Tải bản đầy đủ (.doc) (23 trang)

Lạm dụng rượu bia gây nhiều tệ nạn xã hội – đề xuất giải pháp

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (658.5 KB, 23 trang )

LẠM DỤNG RƯỢU - BIA GÂY NHIỀU TỆ NẠN XÃ HỘI – ĐỀ
XUẤT GIẢI PHÁP
Đề Tài:
Lạm dụng bia rượu gây nhiều tệ nạn xã hội. Xác lập cơ sở lý luận của
vấn đề, vấn đề này được nêu ra trong lý thuyết như thế nào? Phân tích
nguyên nhân của vấn đề với các số liệu và bằng chứng minh họa. Đề
xuất giải pháp cải thiện vấn đề (mục tiêu của giải pháp).
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
I.

Cơ sở lý luận của vấn đề thảo luận .................................................................2

II.

Mục đích của chủ đề thảo luận ........................................................................6

III.

Nội dung của chủ đề thảo luận ........................................................................6
1.

Cơ chế của sự lạm dụng rượu – bia: ............................................................7

2.

Các kết quả nghiên cứu về việc lạm dụng rượu - bia: ................................8

3.

Dẫn chứng minh họa hậu quả của việc lạm dụng rượu – bia: ...................11



4.

Đề xuất giải pháp cải thiện vấn đề .............................................................12
a.

Mục tiêu của giải pháp: ...........................................................................12

b.

Cách thức thực hiện giải pháp: ...............................................................13

c.

Kế hoạch triển khai giải pháp: ................................................................14

d.

Nguồn lực thực hiện giải pháp: ...............................................................16

e.

Các rào cản khó khăn có thể gặp phải khi thực hiện giải pháp ...............16

KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO

0



LỜI NĨI ĐẦU
Uống nhiều rượu sẽ có hại cho sức khỏe, điều này thì ai ai cũng biết, và
chẳng những gây hại cho bản thân mình, rượu cịn gây tổn hại về nhiều mặt vật
chất, tình cảm với mọi người xung quanh. Ngày nay các nhà khoa học đã tìm ra
nhiều bằng chứng chứng minh rằng nếu uống quá nhiều rượu sẽ tổn hại đến
nhiều cơ quan trong cơ thể con người từ hệ thần kinh, hệ tim mạch, hệ nội tiết,
đặc biệt là hệ tiêu hóa gan mật.
Xuất phát từ thực tế khách quan về tác hại của rượu – bia cũng như việc
nâng cao ý thức con người về tác hại của rượu bia để ngăn chặn những hậu quả
cũng như tệ nạn xã hội do nó gây ra, nhóm chúng tơi đã mạnh dạn chọn chủ đề:
“Lạm dụng rượu - bia gây nhiều tệ nạn xã hội” để làm đề tài thảo luận nhóm.
Qua bài thảo luận, chúng tơi mong sẽ đóng góp một phần nhỏ cơng sức của
mình vào việc hạn chế tác hại, ảnh hưởng của rượu – bia đến xã hội.
I. Cơ sở lý luận của vấn đề thảo luận.
Rượu là các loại đồ uống có chứa cồn được chế biến dưới nhiều dạng
khác nhau như Bia, nước giải khát có gaz, rượu đế, rượu nếp than, rượu thuốc,
các loại rượu đóng chai trong và ngoài nước, … Về mặt khoa học rượu là một
dung dịch gồm nước và cồn (trong đó cồn chiếm từ 1% đến 58% tính theo thể
tích, vì vậy được gọi là rượu từ 10đến 580 ), ngoài các thành phần chính trên
rượu cịn chứa một lượng nhỏ các chất riêng biệt của mỗi nhà sản xuất nhằm tạo
nên mỗi loại rượu một màu sắc, một hương vị đặc thù riêng. Như vậy thành
phần chính và cũng là tác nhân chính gây ra hậu quả tai hại của rượu là cồn
Ethylic. Sau khi uống rượu vào cơ thể, sẽ có hai hiện tượng sinh lý cùng xảy ra
trong cơ thể, đó là sự hấp thụ rượu nhanh chóng vào cơ thể và sự nỗ lực của cơ
thể để đào thải rượu ra bên ngồi.
Tốc độ phân hủy cồn khơng thay đổi trong giới hạn nhất định. Ở phần đông
người châu Âu là khoảng 1 g cồn trên 10 kg cân nặng trong một giờ. Tốc độ
phân hủy cồn không tăng lên vì hay uống rượu. Hiệu ứng quen với cồn thường
1



được nhìn thấy ở những người nghiện rượu khơng do phân hủy cồn nhanh mà là
do hệ thống thần kinh đã quen với lượng chất độc cao hơn.

2


Biểu hiện của cơ thể do nồng độ cồn trong máu
Sau khi uống rượu, cơ thể có những phản ứng qua nhiều giai đoạn tương
ứng với lượng cồn trong máu (Blood alcohol concentration - BAC) như sau:
1. Hưng phấn - BAC: 0,03-0,12%


tự tin hơn, liều lĩnh hơn



khả năng tập trung giảm, thời gian chú ý rút ngắn



mặt có thể đỏ ửng



giảm khả năng phán đốn, nhận xét, thường nghĩ gì nói đó,
thiếu suy xét




gặp khó khăn trong trong các cử động khéo léo như viết, ký

tên...
2. Kích động - BAC: 0,09-0,25%


khó nhận thức hay ghi nhớ vấn đề



phản ứng chậm



dễ mất thăng bằng



giảm sút các khả năng cảm giác như: nhìn mọi vật đều mờ
ảo, nghe, nếm kém...

3. Lúng túng - BAC: 0,18-0,30%


có thể khơng biết mình là ai, đang làm gì



hoa mắt, chóng mặt, đi đứng lảo đảo




có những cảm xúc cực đoan: rất hung hăng hoặc rất nhút
nhát, có khi rất trìu mến...



cảm thấy buồn ngủ



lời nói khơng mạch lạc, câu chữ líu nhíu, giọng nói lè nhè



động tác rời rạc, kết hợp kém, chẳng hạn như chụp một vât
được ném tới một cách rất khó khăn



khó cảm thấy đau đơn hơn so với người bình thường

4. Sững sờ - BAC: 0,25-0,4%


hầu như không thể di chuyển, đi, đứng hay trả lời kích thích
nói chung
3





lúc tỉnh, lúc mê



có khi ói mửa

5. Bất tỉnh - BAC: 0,35-0,50%


Khơng cịn ý thức



Phản ứng của cơ thể giảm mạnh, đồng tử hầu như không
phản ứng với ánh sáng



Hơi thở chậm và yếu



Nhịp tim chậm dần



Có cảm giác lạnh (nhiệt độ cơ thể giảm xuống dưới thân
nhiệt bình thường)


6. Tử vong - BAC: > 0,50%
Tác động tâm lý trực tiếp
Cồn làm giãn các mạch máu, đặc biệt là các mạch máu bên ngồi. Từ đó
mà người ta có cảm giác ấm khi uống các loại thức uống có cồn. Khi đó việc
điều chỉnh nhiệt lượng tự nhiên của cơ thể khơng cịn hiệu lực nữa. Đồng thời
cồn lại có tác dụng gây mê vì thế mà giá lạnh khơng cịn cảm nhận được. Do đó
uống cồn trong mùa đơng có thể dẩn đến lạnh cóng cho đến chết.
Cồn kết hợp cùng với các thuốc uống và các loại chất gây nghiện khác
cũng gây hại mạnh hơn và nhanh hơn là chỉ uống rượu đơn thuần.
Tác động đến bộ não và các tác hại khác
Ngay khi chỉ uống một lượng vừa phải (0,2 phần ngàn (0,2 ‰) cồn trong
máu, tương đương với 0,3 l bia hoặc 100 ml rượu vang), tùy theo cân nặng và
cấu tạo của cơ thể, cồn đã có tác động đến hệ thống thần kinh và đặc biệt là
lên não: góc nhìn bị thu hẹp lại và thời gian phản ứng chậm đi. Các nhà nghiên
cứu của Đại học Stockholm đã tìm thấy rằng uống 50g cồn hằng ngày sẽ để lại
tác hại vĩnh viễn. Ước lượng vào khoảng 100.000 tế bào não sẽ bị giết chết khi
uống một ly bia. Trong một cơn say rượu con số tế bào não chết đi có thể lên
đến 10.000.000.
Cồn cũng ảnh hưởng đến tình dục và khả năng có con. Cồn làm giảm tính
tự kiềm chế và vì thế tăng hưng phấn tình dục. Cồn cịn có các chất có tác dụng
4


độc hại đến tinh hoàn và tinh trùng. Theo các nghiên cứu mới đây của giáo sư E.
Abel (Mỹ), nam giới uống rượu trước khi sinh hoạt tình dục chẳng những làm
tăng khả năng sẩy thai mà cịn có thể ảnh hưởng đến việc phát triển của đứa con
sinh ra. Người mẹ uống rượu trong thời gian mang thai dễ sinh ra các đứa trẻ có
khuyết tật về trí tuệ.
Tác động lớn nhất của các thức uống có cồn là các tác động lên hệ thần

kinh. Với khối lượng từ trên 250 đến 500 ml thức uống có cồn, tùy theo tỷ lệ độ
cồn có trong thức uống, có thể gây các trạng thái như sau:


Mức độ nhẹ (dưới 20% alcol với khối lượng tùy theo trọng lượng

và trạng thái cơ thể): Chất cồn trọng thức uống có thể gây trạng thái bay
bổng. Khi đó, người có trạng thái này khơng thể xác định được nhu cầu của
chính mình, khơng thể biết mình cần gì và khơng cần gì. Thơng thường,
người ta vẫn gọi đây là trạng thái "ngà ngà say".


Mức độ trung bình (từ 20% đến dưới 45% alcol với khối lượng tùy

theo trọng lượng và trạng thái cơ thể): Chất cồn tác động đến các vùng sâu
của hệ thần kinh, gây trạng thái trì trệ ở tồn bộ các thùy quan trọng điều
khiển các giác quan của não. Ở trạng thái "ngất ngây" này, con người mất
khả năng điều khiển lý trí và tình cảm; chỉ cịn lại khả năng tự vận động theo
bản năng. Đây là trạng thái "say".


Mức độ nặng (trên 45% alcol với khối lượng tùy theo trọng lượng

và trạng thái cơ thể): Cơ thể hoàn toàn mất điều khiển tại tất cả các tuyến
thần kinh ngoại biên, mất cảm giác không gian và thời gian, mất ý thức; thậm
chí rơi vào hơn mê. Đây là trạng thái "quá say" khi uống rượu.
Các tác dụng tốt có thể có cho sức khỏe
Người ta vẫn cịn tranh luận gay gắt về việc các loại thức uống có cồn có
tác dụng tốt đến sức khỏe. Nhiều tác dụng tốt trước mắt bị triệt tiêu đi vì các tác
hại khác, như nguy cơ bị ung thư tăng lên khi uống rượu đều đặn mặc dầu chỉ ở

lượng nhỏ, điều này đã được khẳng định bởi những nghiên cứu khoa học.
Xuất phát từ một số nghiên cứu có thể nói là dùng một lượng rất ít một số
thức uống có cồn nhất định, đặc biệt là rượu vang đỏ (vào khoảng 1-2 ly một
5


ngày), qua một thời gian dài có thể bảo vệ chống lại bệnh về động mạch vành
của tim. Ngoài ra uống cho đến 20-40g ở phái nam hoặc đến 10-20 g ở phái nữ
cũng có thể làm tăng tuổi thọ.
Ở trên mức độ này các tác dụng tốt sẽ bị quay ngược lại. Nguyên nhân của
các tác động này không phải chính từ cồn mà là từ những chất hịa tan theo có
trong rượu vang và bia vì cồn là một dung mơi tốt (theo lý thuyết dung mơi). Vì
thế mà rượu mạnh như rượu đế và đa số các rượu mùi khơng có các tác dụng
tương tự.
Ở Việt Nam, khi đời sống ngày một nâng cao thì xu hướng sử dụng rượu,
bia trở nên tràn lan, gây hậu quả nghiêm trọng. Bình qn cả nước mỗi ngày có
40 người chết thì trong đó khơng ít người có ngun nhân là do rượu, bia và tình
trạng bạo lực cũng bắt nguồn từ đây. Rượu, bia là chất gây nghiện và có thể trở
thành quốc nạn với nhiều vấn đề xã hội như tai nạn giao thông, hỏa hoạn, bạo
lực, giết người và tự tử, gây rối trật tự xã hội: tan vỡ gia đình, lơ là cơng việc...
Những năm trước, ở Việt Nam cũng có các chính sách phịng ngừa lạm dụng
rượu bia nhưng vì nhiều lý do nên thực thi của các chính sách tác động đến sản
xuất và kinh doanh rượu, bia khơng cao.
II. Mục đích của chủ đề thảo luận
- Nghiên cứu tình hình lạm dụng rượu – bia ở Việt Nam, thu thập các
dẫn chứng về tác hại của việc lạm dụng bia rượu, các tệ nạn kéo theo
khi sử dụng rượu – bia quá mức.
- Đánh giá thực trạng của việc lạm dụng rượu – bia, phân tích các
ngun nhân gây ra tình trạng đó để từ đó có biện pháp khắc phục.
- Trên cơ sở lý luận, đề xuất một số biện pháp chủ yếu để hạn chế việc

lạm dụng rượu – bia, phòng chống các tệ nạn xã hội lien quan đến
rượu bia.
III. Nội dung của chủ đề thảo luận
Các nhà khoa học đã bắt tay vào nghiên cứu một cách hệ thống tác hại của
rượu đối với cơ thể. Ðến nay, những ai có kiến thức tối thiểu về y học đều biết
6


rượu, dù uống ít hay nhiều, cũng là chất độc có khả năng phá hoại hầu hết các cơ
quan trong cơ thể. Nguy hiểm hơn, mức độ phá hoại của rượu thuộc loại ngấm
ngầm, nó khơng làm người dùng chết tức khắc (ngoại trừ ngộ độc rượu cấp nặng
hoặc say xỉn gây tai nạn giao thông) mà chỉ gậm nhấm sức khỏe dần dần để đến
lúc nào đó khơng cịn khả năng chữa trị được nữa. Tác hại của rượu ảnh hưởng
trực tiếp đến hệ thần kinh trung ương, tức bộ não của ta. Vì thế khơng có gì lạ
khi các nhà y học xếp người nghiện rượu vào nhóm "bệnh tâm thần".
Các nhà y học cũng xếp nghiện rượu ngang hàng với tệ nạn nghiện ma
túy. Những người đang tập tễnh uống rượu cần biết rằng chỉ sau vài lần uống
rượu đã có thể làm thay đổi chuyển hóa cơ bản một số tế bào não ở những vùng
não điều khiển nhân cách, nhận thức, phán đốn, ngơn ngữ, thị giác v.v... Những
tế bào não này sau đó sẽ hoạt động một cách bất thường, tức là có rượu thì mới
hoạt động và hoạt động theo tác dụng của rượu. Ðó chính là căn ngun của sự
nghiện rượu. Như vậy người nghiện rượu là người có tế bào não đã bị lệ thuộc
vào rượu. Người "nát rượu" là người đột nhiên ngừng uống rượu sẽ bị hội chứng
trầm trọng như người nghiện ma túy bị hội chứng cai thuốc (withdrawal
syndrome). Họ vật vã đau đớn, run rẩy, ảo giác, trầm trọng hơn cả là bị chứng
sảng giật cấp (delirium tremens). Tuy nhiên họ thường khơng nhận thức được
rằng mình đang vướng vào một bệnh tâm thần rất khó chịu, bởi vì người mắc
bệnh tâm thần nghiện rượu ít khi chịu hợp tác với thầy thuốc để chữa trị.
Chỉ gần đây, tệ nạn xảy ra do rượu mới được nhiều người thừa nhận là
một vấn đề xã hội đáng quan tâm. Rõ ràng tác hại của rượu không chỉ khu trú ở

chỗ tàn phá cơ thể và tinh thần người uống, nó cịn gây biết bao hậu quả khác
cho xã hội: tội ác, tai nạn giao thông, thiệt hại về tiền của và sức lao động, tổn
thất về đạo đức và cả nịi giống mai sau... Báo chí đã đăng tải khơng ít thơng tin
về những vụ giết người dã man, những vụ tai nạn giao thông thảm khốc, những
vụ hiếp dâm mất hết tính người mà thủ phạm là kẻ uống rượu và say rượu.
Chính vì thế mà cơng luận xã hội ngày càng quan tâm và đòi hỏi có các biện
pháp tích cực hơn để giải quyết tệ nạn này.
1.

Cơ chế của sự lạm dụng rượu – bia:
7


Rượu khơng phải là chất kích thích như nhiều người lầm tưởng mà có tác
dụng như thuốc gây mê. Nó làm cơ thể bị ức chế như khi hít phải ether gây mê ở
liều nhỏ. Khi rượu được hấp thu vào cơ thể, tác động ức chế đầu tiên được biểu
lộ ở vùng phía trước bộ não. Ðó là nơi tập trung các tế bào não chịu trách nhiệm
về chức năng phán đoán, ý thức tự chủ, sự kiềm chế về mặt đạo đức. Chính do
vùng này bị ức chế mà người uống rượu sẽ hnh hoang nói nhiều, khơng cịn
giữ gìn ý tứ trong cử chỉ lời nói, dám làm những hành động mà bình thường
lịng tự trọng khơng cho phép. Kế đến, nếu tiếp tục uống rượu, những vùng não
chịu trách nhiệm về ngôn ngữ, về sự điều khiển phối hợp các cử động, về thị
giác cũng bị ức chế. Khi ấy, sẽ đi đứng ngả nghiêng, nói năng lộn xộn, thấy trời
đất quay cuồng, nếu lái xe chắc chắn sẽ gây tai nạn. Nếu vẫn tiếp tục uống, nồng
độ rượu trong máu tăng lên đến ngưỡng ngộ độc, các vùng não khác sẽ bị ức
chế, trong đó, có vùng não chịu trách nhiệm về hơ hấp và các phản xạ duy trì sự
sống. Lúc này, hơi thở của người uống rượu chậm dần rồi ngưng hẳn, dẫn đến tử
vong.
Các nhà nghiên cứu y học nhận thấy nếu các tác động ức chế của rượu
như đã trình bày nếu cứ lặp đi lặp lại nhiều lần (tức người uống rượu cứ uống

liên tục, thường xuyên), sẽ có sự thay thay đổi về chuyển hóa cơ bản (basal
metabolism) của các tế bào não. Hiện nay, người ta đã biết rõ sự thay đổi chuyển
hóa cơ bản như thế nào ở mức độ sinh học phân tử. Các tế bào não sau đó sẽ lệ
thuộc vào rượu, nó chỉ hoạt động khi có rượu thấm vào não và hoạt động bất
thường theo tác dụng của rượu. Đó chính là cơ chế của sự lạm dụng rượu. Người
nghiện thấy cần phải uống để có những hiệu ứng ức chế đã kể trên mới cảm thấy
dễ chịu (chính các hiệu ứng ấy có khi là yếu tố dẫn đến tội ác).
2.

Các kết quả nghiên cứu về việc lạm dụng rượu - bia:
Sáng 15/11/2012 tại Hà Nội, đã diễn ra Hội thảo “Nâng cao hiệu quả cơng

tác phịng chống và kiểm sốt người điều khiển phương tiện cơ giới đường bộ
uống rượu, bia” do Ủy ban An tồn giao thơng Quốc gia phối hợp với hiệp hội
An tồn giao thơng đường bộ tồn cầu (GRSP), Tổ chức Y tế Thế giới (WHO)
và Cục Cảnh sát giao thông Đường bộ – Đường sắt tổ chức. Phát biểu trong hội
8


thảo, Phó chủ nhiệm Ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội, ông Nguyễn Văn
Tiên cho rằng: Tại các nước Thái Lan; Indonesia; Srilanka, rượu là nguyên nhân
ảnh hưởng đến sức khỏe đứng thứ 3 sau thuốc lá và cao huyết áp. Còn tại các
nước như Việt Nam; Trung Quốc; Lào… rượu là nguy cơ hàng đầu đối với sức
khỏe người dân.

Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO) rượu, bia đứng thứ 3 về nguy cơ
ảnh hưởng tới sức khỏe con người.
Phó chủ nhiệm Ủy ban về các vấn đề xã hội Nguyễn Văn Tiên: Sản xuất
rượu bia ở Việt Nam ngày càng tăng, ước tính 15%/năm; gần 500 cơ sở sản xuất
bia (chủ yếu là nhỏ lẻ). Sản lượng bia chiếm 2,5 tỉ lít/năm, dự kiến có thể tăng

lên 4 tỉ lít vào năm 2015. Ơng Tiên phân tích: Có khoảng 350 triệu lít bia được
sản xuất trong một năm, trong đó có hơn 1/3 sản xuất từ nhà máy; 2/3 từ các hộ
gia đình. Năm 2006, tỉ lệ bình qn uống bia là 18 lít/người. Đến năm 2010, đã
tăng nhanh lên 29 lít/người.

9


Bảng so sánh lượng tiêu thụ rượu bia của Việt Nam và một số nước.
3.

Dẫn chứng minh họa hậu quả của việc lạm dụng rượu – bia:
Khi tham gia giao thông:
Rượu bia không chỉ ảnh hưởng tới sức khỏe mà cịn là một trong những

ngun nhân chính gây ra rất nhiều những vụ tai nạn giao thơng đau lịng... Theo
báo cáo của Bộ Công an trước kỳ họp Quốc hội vừa qua, có tới 43% vụ tai nạn
giao thơng có chủ phương tiện uống rượu bia... Điều đáng nói là người lái xe
uống rượu bia không chỉ gây tai nạn cho mình mà cịn “cướp” đi sinh mạng của
rất nhiều người khác, gây tổn thất nặng nề cho gia đình và xã hội. Tình trạng này
diễn ra hàng ngày và đang có dấu hiệu gia tăng ở khắp các địa phương trong cả
nước, từ thành phố đến nông thôn, miền núi.
Thực tế, mỗi ngày, TNGT (tai nạn giao thông) do người điều khiển
phương tiện say rượu, bia gây ra rất nhiều và nghiêm trọng. Đặc điểm của người
điều khiển phương tiện sau khi uống rượu, bia thường là chạy tốc độ cao, lạng
lách, không làm chủ được tay lái, phán đốn và xử lý tình huống kém. Do đó,
say rượu bia thường có liên quan mật thiết với việc vi phạm tốc độ, tránh, vượt
sai quy định, đi sai phần đường...

10



Bệnh viện Việt Đức mỗi năm tiếp nhận 20.000 ca cấp cứu vì tai nạn giao
thơng, trong đó gần 50% bệnh nhân uống bia rượu

Vụ "xe điên" càn quét 3 xe gắn máy trên

Vụ tai nạn trên đường Nguyễn Sỹ

cầu Nguyễn Văn Trỗi, TP.Đà Nẵng tối

Sách, TP Vinh do nguyên nhân là do

25.7 do tài xế nhậu say
người điều khiển uống bia, rượu
Theo khảo sát tại bệnh viện Việt Đức và Bệnh viện Xanh Pôn, đa số các
trường hợp người có nồng độ cồn vượt mức cho phép bị tai nạn giao thông nặng,
sau cấp cứu thường phải “sống thực vật” hoặc bị tổn thương sọ não.
Cục Cảnh sát giao thông Đường bộ, đường sắt cho biết: Riêng trong tháng
ATGT (tháng 9/2010) cả nước xảy ra trên 100 vụ tai nạn giao thơng có ngun
nhận trực tiếp liên quan đến rượu, bia. Lực lượng chức năng đã xử lý gần 250
11


trường hợp lái xe ôtô và gần 1.500 trường hợp lái xe gắn máy vi phạm quy định
về sử dụng rượu bia quá nồng độ cồn.
Bà Nguyễn Thị Xuyên, Thứ trưởng Bộ Y tế cho biết: rượu, bia đứng thứ
5 trong số 10 nguyên nhân gây tử vong cao nhất trên tồn cầu. Chi phí dành cho
rượu, bia đã tạo gánh nặng cho nền kinh tế, nhất là các nước đang phát triển.
Ước tính, chi phí cho rượu, bia và giải quyết hậu quả tác hại của rượu, bia chiếm

2 - 8% GDP quốc gia.
Theo một công bố tại hội thảo liên quan đến an tồn giao thơng do
UBATGTQG tổ chức cuối năm 2011, tại Việt Nam, 60% bạo lực gia đình xuất
phát từ say rượu, ngộ độc rượu bia, chiếm gần 22% các loại ngộ độc; 7%
số bệnh nhân tâm thần xuất phát từ rượu bia... Bạo lực gia đình do các ơng
chồng nghiện bia rượu ngày càng nghiêm trọng, tội ác giết người cũng có từ
nguyên nhân này. Nhiều gia đình tan nát, nhiều ơng chồng phải vào tù vì bia
rượu. Ngồi ra, các vụ án đâm chém, giết người do say xỉn thường xảy ra.
Trong hàng quán, trên đường phố, các "đệ tử Lưu Linh" sẵn sàng gây sự hành
hung người khác, hoặc chém giết nhau chỉ vì lên cơn say khơng kiểm sốt được
hành vi. Ở các tịa án, khơng ít các vụ án hình sự mà bị cáo gây án mạng hoặc có
hành vi phạm tội khác do bia rượu.

Chỉ tính các tệ nạn và tai nạn do bia rượu, có thể thấy thiệt hại xã hội vô
cùng lớn, mà các nguồn thu từ sản xuất - kinh doanh bia rượu không thể bù đắp
được. Rượu bia cũng tác động tiêu cực đến chất lượng hoạt động của các cơ
quan, cơng sở.
Tình trạng cán bộ, công chức bỏ việc đi ăn nhậu hoặc uống bia rượu buổi
trưa làm ảnh hưởng đến công việc đã từng được nêu ra. Có địa phương ban hành
12


chỉ thị cấm cán bộ công chức ăn nhậu vào ban trưa, nhưng ai cấm cứ cấm, ai
uống cứ uống. Để hạn chế các hậu quả do bia rượu, cần phải có những biện pháp
quyết liệt, trong đó có vai trò của pháp luật.

Theo thống kê của Euromonitor International, tiêu thụ bia ít nhất trong
khu vực là Myanmar, chỉ có 30,4 triệu lít. Tổng lượng tiêu thụ bia của các nước
xếp ở vị trí 4 - 9 trong khu vực gồm Myanmar, Singapore, Lào, Campuchia,
Malaysia và Indonesia chỉ bằng một nửa so với nước đứng thứ 3 là Philippines

với hơn 1,6 tỷ lít. Trước đó, năm 2010, Cơng ty nghiên cứu thị trường
Euromonitor International đã đánh giá thị trường bia Việt Nam sẽ tiếp tục tăng
trưởng với tốc độ cao. Năm 2009, Việt Nam tiêu thụ 1,6 tỷ lít bia, tăng tới 56%
so với năm 2004.

4.

Đề xuất giải pháp cải thiện vấn đề
13


a.

Mục tiêu của giải pháp:

- Giải pháp đưa ra nhằm cải thiện tình hình lạm dụng rượu bia tại Việt
Nam, góp phần phịng chống các tệ nạn xã hội trong lĩnh vực đời
sống..
- Phân tích các nguyên nhân gây ra thực trạng lạm dụng bia rượu, tác hại
của việc lạm dụng bia rượu.
- Trên cơ sở lý luận phân tích đề ra một số giải pháp chủ yếu để hạn chế
vấn đề lạm dụng bia rượu.
b.

Cách thức thực hiện giải pháp:

Nhằm phịng chống tình trạng lạm dụng bia rượu đang diễn ra ngày càng
phổ biến, Bộ Y tế cần phối kết hợp với các Bộ ngành liên quan xây dựng dự
thảo Chính sách quốc gia Phịng chống tác hại của bia rượu giai đoạn 2007 2015. Mục tiêu của chính sách này là nâng cao nhận thức của người dân về tác
hại của bia rượu đến sức khoẻ con người và kinh tế xã hội; tạo mơi trường

khơng khuyến khích hay ép buộc uống bia rượu, đặc biệt là nhóm tuổi trẻ,
những nhóm người có nguy cơ lạm dụng và trở thành nghiện hoặc mắc các bệnh
do bia rượu gây ra. Từ đó, thay đổi hành vi và tham gia vào các hoạt động làm
giảm tác hại của rượu bia.
Kiểm soát việc sản xuất kinh doanh rượu giả, rượu nhập lậu. Bên cạnh đó,
mục tiêu giảm tỷ lệ tử vong, mắc bệnh, tai nạn thương tích và những tổn thất
kinh tế xã hội khác đối với cá nhân, gia đình và cộng đồng liên quan đến rượu
bia.
Tăng cường phòng, chống và kiểm soát người điều khiển phương tiện cơ
giới đường bộ sử dụng rượu, bia. Các cơ quan thông tin, báo chí, các tổ chức
đồn thể ở cơ sở cần tuyên truyền mạnh mẽ và thường xuyên tác hại của lạm
dụng rượu, bia đối với sức khỏe và trật tự an toàn xã hội, nguy cơ gây tai nạn do
lái xe uống rượu, bia; hậu quả tai nạn giao thông nguyên nhân từ rượu, bia; các
quy định của pháp luật về xử phạt đối với người lái xe uống rượu, bia. Thủ
trưởng các cơ quan nhà nước, các tổ chức đồn thể, doanh nghiệp u cầu cán
bộ, cơng chức, viên chức, đồn viên, hội viên, nhân dân gương mẫu khơng uống
14


rượu, bia trước khi lái xe; đồng thời ban hành quy định của cơ quan, đơn vị về
không uống rượu, bia trong giờ làm việc, giờ nghỉ trưa; xử lý nghiêm người vi
phạm, không phân biệt là cán bộ hay nhân viên.
Chính sách quốc gia để giảm cầu rượu, bia đó là cần phải có những quy
định về giá, thu thuế và các loại thuế thu riêng. Mặc dù rượu, bia là chất gây
nghiện, nhưng nhiều nghiên cứu cho thấy, mức tiêu thụ rượu bia sẽ giảm khi
tăng giá mặt hàng này và ngồi ra nó cịn tăng thu cho ngân sách Nhà nước.
Giải pháp tiếp theo nữa là giảm nguồn cung cấp rượu, bia đó là: Tăng vai
trị của Nhà nước trong sản xuất và kinh doanh rượu bia; Những quy định về
những điểm cấm/hạn chế bán bia rượu; Giải quyết vấn đề về sử dụng rượu bia
ngoài độ tuổi cho phép…

Sử dụng thuế thu riêng chi cho mục đích y tế và sức khỏe. Việc triển khai
giải pháp này đã làm giảm mức tiêu thụ rượu, bia và các tác hại có liên quan.
Đến nay, đã có 9 chính sách quốc gia về kiểm sốt rượu, bia như: cấm bán cho
người dưới 18 tuổi; cấm bán trong trường học; tăng thuế hàng hóa; đạo luật về
kiểm sốt rượu bia…
c.

Kế hoạch triển khai giải pháp

Giải pháp này cần đươc triển khai thực hiện trên tất cả các mặt của đời
sống, nhưng chú trọng nhất vào các vấn đề sau:
Chính sách đối với lĩnh vực sản xuất lưu thông
Các cơ quan quản lý và cơ quan chức năng cần:
- Quản lý và kiểm soát chặt chẽ đối với sản xuất và lưu thông mặt hàng
rượu nấu thủ công. Hướng dẫn tiêu chuẩn và chất lượng rượu cho các
cơ sở sản xuất trên để sản xuất rượu đúng quy trình.
- Quy định chế tài giám sát về cấm bán rượu bia tại những địa điểm theo
quy định, cấm bán rượu bia cho trẻ em. Bổ sung thêm quy định về giờ
được phép bán rượu trong ngày, chống nhập rượu lậu, rượu giả không
đúng chất lượng. Xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm, có biện pháp
răn đe.
15


- Cấm không được quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại và tài trợ đối với các
loại rượu bia, cần xây dựng các chương trình quảng cáo có nội dung về
tác hại của rượu bia đối với đời sống, gây ra các tệ nạn xã hội. Thêm
vào đó, trên mác nhãn của các loại rượu bia cần ghi rõ tác hại của lạm
dụng rượu bia, các điều cần tránh khi uống rượu bia.
- Đánh thuế tiêu thụ đặc biệt với thuế suất cao vào các mặt hàng rượu

bia hoặc các chất có nồng độ cồn vượt quá mức cho phép để hạn chế
tốc độ tiêu thụ.
Chính sách đối với người sử dụng:
- Hạn chế lạm dụng rượu bia với một số nhóm có nguy cơ cao: cán bộ
viên chức, doanh nhân, phụ nữ có thai, nam nơng dân, nam ngư dân,
dân tộc thiểu số...
- Điều chỉnh quy định về kiểm tra nồng độ cồn trong máu và trong hơi
thở của người tham gia giao thông sao cho linh hoạt và áp dụng khả thi
hơn trong thực tế. Công bố định mức nồng độ cồn khi tham gia giao
thông, khi thi hành nhiệm vụ,…. Tuy nhiên, để thực hiện hiệu quả điều
này, lực lượng cảnh sát giao thông cần được trang bị thiết bị đo nồng
độ cồn bảo đảm đạt tiêu chuẩn. Hiện nay, Nhà nước ta đã có chế tài xử
phạt đối với người tham gia giao thông khi sử dụng rượu, bia nhưng để
tăng tính răn đe, giáo dục thì các cấp chính quyền cũng cần kiến nghị,
đề xuất tăng chế tài xử phạt vi phạm hành chính. Ở một số nước phát
triển nếu người tham gia giao thơng có sử dụng rượu, bia thì sẽ bị phạt
tiền nặng hoặc tước giấy phép lái xe vĩnh viễn, thậm chí cịn bị khởi tố
truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những trường hợp gây TNGT khi
nồng độ cồn trong máu hoặc trong hơi thở vượt quá mức cho phép.

16


- Trong khi ý thức của người dân còn hạn chế thì việc tăng cường các
biện pháp cưỡng chế là một trong những yếu tố quan trọng góp phần
giảm thiểu tai nạn giao thông do rượu, bia. Các ngành chức năng cần
có quy định cấm và có chế tài đủ mạnh để xử lý đối với việc bán rượu,
bia tại các điểm bến xe, trạm dừng nghỉ, các điểm vui chơi cho trẻ em;
nghiên cứu và xây dựng quy định bắt buộc cơ sở sản xuất rượu, bia,
các nhà hàng sử dụng, tiêu thụ rượu, bia phải khuyến cáo trên các chai

rượu, bia…
- Tăng cường giáo dục truyền thông về tác hại của rượu bia trên các
phương tiện thông tin đại chúng, kết hợp với việc phát động phong trào
toàn dân hưởng ứng phòng chống lạm dụng rượu bia với nhiều hoạt
động cụ thể lồng ghép trong các tiêu chí Làng văn hoá, cơ quan văn
hoá...
- Thiết lập mạng lưới giám sát, theo dõi tình hình sử dụng rượu và lạm
dụng rượu bia tại cộng đồng với sự tham gia của đội ngũ nhân viên y
tế thôn bản, trên cơ sở đó hình thành và duy trì hoạt động của mạng
lưới tư vấn phòng ngừa và giảm thiểu tác hại của lạm dụng rượu bia tại
cộng đồng…
- Xây dựng các chính sách nhằm hỗ trợ, tạo điều kiện cho nạn nhân lạm
dụng rượu bia dễ dàng tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ.
d.

Nguồn lực thực hiện giải pháp:

- Các cán bộ thuộc ban ngành an toàn giao thông.
- Lực lượng cảnh sát giao thông.
- Cán bộ y tế.
- Các đơn vị, tổ chức truyển thông.
- Các tổ chức chính trị xã hội.
e.

Các rào cản khó khăn có thể gặp phải khi thực hiện giải pháp

17


Ở Việt nam, việc thực hiện các giải pháp phòng chống việc lạm dụng bia

rượu đó là vấn đề cực khó. Bởi trên thực tế, khơng có thơn làng nào khơng có
nhà nấu rượu, mà kỳ cục là khơng có bất kỳ sự kiểm soát nào, dù người ta nấu
bằng ngơ, sắn, gạo... thậm chí cho cả phân đạm vào. Từ trước đến nay mới chỉ
có hai nơi là Viện Sức khỏe tâm thần và Viện Chiến lược tìm hiểu và đánh động
về vấn đề này.
Lạm dụng rượu chủ yếu xuất hiện trong nhóm nơng dân, người lao động,
90% trong số họ sử dụng rượu tự nấu có nồng độ cồn cao, lý do là giá rẻ, nơi
nào cũng có bán. Song điều đáng lo ngại là chất lượng loại rượu này khơng đảm
bảo, cịn lưu nhiều độc tố, tạp chất, tác động xấu tới hệ tiêu hóa, hệ tuần hồn và
thần kinh người sử dụng. Cịn bia thì phần lớn đối tượng sử dụng là dân ở những
khu thị tứ. Những người dân không hề quan tâm đến chất lượng rượu ra sao, các
nguy hại khi uống rượu.
Việt Nam đang tồn tại nhiều khoảng trống trong các chính sách liên quan
đến việc chống tác hại rượu, bia. Cụ thể là hiệu lực thực thi của các chính sách
tác động đến sản xuất và kinh doanh rượu, bia rất thấp. Việt Nam chưa có quy
định phù hợp trong quảng cáo, khuyến mãi và đưa hình ảnh sử dụng rượu, bia
trên các phương tiện truyền thông. Hiện chúng ta cũng chưa có chính sách
truyền thơng giáo dục về tác hại của rượu, bia hay chính sách hỗ trợ khám chữa
cho nạn nhân của việc lạm dụng rượu, bia.
Tết nguyên đán là tiết lễ đầu tiên trong năm, mở đầu cho một năm mới với
bao niềm tin và hy vọng về những thay đổi tốt lành. Sau một năm tảo tần, vất vả
làm ăn, “năm hết Tết đến” là dịp để mọi người nghỉ ngơi và sum họp. Tết là một
sinh hoạt văn hóa với nhiều ý nghĩa vơ cùng thiêng liêng và cao quý. Rượu bia
là những “chất xúc tác” giúp khơng khí Tết thêm vui vẻ và đầm ấm. Tuy nhiên,
nó cũng gây nên những rắc rối khơng nhỏ, thậm chí ảnh hưởng đến sức khỏe,
tính mạng của người sử dụng.
Mỗi dịp Tết, các bệnh viện lại phải tiếp nhận nhiều hơn các ca ngộ độc do
uống quá nhiều rượu hoặc uống phải rượu giả, rượu kém chất lượng. Rượu bia
cũng là nguyên nhân của rất nhiều cuộc cãi vã, xơ xát, thậm chí là gây án mạng.
18



Uống rượu bia điều khiển phương tiện giao thông, bạn cũng dễ gây tai nạn, hoặc
nhẹ hơn thì bị xử phạt vì vi phạm luật giao thơng. Về lâu dài, rượu là thủ phạm
của rất nhiều bệnh của hệ thần kinh, hệ tim mạch, các bệnh nan y như ung thư
dạ dày, ung thư gan…
Tuy nhiên, vào dịp lế đầu xuân này, các biện pháp hạn chế việc lạm dụng
rượu bia hầu như khơng có hiệu lực. Bởi vì quanh năm suốt tháng người dân
mới có những ngày thảnh thơi, họ khơng thể từ bỏ được thói quen liên hoan, tổ
chức ăn mừng năm cũ đã quan, đón chào năm mới. Vì vậy, nên hạn chế lượng
chất cồn được đưa vào cơ thể, đừng biến những ngày Tết thành ngày u ám của
cả gia đình.

Điều nguy hiểm nhất là vấn đề lạm dụng bia rượu gần như không được
quan tâm, xã hội thì thờ ơ, coi đó là chuyện bình thường. Ngay tại các công sở,
chuyện rượu bia trong bữa trưa cũng gần như là chuyện bình thường. Vì vậy
việc thực hiện giải pháp muốn có hiệu quả cao cần kiên trì thay đổi trong thời
gian dài

19


KẾT LUẬN
Sử dụng rượu bia là một thói quen mang đậm nét văn hoá truyền thống tại
nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam. Sử dụng rượu bia với mức độ hợp lý có
thể đem lại cho con người cảm giác hưng phấn, khoan khối, lưu thơng huyết
mạch… Song rượu bia lại là chất kích thích, gây nghiện vì vậy người sử dụng
rất dễ bị lệ thuộc với mức độ dung nạp ngày càng nhiều dẫn đến tình trạng lạm
dụng rượu bia. Lạm dụng rượu bia gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng cho sức
khoẻ cộng đồng và xã hội.

Ở nước ta, quá trình đổi mới và phát triển nền kinh tế trong những năm
qua đã giúp cho đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao. Xu hướng sử dụng
rượu bia trong sinh hoạt hàng ngày, trong những dịp lễ, hội, trong quan hệ công
việc… đang ngày càng gia tăng. Tình trạng sử dụng rượu bia tràn lan ở một số
nơi đã làm cho trật tự an toàn xã hội, an tồn giao thơng trở thành những vấn đề
đáng báo động.
Bài tập môn quản trị hành vi tổ chức đã giúp chúng tơi có hệ thống,
phương pháp luận khi nghiên cứu một vấn đề, biết cách khai thác khía cạnh của
một vấn đề của cuộc sống, trang bị cho chúng tôi thêm kiến thức để làm kinh
nghiệm cho sau này.
Trong bài thảo luận này, nhóm chúng tơi đã nghiên cứu thực trạng của
việc lạm dụng rượu, bia gây ra các tệ nạn xã hội hiện nay, các nguyên nhân
chính gây ra vấn đề trên, phân tích tác hại của rượu bia. Qua đó, đề xuất giải
pháp nhằm hạn chế việc lạm dụng rượu bia trong xã hội.
Qua bài nghiên cứu, chúng tơi rất mong đóng góp một phần nhỏ cơng sức
của mình vào việc phịng chống các tệ nạn xã hội, nhằm xây dựng một xã hội
văn minh, lành mạnh, phát triển, phù hợp với xu hướng tiến bộ của thời đại.

20


21


TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1].

Rượu và các vấn đề liên quan đến rượu, Nhà xuất bản trẻ, Dương
Ngọc Hân, Năm 2007.


[2].

Chuyên mục “Những con điều đáng báo động ở Việt Nam”, trích dẫn
từ Tạp trí văn hóa Số 215, ngày 15/10/2012

[3].

Chun mục “Vì sao tệ nạn xã hội tăng”, Trích dẫn Báo An Ninh Hải
Phòng, Số 234, ngày 21/11/2012

[4].

Chuyên mục “Những bệnh thường gặp liên quan đến rượu – bia”,
trích dẫn từ Báo sức khỏe và đời sống.

[5].

Những quy định khi người điều khiển tham gia giao thơng, trích dẫn
từ website

[6].

Website

[7].

Website

[8].


Các tài liệu tham khảo khác.

22



×