Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
1
Khoa Kinh tế
Lời mở đầu
Là một bộ phận của nền kinh tế, việc hình thành và phát triển hoạt động kiểm toán độc
lập, vừa là tất yếu khách quan của kinh tế thị trường, vừa là thành tố quan trọng của hệ
thống công cụ quản lý tài chính vĩ mô và đóng vai trò tích cực trong việc phát triển nền
kinh tế quốc dân.
Kiểm toán độc lập là nhu cầu cần thiết để phục vụ lợi ích của công chúng, trước hết vì
lợi ích của bản thân doanh nghiệp, của nhà đầu tư, chủ sở hữu, các chủ nợ… lợi ích và yêu
cầu của Nhà Nước. Người sử dụng kết quả kiểm toán được đảm bảo rằng những thông tin
tài chính được cung cấp là trung thực, khách quan, có độ tin cậy cao để làm căn cứ cho các
quyết định kinh tế hoặc thực thi trách nhiệm quản lý, giám sát của mình.
Hoạt động kiểm toán và tu vấn tài chính kế toán... đã và đang góp phần xây dựng và phổ
cập cơ chế chính sách kinh tế, tài chính; thực hiện công khai, minh bạch báo cáo tài chính
của doanh nghiệp; ngăn ngừa lãng phí, tham nhũng; phục vụ đắc lực cho công tác quản lý
và điều hành kinh tế, tài chính của Nhà nước và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
1 Những hiểu biết chung về hoạt động kiểm toán.
1.1 Khái niệm
Trên thế giới, thuật ngữ kiểm toán đã có từ lâu, từ khi xuất hiện nhu cầu xác định tính
trung thực, độ tin cậy của thông tin trong báo cáo tài chính, kế toán và thực trạng tài sản
của một chủ thể trong quan hệ kinh tế. Nó hình thành và phát triển từ thời kỳ mà các thông
tin được phê chuẩn bằng cách đọc lên trong một buổi họp công khai. Vì thế, thuật ngữ
kiểm toán theo tiếng Latinh là Auditus có nghĩa là “nghe”. Ở Việt nam, thuật ngữ kiểm
toán nói chung và kiểm toán độc lập nói riêng mới xuất hiện từ những năm cuối thập kỷ 80
của thế kỷ 20. Có nhiều định nghĩa khác nhau về kiểm toán độc lập.
Theo định nghĩa của Liên đoàn quốc tế các nhà kế toán (International Federation of
Accountants –IFAC) thì “Kiểm toán là việc các kiểm toán viên độc lập kiểm tra và trình
bày ý kiến của mình về các bản báo cáo tài chính”
Trong giáo trình kiểm toán của các tác giả Alvin A.Rens và James K.Loebbecker đã
định nghĩa: “Kiểm toán là quá trình các chuyên gia độc lập và có thẩm quyền thu thập và
đánh giá các bằng chứng về các thông tin có thể định lượng được của một đơn vị cụ thể
Sinh viên: Nguyễn Thị Hường
Lớp ĐHKế Toán 1-K1
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
2
Khoa Kinh tế
nhằm mục đích xác nhận và báo cáo về mức độ phù hợp giữa các thông tin này với các
chuẩn mực đã được thiết lập”
Trong đó: bằng chứng kiểm toán là những thông tin hoặc tài liệu mà kiểm toán viên thu
thập được trong quá trình kiểm toán làm cơ sở cho những ý kiến nhận xét của mình về báo
cáo tài chính của đơn vị được kiểm toán.
Định nghĩa khác nêu: “Kiểm toán là thủ pháp xem xét và kiểm tra một cách khách quan
về từng khoản mục bao gồm việc thẩm tra những thông tin đặc trưng được xác định bởi
kiểm toán viên hoặc thiết lập bởi thực hành chung. Nói tổng quát, mục đích của kiểm toán
là trình bày ý kiến hoặc đi đến kết luận về cái được kiểm toán” (trích từ Auditing - Theory
& Practice của John Dunn, University of Strathclyde, Glasgow nhà xuất bản Prentice Hall)
Trong Qui chế về kiểm toán độc lập trong nền kinh tế quốc dân ban hành kèm theo Nghị
định số 07/CP của Chính phủ ngày 29/1/94 có nêu: “Kiểm toán độc lập là việc kiểm tra và
xác nhận của kiểm toán viên chuyên nghiệp thuộc các tổ chức kiểm toán độc lập về tính
đúng đắn, hợp lý của các tài liệu, số liệu kế toán và báo cáo quyết toán của các doanh
nghiệp, các cơ quan, tổ chức đoàn thể, tổ chức xã hội (gọi tắt là các đơn vị kế toán) khi có
yêu cầu của đơn vị này”.
Các thuật ngữ trong định nghĩa trên được hiểu như sau:
Như vậy, tuy các định nghĩa nêu trên cách diễn đạt và từ ngữ khác nhau song chúng đều
thống nhất ở những nội dung cơ bản sau:
- Chủ thể tham gia hoạt động kiểm toán: Người thực thi công việc kiểm toán (kiểm toán
viên) và các đơn vị kinh tế (gọi chung là các doanh nghiệp) có các thông tin kinh tế được
kiểm toán.
- Đối tượng kiểm toán: Là các thông tin kinh tế được kiểm toán mà kiểm toán viên sẽ đưa
ra ý kiến về những thông tin này sau quá trình thực hiện công việc kiểm toán.
- Mục tiêu của kiểm toán: kết thúc quá trình kiểm toán, kiểm toán viên đưa ra ý kiến về đối
tượng kiểm toán.
(a) Chủ thể tham gia hoạt động kiểm toán bao gồm kiểm toán viên và đơn vị kinh tế có
thông tin cần kiểm toán (đơn vị được kiểm toán).
Kiểm toán viên theo tiêu chuẩn của IFAC (Liên đoàn kế toán quốc tế) và luật pháp các
nước thành viên đều qui định các yêu cầu cơ bản của kiểm toán viên là: Có kỹ năng và khả
Sinh viên: Nguyễn Thị Hường
Lớp ĐHKế Toán 1-K1
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
Khoa Kinh tế
3
năng nghề nghiệp, chính trực, khách quan, độc lập và tôn trong bí mật. Ở nước ta, các qui
định, tiêu chuẩn và yêu cầu cơ bản của kiểm toán viên được qui định cụ thể trong Qui chế
kiểm toán độc lập trong nền kinh tế quốc dân ban hành kèm theo Nghị định 07/CP của
Chính phủ và chuẩn mực kiểm toán số 200 (đoạn 14,15). Các qui định này về cơ bản không
khác với các yêu cầu chung theo tiêu chuẩn của IFAC.
Đơn vị kinh tế có thông tin kinh tế cần kiểm toán có thể là các doanh nghiệp thuộc các
thành phần kinh tế khác nhau, các đơn vị kinh tế sự nghiệp, các chương trình, dự án, .., tuy
nhiên các đối tượng này chỉ trở thành chủ thể trong hoạt động kiểm toán khi có nhu cầu
hoặc do yêu cầu mang tính bắt buộc về mặt quản lý nhà nước.
Mối quan hệ giữa các chủ thể kiểm toán phản ánh bản chất của các loại hình kiểm toán,
nó thể hiện địa vị pháp lý của các kiểm toán viên trong nền kinh tế và trong quá trình kiểm
toán. Sự khác biệt này dẫn đến quyền hạn, trách nhiệm, phạm vi hoạt động của kiểm toán
viên cũng như những đóng góp khác nhau đối với nền kinh tế.
(b) Đối tượng kiểm toán là các thông tin kinh tế được kiểm toán mà kiểm toán viên sẽ đưa
ra ý kiến về những thông tin này sau quá trình thực hiện kiểm toán. Các thông tin kinh tế là
đối tượng kiểm toán có thể là các báo cáo tài chính tổng hợp, chi tiết hàng năm, báo cáo
quyết toán giá trị công trình, báo cáo xác định giá trị vốn góp của các bên đối tác, hoặc một
nội dung, chỉ tiêu kinh tế nào đó như về tình hình kê khai nộp thuế, tình hình sử dụng vốn
đầu tư,.... Đối với các dự án thì ngoài các thông tin về tài chính như trên còn các thông tin
kinh tế khác như các thông tin về tình hình thực hiện dự án, nội dung và đánh giá hiệu quả
dự án,.... Có thể tập hợp các thông tin kinh tế là đối tượng kiểm toán thành các nhóm sau:
- Thông tin kinh tế là các báo cáo tài chính.
- Thông tin kinh tế mang tính hiệu quả trong hoạt động của một bộ phận hay toàn bộ một tổ
chức, một đơn vị. Các thông tin này liên quan đến các thủ tục và phương pháp hoạt động
của một bộ phận hay của toàn đơn vị kinh tế với tư cách là chủ thể kiểm toán.
- Thông tin kinh tế liên quan đến việc tuân thủ các qui định mang tính chất pháp lý hoặc đã
được thống nhất trước mà đơn vị kinh tế đó phải tuân theo. Ví dụ như việc thực hiện các
qui định về quản lý lao động, tiền lương, các chính sách quản lý tài chính,....
(c) Mục tiêu của kiểm toán:
Sinh viên: Nguyễn Thị Hường
Lớp ĐHKế Toán 1-K1
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
4
Khoa Kinh tế
Kết thúc quá trình kiểm toán, kiểm toán viên đưa ra ý kiến của mình về đối tượng
kiểm toán. Tuỳ thuộc vào các đối tượng kiểm toán, các báo cáo kiểm toán có thể khác
nhau về hình thức, nội dung nhưng về bản chất trong mọi trường hợp chúng đều phải
thông tin cho người đọc về mức độ tương quan và phù hợp của đối tuợng kiểm toán với
các chuẩn mực đã được xây dựng.
1.2 Quá trình hình thành và phát triển của hoạt động kiểm toán độc lập trên thế
giới.
Hoạt động kiểm toán độc lập trên thế giới đã xuất hiện trên 100 năm. Kiểm toán đã
hình thành và phát triển từ thế kỉ XV, ở Châu Âu và ngày càng phát triển mạnh mẽ. Hình
thức tổ chức của các tổ chức kiểm toán ở các nước không hoàn toàn giống nhau. Số lượng
nhân viên và các tổ chức kiểm toán phụ thuộc vào mức độ phát triển của hoạt động kiểm
toán và nền kinh tế. Ở Hoa kỳ, hiện nay có hơn 45.000 tổ chức kiểm toán chuyên nghiệp. Ở
Cộng hoà Pháp hiện có 24 văn phòng kiểm toán khu vực và 2.500 văn phòng con cơ sở
trực tiếp là dịch vụ và hơn 10.000 người là kiểm toán. Ở các nước nói trên và các nước
khác, luật pháp qui định rõ quyền hạn, trách nhiệm của các tổ chức kiểm toán, thừa nhận sự
khách quan và độc lập của kiểm toán, chấp nhận giá trị pháp lý của các tài liệu có chữ ký
của kiểm toán.
Về hình thức tổ chức của các tổ chức kiểm toán, có thể là các công ty kiểm toán, là
cá nhân hành nghề kiểm toán, công ty hợp danh hoặc cổ phần. Trong công ty hoặc cả
những cá nhân hành nghề kiểm toán, trong quá trình hoạt động của mình thường tuyển
dụng đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp để giúp họ thực hiện công việc kiểm toán.
Cơ cấu tổ chức trong các công ty kiểm toán ở các nước phát triển thường theo hệ
thống cấp bậc về chuyên môn bao gồm các chủ phần hùn (Partner) (gồm chủ phần hùn có
cổ phần trong công ty và chủ phần hùn không có cổ phần), là những người có trình độ
chuyên môn nghiệp vụ cao nhất, tiếp đến là cấp điều hành viên cao cấp (Senior Manager,
hoặc Principal) tiếp đó là các cấp quản lý, kiểm toán viên và trợ lý kiểm toán viên. Mức độ
chi tiết trong các cấp bậc trong công ty phụ thuộc vào qui mô và cách thức tổ chức quản lý
của từng công ty. Trong công ty kiểm toán thường có nhiều các hoạt động dịch vụ và ở mỗi
loại dịch vụ đều phân theo các cấp bậc tương ứng.
Sinh viên: Nguyễn Thị Hường
Lớp ĐHKế Toán 1-K1
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
Khoa Kinh tế
5
Qui mô, cách thức tổ chức của các công ty kiểm toán ở các nước phát triển rất đa dạng, bao
gồm:
- Các công ty đa quốc gia (các công ty kiểm toán quốc tế), trong đó văn phòng chính đặt ở
một thành phố lớn trên thế giới (thường ở Mỹ và ở Anh) tiếp đó là các văn phòng chính cho
các khu vực và các văn phòng ở các nước. Văn phòng ở các nước được thành lập theo luật
của nước sở tại. Các văn phòng này sẽ trực thuộc sự quản lý của văn phòng chính của khu
vực.
- Các công ty thuộc phạm vi trong một quốc gia: Các công ty này có thể có một hoặc nhiều
các văn phòng, chi nhánh trực thuộc và tổ chức hoạt động trong phạm vi một quốc gia. Có
những công ty qui mô nhỏ hơn ở cấp địa phương với số lượng nhân viên là một vài chục
người.
Để quản lý và thống nhất sự hoạt động của các công ty kiểm toán, ở mỗi nước hoặc các
khu vực đều có Hiệp hội kế toán, là tổ chức độc lập của những người làm công tác kế toán,
kiểm toán hoặc quan tâm đến lĩnh vực này như: “Viện kế toán viên công chứng Hoa kỳ –
AICPA’, Hiệp hội kế toán chuyên nghiệp Anh và xứ Wales – ICAEW; Hiệp hội kế toán
Hồng Kông – HKSA.
1.3 Chức năng, phạm vi, đặc trưng của Kiểm toán độc lập
Chức năng: Kiểm toán độc lập có chức năng chủ yếu thực hiện kiểm toán báo cáo tài
chính, ngoài ra còn thực hiện kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ thực hiện khi cấp
trên hoặc Chính phủ là khách hàng
Phạm vi hoạt động ở tất cả các tổ chức kinh tế thuộc mọi lĩnh vực, mọi thành phần
kinh tế và được coi là đặc trưng của nền kinh tế thị trường.
Kiểm toán viên độc lập là người hành nghề kiểm toán chuyên nghiệp, được đào tạo công
phu, phải trải qua các kỳ thi quốc gia và phải có chứng chỉ hành nghề kiểm toán.
Tổ chức kiểm toán độc lập hình thành và hoạt động như một doanh nghiệp với mục đích
kinh doanh kiếm lời.
Đặc trưng của kiểm toán độc lập:
-
Thực hiện trên cơ sở tự nguyện theo yêu cầu cuả khách hang, dựa trên nền
tảng pháp lý của nhà nước tạo ra.
Sinh viên: Nguyễn Thị Hường
Lớp ĐHKế Toán 1-K1
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
-
6
Khoa Kinh tế
Việc kiểm tra không gắn liền với xử lý gian lận vì bản chất của kiểm toán độc
lập là dịch vụ xác nhận BCTC.
-
Có tính pháp lý rất cao vì nó là hoạt động cần thiết và được pháp luật thừa
nhận.
2. Hoạt động kiểm toán độc lập ở Việt Nam.
2.1 Qúa trình hình thành và phát triển tổ chức kiểm toán độc lập ở Việt Nam
Ở Việt nam, từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước,
các hoạt động đa dạng và của nền kinh tế đòi hỏi phải có dịch vụ kiểm toán. Để đáp ứng
yêu cầu ngày càng cao của nền kinh tế, ngày 13/5/1991 Bộ Tài chính thành lập hai công ty
kiểm toán đầu tiên là Công ty kiểm toán Việt nam (VACO) và Công ty dịch vụ tư vấn Tài
chính-Kế toán và kiểm toán (AASC). Sự ra đời của hai công ty nói trên đã tạo tiền đề cho
sự ra đời của các công ty tiếp theo bởi sự hoạt động tích cực và có hiệu quả cũng như yêu
cầu, đòi hỏi cấp thiết của nền kinh tế nước ta trong những năm đổi mới.
Theo báo cáo tại cuộc họp thường niên Giám đốc các doanh nghiệp kiểm toán Việt
Nam tại Hà Nội mới đây, số lượng các công ty kiểm toán Việt Nam đã gia tăng đáng kể
trong thời gian vừa qua. Vào cuối năm 2008, số lượng các công ty đăng ký hành nghề
kiểm toán tại Việt Nam là 136 công ty, sau quý II/2009 số lượng này đã đạt con số 175.
Điều này đã phần nào phản ánh thực tế về nhu cầu và vai trò ngày càng được nâng cao của
kiểm toán độc lập đối với thị trường chứng khoán trong thời gian qua. Theo thống kê trên
báo chí, đã có gần 200 doanh nghiệp trên tổng số 357 doanh nghiệp niêm yết có kết quả
kiểm toán khác biệt so với thông tin, số liệu trước kiểm toán, trong đó có những mức chênh
lệch trọng yếu lên đến hàng trăm tỷ đồng, biến lãi thành lỗ. Minh chứng này thể hiện rõ
trách nhiệm nghiêm túc và chuyên nghiệp của các công ty kiểm toán đối với những đối
tượng sử dụng thông tin tài chính, góp phần phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam
theo đúng định hướng chuyên nghiệp.
Mặc dù số lượng các công ty được chấp thuận cho kiểm toán các tổ chức phát hành, tổ
chức niêm yết tuy đã được tăng từ 24 công ty kiểm toán trong năm 2008 lên 38 công ty vào
thời điểm cuối quý II/2009, số lượng các công ty kiểm toán nói trên vẫn còn là một con số
khiêm tốn so với nhu cầu thực tế.
Sinh viên: Nguyễn Thị Hường
Lớp ĐHKế Toán 1-K1
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
7
Khoa Kinh tế
Doanh thu tòan ngành kiểm tóan năm 2008 tăng 46%, trong đó doanh thu từ dịch vụ
kiểm toán chiếm tỷ trọng cao nhất (57,9%). Bốn doanh nghiệp kiểm toán lớn nhất thế giới
có mặt tại Việt Nam (Deloitte, Ernst & Young, KPMG và PwC) vẫn tiếp tục khẳng định vị
trí đầu bảng của mình trong tốp 10 doanh nghiệp kiểm toán có tổng doanh thu cao nhất,
trong đó Deloitte Vietnam lập kỷ lục có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong ba năm liên tiếp,
đồng thời cũng là doanh nghiệp kiểm toán có hiệu quả hoạt động cao nhất nếu tính theo tỷ
trọng doanh thu trên số lượng nhân viên.
2.2 Những thành tựu cơ bản của hoạt động kiểm toán độc lập ở Việt Nam
Sự phát triển của ngành kiểm toán độc lập Việt Nam, tuy còn non trẻ nhưng đã có
những bước tiến bộ đáng kể:
- Các công ty kiểm toán độc lập đã phát triển nhanh chóng về số lượng, quy mô và
đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp
Nếu năm 1991 chỉ có 2 công ty với vỏn vẹn 13 người thì đến 30/06/2006 đã có hơn
100 công ty kiểm toán lớn, nhỏ thuộc nhiều quy mô và loại hình hoạt động trên lãnh thổ
Việt Nam với hàng trăm văn phòng và chi nhánh ở các tỉnh, thành phố trên cả nước, trên
4.000 nhân viên làm việc trong đó có 1.234 người đã được Bộ Tài chính cấp chứng chỉ
KTV và trên 150 KTV đạt trình độ quốc tế. Trong năm 2005 vừa qua, ngành kiểm toán
Việt Nam đã cung cấp dịch vụ cho 12.000 khách hàng với tổng doanh thu 622 tỷ đồng.
- Ngành kiểm toán đã xây dựng được khá đầy đủ và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật
và đã thành lập được Hiệp hội nghề nghiệp của mình
Kiểm toán là dịch vụ chuyên nghiệp và cần thiết của kinh tế thị trường. Khi Nhà
nước Việt Nam khuyến khích phát triển kinh tế nhiều thành phần, đẩy mạnh tiến trình cổ
phần hóa DNNN, phát triển thị trường chứng khoán, mở cửa hội nhập quốc tế, và buộc các
doanh nghiệp cần đến dịch vụ kiểm toán BCTC thì kiểm toán độc lập vừa là một yêu cầu
pháp lý vừa là một tất yếu khách quan.
Để tạo lập môi trường pháp lý, Nhà nước Việt Nam đã ban hành và hoàn thiện hệ
thống văn bản pháp luật về kế toán, kiểm toán như: Luật kế toán và các văn bản dưới luật
hướng dẫn thi hành, 2 Nghị định về kiểm toán độc lập, hệ thống 26 chuẩn mực kế toán và
Sinh viên: Nguyễn Thị Hường
Lớp ĐHKế Toán 1-K1
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
8
Khoa Kinh tế
các thông tư hướng dẫn chi tiết, hệ thống 37 chuẩn mực kiểm toán và chuẩn mực đạo đức
nghề nghiệp kế toán, kiểm toán ra đời… đã tạo hành lang pháp lý quan trọng cho nghề
kiểm toán Việt Nam.
Ngày 15/4/2005, Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) được thành lập
và chính thức đi vào hoạt động từ 1/1/2006 đã đánh dấu một giai đoạn lịch sử quan trọng
cho nghề nghiệp kế toán, kiểm toán Việt Nam. Kể từ nay, những người hành nghề kiểm
toán độc lập ở Việt Nam đã có một tổ chức nghề nghiệp riêng của mình, một môi trường để
cùng nhau hợp tác, đào tạo, cập nhật chuyên môn , kiểm soát chất lượng dịch vụ, đạo đức
nghề nghiệp, trao đổi kinh nghiệm, góp phần phát triển nghề nghiệp, sánh vai bạn bè trong
khu vực và quốc tế.
VACPA thành lập và đi vào hoạt động còn là tiền đề quan trọng cho công tác quản lý
và soát xét chất lượng dịch vụ của các KTV hành nghề cũng như trợ giúp Bộ Tài chính
thực hiện các chức năng quản lý nhà nước của mình.
- Đội ngũ kiểm toán viên chuyên nghiệp đã tăng nhanh và chiếm tỷ trọng khá cao so
với tổng số nhân viên chuyên nghiệp
Dịch vụ kế toán, kiểm toán là ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Ngay từ khi
thành lập, các công ty kiểm toán đã rất chú trọng đến việc tuyển chọn KTV và nâng cao
chất lượng đội ngũ nhân viên. Sau 15 năm, đội ngũ KTV người Việt Nam đã tăng lên đáng
kể. Trình độ chuyên môn và kinh nghiệm nghề nghiệp đã thành thục hơn nhiều. Nhiều
KTV am hiểu luật pháp, chuẩn mực nghề nghiệp; ngoại ngữ, tin học… và không ít KTV
có kiến thức và học vị quốc tế cao.
Nhiều công ty, nhất là ở các công ty kiểm toán quốc tế và các công ty kiểm toán là
DNNN Việt Nam đã có sự trưởng thành vượt bậc của đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp về
kiến thức, kỹ thuật và phong cách làm việc tiên tiến, giành được niềm tin và sự hài lòng
của khách hàng. Bộ Tài chính cũng đã hợp tác với một số tổ chức quốc tế (như Hiệp hội Kế
toán công chứng Anh Quốc - ACCA) thực hiện chương trình đào tạo cơ bản theo tiêu
chuẩn quốc tế cho KTV Việt Nam cũng như xét cấp chứng chỉ KTV Việt Nam cho một số
Sinh viên: Nguyễn Thị Hường
Lớp ĐHKế Toán 1-K1
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
9
Khoa Kinh tế
KTV có bằng cấp chuyên nghiệp nước ngoài đã góp phần tăng nhanh số lượng và chất
lượng KTV Việt Nam.
- Đối tượng khách hàng ngày càng đa dạng
Đối tượng khách hàng của các công ty kiểm toán từ chỗ chỉ gồm doanh nghiệp có
vốn ĐTNN đã mở rộng ra là DNNN, các ngân hàng, tổ chức tài chính, bảo hiểm, công ty
niêm yết, nhiều đơn vị hành chính sự nghiệp, các dự án quốc tế và các loại hình doanh
nghiệp khác.
Trong 3 năm gần đây, khi cơ quan thuế không trực tiếp duyệt quyết toán thuế hằng
năm và từ sau khi Nghị định 105/2004/NĐ-CP ra đời thì yêu cầu kiểm toán đã mở rộng
đáng kể, đặc biệt là tất cả các doanh nghiệp nhà nước bắt buộc phải kiểm toán.
- Các loại dịch vụ kiểm toán và kế toán cũng ngày càng đa dạng
Cùng với sự phát triển về số lượng công ty và quy mô từng công ty, các dịch vụ do
các công ty kiểm toán cung cấp đã không ngừng được đa dạng hoá theo hướng mở rộng
từng loại dịch vụ như: kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân
thủ, kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư XDCB, dịch vụ kế toán; tư vấn quản lý, tài
chính, thuế; tư vấn đầu tư, luật.
Trong những năm gần đây đã xuất hiện thêm một số loại dịch vụ mới, như: Dịch vụ
soát xét BCTC; Kiểm toán tỷ lệ nội địa hoá; Tư vấn tái cấu trúc doanh nghiệp; Tư vấn
nguồn nhân lực; Soát xét hệ thống kiểm soát nội bộ; Kiểm toán hoạt động để đánh giá và
đề xuất xây dựng chiến lược phát triển SXKD cho từng lĩnh vực và ngành nghề ở Việt
Nam; Tư vấn về rủi ro kinh doanh và rủi ro đầu tư; Tư vấn phục hồi, sát nhập và giải thể
doanh nghiệp… Trong đó, dịch vụ kiểm toán báo cáo tài chính chiếm tỷ trọng lớn nhất.
- Chính sách phát triển hoạt động kiểm toán độc lập đã được Nhà nước rất quan tâm
Một điểm thuận lợi quan trọng, đó là vai trò của Chính phủ, của Bộ Tài Chính đối
với hoạt động kiểm toán. Sở dĩ hoạt động kiểm toán độc lập ở Việt Nam sớm trở thành một
ngành nghề quan trọng và có ý nghĩa trong nền kinh tế chính là nhờ có sự tác động mạnh
mẽ của các cơ quan Nhà nước. Sự tác động đó không phải chỉ dừng lại ở việc đưa ra qui
Sinh viên: Nguyễn Thị Hường
Lớp ĐHKế Toán 1-K1
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
10
Khoa Kinh tế
chế hoạt động kiểm toán, ban hành các văn bản pháp quy tạo nhu cầu kiểm toán đối với
một số loại doanh nghiệp, quy định một số trường hợp bắt buộc phải kiểm toán… mà quan
trọng hơn, còn thể hiện ở chỗ ngày càng có nhiều cơ quan Nhà nước sử dụng kết quả kiểm
toán như một công cụ hữu hiệu trong công tác quản lý.
2.3 Các hình thức tổ chức và quy mô của công ty kiểm toán ở Việt Nam.
Hình thức tổ chức của các công ty kiểm toán ở Việt nam bị chi phối bởi hình thức sở hữu
công ty.
- Đối với các công ty kiểm toán là doanh nghiệp nhà nước, tổ chức phụ thuộc vào cơ chế
quản lý của nhà nước đối với các doanh nghiệp nhà nước, trong đó Giám đốc, người đứng
đầu công ty do cơ quan thành lập bổ nhiệm (Bộ tài chính, UBND Thành phố). Cách thức tổ
chức tại các công ty này theo chức danh và theo cơ cấu hành chính. Trách nhiệm công việc
và tổ chức hoạt động theo chức danh quản lý.
- Đối với các công ty 100% vốn nước ngoài. Các công ty này đều thuộc các công ty kiểm
toán quốc tế, do vậy về cơ cấu tổ chức giống như các công ty quốc tế. Tuy nhiên vì là công
ty được thành lập theo luật đầu tư nước ngoài ở Việt nam, thuộc hình thức công ty TNHH
nên về tổ chức hành chính, ở các công ty này vẫn có chức danh Giám đốc và là đại diện
pháp lý của công ty về các vấn đề hành chính trước các cơ quan chức năng cũng như trong
các hoạt động kinh tế.
-Đối với các công ty TNHH trong nước. Các công ty này đến nay qui mô vẫn rất hạn chế
và chưa hình thành hình thức tổ chức rõ nét. Tuy vậy, do hình thức sở hữu tư nhân, do vậy
giám đốc công ty là chủ sở hữu, người theo pháp luật phải có chứng chỉ kiểm toán viên sẽ
chịu trách nhiệm trước pháp luật đối với mọi hoạt động của công ty.
Qui mô của các công ty kiểm toán ở Việt nam có sự khác biệt khá rõ nét. Nhìn chung
các công ty kiểm toán là doanh nghiệp nhà nước có qui mô lớn hơn, có nhiều chi nhánh và
văn phòng ở các thành phố lớn trong cả nước. Các công ty TNHH có qui mô hạn chế nhất,
chỉ có một văn phòng chính nơi thành lập. Các công ty kiểm toán có vốn đầu tư nước ngoài
đều có văn phòng ở Hà nội và Thành phố Hồ Chí Minh.
2.4 Hệ thống luật kiểm toán ở Việt Nam hiện nay.
Sinh viên: Nguyễn Thị Hường
Lớp ĐHKế Toán 1-K1
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
11
Khoa Kinh tế
Sau 17 năm hoạt động (từ năm 1991 đến nay), kiểm toán độc lập ở VN đã phát triển
nhanh về số lượng, quy mô, các công ty kiểm toán độc lập và số lượng KTV từng bước
nâng cao năng lực chuyên môn, chất lượng dịch vụ cung cấp. Đến nay cả nước đã có trên
140 DN dịch vụ kế toán, kiểm toán với trên 4.600 người làm việc, có gần 1500 người được
cấp chứng chỉ KTV. Hầu hết các dịch vụ cung cấp cho khách hàng ngày càng được tín
nhiệm, được xã hội thừa nhận.
Thông qua hoạt động dịch vụ kiểm toán và tư ván tài chính kế tóan các doanh nghiệp, tổ
chức nắm bắt kịp thời, đầy đủ và tuân thủ đường lối chính sách kinh tế, tài chính, loại bỏ
được chi phí bất hợp lý, tạo lập được những thông tin tin cậy, và tăng cường lòng tin của
người sử dụng các thông tin tài chính, từng bước đưa công tác quản lý tài chính, kế toán
trong các doanh nghiệp vào nề nếp…Có thể nói hoạt động kiểm toán độc lập đã xác định
được vị trí trong nền kinh tế thị trường, góp phần ngăn ngừa và phát hiện lãng phí, góp
phần thu hút vốn đầu tư nước ngoài, thực hiện công khai minh bạch báo cáo tài chính
(BCTC), phục vụ đắc lực cho công tác quản lý, điều hành kinh tế-tài chính, của doanh
nghiệp và Nhà nước.
Hoạt động kiểm toán độc lập đã đóng góp không nhỏ vào sự phát triển chung của đất
nước, nhưng đến nay văn bản pháp lý điều chỉnh hoạt động này chỉ là Nghị định của Chính
phủ chưa tương xứng với tầm quan trọng và quy mô phát triển của ngành nghề kinh doanh
có điều kiện. Do đó, cần phải xây dựng một văn bản luật để quy định và định hướng phát
triển cho hoạt động kiểm toán độc lập trong thời gian tới. Đồng thời để thúc đẩy sự phát
triển mạnh mẽ của kiểm toán độc lập, đáp ứng xu thế phát triển kinh tế - xã hội theo hướng
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, và hội nhập kinh tế thế giới, thực hiện hiệu quả các cam kết
quốc tế, cần phải tăng cường hơn nữa vị trí, vai trò, hoạt động kiểm toán độc lập trong nền
kinh tế quốc dân.
Ngày 09/10/2006 Chính phủ đã có Nghị quyết số 25/2006/NQ-Cp ban hành Chương
trình của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X và Nghị quyết Quốc hội
khóa XI về kế hoạch phát triển kinh tế -xã hội 5 năm (2006-2010), trong đó có việc xây
dựng Luật Kiểm toán độc lập (Điểm 39 Mục I). Thực hiện Nghị quyết của Quốc hội khoá
XII về chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ 2007-2011 và năm 2008, Chính phủ
Sinh viên: Nguyễn Thị Hường
Lớp ĐHKế Toán 1-K1
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
12
Khoa Kinh tế
đã giao Bộ Tài chính phối hợp với các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu, xây dựng Dự án
Luật Kiểm toán độc lập. Trên thực tế, các văn bản về kiểm toán độc lập như hiện nay bao
gồm Nghị định 105/2004/NĐ-CP ngày 30/3/2004 và Nghị định 133/2005/NĐ-CP ngày
31/10/2005 sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 105 cũng đã tạo cơ sở pháp lý căn
bản cho hoạt động kiểm toán độc lập là hoạt động dịch vụ có tính pháp lý cao, góp phần
quan trọng làm lành mạnh hóa môi trường đầu tư ở VN và công khai minh bạch nền tài
chính quốc gia, với tốc độ phát triển cao và trong xu thế hội nhập, Nghị định của Chính phủ
về kiểm toán độc lập đã bộc lộ 1 số hạn chế cần sửa đổi, bổ sung và nâng lên thành luật cho
phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế ở nước ta trong thời gian tới.
2.5 Tiêu chuẩn kiểm toán viên độc lập.
Kiểm toán viên độc lập phải đảm bảo các tiêu chuận sau:
a) Độc lập (áp dụng chủ yếu cho kiểm toán viên hành nghề và người hành nghề kế toán);
b) Chính trực;
c) Khách quan;
d) Năng lực chuyên môn và tính thận trọng;
e) Tính bảo mật;
f) Tư cách nghề nghiệp;
g) Tuân thủ chuẩn mực chuyên môn.
Độc lập:
Độc lập là nguyên tắc hành nghề cơ bản của kiểm toán viên hành nghề.
Trong quá trình kiểm toán hoặc cung cấp dịch vụ kế toán, kiểm toán viên hành nghề phải
thực sự không bị chi phối hoặc tác động bởi bất kỳ lợi ích vật chất hoặc tinh thần nào làm
ảnh hưởng đến sự trung thực, khách quan và độc lập nghề nghiệp của mình.
Kiểm toán viên hành nghề không được nhận làm kiểm toán cho các đơn vị mà mình có
quan hệ kinh tế hoặc quyền lợi kinh tế như góp vốn, cho vay hoặc vay vốn từ khách hàng,
hoặc là cổ đông chi phối của khách hàng, hoặc có ký kết hợp đồng gia công, dịch vụ, đại lý
tiêu thụ hàng hóa.
Kiểm toán viên hành nghề không được nhận làm kiểm toán ở những đơn vị mà bản thân có
quan hệ gia đình ruột thịt (như có bố, mẹ, vợ, chồng, con, anh, chị, em ruột) là người trong
Sinh viên: Nguyễn Thị Hường
Lớp ĐHKế Toán 1-K1
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
Khoa Kinh tế
13
bộ máy quản lý diều hành (Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc, kế toán trưởng, các trưởng,
phó phòng và các cấp tương đương) trong đơn vị khách hàng.
Kiểm toán viên hành nghề không được vừa làm dịch vụ kế toán, như ghi sổ kế toán, lập báo
cáo tài chính, kiểm toán nội bộ, định giá tài sản, tư vấn quản lý, tư vấn tài chính, vừa làm
dịch vụ kiểm toán cho cùng một khách hàng.
Trong quá trình kiểm toán nếu có sự hạn chế về tính độc lập thì kiểm toán viên hành nghề
phải tìm mọi cách loại bỏ sự hạn chế này. Nếu không thể loại bỏ được thì phải nêu rõ điều
này trong Báo cáo kiểm toán.
Chính trực:
Người làm kiểm toán phải thẳng thắn, trung thực và có chính kiến rõ ràng.
Khách quan:
Người làm kiểm toán phải công bằng, tôn trọng sự thật và không được thành kiến, thiên vị.
Năng lực chuyên môn và tính thận trọng:
Kiểm toán viên phải thực hiện công việc kiểm toán với đầy đủ năng lực chuyên môn cần
thiết, với sự thận trọng cao nhất và tinh thần làm việc chuyên cần. Kiểm toán viên có nhiệm
vụ duy trì, cập nhật và nâng cao kiến thức trong hoạt động thực tiễn, trong môi trường pháp
lý và các tiến bộ kỹ thuật để đáp ứng yêu cầu công việc.
Tính bảo mật:
Kiểm toán viên phải bảo mật các thông tin có được trong quá trình kiểm toán; không được
tiết lộ bất cứ một thông tin nào khi chưa được phép của người có thẩm quyền, trừ khi có
nghĩa vụ phải công khai theo yêu cầu của pháp luật hoặc trong phạm vi quyền hạn nghề
nghiệp của mình.
Tư cách nghề nghiệp:
Người làm kiểm toán phải trau dồi và bảo vệ uy tín nghề nghiệp, không được gây ra những
hành vi làm giảm uy tín nghề nghiệp.
Tuân thủ chuẩn mực chuyên môn:
Người làm kế toán và người làm kiểm toán phải thực hiện công việc kế toán, kiểm toán
theo những kỹ thuật và chuẩn mực chuyên môn đã quy định trong chuẩn mực kế toán,
chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, quy định của Hội nghề nghiệp và các quy định pháp luật
Sinh viên: Nguyễn Thị Hường
Lớp ĐHKế Toán 1-K1
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
14
Khoa Kinh tế
hiện hành.
2.6 Vai trò của Kiểm toán độc lập trong nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà
nước ở Việt Nam.
Chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, thực hiện chủ trương đa dạng hoá các hình
thức sở hữu, các thành phần kinh tế được mở rộng và ngày càng đóng vai trò quan trọng
trong quá trình phát triển kinh tế của đất nước. Trong điều kiện nền kinh tế như vậy, thông
tin tài chính của doanh nghiệp không chỉ để báo cáo cho các cơ quan quản lý nhà nước để
kiểm tra và xét duyệt mà nay các thông tin này cần cho nhiều người, được nhiều đối tượng
quan tâm, khai thác sử dụng cho các quyết định kinh tế. Tuy ở nhiều góc độ khác nhau
nhưng tất cả các đối tượng này đều có cùng nguyện vọng là có được các thông tin có độ
chính xác cao, tin cậy và trung thực.
Đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế theo cơ chế thị trường, hoạt động kiểm toán độc lập
ra đời và trở thành bộ phận cần thiết và quan trọng không thể thiếu trong đời sống các hoạt
động kinh tế. Kiểm toán độc lập cung cấp cho những người sử dụng kết quả kiểm toán sự
hiểu biết về những thông tin tài chính họ được cung cấp có được lập trên cơ sở các nguyên
tắc và chuẩn mực theo qui định hay không và các thông tin đó có trung thực và hợp lý hay
không.
Luật pháp yêu cầu và để yên lòng cho người sử dụng thì các báo cáo tài chính phải
được kiểm toán và chỉ có những thông tin kinh tế đã được kiểm toán mới là căn cứ tin cậy
cho việc đề ra các quyết định hiệu quả và hợp lý. Việc các qui định mang tính pháp lý bắt
buộc các thông tin tài chính trước khi công bố phải được kiểm toán, điều này thể hiện rõ
nét vai trò của kiểm toán trong quá trình đổi mới nền kinh tế. Kiểm toán độc lập không thể
thiếu được của hoạt động kinh tế trong nền kinh tế thị trường có sự quan lý của Nhà nước.
Kiểm toán làm tăng mức độ tin cậy đối với các thông tin tài chính, góp phần lành mạnh hoá
các quan hệ kinh tế. Dựa vào kết quả kiểm toán, những người sử dụng báo cáo tài chính
được kiểm toán có được các thông tin khách quan, chính xác theo đó có thể đánh giá một
cách đúng đắn tình hình tài chính cũng như kết quả hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp làm cơ sở cho các quyết định kinh tế của mình. Bên cạnh mục tiêu chính là đưa ra ý
kiến về báo cáo tài chính, các kiểm toán viên, thông qua quá trình kiểm toán, còn có thể
Sinh viên: Nguyễn Thị Hường
Lớp ĐHKế Toán 1-K1
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
15
Khoa Kinh tế
đưa ra những kiến nghị giúp doanh nghiệp hoàn thiện hệ thống kiểm soát, nâng cao hiệu
quả trong công tác quản lý tài chính nói riêng cũng như hoạt động kinh doanh nói chung.
Trong các quan hệ kinh tế nhờ có kiểm toán mà các doanh nghiệp đã tìm được tiếng nói
chung đó là sự tin cậy lẫn nhau, sự thẳng thắn, trung thực trình bầy về tình hình tài chính
của mình. Đây là yếu tố hết sức quan trọng để đánh giá, lựa chọn đối tác kinh doanh. Đặc
biệt trong quan hệ hợp tác kinh doanh với nước ngoài, nếu nhà đầu tư nước ngoài muốn
tìm hiểu về hoạt động kinh doanh và đánh giá tình hình tài chính của một doanh nghiệp
trước khi đầu tư, hợp tác kinh doanh thì chi phí cho cuộc kiểm toán sẽ hiệu quả và rẻ hơn
nhiều so với chi phí mà hai bên phải bỏ ra để đàm phán, tự chứng minh về khả năng tài
chính của mình. Đồng thời ý kiến khách quan của kiểm toán luôn đáng tin cậy hơn. Ngay
cả khi các công ty có vốn đầu tư nước ngoài được thành lập thì nhu cầu kiểm toán của các
công ty này là tất yếu bởi yêu cầu quản lý của các đối tác nước ngoài trong doanh nghiệp.
Do vậy kiểm toán độc lập ra đời đã đáp ứng tốt nhu cầu của hoạt động đầu tư trực tiếp
nước ngoài, góp phần hoàn thiện môi trường đầu tư và thúc đẩy nhanh quá trình chuyển đổi
nền kinh tế.
Ngoài những đóng góp tích cực nêu trên cho nền kinh tế, kiểm toán độc lập còn là
hoạt động dịch vụ và như vậy nó tạo ra giá trị cho nền kinh tế, góp phần nâng cao thu nhập
quốc dân, nâng cao nguồn thu cho ngân sách. Hoạt động kiểm toán còn thu hút được lực
lượng lớn các lao động có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao và đặc biệt là lực lượng
chuyên gia tư vấn nước ngoài làm việc tại các công ty kiểm toán quốc tế. Lực lượng này đã
chuyền đạt nhiều kinh nhiệm quản lý kinh tế cho các doanh nghiệp, tổ chức cũng như
những đồng nghiệp.
Sinh viên: Nguyễn Thị Hường
Lớp ĐHKế Toán 1-K1
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
16
Khoa Kinh tế
2.7 Xây dựng và phát triển thương hiệu của các công ty Kiểm toán.
Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế việc xây dựng và nâng cao giá trị thương hiệu
đang ngày càng trở nên quan trọng trong các chiến lược phát triển doanh nghiệp ở Viêt
Nam cũng như trên thế giới. Kiểm toán độc lập của Việt Nam từng bước phát triển trong
điều kiện nền kinh tế chuyển đổi theo hướng thị trường mở và tất nhiên cũng không tránh
khỏi xu thế này. Cũng như tất cả các loại hình kinh doanh, thương hiệu có ý nghĩa cực kỳ
quan trọng.
Đặc biệt, trong những ngành đòi hỏi niềm tin của người tiêu dùng, danh tiếng hãng và
được kiểm soát bởi các qui định rất chặt chẽ về chất lượng dịch vụ như ngành kiểm toán.
Một câu hỏi được đặt ra là tại sao loại hình cung cấp những dịch vụ kiểm toán và tư vấn tài
chính giống nhau cho cùng một khách hàng, chưa xét đến chất lượng kiểm toán (vì nó chỉ
xác định được chính xác sau khi cuộc kiểm toán kết thúc) nhưng phí kiểm toán mà các
công ty khác nhau đưa ra lại khác nhau, thậm chí là có chênh lệch rất lớn mà vẫn được
khách hàng chấp thuận, câu trả lời là: Thương hiệu. Một công ty, muốn phát triển bền
vững, phải tạo được uy tín, thương hiệu cho riêng mình, đó thực sự là mong muốn, mục
đích lâu dài của ban lãnh đạo, cán bộ công nhân viên trong bất kỳ công ty nào. Tuy nhiên,
một câu hỏi lớn đối với ngành dịch vụ đặc biệt, mang niềm tin cho công chúng như kiểm
toán và tư vấn là làm thế nào để xây dựng, khẳng định được thương hiệu kiểm toán? Với
hơn 17 năm hoạt động và phát triển của ngành kiểm toán độc lập ở Việt Nam thì đây là câu
hỏi không mới với nhiều lãnh đạo các công ty kiểm toán. Chúng tôi cho rằng để xây dựng
được và khẳng định thương hiệu cho công ty kiểm toán thì các yếu tố căn bản quyết định
giá trị và niềm tin vào thương hiệu gồm:
+ Ban lãnh đạo Công ty phải có chiến lược phát triển dài hạn, có tầm nhìn phù hợp với sự
phát triển kinh tế thế giới và Việt Nam. Đây chính là điều kiện đầu tiên cần có, vì ban lãnh
đạo chính là những người đề ra chính sách, chiến lược phát triển của công ty kiểm toán.
Mọi sự phát triển, thành quả mà công ty đạt được đều xuất phát từ ban lãnh đạo, giám đốc
của công ty. Hơn nữa cần để ý rằng, uy tín của những người lãnh đạo công ty cũng góp
phần lớn tạo nên thương hiệu cho công ty đó, điều quan trọng vẫn là tầm nhìn xa, nhanh
nhạy của họ, nó quyết định đến thành công của việc xây dựng thương hiệu
+ Chất lượng nhân viên: Đây là yếu tố căn bản có tính quyết định nhất đến sự phát triển,
Sinh viên: Nguyễn Thị Hường
Lớp ĐHKế Toán 1-K1
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
17
Khoa Kinh tế
danh tiếng của thương hiệu kiểm toán. Cần phải hiểu được rằng, người trực tiếp thực hiện
các cuộc kiểm toán, tạo nên chất lượng kiểm toán, thương hiệu của một công ty kiểm toán
chính là các kiểm toán viên, nhân viên của các công ty kiểm toán. Những điểm mạnh và sự
khác biệt về chất lượng nhân viên sẽ là 1 yếu tố quan trọng tạo nên thương hiệu của 1 hãng
kiểm toán tức là 1 hình ảnh của công ty mang những nét đặc trưng, rất riêng có. Hiện nay,
có trên 100 công ty kiểm toán đang hoạt động làm cho môi trường cạnh tranh trên thị
trường kiểm toán ngày càng sôi động. Do vậy muốn có được vị thế của mình trong ngành
kiểm toán độc lập, các công ty kiểm toán cần phải khẳng định sự khác biệt về chất lượng
dịch vụ thông qua nguồn nhân lực. Để thực hiện được điều này, cần thực hiện chiến lược
“Quốc tế hoá đội ngũ nhân viên”. Đây là một chiến lược căn bản giúp nhân viên đạt trình
độ quốc tế đáp ứng yêu cầu chuẩn hoá và đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng dịch vụ của
khách hàng. Người Việt Nam cần phải được đào tạo một cách có hệ thống, bài bản theo
chuẩn quốc tế để đảm nhận những vị trí lãnh đạo, quản lý và kiểm soát chất lượng. Để có
một đội ngũ kiểm toán đạt chất lượng quốc tế, trước hết các công ty kiểm toán cần lựa chọn
và thu hút nhân tố con người. Công việc này cần được thực hiện theo quy trình chặt chẽ từ
khâu tuyển dụng đến khâu đào tạo nhân viên. Việc cử nhân viên đi học tập ở nước ngoài
hay tham gia các lớp đào tạo chuyên môn theo bằng cấp quốc tế vừa khuyến khích nhân
viên học tập vừa đạt được mục tiêu quốc tế hoá đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp. Bên
cạnh đó, ban lãnh đạo công ty còn phải chú ý đào tạo về kiến thức, kỹ thuật, kỹ năng cho
nhân viên, dần hình thành phong cách làm việc chuyên nghiệp, hiệu quả, có phong cách
của nhân viên. Đồng thời để duy trì được điều này cần xây dựng một hệ thống quản trị
nhân sự phù hợp và mỗi quyết định quản lý đều phải hướng tới sự phát triển của nhân viên.
Làm được những điều này, chắc chắn công ty sẽ xây dựng được một đội ngũ nhân viên có
chất lượng cao, đáp ứng được yêu cầu của cồng việc, tạo nên uy tín cho công ty kiểm toán.
+ Cần hướng tới xây dựng văn hoá đặc trưng của công ty kiểm toán: Đây là yếu tố rất
quan trọng hình thành nên phong cách kinh doanh, phong cách của nhân viên trong việc
phục vụ khách hàng; đóng góp vào đặc trưng của thương hiệu kiểm toán và chất lượng
nhân viên. Văn hoá công ty kiểm toán được tạo nên từ những hành động nhỏ nhất của mỗi
nhân viên, bất kể là làm việc tại văn phòng hay là tại khách hàng. Vì thế, công ty kiểm toán
cần có quy chế, quy định rõ ràng, chặt chẽ để tạo nên thói quen làm việc, ứng xử chuyên
Sinh viên: Nguyễn Thị Hường
Lớp ĐHKế Toán 1-K1
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
18
Khoa Kinh tế
nghiệp của nhân viên. Những quy định này cần phải cụ thể nhất đến mức có thể, và cần
phải thích ứng với đặc thù của mỗi công ty kiểm toán để các qui định này thực sự đi vào
trong công việc, trong cuộc sống, đi kèm theo đó sẽ là các hình thức xử phạt và cần được
thực hiện một cách nghiêm túc, nhất quán.
+ Trở thành thành viên hãng kiểm toán quốc tế: Đây là việc làm để khẳng định uy tín, chất
lượng kiểm toán của công ty đã đạt với tiêu chuẩn hãng quốc tế. Để trở thành thành viên,
công ty kiểm toán phải mất nhiều thời gian tìm tòi, kết nối với một hãng quốc tế phù hợp,
đồng phải đáp ứng đủ các điều kiện theo yêu cầu của hãng quốc tế về năng lực nhân viên
(khả năng giao dịch bằng tiếng Anh, trình độ nghiệp vụ khá...), có cơ cấu tổ chức quản lý
và ban lãnh đạo, danh sách khách hàng và khả năng phục vụ khách hàng... ; Nhưng bù lại,
chúng ta dễ dàng nhận thấy lơi ích lớn nhất từ việc tham gia làm thành viên các tổ chức
quốc tế lớn chính là danh tiếng. Đối với công ty kiểm toán, điều này thể hiện khả năng tiếp
cận thị trường mới, mở rộng thị phần hiện có thông qua thương hiệu của một hãng có bề
dầy kinh nghiệm và uy tín quốc tế. Có thể nói đây là một cách làm tắt để sớm xây dựng
thương hiệu cho công ty kiểm toán, nhưng trở thành thành viên hãng kiểm toán quốc tế
cũng có những thách thức nhất định và đặc biệt là không nên để mất đi bản sắc và thương
hiệu kiểm toán Viêt như trường hợp đánh mất thương hiệu rất đáng tiếc của một thương
hiệu kiểm toán đã được nhiều thế hệ tâm huyết đóng góp xây dựng qua hàng chục năm.
Tuy nhiên, để công ty kiểm toán phát triển bền vững điều quan trọng nhất là cần khẳng
định rằng nội lực của công ty kiểm toán. Đây là vẫn là yếu tố chính đảm bảo bước những
bước phát triển bền vững, tự chủ và sự thích ứng nhanh cho công ty kiểm toán trong điều
kiện nền kinh tế luôn biến đổi và ngày càng cạnh tranh như hiện nay, Nội lực và trí tuệ Việt
có học tập, kế thừa những tinh hoa của nền kiểm toán quốc tế chính là giá trị thương hiệu
kiểm toán lớn nhất, bền vững nhất mà các công ty kiểm toán cần hướng tới.
+ Khách hàng: Là yếu tố cực kỳ quan trọng minh chứng cho giá trị, tính vượt trội của
thương hiệu kiểm toán. Một thương hiệu kiểm toán mạnh, thương hiệu kiểm toán danh
tiếng và uy tín thì đương nhiên sẽ có nhiều lòng tin và sự lựa chọn của các nhà kinh doanh.
Theo đó số lượng khách hàng trong thị phần kiểm toán sẽ càng lớn. Tuy nhiên, muốn giữ
khách hàng, tạo cho khách hàng niềm tin tưởng đối với dịch vụ minh cung cấp, các công ty
kiểm toán cần:
Sinh viên: Nguyễn Thị Hường
Lớp ĐHKế Toán 1-K1
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
19
Khoa Kinh tế
-
Bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng.
-
Không ngừng nâng cao kỹ thuật nghiệp vụ, am hiểu sâu sắc về luật pháp và các chuẩn
mực nghề nghiệp.
-
Trau dồi các kỹ năng phục vụ khách hàng đa văn hoá.
Trên đây là những yếu tố căn bản để xây dựng và phát triển thương hiệu của một công ty
kiểm toán, nhưng cần nhận thức rằng việc xây dựng thương hiệu đã khó, nhưng mà giữ
được nó còn khó hơn. Vì thế các công ty kiểm toán cần phải không ngừng nâng cao chất
lượng, đáp ứng nhu cẩu của khách hàng, bảo vệ uy tín, phát triển một cách bền vững,
khẳng định được vị thế trên thị trường và góp phần quan trọng cho sự phát triển của nền
kiểm toán Việt Nam.
2.8 Nâng cao năng lực cạnh tranh của các công ty kiểm toán độc lập Việt Nam
Việc nâng cao năng lực cạnh tranh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế là một nhu
cầu tất yếu của các công ty kiểm toán độc lập Việt Nam trong suốt quá trình hình thành và
phát triển. Trong 15 năm qua, ngành kiểm toán độc lập của Việt Nam tuy còn non trẻ
nhưng đã có những bước tiến bộ vượt bậc. Qua thực tiễn hoạt động, các công ty kiểm toán
độc lập Việt Nam đã khẳng định vị trí của mình trên thị trường dịch vụ kiểm toán và tư vấn
trong nước.
Tuy nhiên, việc hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới và khu vực đặt ra những yêu cầu
và đòi hỏi cao hơn đối với năng lực cạnh tranh của các công ty kiểm toán độc lập Việt
Nam. Theo đó, việc nâng cao năng lực cạnh tranh có ý nghĩa sống còn, giúp các công ty
kiểm toán Việt Nam có thể tồn tại và phát triển ngay trên "sân nhà" và từng bước vươn ra
thị trường khu vực và thế giới.
Một số giải pháp liên quan được trình bày lồng ghép trong bài hướng tới các công ty
kiểm toán, Nhà nước và hội nghề nghiệp.
Một cách chung nhất, năng lực cạnh tranh của DN thể hiện thực lực và lợi thế của DN
so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu
lợi nhuận ngày càng cao hơn. Theo đó, năng lực cạnh tranh của DN trước hết phải được
tạo ra từ những yếu tốt nội tại của DN. Những yếu tốt nội tại của mỗi DN không chỉ được
tính bằng các tiêu chí về công nghêj, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị DN…một cách
Sinh viên: Nguyễn Thị Hường
Lớp ĐHKế Toán 1-K1
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
Khoa Kinh tế
20
riêng biệt mà cần được xem xét trong mối tương quan với các đối tác cạnh tranh trên cùng
một lĩnh vực cùng một thị trường. Bên cạnh đó, những yếu tố bên ngoài như môi trường
pháp lý, cơ chế chính sách của từng quốc gia…cũng có ảnh hưởng gián tiếp đến năng lực
cạnh tranh của DN tại quốc gia đó trong bối cảnh toàn cầu hoá.
Để đánh giá năng lực cạnh tranh của một DN, cần phải xác định được các yếu tố nội tại
bên trong và các yếu tố ảnh hưởng bên ngoài tác động đến năng lực cạnh tranh của DN.
Các DN hoạt động sản xuất kinh doanh ở những ngành, lĩnh vực khác nhau có các yếu tố
đánh giá năng lực cạnh tranh khác nhau. Đối với các DN hoạt động trong lĩnh vực kiểm
toán, các yếu tố nội tại chủ yếu được sử dụng để đánh giá năng lực cạnh tranh của một
công ty kiểm toán bao gồm: chất lượng dịch vụ và sự đa dạng của dịch vụ cung cấp; nguồn
nhân lực; khả năng phát triển thị trường; thương hiệu, uy tín của DN; năng lực tài chính và
công nghệ kiểm toán; năng lực tổ chức và quản trị DN.
- Chất lượng dịch vụ và sự đa dạng của dịch vụ cung cấp:
Chất lượng dịch vụ kiểm toán và các dịhc vụ khác ngày càng được nâng cao do nhiều
yếu tố chru quan bên trong DN và các yếu tố khách quan bên ngoài. Mặc dù ngành kiểm
toán độc lập trong thời gian qua có sự tăng trưởng mạnh mẽ về số lượng các công ty kiểm
toán độc lập, tuy nhiên các công ty đều nhận thức rõ chất lượng dịch vụ cung cấp là yếu tố
hàng đầu thể hiện năng lực cạnh tranh và quyết định sự sống còn của DN. Theo đó, các
công ty kiểm toán độc lập đều thực hiện việc kiểm soát chất lượng kiểm toán trên các cấp
độ khác nhau trong quy trình kiểm toán. Bên cạnh đó, việc ban hành khá đầy đủ và đồng
bộ các văn bản pháp luật liên quan cũng như sự phối hợp chặt chẽ và có hiệu quả giữa Bộ
Tài chính và Hội kiểm toán viên hành nghề trong hoạt động quản lý kiểm toán đã có tác
động tích cực đến chất lượng dịch vụ của các công ty kiểm toán độc lập cung cấp. Tuy
nhiên, việc chậm trễ ban hành Quy chế kiểm soát chất lượng hành nghề kế toán, kiểm toán
cũng gây khó khăn cho cơ quan chức năng và hội nghề nghiệp trong quản lý chất lượng
dịch vụ kế toán, kiểm toán.
Cùng với sự phát triển về số lượng công ty và thị trường dịch vụ, các dịch vụ do các
công ty kiểm toán cung cấp không ngừng được đa dạng hoá với các nhóm dịch vụ như:
dịch vụ kiểm toán (kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ,
Sinh viên: Nguyễn Thị Hường
Lớp ĐHKế Toán 1-K1
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
Khoa Kinh tế
21
kiểm toán báo cáo quyết toán vốn đầu tư XDCB), dịch vụ phi kiểm toán (dịch vụ kế toán,
dịch vụ đào tạo bồi dưỡng kiến thức; tư vấn quản lý, tài chính, thuế; tư vấn đầu tư, luật)
Trong những năm gần đây, một số công ty kiểm toán đã cung cấp thêm một số loại dịch vụ
mới: kiểm toán và định giá; dịch vụ soát xét BCTC; tư vấn tái cấu trúc DN; xây dựng hệ
thống kiểm soát nội bộ; tư vấn sát nhập và giải thể DN…Tuy nhiên, khả năng cung ứng và
tỷ trọng doanh thu của các loại dịch vụ này còn ở mức khiêm tốn.
BẢNG 1: Tình hình doanh thu (cơ cấu theo loại dịch vụ)
Đơn vị tính: Triệu đồng
Chỉ tiêu
Tổng Doanh thu
Trong đó:
1. Kiểm toán báo cáo tài chính
2. Kiểm toán báo cáo QTVĐT hoàn thành
3. Tư vấn tài chính, thuế, kế toán
4. Dịch vụ tư vấn nguồn nhân lực, tư vấn
quản lý, định giá tài sản
5. Bồi dưỡng tài chính, kế toán, kiểm toán
6. Dịch vụ liên quan khác
Năm 2005
Năm 2004
Số tiền Tỷ lệ% Số tiền Tỷ lệ %
622.255 100
461.699 100
353.879
32.782
146.976
71.701
57
5
24
12
264.767
24.421
105.387
52.509
57
5
23
11
4.590
12.327
0,7
1,3
3.519
11.096
0.7
3,3
Doanh thu từ hoạt động kiểm toán chiếm tỷ trọng lớn nhất (khoảng 62%), doanh thu từ
các dịch vụ phi kiểm toán còn quá thấp (khoảng 38%) so với các nước phát triển (tại các
nước phát triển tỷ lệ doanh thu từ các dịch vụ phi kiểm toán lên tới 90%). Như vậy, khả
năng cạnh tranh của các công ty kiểm toán Việt Nam trong việc cung cấp các dịch vụ phi
kiểm toán và các dịch vụ gia tăng khác còn ơ rmức hết sức khiêm tốn.
Như vậy, để tăng cường năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập, các DN kiểm
toán Việt Nam phải tạo lập được lợi thế so sánh với đối tác của mình thông qua việc đa
dạng hoá các loại hình dịch vụ cung cấp. Chúng tôi cho rằng áp dụng chiến lược cạnh
tranh bằng sự khác biệt, có tính sáng tạo và mang lại giá trị mới tăng thêm cho người tiêu
dùng sẽ phù hợp hơn chiến lược giành lợi thế cạnh tranh bằng việc cung cấp các sản phẩm
và dịch vụ với chi phí thấp trong thời đại hội nhập. Nhờ lợi thế này, DN có thể thoả mãn
tốt hơn các đòi hỏi của khách hàng mục tiêu cũng như lôi kéo được khách hàng của đối tác
Sinh viên: Nguyễn Thị Hường
Lớp ĐHKế Toán 1-K1
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
Khoa Kinh tế
22
cạnh tranh đến từ các nước trên thế giới.
- Nguồn nhân lực.
Có thể nói nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng hàng đầu ảnh hưởng đến năng lực cạnh
tranh của công ty kiểm toán. Sau 15 năm hoạt động, đội ngũ KTV người Việt Nam đã
trưởng thành nhanh chóng cả về trình độ chuyên môn và kinh nghiệm nghề nghiệp. Nhiều
KTV có kiến thức và chứng chỉ của các tổ chức nghề nghiệp quốc tế như ACCA, CPA
Australia…(bảng 2)
BẢNG 2: Tình hình nhân viên
Chỉ tiêu
I. Tổng số nhân viên đến 31/12/2005
Trong đó
1. Nhân viên chuyên nghiệp
Trong đó:
1.1. Số người có chứng chỉ kiểm toán viên
Trong đó:
1.1.1. Số người vừa có chứng chỉ KTV Việt Nam, vừa
có chứng chỉ KTV nước ngoài:
- Người Việt Nam
- Người nước ngoài
1.1.2. Số người chỉ có Chứng chỉ KTV Việt Nam:
- Người Việt Nam
- Người nứơc ngoài
1.1.3. Số người chỉ có chứng chỉ KTV nước ngoài:
- Người Việt Nam
- Người nước ngoài
1.2 Số người chưa có chứng chỉ KTV
2. Nhân viên khác:
Năm 2005
Số
Tỷ lệ
người %
3.897 100
Năm 2004
Số
Tỷ lệ %
người
3.124 100
3.091
79
2.468
79
870
28
664
27
57
7
40
6
40
17
749
710
9
34
16
18
2.221
806
70
30
88
98
2
5
47
53
72
21
26
65
14
35
579
90
582
97
15
3
27
4
15
55
12
45
1.804 73
656
21
Nguồn VACPA
Đội ngũ kiểm toán viên chuyên nghiệp mặc dù tăng nhanh nhưng chiếm tỷ trọng chưa
cao so với tổng số nhân viên chuyên nghiệp. Tỷ lệ KTV Việt Nam có chứng chỉ quốc tế
còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu hội nhập. Ngoài ra, vấn đề chảy máu chất xám từ
ngành kiểm toán sang các ngành khác có liên quan khi các công ty, văn phòng đại diện
Sinh viên: Nguyễn Thị Hường
Lớp ĐHKế Toán 1-K1
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
Khoa Kinh tế
23
nước ngoài vào Việt Nam ngày một nhiều trong thời gian tới là vấn đề cần được tính tới
trong chiến lược đào tạo và sử dụng nguồn lực kiểm toán.
- Khả năng phát triển thị trường và xây dựng thương hiệu của các công ty kiểm toán.
Dưới tác động của các nhân tố chủ quan và khách quan, đối tượng khách hàng ngày
càng phát triển và đa dạng hoá. Đối tượng khách hàng (bắt buộc và tự nguyện) của các
công ty kiểm toán bao gồm DN có vốn ĐTNN, DN nhà nước, các tổ chức ngân hàng, tài
chính, bảo hiểm, công ty niêm yết, các dự án quốc tế, một số đơn vị hành chính sự nghiệp
và các loại hình DN khác. Trong một số năm gần đây, khi cơ quan thuế thí điểm cho DN tự
kê khai, tự nộp quyết toán thuế hằng năm và từ sau khi Nghị định 105/2004/NĐ-Chính phủ
ra đời thì thị trường kiểm toán đã mở rộng đáng kể với quy định tất cả các DN nhà nước
bắt buộc phải kiểm toán. (bảng 3)
BẢNG 3: Doanh thu (cơ cấu theo đối tượng khách hàng)
Đơn vị tính: Triệu đồng
Năm 2005
Đối tượng Khách hàng
Số lượng Số tiền
Tỷ lệ
KH
%
1. DN có vốn đầu tư nước 5.640
366.967,565 60
ngoài
2. Công ty TNHH, Công ty 2.198
63.178,034 10
cổ phần, DN tư nhân, HTX
3. DN Nhà nước
2.653
125.826,470 20
4. Đơn vị HCSN, tổ chức 686
8.523,634
1
đoàn thể xã hội
5. Tổ chức, dự án quốc tế 341
49.929,656 9
Tổng cộng
11.518
100
Năm 2004
Số lượngSố tiền
KH
4.302 304.454,69
Tỷ lệ %
66
1.354
30.421,490
6
1.940
738
85.657,977
7.355,647
18
1
233
8.567
31.252,386
9
100
Nguồn: Tổng cục Thuế
Khả năng phát triển thị trường của các công ty kiểm toán còn hạn chế, khách hàng
kiểm toán vẫn chủ yếu là khách hàng bắt buộc kiểm toán theo quy định của pháp luật.
Về khả năng tiếp cận và chiếm lĩnh thị trường: Có thể nói, DN nước ta chưa coi trọng việc
xây dựng thương hiệu, quảng bá dịch vụ cung cấp và nghiên cứu thị trường chiến lược.
Việc tiếp thị dịch vụ ra thị trường khu vực và quốc tế còn hạn chế. Các DN kiểm toán Việt
Nam chủ yếu có quy mô nhỏ và vừa, không có các hoạt động tìm hiểu thị trường nước
ngoài, kinh nghiệm kinh doanh quốc tế còn non yếu. Hiểu biết về hệ thống luật pháp quốc
Sinh viên: Nguyễn Thị Hường
Lớp ĐHKế Toán 1-K1
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
24
Khoa Kinh tế
tế còn thiếu để xuất khẩu dịch vụ kiểm toán và tư vấn ra bên ngoài. Đây là vấn đề lớn đặt
ra trước hội nghề nghiệp và các DN kiểm toán Việt Nam trong giai đoạn hội nhập và cạnh
tranh khốc liệt khi các cam kết bắt đầu có hiệu lực.
- Năng lực tài chính và công nghệ kiểm toán:
Hầu hết các DN kiểm toán Việt Nam hiện nay là các DN nhỏ và vừa. Mức vốn bình
quân của những DN lớn nhất cũng chỉ trên dưới 10 tỷ đồng. Mặc dù tiềm lực tài chính
không phải yếu tố tiên quyết cho hoạt động cung cấp dịch vụ nhưng lại có ảnh hưởng đến
việc đầu tư vào nguồn nhân lực qua đào tạo, đầu tư cơ sở vật chất và công nghệ phục vụ
kiểm toán, mở thêm chi nhánh…
Về công nghệ tổ chức và quản lý kiểm toán: Một số năm trở lại đây, một số DN đã quan
tâm tới việc gia nhập để trở thành thành viên của các hãng kiểm toán quốc tế với việc tiếp
thu các công nghệ quản lý và kiểm toán tiên tiến từ các nước phát triển. Tuy nhiên, ở đa số
các DN khác, việc đầu tư nâng cao chất lượng quy trình, công nghệ kiểm toán còn chậm,
chưa đồng đều. (bảng 4)
BẢNG 4: 11 công ty là thành viên của các hãng Kiểm toán quốc tế
TT Công ty
1
Công ty Kiểm toán Việt Nam TNHH (VACO)
2
Công ty Dịch vụ Tư vấn TCKT và Kiểm toán
(AASC)
3
Công ty Kiểm toán và Dịch vụ Tin học (AISC)
4
Công ty Cổ phần Kiểm toán và Tư vấn (A&C)
5
Công ty Cổ phần Kiểm toán và Tư vấn TCKT
(AFC)
6
Công ty TNHH Kiểm toán và Dịch vụ Tư vấn Tài
chính Kiểm toán Thuỷ Chung
7
Công ty TNHH Kiểm toán M&H
8
Công ty TNHH Quản trị Tiên Phong
9
Công ty TNHH Kiểm toán DTL
10 Công ty TNHH Kiểm toán U&I
11 Công ty Hợp danh Kiểm toán và Tư vấn STT
Hãng kiểm toán quốc tế
Deloitte Touche Tohmatsu
INPACT International
INPACT Asia Pacific
HLB International
BDO International
Morison International
Heffrey Henry International
ASNAF
Horwarth International
Baker Tilly International
RSM International
Nguồn VACPA
- Năng lực tổ chức và quản trị DN:
Trong sự phát triển vượt bậc về số lượng công ty kiểm toán đã hình thành một đội ngũ
Sinh viên: Nguyễn Thị Hường
Lớp ĐHKế Toán 1-K1
Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
25
Khoa Kinh tế
quản lý chuyên nghiệp, đáp ứng được yêu cầu quản lý, điều hành hiện tại. Trong đó, nhiều
DN kiểm toán đã áp dụng các mô hình quản lý tiên tiến nhằm tinh giản biên chế gián tiếp,
tiết kiệm các chi phí phát sinh trong quản lý điều hành…Tuy nhiên các DN kiểm toán Việt
Nam chủ yếu là các DN nhỏ và vừa nên khả năng áp dụng hệ thống quản lý tiên tiến còn
hạn chế.
Bên cạnh những yếu tố nội tại trong các công ty kiểm toán độc lập Việt Nam, có thể kể đến
những yếu tố bên ngoài có ảnh hưởng gián tiếp đến năng lực cạnh tranh của các công ty
kiểm toán độc lập Việt Nam: môi trường pháp lý, chính sách phát triển hoạt động kiểm
toán độc lập, sự ra đời của Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam.
Trong thời gian qua, Quốc hội và các cán bộ, ngành đã ban hành và hoàn thiện một
cách căn bản hệ thống văn bản pháp luật về kế toán, kiểm toán. Luật Kế toán, các Nghị
định về kiểm toán độc lập, hệ thống chuẩn mực kế toán và kiểm toán… đã hình thành hành
lang pháp lý cho hoạt động kiểm toán ở Việt Nam, đồng thời tạo tiền đề cần thiết cho hội
nhập khu vực và quốc tế trong lĩnh vực kiểm toán.
Chính sách phát triển hoạt động kiểm toán độc lập đã được Chính phủ chỉ đạo nhất
quán với lộ trình cụ thể. Nhờ đó, kiểm toán độc lập ở Việt Nam sớm trở thành một nghề
nghiệp quan trọng và phát triển nhanh, vững chắc trong những năm gần đây. Sự hỗ trợ của
Chính phủ, Bộ Tài chính thể hiện trong việc ban hành các văn bản pháp quy cho hoạt động
kiểm toán, phát triển thị trường kiểm toán và định hướng cho các cơ quan Nhà nước sử
dụng kết quả kiểm toán như một công cụ hữu hiệu trong công tác quản lý.
Ngày 15/4/2005, Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) được thành lập,
tạo ra môi trường để các KTV cùng nhau hợp tác, đào tạo, cập nhật chuyên môn, kiểm soát
chất lượng dịch vụ, đạo đức nghề nghiệp, trao đổi kinh nghiệm, qua đó tăng cường khả
năng cạnh tranh cho các DN kiểm toán Việt Nam khi hội nhập khu vực và quốc tế.
Để nâng cao năng lực cạnh tranh của các công ty kiểm toán Việt Nam (liên quan đến
nhóm các yếu tố ảnh hưởng bên ngoài), chúng tôi cho rằng trong thời gian tới cần tiếp tục
hoàn thiện cơ sở pháp lý về kế toán, kiểm toán và đẩy mạnh vai trò của hội nghề nghiệp
trong việc đào tạo, bồi dưỡng cho KTV và tăng cường kiểm soát chất lượng hành nghề
kiểm toán. Những công việc trước mắt và lâu dài về hoàn thiện cơ sở pháp lý liên quan bao
gồm: hoàn thiện nội dung của các chuẩn mực kế toán kiểm toán đã ban hành: ban hành và
Sinh viên: Nguyễn Thị Hường
Lớp ĐHKế Toán 1-K1