Cửu Long. Ngoài đặc
trưng về địa lý là đầu mối giao thông quan trọng giữa các tỉnh trong khu vực, thành
phố Cần Thơ còn được biết đến như một "đô thị miền sông nước".
Năm 2014, tổng giá trị GDP trên địa bàn (GDP- giá so sánh 2010) ước đạt 69.514,7

tỷ đồng, tăng 12,05% so với năm 2013. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch đúng
hướng tăng dần tỷ trọng Khu vực II, III chiếm 92,73%; giảm dần tỷ trọng tỷ trọng
Khu vực I chiếm 7,27% trong cơ cấu kinh tế thành phố, đặc biệt chất lượng được nâng
lên khi cả ba khu vực đều tăng trưởng so với cùng kì.
Nhờ duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế đã làm tăng thu nhập, cải thiện và nâng
cao mức sống của người dân thành phố. Ước tính GDP bình quân đầu người đạt 70,2
triệu đồng, tăng 7,1 triệu đồng so với năm 2013, tương đương 3.298 USD, tăng 294
USD so năm 2013.
Tính đến năm 2015, dân số toàn Thành phố Cần Thơ đạt gần 1.400.300 người, mật
độ dân số đạt 995 người/km². Trong đó, dân số sống tại thành thị đạt gần 791.800
người, dân số sống tại nông thôn đạt 408.500 người. Dân số nam đạt 600.100
người, trong khi đó nữ đạt 600.200 người. Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa
phương tăng 0,82%.
Thành phố Cần Thơ là địa bàn cư trú của nhiều dân tộc khác nhau. Người Khmer ở
Cần Thơ không nhiều, chủ yếu tập trung chung quanh chùa hoặc sống rải rác xen kẽ
với người Việt ở các quận Ninh Kiều, Ô Môn, Thốt Nốt. Người Hoa ở Cần Thơ
thường sống tập trung ở quận Ninh Kiều và huyện Phong Điền, người Hoa gốc Quảng
Đông làm nghề mua bán, người Hoa gốc Hẹ làm nghề thuốc Bắc và người Hoa gốc
Hải Nam làm nghề may mặc....
Hạ tầng tương đối thuận lợi và các dịch vụ cơ bản đáp ứng nhu cầu vận chuyển
hàng hóa và đi lại của nhà đầu tư từ thành phố Cần Thơ đến các tỉnh trong khu vực.
Đặc biệt, về đường hàng không, sân bay Cần Thơ là sân bay lớn nhất khu vực Đồng
bằng sông Cửu Long, đạt chuẩn là sân bay quốc tế, nhà ga có công suất 2 triệu lượt
khách mỗi năm, đáp ứng những tuyến di chuyển quan trọng của các nhà đầu tư.
Hệ thống cảng được nâng cấp, gồm: Cảng Cần Thơ (Cảng Hoàng Diệu) có thể tiếp
nhận tàu biển có tải trọng 10.000 - 20.000 DWT; Cảng Trà Nóc có 03 kho chứa lớn
với dung lượng 40.000 tấn, khối lượng hàng hóa thông qua cảng có thể đạt 200.000


tấn/ năm có thể tiếp nhận tàu 2.500 DWT; Cảng Cái Cui là cảng mới được xây dựng

có thể phục vụ cho tàu từ 10.000 - 20.000 DWT, khối lượng hàng hóa thông qua cảng
là 4,2 triệu tấn/năm, đã hoàn thành công trình giai đoạn I vào tháng 4 năm 2006; đang
triển khai đầu tư giai đoạn II.
Trên địa bàn thành phố Cần Thơ có đầy đủ các loại hình đào tạo giáo dục, y tế. Đây
là ưu thế nổi trội của thành phố Cần Thơ so với các tỉnh, thành trong khu vực, giúp
Cần Thơ sớm trở thành nơi phát triển dịch vụ Giáo dục và Y tế cho cả vùng đồng bằng
sông Cửu Long, đồng thời giúp Cần Thơ nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và
nguồn lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật và nghiệp vụ cao, tiền đề đưa thành
phố Cần Thơ trở thành thành phố công nghiệp và dịch vụ - du lịch trước năm 2020.
1.4. HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP ĐÔ THỊ TRÊN THẾ
GIỚI VÀ VIỆT NAM
1.4.1. Các nước trên thế giới
Từ cuối thế kỷ XX, NNĐT đã trở thành xu thế trong quá trình phát triển đô thị ở
các quốc gia. Theo báo cáo hằng năm của Tổ chức Nông lương Liên hiệp quốc (FAO),
năm 2014 “38% lượng rau, quả, thịt, trứng cung ứng cho đô thị trên thế giới là từ
NNĐT, 25 - 75% số gia đình ở thành phố phát triển theo mô hình NNĐT. Rất nhiều
đô thị nổi tiếng trên thế giới phát triển mạnh về NNĐT.
+ Tại các nước phát triển:
Ở Matxcơva (Nga) 65% gia đình có mô hình VAC đô thị. Tại Béclin (Đức), có 8
vạn mảnh vườn trồng rau ở đô thị; hàng vạn cư dân ở New York (Hoa Kỳ) có vườn
trồng rau trên sân thượng. Theo Tổ chức Làm vườn quốc gia Hoa Kỳ, năm 2007,
người dân Hoa Kỳ chi khoảng 1,4 tỷ USD cho việc trồng cây rau, quả tại nhà, tăng
25% so với năm 2006.
Các nước tiên tiến có xu hướng ứng dụng công nghệ cao để phát triển NNĐT, các
nông trại trong nhà, trên mái các tòa nhà cao tầng, trong nhà kính, hệ thống chiếu sáng
tự động nhân tạo. Nhiều mô hình NNĐT đã được xây dựng với nhiều mục tiêu khác
nhau như:
Tại Tokyo- Nhật, Pasona O2- nông trại dưới đất của Công ty Pasona rộng 1.000 m 2,
trồng 100 loại rau có thể xem là biểu tượng của công nghệ cao trong NNĐT, với điểm
nhấn là hệ thống ánh sáng.

Đức là nước phát triển mảng xanh trên mái lớn nhất thế giới, với 8-10 triệu m 2 gia
tăng canh tác NNĐT hàng năm trên mái các nhà xưởng, bãi đậu xe và các tòa nhà. Tại


thị trấn Andernach cổ xưa bên dòng sông Rhine có cách phát triển mảng xanh rất thú
vị: những công viên và các khu đất công cộng ở đây cho phép người dân gieo trồng và
thu hoạch rau, quả.
Ở Thụy Sỹ, thành phố Zurich có chính sách phát triển NNĐT nhắm vào nhiều mục
tiêu, ngoài sản xuất thực phẩm, phần quan trọng hơn là tạo môi trường đa dạng sinh
học, tạo mảng xanh, cung cấp nhiều loại hình dịch vụ và tạo điều kiện giáo dục cho cư
dân thành phố.
+ Tại các nước đang phát triển:
Tại Cu Ba phát triển mạnh mẽ NNĐT để cung ứng thực phẩm tươi sống tại chỗ cho
cư dân đô thị, nhờ đó thủ đô Lahabana đã tự túc được đến 90% loại thực phẩm này.
Năm 2008 có hơn 20 vạn thị dân Cu Ba làm việc trong ngành NNĐT sử dụng 140
km2 đất đô thị. Chương trình NNĐT của Cuba là một thành công ấn tượng. Các nông
trại, trong đó nhiều nông trại nhỏ hiện là nguồn cung cấp phần lớn lượng rau cho
Cuba. Các nông trại này cũng cung cấp khoảng 300.000 việc làm trên toàn Cuba với
lương khá cao và làm thay đổi thói quen ăn uống ở một quốc gia vốn quen với chế độ
ăn có gạo và đậu cùng các sản phẩm đóng hộp từ Đông Âu.
Tại Cai Rô (Ai Cập) đầu thập kỷ 1990, một nhóm giáo sư nông nghiệp Trường Đại
học Ain Shams phát triển phương pháp trồng rau trên sân thượng tại khu vực đô thị
đông dân, mới đầu với quy mô nhỏ nhưng rồi được mở rộng nhanh sau khi có hậu
thuẫn chính thức của Tổ chức Lương Nông (FAO) vào năm 2001.
Tại Mumbai (Ấn Độ) là một trong các thành phố có mật độ dân cao nhất thế giới,
48.215 người/km2. Trong bối cảnh thiếu đất, hiếm nước, đông người nghèo, Tiến sĩ
Doshi đưa ra phương pháp làm vườn hữu cơ quy mô nhỏ trên ban công, thậm chí treo
trên tường, trên cơ sở dùng bã mía trộn đất đựng trong túi nhựa hay trong các loại hộp,
ống, lốp xe, để hộ dân có rau ăn tại gia và tăng thu nhập. Theo cách thức của ông, hộ
gia đình có thể tự túc được 5kg rau quả mỗi ngày trong 300 ngày của năm.

Ở Trung Quốc, NNĐT đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao khả năng thích
nghi của các thành phố, giải quyết rất tốt các vấn đề do đô thị hóa quá nhanh gây ra
cho các đô thị. Tại nhiều thành phố lớn của Trung Quốc như Bắc Kinh, Thượng Hải,
Quảng Châu..., NNĐT, ven đô cung cấp tới 85% nhu cầu về rau xanh, 50% về thịt
trứng của người dân.


1.4.2. Việt Nam
Việt Nam là nước có tỷ trọng nông nghiệp khá lớn, nhiều mặt hàng nông sản xuất
khẩu chiếm vị trí hàng đầu trên thế giới. Tuy nhiên, vấn đề NNĐT hiện nay chưa định
hình, chưa có định hướng theo kế hoạch cụ thể, còn tự phát và thay đổi tạm thời theo
cơ chế thị trường. Nhìn chung, trình độ phát triển NNĐT còn lạc hậu, manh mún, chủ
yếu canh tác theo tập quán. Do vậy, vai trò của NNĐT ngày càng quan trọng trước
diễn biến của biến đổi khí hậu toàn cầu.
Hơn nữa, quá trình đô thị hóa ở Việt Nam đang diễn ra rất nhanh, đô thị hóa trong
điều kiện tiền công nghiệp hóa ít gắn liền với các yếu tố nội tại làm động lực cho kinh
tế đô thị đã làm tăng thêm khó khăn cho các đô thị như: Một bộ phận lao động trong
nông nghiệp mất đất sản xuất, trở nên thiếu công ăn việc làm; dân cư từ nông thôn
chuyển về đô thị để làm việc, làm gia tăng nhu cầu về lương thực, thực phẩm; ô nhiễm
không khí, ô nhiễm nguồn nước.... Đây là các yếu tố đe dọa sự phát triển nhanh và bền
vững của đô thị hiện nay. Trong rất nhiều các giải pháp thì phát triển NNĐT được xem
là hướng đi tối ưu để giải quyết các bất cập liên quan trong tiến trình đô thị hóa,
hướng tới xây dựng đô thị sinh thái bền vững cho tương lai.
Trong thực tế, những mầm mống của NNĐT ở Việt Nam đã xuất hiện xung quanh
các thành cổ ngay từ thời phong kiến. Trong thời kỳ Pháp thuộc, NNĐT cũng được
chú ý phát triển và có những nét mang dáng dấp của NNĐT hiện đại. Trong thế kỷ
XX, quá trình đô thị hoá ở cả hai miền Nam-Bắc được mở rộng, nhiều đô thị mới
xuất hiện và chính chúng là động lực để NNĐT, nhất là bộ phận nông nghiệp ngoại
thị, phát triển nhanh nhằm cung cấp lương thực, thực phẩm tươi sống cho đô thị.
Bước sang thế kỷ XXI, điểm đang chú nhất là chính quyền ở TP Hồ Chí Minh, Thủ

đô Hà Nội, TP Đà Nẵng, TP hải Phòng, TP Cần Thơ, TP Tam Kỳ, TP Long An..... đã
xây dựng chiến lược hoặc quy hoạch tổng thể và có những chương trình, chính
sách phát triển NNĐT. Như vậy, càng ngày NNĐT càng trở nên quan trọng và có
những đóng góp lớn cho phát triển bền vững các đô thị trên lãnh thổ này.
Hiện nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước đã có những mô hình NNĐT phát triển rất
hiệu quả như ở TP.HCM, Hà Nội… Một số mô hình sản xuất NNĐT ở Hà Nội như:
Mô hình áp dụng khoa học kỹ thuật vào trồng, chăm sóc bưởi Diễn; mô hình trồng
cam Canh; chăn nuôi bò sữa, mô hình kinh doanh hoa đào Nhật Tân; mô hình nuôi
thủy sản tập trung an toàn tại xã Đông Mỹ, Thanh Trì,... Tại TP. Hồ Chí Minh có mô
hình trồng hoa lan, xây dựng các trung tâm nông nghiệp công nghệ cao như: Khu


nông nghiệp công nghệ cao (Củ Chi), Trung tâm Công nghệ sinh học (Quận 12),
Trung tâm thủy sản (Cần Giờ), trại thực nghiệm Bò sữa công nghệ cao hợp tác với
Israel (Củ Chi)... nhằm tạo ra các giống cây trồng vật nuôi chất lượng cao, đặc sản,
phân bón, kỹ thuật để cung cấp cho nhu cầu tại chỗ và thị trường bên ngoài trong tiến
trình phát triển NNĐT. Các mô hình nhà nông làm vườn kết hợp du lịch tại xã An
Bình, huyện Long Hồ, mô hình sản xuất rau an toàn ở huyện Long Hồ, mô hình CLB
trồng hoa lan ở phường 9, mô hình trồng cam sành ở xã Tân Hòa thuộc TP Vĩnh Long,
tỉnh Vĩnh Long…
Hoạt động nông, lâm, thuỷ sản tại các đô thị hiện nay đã tạo việc làm cho 17,89%
dân số đô thị từ 15 tuổi trở lên.
Nông nghiệp ở một số đô thị cũng đã tạo ra một số nông sản có giá trị xuất
khẩu: nghề nuôi tôm, cá sấu, cây cảnh, cá cảnh ở TP Hồ Chí Minh, nghề trồng hoa ở
TP Đà Lạt, nghề nuôi tôm ở các đô thị ven biển; nghề trồng chè ở TP Thái Nguyên,
TX Tuyên Quang, TX Bắc Cạn, TX Sông Công, trồng hồi và cây làm thuốc ở TP
Lạng Sơn, TX Cao Bằng); nghề trồng cà phê, cao su, hồ tiêu ở ngoại ô các đô thị ở
Tây Nguyên; trồng cây ăn quả, nuôi tôm, cá ba sa ở các đô thị vùng đồng bằng sông
Cửu Long. So với khu vực nông thôn, trung bình năng suất cây trồng ở khu vực ngoại
thị có năng suất cao hơn 30-50% nhờ hệ thống hạ tầng nông nghiệp phát triển.

Tất nhiên, NNĐT không chỉ là nguồn tạo nên GDP (giá trị kinh tế thuần tuý) mà
còn tạo ra nhiều giá trị khác nữa: sinh thái, môi trường, giáo dục, nghỉ dưỡng, tận
dụng thời gian rỗi ...Nếu hoạch toán cả những lợi ích này (bằng tiền), thì đóng góp của
NNĐT cho GDP, thu nhập hộ gia đình còn lớn hơn nhiều.
Sự kết hợp giữa nông nghiệp với du lịch, nghỉ dưỡng (còn gọi là loại hình nông
nghiệp du lịch và nông nghiệp nghỉ dưỡng) đang được chú ý phát triển tại nhiều
đô thị: Thảo Cầm viên và khu du lịch Suối Tiên, Khu dự trữ sinh quyển Cần Giờ..
(TP Hồ Chí Minh); Hồ Tây, Công viên Lê Nin, Thủ Lệ, vườn Bách thảo (Hà Nội),
Khu dự trữ sinh quyển Cát Bà (Hải Phòng)...Không ít gia đình ở các đô thị Việt
Nam, với truyền thống cần cù, tiết kiệm.... đã trồng rau, hoa, cây lương thực hai bên
đường sắt; trồng ngô, rau, bầu, bí trên đất đã san lấp mặt bằng nhưng chưa xây dựng...
Có thể thấy rằng rất hiếm hộ gia đình ở đô thị không trồng cây, không có cây xanh.
Nhiều gia đình còn nuôi cá cảnh, chim cảnh. Để đáp ứng nhu cầu rau sạch, một số
gia đình ở các đô thị đã tận dụng sân thượng, sân, vườn... để trồng rau và thậm chí mở
ra nghề mới: nghề trồng rau mầm và phương pháp canh tác mới: thuỷ canh... Ngay cả


những gia đình mới chuyển đến đô thị sinh sống thì họ cũng tìm ngay những chậu
hoa, cây cảnh, cây bóng mát để trồng. Nghĩa là họ mang những đối tượng của sản
xuất nông nghiệp vào từng căn nhà trong đô thị.
Những năm trước đây NNĐT ở nước ta chủ yếu có 5 loại hình và hiện nay đã có 9
loại hình. Đáng chú ý các loại hình: nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp du lịch, nông
nghiệp nghỉ dưỡng và nông nghiệp công nghệ cao đều là những loại hình nông nghiệp
mà nhiều quốc gia trên thế giới đang khuyến khích phát triển.


CHƯƠNG 2: HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP ĐÔ THỊ
THÀNH PHỐ CẦN THƠ
2.1. HIỆN TRẠNG CHUNG
Ước tính đến cuối năm 2014, giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản ước đạt

hơn 12.126 tỉ đồng, tăng 5,24% so năm 2013. Thực hiện chủ trương tái cơ cấu ngành
nông nghiệp theo Quyết định 899/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định
số 580/QĐ-TTg của Chính phủ về chính sách hỗ trợ giống để chuyển đổi từ trồng lúa
sang trồng cây màu, ngành nông nghiệp thành phố đã tích cực hướng dẫn nông dân
chuyển đổi sang các mô hình canh tác hiệu quả. Cơ cấu GDP nội bộ ngành nông-lâm
nghiệp-thủy sản có sự chuyển dịch tích cực, so với năm 2005: tỷ trọng giá trị tăng
thêm ngành nông nghiệp giảm 3,4%, tỷ trọng giá trị tăng thêm ngành thủy sản tăng
3,8% và tỷ trọng giá trị tăng thêm ngành lâm nghiệp giảm 0,4%.
Ngành nông nghiệp - thủy sản phát triển theo hướng sản xuất tập trung, ứng dụng
công nghệ-kỹ thuật cao và hình thành các vùng sản xuất hàng hóa lớn, chất lượng và
hiệu quả cao với mô hình đa canh bền vững; gắn với công nghiệp chế biến và thị
trường tiêu thụ. Mặc dù tốc độ đô thị hóa nhanh, diện tích đất nông nghiệp giảm, song
giá trị sản xuất toàn ngành tăng bình quân 5,3%, trong đó nông nghiệp giảm bình quân
1,6%, thủy sản tăng bình quân 14,1%.
NNĐT đã đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm của thành phố như sau:
Nhu cầu

Tỉ lệ đáp ứng

N hu cầu lương thực

100%

Nhu cầu rau, củ, quả thực phẩm

70%

Nhu cầu thịt gia súc, gia cầm

70%


Nhu cầu cá, tôm

80%

Như vậy, so với các đô thị lớn khác như Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà
Nẵng, ngành NNĐT Cần Thơ đã giải quyết nhu cầu về lương thực, thực phẩm với tỉ lệ
cao. Điều này khẳng định một lần nữa vai trò của NNĐT nói chung và NNĐT ở Cần
Thơ nói riêng.
Bên cạnh đó, sự kết hợp giữa nông nghiệp với du lịch, nghỉ dưỡng (còn gọi là loại
hình nông nghiệp du lịch và nông nghiệp nghỉ dưỡng) đang được chú ý tại các khu
du lịch cồn (gồm Cồn Ấu, Cồn Khương, Cồn Sương, Cồn Tân Lộc..) nằm liền dọc


theo sông Hậu trên dường thủy quốc tế từ Campuchia ra Biển Đông, Vườn cò Bằng
Lăng rộng 2 ha có trên 20 loài chim, 10 giống cò…
2.2. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT CÁC NGÀNH
2.2.1. Nông nghiệp
2.2.1.1. Trồng trọt
Thành phố Cần Thơ có diện tích đất tự nhiên 140.894 ha; trong đó, diện tích đất
nông nghiệp chiếm hơn 80%. Lúa vẫn là cây trồng chủ lực chiếm tỷ trọng lớn trên
70% trong tổng giá trị ngành Nông nghiệp.
Đã hình thành các vùng sản xuất hàng hoá phát huy hiệu quả sử dụng tổng hợp các
lợi thế như vùng lúa chất lượng cao, vùng lúa – màu, lúa – nuôi trồng thủy sản, vùng
cây ăn trái...
Lúa là cây trồng chính, có lợi thế cạnh tranh cao, có thị trường tiêu thụ rộng lớn và
vững chắc, sản xuất rất ổn định với năng suất liên tục tăng, chất lượng ngày càng được
nâng cao. Tuy diện tích canh tác bị thu hẹp, nhưng nhờ tăng vụ nên diện dích gieo
trồng vẫn tăng, năng suất tăng khá, sản lượng tăng khá nhanh. Tuy nhiên, do tổng
GTSX trên 1 ha không cao, bình quân đất nông nghiệp theo lao động thấp nên đất lúa

đang được chuyển 1 phần sang đất cây ăn quả, nuôi trồng thủy sản. Năm 2014, tổng
diện tích đất trồng lúa đạt 88.008 ha, hệ số vòng quay giảm từ 2,69 lần (năm 2014)
xuống còn 2,64 lần, do giảm diện tích lúa Hè Thu và Thu Đông để chuyển đổi trồng
cây màu hiệu quả kinh tế cao theo chủ trương tái cấu trúc ngành và chuyển đổi cơ cấu.
Diện tích gieo trồng lúa cả năm đạt 232.336 ha (tăng 6,7% so KH, bằng 98,2% so năm
2013); năng suất lúa đạt 5,9 tấn/ha (tăng 1,6% so năm 2013); sản lượng lúa đạt
1.367.707 tấn (tăng 9% so KH, đạt 99,8% so năm 2013).
Trong những năm gần đây diện tích trồng rau màu từng bước phát triển theo vùng
tập trung chuyên canh, luân canh phù hợp với từng địa bàn. Đến năm 2014, diện tích
rau các loại tăng đáng kể đạt 7.441 ha, tăng 7,8% so năm 2013. Sản lượng rau các loại
đạt 99.529 tấn (đạt 101% so kế hoạch năm 2013) cao hơn 8.149 tấn so năm 2013.
Ngành đã chỉ đạo xây dựng và mở rộng vùng rau an toàn tập trung chủ yếu ở quận
Bình Thủy và huyện Phong Điền. Việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật trong sản xuất
rau an toàn đã giảm chi phí, nâng cao giá trị, chất lượng sản phẩm và đảm bảo an toàn
vệ sinh thực phẩm, từ đó tăng hiệu quả sản xuất, góp phần tăng thu nhập cho nông hộ.
Bảng 1: Diện tích và sản lượng rau các loại TP.Cần Thơ từ 2010-2014
Năm

Diện tích (ha)

Sản lượng (tấn)


2010
2011
2012
2013
2014
Tính đến tháng 08/2015


7.683
7.644
7.745
7.363
7.441
6.745

89.575
88.225
87.361
91.380
99.529
32.156

Đến giữa năm 2012 đã gieo trồng 4.241,41 ha cây công nghiệp ngắn ngày, sản
lượng đạt 5.105,94 tấn. Tổng diện tích cây lâu năm của thành phố Cần Thơ là 16.762
ha. Trong đó, diện tích cây ăn trái là 14.126 ha. Ước sản lượng cả năm là 84.000 tấn.
Cây ăn trái là cây trồng thế mạnh vào hàng thứ hai sau cây lúa, diện tích năm 2014
là 14.293 ha, sản lượng ước đạt 85.945 tấn. Một số loại cây ăn trái đặc sản chủ lực
như Xoài (2.521 ha) là loại cây chiếm tỷ trọng thứ 2 sau cây có múi của Cần Thơ, tập
trung ở huyện Cờ Đỏ, quận Bình Thủy, Cái Răng, Ô Môn, và huyện Phong Điền. Hiện
có nhiều giống xoài đang được trồng ở Cần Thơ; giống có chất lượng cao và được
trồng tập trung vẫn là xoài Cát Hòa Lộc. Đối với cây có múi như Chanh (1.355 ha),
Cam (946 ha), Bưởi (423 ha), Quýt (194 ha) tập trung ở huyện Phong Điền, quận Bình
Thủy, Cái Răng. Riêng cây bưởi cũng có nhiều chủng loại như bưởi Da Xanh, Thanh
Trà, Năm Roi...Dâu Hạ Châu là cây ăn trái đặc sản của TP.Cần Thơ với diện tích hiện
có khoảng 330 ha, trong đó huyện Phong Điền có đến 228 ha chiếm gần 70% diện tích
trồng dâu Hạ Châu của Cần Thơ, sản lượng cung cấp trên 300 tấn mỗi năm. Diện tích
cây ăn trái có xu hướng giảm do quá trình đô thị hóa, chuyển diện tích vườn sang đất
phi nông nghiệp. Ngành Nông nghiệp tiếp tục vận động nông dân khôi phục vườn cây

ăn trái tập trung, chuyên canh chủ yếu các loại cây như: cam mật, bưởi 5 roi, Dâu Hạ
châu…đồng thời xây dựng vườn cây ăn trái kết hợp với du lịch sinh thái.
Hoa kiểng tại Cần Thơ bao gồm hoa bán Tết, bán các ngày rằm và hoa kiểng lá,
kiểng bonsai, kiểng cổ thụ, phong lan…Hoa Tết tại TP Cần Thơ được tập trung sản
xuất nhiều tại các phường An Bình, An Khánh (quận Ninh Kiều), phường Long Hòa
và Long Tuyền (Làng hoa Phó Thọ - Bà Bộ, quận Bình Thủy), xã Tân Thới, Nhơn
Nghĩa, Giai Xuân (huyện Phong Điền) và một số quận huyện khác như Q.Thốt Nốt
(có khả năng sản xuất 300.000 giỏ), H.Vĩnh Thạnh (50.000 giỏ), H. Thới Lai (20.000
giỏ) và Cờ Đỏ (khoảng 20.000 giỏ). Đa số hoa sản xuất chủ yếu là hoa thời vụ (hoa
Tết).
2.2.1.2. Chăn nuôi
Lĩnh vực chăn nuôi được Cần Thơ chú trọng tái cấu trúc theo phương thức tập
trung, an toàn sinh học và an toàn vệ sinh thực phẩm. Trên địa bàn Thành phố đã hình


thành các cơ sở chăn nuôi gia súc, gia cầm tập trung có quy mô lớn, doanh thu đạt từ 1
tỷ đồng/năm trở lên. Đối với lĩnh vực thủy sản, công tác chuyển giao khoa học kỹ
thuật được tăng cường, khuyến khích được người dân canh tác theo các tiêu chuẩn
Global GAP, SQF, BMP, nhờ đó nâng cao chất lượng thủy sản, đáp ứng tiêu chuẩn
xuất khẩu
Tình hình chăn nuôi gia súc, gia cầm của thành phố Cần Thơ chủ yếu nuôi nhỏ lẻ
trong nông hộ gắn liền với đất ở và tận dụng phụ phế phẩm trong nông nghiệp. Tuy
nhiên, trong thời gian qua ngành Nông nghiệp đã chú trọng phát triển các mô hình
chăn nuôi tập trung theo hướng an toàn sinh học để tạo ra sản phẩm an toàn và chất
lượng, đồng thời áp dụng các biện pháp phòng chống dịch bệnh cho gia súc, gia cầm.
Tổng đàn gia súc, gia cầm tính đến tháng 6/2012 là: đàn trâu: 448 con, đàn bò: 3.459
con, đàn heo: 132.027 con, đàn gia cầm: 1.898.510 con.
2.2.2. Thủy sản
Ngành thủy sản được quy hoạch và đầu tư phát triển gắn với công nghiệp chế biến,
xây dựng mô hình nuôi thủy sản theo tiêu chuẩn SQF 1000CM, theo hướng GAP, theo

tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm. Nhờ phát triển mạnh mô hình nuôi công nghiệp,
bán công nghiệp (khoảng 30-35%) và nuôi luân canh trong ruộng lúa, diện tích nuôi
thủy sản đạt 12.550 ha năm 2010, tăng bình quân 0,2%; sản lượng thủy sản tăng từ
83.783 tấn năm 2005 lên 162.380 tấn năm 2010, tăng bình quân 14,2%.
Năm 2014, tổng diện tích nuôi trồng thủy sản ở thành phố Cần Thơ là 13.195 ha,
sản lượng 196.815 tấn. Trong đó, diện tích nuôi cá Tra là 831 ha, sản lượng 150.634
tấn. Ngoài đối tượng chủ lực là cá Tra, thành phố Cần Thơ còn đẩy mạnh phát triển
ngành thủy sản theo hướng đa dạng hóa đối tượng nuôi, nhiều đối tượng thủy sản nội
địa được phát triển nuôi thương phẩm trên ao với diện tích 336 ha và sản lượng
15.600 tấn, một số đối tượng nuôi chủ yếu là: cá Lóc, cá Trê, cá Rô đồng, cá Thát lát
còm... Tận dụng diện tích mặt nước mùa lũ hàng năm, nghề nuôi cá ruộng cũng được
duy trì với diện tích 8.846 ha, sản lượng 7.069 tấn; diện tích nuôi Tôm càng xanh là 60
ha với sản lượng 59 tấn. Bên cạnh đó, thành phố Cần Thơ còn phát triển nghề nuôi
thủy sản lồng bè với trên 200 bè cá, chủ yếu là cá Rô phi, cá Điêu Hồng, cá thát lát
còm với sản lượng 2.095 tấn. Thêm vào đó, một số đối tượng thủy đặc sản cũng được
phát triển nuôi như: Lươn, Ếch, cá Chạch lấu…
Ngành thủy sản phát triển rất nhanh, khá vững chắc, là động lực trong phát triển và
chuyển đổi cơ cấu giá trị sản xuất khu vực I. Thành tựu nổi bật là đã xây dựng được
nhiều mô hình NTTS cho hiệu quả cao (lúa – cá, lúa – tôm càng xanh, nuôi chuyên cá


rô, lóc, trê, rô phi trong ao, nuôi cá – tôm trong mương vườn) và rất cao (nuôi cá tra,
basa trong ao và trong lồng, bè), phù hợp với điều kiện của từng tiểu vùng, khá bền
vững về môi trường, sức cạnh tranh cao trên thị trường trong nước và xuất khẩu.
Riêng cá tra, cá basa có thị trường xuất khẩu khá vững chắc, giá xuất khẩu liên tục
tăng trong những năm gần đây.
2.2.3. Lâm nghiệp
Cần Thơ không có thế mạnh về phát triển kinh tế lâm nghiệp, do tính hơn hẳn về
phát triển nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản so với lâm nghiệp. Hầu hết diện tích đất
đã được sử dụng vào mục đích nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản. Phát triển lâm

nghiệp chủ yếu là trồng cây phân tán (bình quân có khoảng 0,75 – 1,0 triệu cây phân
tán được trồng hàng năm), nhằm tạo cảnh quan môi trường, bóng mát, chắn gió, cản
lũ, bảo vệ công trình xây dựng và đê bao. Sản lượng khai thác lâm sản hàng năm dao
động từ 4.300 - 9.000m3 gỗ, 60.700 - 106.000 ster củi, 0,91 – 1,27 triệu cây tre trúc và
0,5 –1,53 triệu tàu lá dừa nước. GTSX ngành lâm nghiệp thấp, chỉ chiếm hơn 0,5%
trong cơ cấu GDP ngành nông nghiệp thành phố.
2.3. CÁC MÔ HÌNH SẢN XUẤT HIỆU QUẢ
Công tác khuyến nông, khuyến ngư cũng được TP.Cần Thơ quan tâm đầu tư thực
hiện nhất quán, có hệ thống theo mục tiêu chung, góp phần nâng cao trình độ sản xuất
của người dân. Trên địa bàn Thành phố đã hình thành nhiền mô hình sản xuất nông
nghiệp hiệu quả, tạo điều kiện đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp,
giúp nâng thu nhập người dân nông thôn bình quân từ 131 triệu đến 146 triệu
đồng/ha/năm.
Với áp lực đất sản xuất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do quá trình công nghiệp
hóa, đô thị hóa, TP Cần Thơ khuyến khích nông dân, nhà vườn phát triển mô hình
NNĐT gắn với quy hoạch vành đai xanh của thành phố. Định hướng này bước đầu
khẳng định tính đúng đắn, phù hợp với thực tiễn sản xuất và mang lại hiệu quả kinh tế
khá cao.
Thành phố hiện có 49 hộ sản xuất hoa lan các loại (Dendro, Vanda, Hồ điệp...) với
trên 56.000 chậu;
Bên cạnh đó, mô hình sản xuất nấm trong nhà với chủng loại đa dạng (nấm bào
ngư, nấm rơm, nấm linh chi…) cũng được khuyến khích phát triển và đã xây dựng
được nhãn hiệu tập thể "Nấm bào ngư Thới An Đông" liên kết tiêu thụ với siêu thị
cung ứng 15-20 kg/ngày.


Hiện nay, phong trào nuôi cá cảnh được khôi phục từng bước, với 7 cơ sở năng lực
cung ứng khoảng 13 triệu cá cảnh bột cho thị trường.
Trong lĩnh vực sản xuất lúa, Cần Thơ triển khai xây dựng "Cánh đồng mẫu lớn" từ
vụ Hè - Thu 2011 (quy mô 400 ha tại huyện Vĩnh Thạnh) và đến năm 2014 Thành phố

mở rộng mô hình thành phong trào "Cánh đồng lớn" với diện tích hơn 14.888 ha/vụ;
trong đó, có 63 ha sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP và 100 ha sản xuất theo tiêu
chuẩn GlobalGAP… Mô hình “Cánh đồng lớn” giúp giảm chi phí sản xuất, nâng cao
chất lượng sản phẩm, gia tăng lợi nhuận cho nông dân sản xuất lúa với lợi nhuận tăng
thêm từ 1,8 triệu đồng - 4,5 triệu đồng/ha.
Năm 2014, toàn thành phố xây dựng được 58 cánh đồng lớn với diện tích hơn
39.000 ha. Nông dân trong các cánh đồng lớn quen dần với việc sử dụng giống lúa xác
nhận, gieo sạ mật độ phù hợp, bón phân cân đối, hạn chế sử dụng các loại thuốc bảo
vệ thực vật. Lợi nhuận của nông dân tham gia cánh đồng lớn tăng thêm từ 2-4 triệu
đồng/ha so với sản xuất theo tập quán cũ. Cá biệt có cánh đồng lớn lợi nhuận tăng
thêm từ 15-16 triệu đồng/ha nhờ chuyển đổi giống có giá trị cao như cánh đồng D2 xã
Thạnh Lợi, cánh đồng của Tổ hợp tác Đồng Vạn thị trấn Thạnh An, huyện Vĩnh
Thuận.
Ngoài phát triển các cánh đồng lớn, ngành nông nghiệp thành phố cũng chú trọng
xây dựng vùng sản xuất rau màu an toàn tại các quận Bình Thủy, Ô Môn, Thốt Nốt
góp phần gia tăng khả năng cung cấp sản phẩm rau an toàn, có kiểm soát chất lượng
và phù hợp yêu cầu thị trường.
Bên cạnh sản xuất lúa, để giúp nông dân vừa tranh thủ được thời gian sản xuất, cải
tạo đồng ruộng và tăng thêm thu nhập, Thành phố tổ chức thực hiện các mô hình luân
canh, xen canh cho từng vùng sinh thái như: vùng rau an toàn, phát triển mô hình
trồng mè trên nền đất lúa kém hiệu quả, phát triển vùng chuyên canh cây ăn trái tập
trung...Ngoài ra đã có nhiều nhà vườn đầu tư khai thác, phát triển mô hình du lịch, góp
phần tăng thêm thu nhập so với sản xuất vườn chuyên canh từ 1,5 - 2 lần.
Các mô hình nuôi cá tra đạt theo tiêu chuẩn ASC, VietGAP, GlobalGAP, BAP tiếp
tục được duy trì nhằm đáp ứng được yêu cầu xuất khẩu.
2.4. VỀ CHẤT LƯỢNG GIỐNG CÂY TRỒNG, VẬT NUÔI, THỦY SẢN
Chất lượng giống là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định năng
suất, chất lượng sản phẩm cây trồng, vật nuôi. Trong những năm gần đây, ngành nông
nghiệp cả nước rất nỗ lực trong việc tập trung ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất,



đặc biệt là các giống cây trồng mới như giống cấy mô, giống thế hệ lai F1cho năng
suất cao, chất lượng tốt, chống chịu với biến đổi khí hậu và đáp ứng yêu cầu của thị
trường...
Những năm qua ngành Nông nghiệp thành phố Cần Thơ đã triển khai nhiều chương
trình, dự án có hệ thống và nhất quán nhằm định hướng giúp nông dân sản xuất lúa
theo hướng bền vững, ứng dụng đồng bộ các giải pháp kỹ thuật trong đó có sử dụng
giống mới, giống xác nhận (Cần Thơ không có sử dụng giống lúa lai F1) để nâng cao
năng suất và chất lượng, cải thiện thu nhập nông dân. Đặc biệt là giống chất lượng cao
phục vụ cho cánh đồng mẫu lớn 2014 trên toàn địa bàn thành phố đạt 39.030 lượt ha,
tăng 51% so năm 2013 (diện tích cánh đồng lớn cao nhất đạt 14.888 ha/vụ, bao gồm
58 cánh đồng với 9.181 hộ tham gia).
Bên cạnh đó, ngành chú trọng đấy mạnh đến sản xuất lúa giống 3 cấp để phục vụ
cho nhu cầu giống của địa phương. Trong năm 2014, tổng diện tích nhân giống lúa là
3.564 ha (tăng 83,51 ha so năm 2013), sản lượng ước đạt 21.027 tấn, đáp ứng 80%
nhu cầu lúa giống của thành phố.
Giống gieo trồng rau màu chủ yếu là sử dụng giống lai F1, giống chất lượng chiếm
84,6% (giống nhập nội chiếm 40,5% và mua giống địa phương 44,1%) và tự để giống
chiếm 15,4%. Riêng đối với cây màu như đậu xanh, đậu nành, đậu phọng, mè…thì
hiện nay phần lớn là giống địa phương hoặc giống được chọn tạo trong nước.
Về sản xuất hoa kiểng, phần lớn các giống hoa đều không đạt tiêu chuẩn xuất khẩu.
Các giống hoa kiểng nội địa bị thoái hoá, giống nhập về thường là những giống cũ so
với mặt bằng giống của thế giới, cho nên chỉ một thời gian ngắn là lỗi thời, lạc hậu so
với nhu cầu tiêu dùng. Hầu hết các giống hoa có chất lượng tốt đều phải nhập từ nước
ngoài như Cúc, Vạn Thọ , Hoa Lan từ Thái Lan, Đài Loan, Trung Quốc…Các cơ sở
cấy mô tuy đã có khá nhiều nhưng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường. Công
nghệ trồng hoa còn lạc hậu, chủ yếu là trồng tự nhiên ngoài đồng, trong khi công nghệ
hiện đại yêu cầu phải có nhà lưới để chủ động kiểm soát điều chỉnh nhiệt độ, ánh
sáng, thời gian nở hoa, chống lại sâu bệnh, mưa gió.
Giống trồng của cây ăn trái được nhân giống chủ yếu là nhân giống vô tính như

chiếc cành, tháp cành, ghép bo...và được mua từ các địa phương khác ngoài thành phố
Cần Thơ như Bến Tre, Hậu Giang, Vĩnh Long, Đồng Tháp...Ngoại trừ Trung tâm
Giống Nông nghiệp Cần Thơ (Mít hạt lép, quýt Đường không hạt, cam không hạt...),
các cơ sở sản xuất giống cây ăn trái trên địa bàn Cần Thơ cũng còn ít.


Về giống vật nuôi, theo Sở NNPTNT TP.Cần Thơ, thành phố dù được định hướng
trở thành trung tâm cung ứng giống vật nuôi cho các tỉnh ĐBSCL, nhưng mỗi năm
Cần Thơ vẫn phải nhập khoảng 10.000 con lợn giống. Hiện các cơ sở sản xuất, chăn
nuôi chỉ đáp ứng được 10% nhu cầu về lợn giống, 30% nhu cầu về vịt giống…
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là do địa phương vẫn chưa xây dựng được trung
tâm chuyển giao giống vật nuôi, công tác đầu tư nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ
thuật phục vụ công tác giống.
Về giống thủy sản, năm 2014, toàn thành phố có 105 cơ sở sản xuất và cung ứng
giống thủy sản (cá tra, tôm sú, tôm càng xanh…) với diện tích ước khoảng 966 ha
(513 hộ) ương giống các loại (đạt 97% so kế hoạch, tăng 1% so với năm 2013). Trong
đó, diện tích ương cá tra giống là 659 ha, bằng 69% so với năm 2013. Sản lượng đạt
420 triệu con giống, đủ cung cấp nhu cầu giống cho người nuôi cá tra Cần Thơ, còn
lại cung cấp cho các tỉnh lân cận. Sản lượng tôm càng xanh giống là 12 triệu post, sản
lượng tôm sú giống là 96,5 triệu post và cá khác 1,4 tỷ bột và 300 triệu con giống...
Hầu hết các hộ và cơ sở ương cũng như trại sản xuất kinh doanh giống thủy sản chưa
áp dụng quy phạm thực hành sản xuất tốt, hoặc các tiêu chuẩn chất lượng như SQF,
Global GAP... Vì tính mùa vụ trong nuôi nuôi thủy sản nên sản lượng giống khi thiếu,
khi thừa, dẫn đến phong trào nuôi chưa ổn định. Đặc biệt là giống tôm càng xanh và
cá tra luôn bất ổn về số lượng và chất lượng, chưa đáp ứng nhu cầu nuôi theo từng
thời kỳ
2.5. PHÂN VÙNG NÔNG NGHIỆP ĐÔ THỊ
Theo phân loại đô thị Việt Nam, Cần Thơ là đô thị loại I nên quy hoạch phát triển
nông nghiệp thành 3 vùng, bao gồm:
1) Vùng nội đô, với các loại hình sản xuất sử dụng ít đất, hoặc không cần đất như

nuôi cá cảnh, nuôi chim kiểng, trồng cây kiểng, rau mầm, rau thủy canh, …
2) Vùng ven đô, hoạt động nông nghiệp chủ yếu là quảng canh. Người dân không
đầu tư, thậm chí bỏ hoang đất chờ chuyển đổi chức năng sử dụng do gần nội đô,nằm
trong quy hoạch mở rộng đô thị nên đất rất có giá trị và liên tục tăng cao; người dân
chờ cơ hội bán đất. Một số loại hình nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp an dưỡng,
nông nghiệp xanh… phục vụ du lịch xuất hiện, nhưng chưa nhiều, thiếu đầu tư dài
hạn, ô nhiễm đất, nước, không khí nặng nề do chất thải công nghiệp của các nhà máy,
xí nghiệp di dời từ nội đô ra.
3) Vùng ngoại thành, xa khu vực nội đô nên diện tích đất nông nghiệp và lực lượng
lao động nông nghiệp tương đối ổn định. Đây là vùng cung cấp các sản phẩm nông


nghiệp chính cho cư dân đô thị, trình độ thâm canh cao với nhiều chủng loại cây
trồng, vật nuôi đa dạng, đặc biệt là các sản phẩm phục vụ cho yêu cầu tiêu dùng, giải
trí của cư dân đô thị. Tuy nhiên, do đất nông nghiệp bình quân đầu người thấp nên qui
mô sản xuất chủ yếu vẫn là hộ. Ô nhiễm do thâm canh nông nghiệp, do các hoạt đông
sản xuất công nghiệp (di dời các cơ sở từ nội thành ra) ngày càng nhiều.
Còn theo phân vùng chuyển đổi đất nông nghiệp, thành phố Cần Thơ chia thành 4
tiểu vùng nông nghiệp sinh thái gồm: Tiểu vùng nông nghiệp sinh thái cù lao trên các
cồn Tân Lộc, cồn Sơn, cồn Ấu; Tiểu vùng nông nghiệp sinh thái đô thị mới ở Thốt
Nốt, Ô Môn; Tiểu vùng nông nghiệp sinh thái đô thị khu trung tâm ở Bình Thủy, Ninh
Kiều và Cái Răng; Tiểu vùng nông nghiệp sinh thái đô thị miệt vườn ở huyện Phong
Điền và huyện Thới Lai.
Hiện nay, thành phố Cần Thơ đã hình thành được nhiều vùng sản xuất nông nghiệp
hàng hóa tập trung. Ba khu vực sản xuất hàng hóa của thành phố được xác định là:
- Vùng lúa chất lượng cao: tập trung trên 80% diện tích sản xuất lúa của thành phố,
chỉ tiêu 70.000 ha, là vùng ngoại thành Bắc thành phố gồm các quận Thốt Nốt, Ô
Môn, các huyện: Thới Lai, Cờ Đỏ, Vĩnh Thạnh; với bộ giống lúa thơm và đặc sản,
được tổ chức theo từng cánh đồng tập trung một loại giống, giữ sản lượng hàng năm
trên 1 triệu tấn, đứng thứ 6 toàn vùng ĐBSCL.

- Vùng nuôi cá tra công nghiệp phục vụ xuất khẩu: dự tính quy hoạch 1.500 ha tập
trung ở ven sông chính và kênh lớn của khu vực Thốt Nốt, Vĩnh Thạnh, Ô Môn, Bình
Thủy. Năm 2007 đã phát triển trên 1.000 ha mặt nước quay vòng 1,5 lần; sản lượng
300.000 tấn/năm. Tuy nhiên, do giá cả đầu vào, đầu ra bất ổn và đến nay đang dần ổn
định 775 ha mặt nước, không quay vòng, sản lượng gần 200.000 tấn, đứng thứ 3 toàn
vùng ĐBSCL.
- Vùng rau quả, vành đai thực phẩm phục vụ tiêu dùng nội địa và xuất khẩu tại chỗ
(phục vụ du lịch) với dự tính quy hoạch 25.000 ha bao gồm các loại cây ăn quả, rau,
màu, chăn nuôi, nuôi thủy sản…
Việc hình thành vùng sản xuất hàng hóa tập trung đã tạo điều kiện phát triển công
nghiệp chế biến và dịch vụ ở nông thôn, thu hút các thành phần kinh tế đầu tư nhiều
cơ sở tiểu thủ công nghiệp với nhiều ngành nghề. Ước tính năm 2014, sản lượng gạo
xay xát trên địa bàn Cần Thơ đạt gần 3 triệu tấn, thủy hải sản đông lạnh ước đạt
325.000 tấn; kim ngạch xuất khẩu gạo và thủy sản đông lạnh ước đạt trên 1 tỷ USD;
qua đó, đã nêu bật vai trò trung tâm của Cần Thơ đối với lĩnh vực chế biến và dịch vụ
nông sản phẩm


2.6. ỨNG DỤNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TRONG SẢN XUẤT
Thành phố Cần Thơ tập trung các viện nghiên cứu, các trường đại học, nên thuận
lợi trong việc thực hiện các chương trình hợp tác với các tỉnh vùng ĐBSCL, các viện,
trường cũng như nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao khoa học kỹ thuật cho nông dân.
Giai đoạn 2008 - 2014, Thành phố đã triển khai thực hiện trên 50 đề tài nghiên cứu và
ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn, góp
phần giải quyết những khó khăn về sản xuất trên địa bàn.
Hiện nay, Ủy ban nhân dân thành phố Cần Thơ ra Quyết định phê duyệt "Đề án
Phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao thành phố Cần Thơ giai đoạn 20122020". Theo Quyết định được phê duyệt, Đề án được tiến hành theo hai hướng, đó là,
nền NNĐT áp dụng cho vùng ven với tốc độ đô thị hóa cao, đất nông nghiệp giảm
mạnh trong khi lao động nông nghiệp vẫn còn nhiều. Các mô hình NNĐT tiêu biểu
bao gồm trồng hoa cảnh, nuôi cá cảnh, nuôi cấy mô giống cây các loại, trồng nấm cao

cấp…tiếp đó là xây dựng nền nông nghiệp hàng hóa kỹ thuật cao với việc ứng dụng
tiến bộ khoa học kỹ thuật, tạo ra sản phẩm chất lượng gắn liền với phong trào xây
dựng nông thôn mới. Đồng thời, hình thành 2 vùng hàng hóa chủ lực bao gồm lúa
phục vụ xuất khẩu, làm giống và vùng nuôi trồng thủy sản với mặt hàng chủ lực là cá
tra để phục vụ tiêu dùng nội địa, chế biến xuất khẩu và làm giống…
Đề án phát triển nông nghiệp công nghệ cao thành phố Cần Thơ có tổng mức đầu tư
là 338 tỉ đồng, trong đó, giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2015, từng bước hình thành
nền nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trọng tâm là các khu nông nghiệp công
nghệ cao, hệ thống thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp, phấn đấu đưa tỷ trọng giá
trị sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao chiếm từ 10% đến 15% tổng giá trị
sản xuất nông nghiệp của thành phố. Phấn đấu đến năm 2015, Khu nông nghiệp công
nghệ cao 1 tại xã Thới Thạnh, huyện Thới Lai được xây dựng hoàn chỉnh, triển khai
thực hiện quy hoạch chi tiết Khu nông nghiệp công nghệ cao 2 tại xã Thới Hưng và
Khu nông nghiệp công nghệ cao 3 tại xã Thạnh Phú, huyện Cờ Đỏ để kêu gọi doanh
nghiệp trong và ngoài nước đầu tư. Giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2020, thành phố
Cần Thơ đẩy mạnh phát triển toàn diện nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, bao
gồm hệ thống các doanh nghiệp, các khu công nghiệp, nông nghiệp, vùng sản xuất
nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và hệ thống thủy lợi phục vụ nông nghiệp công
nghệ cao. Với định hướng này, đưa tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp ứng dụng
công nghệ cao chiếm 30-35% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp của thành phố.


Để phát triển ngành nông nghiệp hướng tới chuẩn vùng và quốc tế, Tp.Cần Thơ
đang khiển khai Đề án phát triển nông nghiệp công nghệ cao giai đoạn 2014 – 2020,
trong đó tập trung phát triển ba lĩnh vực chính: Quản lý nông sản hướng tới chuẩn
quốc tế; đưa thủy sản thành ngành kinh tế chủ lực; phấn đấu đưa Cần Thơ trở thành
trung tâm nông nghiệp công nghệ cao của vùng ĐBSCL. Theo Đề án, đến năm 2015,
Cần Thơ phấn đấu đưa tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao
chiếm từ 10 đến 15% tổng giá trị sản xuất nông nghiệp của địa phương; đến năm 2020
tỷ trọng này chiếm từ 30 đến 35%.

Để hoàn thành mục tiêu đề ra, Cần Thơ từng bước hình thành nền nông nghiệp ứng
dụng công nghệ cao, trọng tâm là các khu nông nghiệp công nghệ cao với các sản
phẩm là giống và sản phẩm chất lượng cao với các loại chủ lực là lúa, rau màu, trái
cây, chăn nuôi, thủy sản nước ngọt cùng các dịch vụ khoa học kỹ thuật với công nghệ
đạt tiêu chuẩn trong nước và quốc tế; đồng thời cung cấp dịch vụ khoa học kỹ thuật và
công nghệ cao cho cả vùng ĐBSCL. Theo đó, từ nay đến năm 2020, Cần Thơ tập
trung xây dựng 3 khu nông nghiệp công nghệ cao với tổng vốn đầu tư 44,1 triệu USD
gồm:
- Khu nông nghiệp công nghệ cao 1 tại xã Thới Thạnh (huyện Thới Lai) trên diện
tích 20ha, tổng vốn đầu tư 7,9 triệu USD, nhằm cung cấp cây giống chuẩn, nguồn
giống thủy sản nước ngọt cũng như các giống hoa, cây kiểng, chim, cá cảnh với công
nghệ cao như phòng thí nghiệm phân tích ứng dụng công nghệ sinh học bằng phương
pháp điện di, máy làm sạch hạt giống, lò sấy tĩnh vĩ ngang bồn hơi giữa, quạt hai tầng
cánh...
- Khu nông nghiệp công nghệ cao 2 tại xã Thới Hưng (huyện Cờ Đỏ) rộng hơn
244ha với tổng vốn đầu tư 26 triệu USD, đặt tại xã Thới Hưng, huyện Cờ Đỏ với
nhiệm vụ xây dựng hệ thống nhân giống và sản xuất giống cây, con được tiêu chuẩn
hóa bằng ứng dụng công nghệ cao. Bên cạnh đó là hệ thống máy móc bảo quản và chế
biến các mặt hàng nông - thủy sản chủ lực của Cần Thơ. Khu nông nghiệp công nghệ
cao 2 sẽ được đầu tư hiện đại với hệ thống nhà kính, nhà lưới có màng lọc quang phổ
cản tia nhiệt, chống nóng.
- Khu nông nghiệp công nghệ cao 3 tại xã Thạnh Phú (huyện Cờ Đỏ) với diện tích
xây dựng 100ha, tổng vốn đầu tư 10,2 triệu USD. Khu này sẽ là nơi nhân và sản xuất
lúa nguyên chủng, giống xác nhận (lúa thơm đặc sản, lúa chất lượng cao) và thủy sản
nước ngọt.


Dự kiến đến năm 2020, thành phố sẽ hoàn thiện và đưa vào sử dụng ba khu nông
nghiệp công nghệ cao, đảm bảo cung ứng đủ nhu cầu cây, con giống cho toàn vùng
Đồng bằng sông Cửu Long. Các khu nông nghiệp công nghệ cao sẽ đóng vai trò quan

trọng trong nghiên cứu, chuyển giao khoa học kỹ thuật, nâng cao hàm lượng công
nghệ và giá trị gia tăng nông sản phẩm, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu của
Nghị quyết 45-NQ/TW của Bộ Chính Trị về xây dựng và phát triển thành phố Cần
Thơ trong thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa.
2.7. MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA
Trong quá trình phát triển, đã có những vấn đề đặt ra cho ngành NNĐT thành phố
Cần Thơ như:
- Trước hết, nhìn chung nông nghiệp thành phố Cần Thơ chưa thể hiện rõ nét là một
nền NNĐT hiện đại, hoạt động sản xuất chưa ứng dụng nhiều khoa học và kĩ thuật
hiện đại so với các thành phố khác như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh… Trong thời
gian tới thành phố cần có những định hướng và kế hoạch cụ thể để đưa nền nông
nghiệp Cần Thơ thực sự trở thành một nền NNĐT hiện đại.
- Tình hình biến đổi khí hậu đã ảnh hưởng một phần đến việc ứng dụng đồng bộ
các giải pháp kỹ thuật vào sản xuất cây trồng và vật nuôi.
- Diện tích gieo trồng còn nhỏ lẻ, nhất là gieo trồng rau, đậu và cây ăn trái thường
không tập trung gây khó khăn trong quản lý và kiểm soát số lượng, sản lượng và chất
lượng cũng như việc chuyển giao ứng dụng khoa học kỹ thuật và sản xuất theo hướng
GAP.
- Quá trình mở rộng đô thị sẽ gây nên những biến động lớn về quản lý sử dụng đất,
nếu chính sách điều tiết không hợp lý và không kịp thời sẽ đẩy quá trình phân hoá
giàu nghèo mạnh hơn, gây bất ổn định trong phát triển nông nghiệp. Mặt khác, khi giá
đất và giá nhân công nông nghiệp tăng nhanh mà không đồng bộ với nâng cao năng
suất lao động sẽ làm tăng giá thành, giảm sức cạnh tranh của nông sản hàng hoá.
- Rủi ro trong sản xuất nông nghiệp mà nhất là nuôi trồng thủy sản còn lớn, thiên
tai chưa được dự báo chính xác, chưa thể kiểm soát để hạn chế rủi ro.
- Hỗ trợ của Trung ương về Chương trình phát triển Nông nghiệp công nghệ cao
còn rất hạn chế, địa phương còn lúng túng trong tổ chức thực hiện chương trình được
xác định và động lực phát triển nông nghiệp của Thành phố trong tương lai.
- Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất qua đầu tư nhiều năm tuy có bước phát triển,
nhưng chưa đáp ứng yêu cầu của nền sản xuất hàng hóa lớn. Đơn vị sản xuất hiện nay



×