Tải bản đầy đủ (.docx) (15 trang)

PHÂN LOẠI PHÁN đoán đơn TRONG LOGIC HÌNH THỨC

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (172.86 KB, 15 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LOGIC HỌC

Tiểu luận của nhóm 9
PHÂN LOẠI PHÁN ĐOÁN ĐƠN

Giáo viên hướng dẫn: Nguyễn Văn Đức

1


MỤC LỤC
PHẦN 1.MỞ ĐẦU....................................................................................................................................1
1.1 Đặt vấn đề.......................................................................................................................................1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu......................................................................................................................1
PHẦN 2.KIẾN THỨC CƠ BẢN.............................................................................................................2
2.1Khái niệm.........................................................................................................................................2
2.2 Cấu tạo phán đoán đơn.................................................................................................................2
2.3 Phân loại phán đoán đơn...............................................................................................................7
PHẦN 3 KIẾN THỨC VẬN DỤNG.......................................................................................................8
3.1 Một số ví dụ phán đoán đơn.........................................................................................................8
PHẦN 4 KẾT LUẬN..............................................................................................................................11

2


Phần 1: Mở đầu
1.1.Đặt vấn đề:
Trong đời sống ngày nay,mọi hoạt động của con người từ đơn giản đến phức tạp


đều thông qua tư duy. Cùng với sự phát triển của thực tiễn và nhận thức , con người
càng ngày có sự hiểu biết đầy đủ hơn,sâu sắc hơn, chính xác hơn về bản thân tư
duy đang nhận thức.
Về tư duy , chúng ta phải biết đến những hình thức cơ bản của nó, bao gồm:khái
niệm , phán đoán , suy luận,chứng minh,bác bỏ,ngụy biện.Mỗi hình thức đều mang
một vai trò quan trọng, trong đó phán đoán là hình thức rất quan trọng trong tư duy.
Phán đoán là hình thức cơ bản của tư duy (tư duy trừu tượng) , thông qua đó người
ta khẳng định hoặc phủ định những thuộc tính, tính chất, mối quan hệ nào đó của
đối tượng.Và trong phán đoán nó được chia ra 2 loại: theo độ phức hợp và theo
thông tin chứa trong phán đoán. Theo độ phức hợp, phán đoán tiếp tục được chia ra
thành :phán đoán đơn,phán đoán phức.
Phán đoán đơn là phán đoán được tạo thành mối liên hệ giữa hai khái niệm hoặc
giữa khái niệm với một thuộc tính. Là một trong những công trình nghiên cứu của
nhà triết học cổ Hy Lạp Aristote từ thế kỉ thứ IV trước công nguyên.Thế nhưng,
đến ngày nay nó vẫn đóng vai trò quan trọng trong tư duy,trong đời sống hằng
ngày.
Như phân tích ở trên và mục đích tìm hiểu kĩ hơn về phán đoán đơn nên nhóm đã
chọn đề tài :”Phân loại phoán đoán đơn”

1.2.Mục tiêu nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu sẽ làm rõ các vấn đề sau:
-Định nghĩa và các thành phần cấu tạo phán đoán đơn.
-Phân loại và vai trò phán đoán đơn.
-Phân tích những ví dụ phán đoán đơn.

1


Phần 2:Kiến thức cơ bản
2.1 Khái niệm:Phán đoán là một khái niệm cơ bản của logic học. Phán đoán

được biểu đạt dưới dạng ngôn ngữ thành một câu (hay mệnh đề) phản ánh đúng hay
sai thực tế khách quan.
Liên từ logic là phụ từ “không” và các liên từ (và, hoặc, nếu…thì…).
Như vậy, phán đoán đơn là phán đoán không chứa liên từ logic nào.

2.2 Cấu tạo của phán đoán đơn
Cấu tạo của phán đoán đơn gồm 4 bộ phận:
 Chủ từ. là bộ phận chỉ đối tượng hay lớp đối tượng mà phán đoán phản ánh.
Ký hiệu bằng chữ S (xuất phát từ “Subjectum”).
 Vị từ: là bộ phân chỉ nội dung (thuộc tính) mà phán đoán phản ánh. Ký hiệu
bằng chữ P (xuất phát từ “Pracdicatum”).
Chủ từ và vị từ trong phán đoán đơn được gọi chung là “thuật ngữ”.
 Lượng từ. là bộ phận dùng để chỉ số lượng các đối tượng thuôc ngoại diên
của chủ từ có tham gia vào phán đoán; số lượng này có thể là toàn bô (mọi,
tất cả, ký hiệu V); có thể là môt phần (môt số, đa số ký hiệu ∀). Lượng từ
đặc trưng cho phán đoán đơn về mặt lượng, theo đó có hai loại: phán đoán
toàn thể (∀S — P) và phán đoán bô phân (∃S — P).
 Hệ từ: là bô phân nằm giữa chủ từ và vị từ, dùng để nối kết hoặc tách rời các
đối tượng của chủ từ với vị từ. Thường nó biểu hiện quan hệ khẳng định (là)
hay phủ định (không là) giữa chủ từ và vị từ. Hệ từ đặc trưng cho phán đoán
đơn về mặt chất, theo đó có hai loại phán đoán: khẳng định (S là P) và phủ
định (S không là P).
Như vậy, dạng tổng quát của phán đoán đơn thuôc tính là: ∀(∃) S □ P
Phân loại phán đoán đơn. Mọi phán đoán đơn nhất thiết đều phải có 4 bô phân nêu
trên. Tuy nhiên, việc phân loại chúng phải dựa cùng lúc vào cả hai tiêu chí là lượng
và chất. Nếu vây thi sẽ có 4 kiểu như sau:
+ Phán đoán toàn thể khẳng định: ∀S là P, ký hiệu A (từ gốc latinh “Affirmo”).
2



+ Phán đoán toàn thể phủ định: ∀S không là P, ký hiệu E (từ gốc latinh “NEgo”).
+ Phán đoán bộ phận khẳng định: ∃S là P, ký hiệu I (từ gốc latinh “affIrmo”).
+ Phán đoán bộ phận phủ định: ∃S không là P, ký hiệu O (từ gốc latinh “negO”)
Ngoài ra, có thể còn có phán đoán gọi là đơn nhất (khẳng định hoặc phủ định) do
chủ từ của chúng là khái niệm đơn nhất như: “Hà Nội là thành phố anh hùng”, hay
“trời không mưa”, nhưng căn cứ vào định nghĩa về lượng từ đã nêu ở trên chúng tôi
sẽ đều coi chúng là phán đoán toàn thể, điều này sẽ thuận tiện hơn cho việc xác
định chu diên của các thuật ngữ như sẽ thấy dưới đây.
Tính chu diên của các thuật ngữ trong phán đoán đơn
Khái niệm về tính chu diên: Tính chu diên của thuật ngữ thể hiện sự hiểu biết về
quan hệ giữa chủ từ và vị từ nhờ phân tích hình thức của phán đoán.
Để xác định một thuật ngữ (S hoặc P) trong phán đoán đơn thuộc tính là chu diên
hay không, thì phải xét nó trong quan hệ với thuật ngữ còn lại dựa vào cơ sở là mối
quan hệ giữa các khái niệm.
Để thuận tiện cho định nghĩa, hãy quy ước gọi tập hợp các đối tượng thuộc chủ từ
tham gia vào phán đoán là lớp S; tập hợp các đối tượng thuộc vị từ là lớp P; lớp SP
là tập hợp các đối tượng thoả mãn cùng lúc hai điều kiện: thứ nhất, thuộc S, thứ hai,
được phản ánh trong vị từ P. Mối quan hệ về mặt ngoại diên giữa lớp SP với các lớp
S và P sẽ tương ứng cho ta tính chu diên của các thuật ngữ đó. Như vậy thuật ngữ
có thể chu diên (ký hiệu dấu + đánh trên đầu của nó (S+), hoặc không chu diên (ký
hiệu dấu — (P–))
Cách xác định chu diên: Thuật ngữ là chu diên nếu rơi vào một trong hai trường
hợp: 1) SP trùng với ngoại diên của nó); 2) SP tách rời ngoại diên của nó.
Thuật ngữ là không chu diên nếu SP bị bao hàm trong ngoại diên của nó. Tính chu
diên của các thuật ngữ trong từng kiểu phán đoán đơn như sau:
– Phán đoán A (mọi S là P). Chủ từ và vị từ quan hệ với nhau theo 1 trong 2 trường
hợp:
+ Chủ từ và vị từ đổng nhất với nhau (tương đối ít gặp): SP trùng với cả S và P, do
đó S+; P+
+ Vị từ bao hàm chủ từ (trường hợp rất phổ biến): SP trùng với S, do đó S+ và SP

bị bao hàm trong P, do đó P —
 Phán đoán E (mọi S không là P). Chủ từ và vị từ nằm trong quan hê ngang
hàng, tức là tất cả các đối tượng thuộc ngoại diên của chủ từ hoàn toàn tách
3


rời và loại trừ các đối tượng thuộc ngoại diên của vị từ, khi đó SP trùng với S
và tách rời P, do đó S+; P+ (S và P luôn luôn chu diên).
 Phán đoán I (một số S là P). Quan hệ chủ từ — vị từ xảy ra theo hai trường
hợp:
+ Chủ từ và vị từ nằm trong quan hê giao nhau (trường hợp phổ biến), khi đó SP bị
bao hàm cả trong S và trong P, do vây S –, P –
+ Chủ từ bao hàm vị từ, khi đó SP bị bao hàm trong S và trùng với P,do đó S –, P +
– Phán đoán O (một số S không là P). Quan hê chủ từ vị từ có hai trường
hợp:
+ Chủ từ và vị từ nằm trong quan hê giao nhau (trường hợp phổ biến), khi đó SP bị
bao hàm trong S và tách rời P, do vây S –, P +
+ Chủ từ bao hàm vị từ (trường hợp ít gặp), khi đó SP bị bao hàm trong S và tách
rời P, do đó S –, P +
Như vây, trong phán đoán O, S luôn không chu diên, và P luôn chu diên.
1. Bảng chu diên của thuật ngữ trong các phán đoán đơn

Phán đoán
A: ∀S là P

Chủ từ S
+

Vị từ P
+ (S ≡ P)

– (S⊂P)

E: ∀S không là P

+

+

I: ∃S là P



+ (P⊂S)
– (S∩P)

4


O: ∃S không là P



+

Nhìn vào bảng có thể thấy:
+ Chủ từ của phán đoán toàn thể luôn chu diên;
+ Chủ từ của phán đoán bộ phân luôn không chu diên.
+ Vị từ của phán đoán phủ định luôn chu diên;
+ Với vị từ của phán đoán khẳng định (A, I), thì phái căn cứ vào quan hệ cụ thể
giữa S và P

Quan hệ giữa các phán đoán đơn trên hình vuông logic
Ở đây chỉ xét các phán đoán giống nhau cả về chủ từ và vị từ; và quan hệ là quan
hệ về mặt giá trị lôgíc.

Các đỉnh của hình vuông là các phán đoán đơn A, E, I, O, còn các cạnh và đường
chéo biểu thị quan hệ giữa chúng.
Quan hệ mâu thuẫn: là quan hê giữa những phán đoán khác nhau cả về chất, lẫn
lượng. Mối quan hê này thể hiên trên hai đường chéo của hình vuông, đó là quan hệ
giữa hai cặp phán đoán: A&O; E&I. Chúng không thể cùng chân thực hoặc cùng
giả dối, mà nhất thiết phải có một phán đoán là chân thực, còn phán đoán kia phải
là giả dối.
Giá trị lôgíc của các phán đoán đơn trong quan hệ mâu thuẫn như sau:
A= 1 ⇒ O= 0

O= 1 ⇒A= 0

E=1⇒I=0

I=1⇒E=0

Quan hệ lệ thuộc: là quan hệ giữa các phán đoán giống nhau về chất, nhưng khác
nhau về lượng. Đó là hai cặp phán đoán: (A&I), (E&O). Trong hai cặp này thì các
5


phán đoán có lượng toàn thể gọi là phán đoán bậc trên (A và E). Các phán đoán có
lượng bộ phân gọi là phán đoán bậc dưới (I và O).
Nếu phán đoán bậc trên chân thực thì phán đoán bậc dưới tất yếu chân thực, vì
phán đoán bậc dưới là bộ phận của phán đoán bậc trên.
Nhưng nếu phán đoán bậc trên giả dối thì không thể tất yếu suy ra phán đoán bậc

dưới cũng giả dối, lúc này giá trị lôgíc của phán đoán bậc dưới bất định, nó có thể
chân thực hoặc giả dối, vì khi cái toàn thể giả dối không có nghĩa là mọi bộ phận
trong đó đều giả dối.
Trường hợp phán đoán bậc dưới chân thực cũng vậy. Từ một bộ phận chân thực thì
chưa thể xác định cái toàn thể chân thực hay giả dối. Nó có thể chân thực hay giả
dối tuỳ vào đối tượng phản ánh cụ thể.
Trường hợp phán đoán bậc dưới là giả dối thì từ đó tất yếu suy ra phán đoán bậc
trên là giả dối, vì nếu đã có một bộ phận trong cái toàn thể là giả dối thì không thể
có toàn bộ cái toàn thể là chân thực.
Từ sự phân tích trên có thể khái quát thành bảng giá trị lôgíc của các phán đoán
trong quan hệ lệ thuộc như sau:

Quan hệ đối lập: là quan hệ giữa những phán đoán giống nhau về lượng, nhưng
khác về chất. Đó là hai cặp phán đoán: (A&E), (I&O)
Các phán đoán (A&E) nằm trong quan hê đối lập trên : chúng không thể cùng chân
thực, mà chỉ có thể cùng giả dối hoặc một chân thực, một giả dối. Thực chất, hai
phán đoán này là hai mệnh đề đối lập nhau cùng phản ánh về môt hay môt lớp đối
tượng ở cùng phẩm chất xác định, vì thế không thể cùng chân thực. Bảng quan hệ
về mặt giá trị lôgíc giữa A&E như sau:

Các phán đoán (I&O) nằm trong quan hệ đối lập dưới: chúng không thể cùng giả
dối, mà chỉ có thể cùng chân thực hoặc một chân thực, một giả dối.
Bảng quan hệ về mặt giá trị logic của các phán đoán trong quan hệ đối lập dưới:
6


I=0⇒O=1

I=1⇒O=?


O=0⇒I=1

O=1⇒I=?

2.3 Phân loại phán đoán đơn : Có thể phân chia phán đoán đơn theo nhiều
cách (căn cứ) khác nhau.
- Căn cứ vào giá trị (chân lý) phán đoán đơn được chia thành hai loại là phán đoán
đã có giá trị và phán đoán chưa có giá trị. Trong một thời điểm nào đó, một phán
đoán có thể đã có giá trị hoặc chưa có giá trị.
Ví dụ: "năm 2055, trường ĐH Sư Phạm Kỹ Thuật TP.HCM là trường kỹ thuật tốt
nhất Việt Nam " là phán đoán hiện tại chưa có giá trị (đến năm 2055 phán đoán này
mới là phán đoán đã có giá trị). Phán đoán "cách đây 100 triệu năm có thiên thạch
lớn rơi xuống Quả đất" là phán đoán đã có giá trị (nhưng hiện tại con người chưa
xác định được giá trị của phán đoán này là đúng hay sai). Trong hai loại phán đoán
đơn nói trên thì lôgíc học hình thức truyền thống chỉ nghiên cứu phán đoán đã có
giá trị.
- Căn cứ vào giá trị của phán đoán cũng có thể được chia thành nhiều loại (tương
ứng với các số trong khoảng từ 1 đến 0) là đúng 100%, đúng 50%,..., đúng 0%
(đúng 100% = sai 0%, đúng 0% = sai 100%, đúng 60% = sai 40%...). Trong lôgíc
học hình thức truyền thống, các loại giá trị nói trên được quy về 2 loại là đúng (=
đúng 100%) và không đúng (= không đúng 100%).
Ví dụ: nếu trong phòng A tại thời điểm T có 200 người thì phán đoán “trong phòng
A tại thời điểm T có 200 người” có giá trị là đúng 100%, phán đoán “trong phòng A
tại thời điểm T có 180 người” có giá trị là đúng 90%, phán đoán “trong phòng A tại
thời điểm T có 0 người” có giá trị là đúng 0%. Giá trị của phán đoán có thể là đúng
hoặc sai (sai = không đúng). Nếu một phán đoán có giá trị đúng thì phủ định phán
đoán ấy cũng là một phán đoán và phán đoán phủ định này có giá trị sai. Ngược lại,
nếu một phán đoán có giá trị sai thì phủ định phán đoán ấy cũng là một phán đoán
và phán đoán phủ định này có giá trị đúng.
- Căn cứ vào sự phản ánh về các sự vật và thuộc tính tồn tại trong hiện thực khách

khách quan, phán đoán có thể được chia thành hai loại là phán đoán không tất
nhiên và phán đoán tất nhiên. Đối với phán đoán không tất nhiên, người nêu phán
đoán không khẳng định chắc chắn 100%. Trong phán đoán tất nhiên thì người nêu
phán đoán khẳng định chắc chắn 100% (sự khẳng định này có thể sai).

7


Ví dụ: các phán đoán “hình như 2 triệu năm trước có thiên thạch lớn rơi xuống Quả
đất”, “có thể trên sao Hoả không có sự sống” là các phán đoán không tất nhiên.
Phán đoán “chắc chắn trên sao Hoả không có sự sống” là phán đoán tất nhiên. Để
nói lên tính không tất nhiên của phán đoán, người nêu phán đoán thường thêm vào
mệnh đề diễn đạt phán đoán các từ như: hình như là, có thể là, có lẽ là... Để nói lên
tính tất nhiên của phán đoán, người nêu phán đoán thường thêm vào mệnh đề diễn
đạt phán đoán các từ như: chắc chắc rằng, nhất định là, tất nhiên là... Tuy nhiên,
chúng ta có thể lược bỏ các từ biểu thị tính tất nhiên. Chẳng hạn, có thể nói “trên
sao Hoả không có sự sống” thay vì nói “chắc chắn là trên sao Hoả không có sự
sống”. Trong hai loại phán đoán vừa nói trên, lôgíc học hình thức truyền thống chỉ
nghiên cứu phán đoán tất nhiên.
*** Tuy nhiên, dù phân chia theo nhiều căn cứ khác nhau thì phán đoán đơn đều
được quy lại thành 4 loại là:
- Phán đoán khẳng định chung: ∀S là P, ký hiệu A (từ gốc latinh “Affirmo”).
Ví dụ: Mọi sinh viên đều thích học logic học.
- Phán đoán phủ định chung: ∀S không là P, ký hiệu E (từ gốc latinh “NEgo”).
Ví dụ: Mọi sinh viên đều không thích học ngoại ngữ.
- Phán đoán khẳng định riêng: ∃S là P, ký hiệu I (từ gốc latinh “affIrmo”).
Ví dụ: Một số sinh viên thích học logic học.
- Phán đoán phủ định riêng: ∃S không là P, ký hiệu O (từ gốc latinh “negO”)
Ví dụ: Một số sinh viên không thích học ngoại ngữ.


Phần 3:Kiến thức vận dụng
3.1 Một số ví dụ về phán đoán đơn
3.1.1Phân loại phán đoán theo chất.
Phán đoán khẳng định :
Ví dụ : - Sắt là kim loại.
- Mặt trăng là vệ tinh của trái đất.
8


Thông thường phán đoán khẳng định có liên từ lôgíc LÀ, tuy vậy, nhiều trường hợp
không có liên từ LÀ mà vẫn là phán đoán khẳng định.
Ví dụ : - Rùa đẻ ra trứng.
- Trái đất quay xung quanh mặt trời.
Phán đoán phủ định :
Ví dụ : - Thủy ngân không phải là chất rắn.
- Lê nin không phải là người Việt Nam.
Phán đoán phủ định thường có liên từ lôgíc KHÔNG LÀ, KHÔNG PHẢI LÀ.
3.1.2 Phân loại phán đoán theo lượng.
Phán đoán chung (phán đoán toàn thể).
Ví dụ : -Mọi kim loại đều là chất dẫn điện.
-Mọi con sáo đều không dẻ dưới nước.
Phán đoán riêng (phán đoán bộ phận).
Ví dụ : - Một số thanh niên là những nhà quản lý giỏi.
- Một số sinh viên không phải là đoàn viên.
Phán đoán riêng thường được bắt đầu bằng các lượng từ bộ phận : Một số, Hầu hết,
Nhiều, Đa số, Một vài, v.v…
Phán đoán đơn nhất :
Ví dụ : - Paris là thủ đô của nước Pháp.
- Lào không phải là một cường quốc.


3.1.3Phân loại phán đoán theo chất và lượng.
Phán đoán khẳng định chung (phán đoán A).
9


Công thức : Mọi S là P.
Ví dụ : Mọi người Việt Nam đều yêu nước.
Trong nhiều trường hợp, phán đoán không có dạng : Mọi S là P mà vẫn là phán
đoán khẳng định chung :
Ví dụ : - Nước là chất dẫn điện.
- Ớt nào là ớt chẳng cay.
Phán đoán khẳng định riêng (phán đoán I).
Công thức : - Một số S là P.
Ví dụ : Một số sinh viên thông thạo tin học.
Phán đoán phủ định chung (phán đoán E).
Công thức : - Mọi S không là P.
Ví dụ : Mọi người đều không muốn chiến tranh.
Trong ngôn ngừ tự nhiên, phán đoán phủ định chung nhiều lúc không bắt đầu bằng
lượng từ phổ biến : MỌI, TẤT CẢ, TOÀN THỂ, thậm chí còn không có liên từ phủ
định.
Ví dụ : - Mấy đời bánh đúc có xương,
Mấy đời địa chủ mà thương dân cày.
- Rượu nào rượu lại say người,
Bớ người say rượu chớ cười rượu say.
Phán đoán phủ định riêng (phán đoán O).
Công thức : - Một số S không là P.
Ví dụ : Một số điều luật không còn phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế hiện nay.

10



Phần 4 : Kết luận
Phán đoán đơn là một trong những nội dung căn bản nhất của logic học, là nền
móng của mọi tư duy logic. Do đó, để nắm được và vận dụng tốt tư duy logic, việc
hiểu rõ về phán đoán đơn là vô cùng quan trọng. Tiểu luận trên của nhóm đã nêu ra
định nghĩa và phân loại phán đoán đơn, cũng là nội dung cốt lõi để có thể nắm
được ý nghĩa của phán đoán, từ đó xây dựng cơ sở tư duy logic. Tuy nhiên, ngoài
những lý luận đã nêu ra ở trên, việc vận dụng những lý luận logic, cụ thể là phán
đoán đơn vài cuộc sống cũng là vô cùng quan trọng, có thế mới phát huy được hết
tác dụng của những tư duy này, mang chúng ra khỏi khuôn khổ hình thức, về đúng
với giá trị vốn có, cũng từ đó mà phát triển tư duy lập luận của con người

NHẬN XÉT VÀ ĐÁNH GIÁ
…………………………………………………………………………………………………………....
…………………………………………………………………………………………………………....
…………………………………………………………………………………………………………....
…………………………………………………………………………………………………………....
…………………………………………………………………………………………………………....
…………………………………………………………………………………………………………....
…………………………………………………………………………………………………………....
…………………………………………………………………………………………………………....
…………………………………………………………………………………………………………....
…………………………………………………………………………………………………………....
…………………………………………………………………………………………………………....
…………………………………………………………………………………………………………....
…………………………………………………………………………………………………………....
…………………………………………………………………………………………………………....
11



…………………………………………………………………………………………………………....
…………………………………………………………………………………………………………....
…………………………………………………………………………………………………………....
…………………………………………………………………………………………………………....
…………………………………………………………………………………………………………....
…………………………………………………………………………………………………………....
…………………………………………………………………………………………………………....
…………………………………………………………………………………………………………....
…………………………………………………………………………………………………………....
…………………………………………………………………………………………………………....
…………………………………………………………………………………………………………....
…………………………………………………………………………………………………………....
…………………………………………………………………………………………………………....
…………………………………………………………………………………………………………....
…………………………………………………………………………………………………………....
…………………………………………………………………………………………………………....
…………………………………………………………………………………………………………....

12


13



×