ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------------------------------------
NGUYỄN PHÖC LẬP
MÔ HÌNH SINH KẾ TRÊN SÓNG TRUYỀN HÌNH ĐỊA PHƢƠNG
(Khảo sát: Đài Phát thanh - Truyền hình Hải Phòng và
Đài Phát thanh - Truyền hình Tuyên Quang
từ tháng 4/2016 đến tháng 4/2017)
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
Hà Nội - 2017
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-------------------------------------
NGUYỄN PHÚC LẬP
MÔ HÌNH SINH KẾ TRÊN SÓNG TRUYỀN HÌNH ĐỊA PHƢƠNG
(Khảo sát: Đài Phát thanh - Truyền hình Hải Phòng và
Đài Phát thanh - Truyền hình Tuyên Quang
từ tháng 4/2016 đến tháng 4/2017)
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
Chuyên ngành : Báo chí học
Mã số
: 60 32 01 01
Ngƣời hƣớng dẫn khoa ho ̣c: TS.Bùi Chí Trung
Hà Nội - 2017
LỜI CAM ĐOAN
Luận văn này là công trình nghiên cứu độc lập của tác giả dƣới sự hƣớng
dẫn khoa học của Tiến sĩ Bùi Chí Trung. Đề tài luận văn không trùng lặp với bất kỳ
công trình nghiên cứu nào đã công bố trong và ngoài nƣớc. Các số liệu, thông tin
trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, tin cậy và đƣợc trích dẫn theo quy định về
khoa học. Các kết quả nghiên cứu của luận văn chƣa từng đƣợc công bố ở bất kỳ
công trình nghiên cứu nào. Tác giả là ngƣời duy nhất chịu hoàn toàn trách nhiệm về
nội dung của luận văn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Phúc Lập
LỜI CẢM ƠN
Luận văn này đƣợc hoàn thành, trƣớc hết, bằng sự nỗ lực và nghiêm túc
trong nghiên cứu của tác giả, nhƣng không thể không kể đến sự giúp đỡ, hƣớng dẫn
nhiệt tình, trách nhiệm của rất nhiều ngƣời. Những sự giúp đỡ và hƣớng dẫn đó
giúp tác giả hoàn thành đƣợc luận văn đúng tiến độ và đóng góp vào hoạt động
nghiên cứu chung về sinh kế. Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và trân trọng
tới:
Các thầy, cô giáo Khoa Báo chí và Truyền thông (Trƣờng ĐH Khoa học Xã
hội và Nhân văn, ĐH Quốc gia Hà Nội) đã hƣớng dẫn, chỉ bảo và cung cấp kiến
thức để bản thân nâng cao trình độ nghiệp vụ về báo chí, nhất là phát thanh, truyền
hình trong suốt thời gian qua.
Đặc biệt, xin đƣợc chân thành cảm ơn TS. Bùi Chí Trung - ngƣời đã tận
tình hƣớng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này!
Lãnh đạo cơ quan Đài Phát thanh và Truyền hình Hải Phòng, Đài Phát
thanh và Truyền hình Tuyên Quang cùng các đồng nghiệp, bạn bè và ngƣời thân đã
tạo điều kiện giúp đỡ, góp ý, động viên tôi trong suốt khóa học và thời gian nghiên
cứu luận văn.
Trong khuôn khổ một luận văn, do sự giới hạn về thời gian và kinh nghiệm
nên không tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, tác giả rất mong nhận đƣợc những ý
kiến đóng góp quý báu của các thầy cô và các bạn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Phúc Lập
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ......................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1: LÝ THUYẾT CHUNG VỀ TRUYỀN THÔNG PHÁT TRIỂN,
TRUYỀN HÌNH ĐỊA PHƢƠNG VÀ VĂN HÓA VÙNG TRONG TRUYỀN
THÔNG VỀ MÔ HÌNH SINH KẾ ........................................................................... 13
1.1. Các khái niệm liên quan ..................................................................................... 13
1.2. Truyền thông phát triển về các mô hình sinh kế ................................................ 17
1.2.1. Lý thuyết về truyền thông phát triển....................................................... 17
1.2.2. Các mô hình truyền thông cho hoạt động phát triển sinh kế bền vững và
phƣơng thức thể hiện trên truyền hình ...................................................................... 21
1.3. Truyền hình địa phƣơng với vấn đề truyền thông về mô hình sinh kế .............. 24
1.4. Văn hóa vùng với truyền thông về mô hình sinh kế .......................................... 27
1.5. Đƣờng lối, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc về sinh kế và truyền thông về mô
hình sinh sinh kế........................................................................................................ 30
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1............................................................................................ 34
CHƢƠNG 2: TRUYỀN THÔNG VỀ MÔ HÌNH SINH KẾ TRÊN SÓNG
TRUYỀN HÌNH ĐỊA PHƢƠNG.............................................................................. 35
2.1. Giới thiệu chung về Đài PT - TH Hải Phòng, Đài PT - TH Tuyên Quang. ....... 35
2.1.1. Đài PT - TH Hải Phòng .......................................................................... 35
2.1.2. Đài Phát thanh và truyền hình Tuyên Quang.......................................... 42
2.2. Thực trạng truyền thông về mô hình sinh kế trên sóng truyền hình địa phƣơng48
2.2.1. Về số lƣợng, thời lƣợng, tần xuất nội dung ............................................ 48
2.2.2. Về nội dung ............................................................................................. 50
2.2.3. Về hình thức thể hiện .............................................................................. 68
2.3. Các mô hình truyền thông phát triển sinh kế trên truyền hình địa phƣơng. ...... 77
2.4. Đánh giá chung .................................................................................................. 80
2.4.1. Thành công ............................................................................................. 80
2.4.2. Hạn chế ................................................................................................... 81
TIỂU KẾT CHƢƠNG 2............................................................................................ 84
CHƢƠNG 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU
QUẢ TRUYỀN THÔNG VỀ MÔ HÌNH SINH KẾ TRÊN SÓNG TRUYỀN HÌNH
ĐỊA PHƢƠNG .......................................................................................................... 85
3.1. Những giải pháp chung cho Đài PT - TH Tuyên Quang và Đài PT - TH Hải
Phòng ......................................................................................................................... 85
3.1.1. Cơ sở vật chất, trang thiết bị ................................................................... 85
3.1.2. Nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực ..................................................... 87
3.1.3. Đổi mới nội dung, hình thức thể hiện thông tin...................................... 89
3.1.4. Nâng cao vị thế và tính tƣơng tác với công chúng của Đài PT - TH
Tuyên Quang và Đài PT - TH Hải Phòng ................................................................. 90
3.2. Những giải pháp cụ thể nâng cao hiệu quả truyền thông về mô hình sinh kế ... 91
3.2.1. Nâng cao trình độ, năng lực và tính chuyên nghiệp của phóng viên, biên
tập viên phụ trách truyền thông về mô hình sinh kế. ................................................ 91
3.2.2. Đổi mới nội dung, hình thức thể hiện thông tin về mô hình sinh kế ...... 92
3.2.3. Hƣớng đến những yêu cầu, đòi hỏi mới của công chúng ....................... 94
3.2.4. Vai trò của tỉnh Tuyên Quang và thành phố Hải Phòng trong việc phát
triển các mô hình sinh kế .......................................................................................... 94
TIỂU KẾT CHƢƠNG 3............................................................................................ 97
KẾT LUẬN ............................................................................................................... 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................................... 100
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
DFID
Giải thích
Department for International Development
(Bô ̣ Phát triển Quốc tế Anh).
KHXH&NV
Khoa học xã hội và nhân văn
PT-TH
Phát thanh và truyền hình
UBND
Ủy ban nhân dân
VTV
Đài truyền hình Việt Nam
THP
Đài Phát thanh - truyền hình Hải Phòng
TTV
Đài Phát thanh - truyền hình Tuyên Quang
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Khung sinh kế ........................................................................................... 16
Bảng 2.1: Số lƣợng tin, phóng sự và chuyên đề của Đài Phát PT - TH Tuyên Quang
và Đài PT - TH Hải Phòng truyền thông về mô hình sinh kế trên sóng truyền hình
(từ tháng 4/2016 đến tháng 4/2017) ......................................................................... 48
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1. Bản đồ địa lý hành chính thành phố Hải Phòng ........................................ 35
Hình 2.2. Bản đồ địa lý hành chính tỉnh Tuyên Quang ............................................ 42
Hình 2.3. Tỷ lệ tin, phóng sự và chuyên đề của Đài PT - TH Tuyên Quang truyền
thông về mô hình sinh kế trên sóng truyền hình ....................................................... 49
Hình 2.4. Tỷ lệ tin, phóng sự và chuyên đề của Đài PT - TH Hải Phòng truyền
thông về mô hình sinh kế trên sóng truyền hình ....................................................... 49
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Biến đổi khí hậu đang là vấn đề cấp thiết đặt ra cho toàn cầu. Việt Nam đƣợc
đánh giá là một trong năm nƣớc chịu ảnh hƣởng nặng nền nhất của biến đổi khí hậu.
Sinh kế bền vững là một trong giải pháp đƣợc ƣu tiên đặt lên hàng đầu trong ứng
phó với biến đổi khí hậu. Nó là điều kiện cần thiết cho quá trình phát triển, nâng cao
đời sống của con ngƣời nhƣng vẫn đáp ứng đƣợc đòi hỏi về chất lƣợng môi trƣờng
tự nhiên. Đến nay, có nhiều chƣơng trình, tổ chức dự án hỗ trợ cho cộng đồng để
hƣớng đến mục tiêu phát triển ổn định và bền vững. Thực tế cho thấy, việc lựa chọn
những hoạt động sinh kế của ngƣời dân chịu ảnh hƣởng rất lớn từ nhiều yếu tố: điều
kiện tự nhiên, xã hội, con ngƣời, vật chất và cơ sở hạ tầng. Việc đánh giá hiệu quả
các hoạt động sinh kế giúp chúng ta hiểu rõ đƣợc những phƣơng thức sinh kế của
ngƣời dân có phù hợp với điều kiện của địa phƣơng? Các hoạt động sinh kế có bền
vững, hiệu quả và phát triển ổn định lâu dài hay chỉ mang tính thời điểm?
Muốn phát triển bền vững quốc gia thì cần phát triển bền vững các vùng, địa
phƣơng. Hay nói cách khác, muốn phát triển bền vững ở quy mô lớn thì cần bắt đầu
từ quy mô nhỏ. Việt Nam có 63 tỉnh, thành phố và đƣợc chia thành 8 vùng địa lý
kinh tế. Điều kiện địa lý và đặc điểm tự nhiên mỗi vùng, mỗi địa phƣơng khác nhau
đòi hỏi có chính sách phát triển khác nhau, phù hợp với đặc thù của vùng, địa
phƣơng thì mới có thể đảm bảo phát triển bền vững. Trƣớc yêu cầu thực tiễn này,
trong phần V của “Chƣơng trình Nghị sự 21 của Việt Nam” cũng đã quy định về
đổi mới hệ thống quản lý với 5 hƣớng cụ thể, nhằm bảo đảm cho quá trình quy
hoạch, kế hoạch hóa và chỉ đạo thực hiện phát triển vùng mang tính bền vững.
Trong đó phát triển bền vững các vùng, địa phƣơng là cơ sở quan trọng để phát triển
bền vững mỗi quốc gia: “Chiến lược phát triển vùng một mặt phải ưu tiên phát
triển trước các vùng kinh tế trọng điểm, có khả năng bứt phá lên trước, nhưng mặt
khác phải chú ý tới việc hỗ trợ các vùng kém phát triển và có điều kiện khó khăn
hơn, nhằm tạo ra một sự cân đối nhất định trong phát triển không gian, từng bước
thu hẹp khoảng cách về xã hội và tiến tới giảm bớt sự chênh lệch về kinh tế trong
1
những năm sau này. Các vùng phát triển kinh tế trọng điểm sẽ đóng vai trò là đầu
tàu, là động cơ lôi kéo các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa có điều kiện khó khăn
hơn”. (Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam, Chương trình Nghị
sự 21 của Việt Nam, Quyết định 153/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày
17/8/2004).
Ở Việt Nam, thời gian gần đây đã có nhiều chƣơng trình, dự án hỗ trợ cộng
đồng dân cƣ chuyển đổi và nâng cao sinh kế theo hƣớng bền vững. Từ đó, bên cạnh
các mô hình sinh kế truyền thống của các địa phƣơng, nhiều mô hình sinh kế mới ra
đời nhằm đa dạng hóa hoạt động sinh kế, đảm bảo đời sống cho ngƣời dân. Bởi vậy,
việc khảo sát các mô hình sinh kế và truyền thông về các mô hình sinh kế trên báo
chí nói chung, truyền hình nói riêng là việc làm cần thiết. Với ƣu thế trực quan về
hình ảnh, đa dạng về hình thức thể hiện, truyền hình có nhiều thuận lợi trong việc
phản ánh chân thực và đầy đủ về các mô hình sinh kế; huy động các nguồn lực
trong cộng đồng; tuyên truyền nêu gƣơng các hộ dân, các mô hình đã thành công;
khuyến khích ngƣời dân có động lực, khích lệ cộng đồng có ý chí vƣơn lên để phát
triển sinh kế trở thành phong trào thi đua rộng rãi, ngƣời dân các vùng khó khăn
cùng nhau vƣơn lên đăng ký thoát nghèo. Cùng với hệ thống báo chí, truyền hình
bám sát các quan điểm, định hƣớng chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nƣớc
và chủ trƣơng của địa phƣơng để tuyên truyền làm thay đổi nhận thức cho ngƣời
dân, giúp ngƣời dân thấy đƣợc mục tiêu, ý nghĩa của chủ trƣơng, chính sách, tránh
tình trạng thụ động, trông chờ hỗ trợ từ Nhà nƣớc. Từ đó góp phần thực hiện một
cách đồng bộ, có trọng tâm, đa dạng về phƣơng thức, phù hợp với từng nhóm đối
tƣợng, vùng miền, từng bƣớc tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện về hoạt động
sinh kế bền vững, nhất là ở các vùng khó khăn.
Cũng vì lý do đó, trên cơ sở tiếp cận từ lý thuyết truyền thông phát triển,
khung sinh kế bền vững và văn hóa vùng, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài “Mô
hình sinh kế trên sóng truyền hình địa phương” cho luận văn thạc sĩ của chúng tôi.
Truyền thông về mô hình sinh kế trên sóng truyền hình địa phƣơng có ý nghĩa quan
trọng trong việc góp phần thay đổi, nâng cao nhận thực của ngƣời dân về biến đổi
2
khí hậu, cũng nhƣ triển khai, đƣa các mô hình sinh kế vào thực tiễn và đánh giá hiệu
quả của các mô hình sinh kế sau quá trình triển khai tại tỉnh Tuyên Quang và thành
phố Hải Phòng. Chúng tôi đặt tƣơng quan đối tƣợng nghiên cứu là mô hình sinh kế
trên sóng truyền hình của Đài PT - TH Hải Phòng với mô hình sinh kế trên sóng
truyền hình của Đài PT - TH Tuyên Quang không ngoài mục tiêu làm rõ luận điểm
trên trong nội dung Chƣơng trình Nghị sự 21 của Việt Nam.
1. Lịch sử nghiên cứu đề tài
- Các nghiên cứu về vấn đề sinh kế bền vững:
Trên thế giới, đã có nhiều thành tựu quan trọng nghiên cứu sinh kế cộng đồng.
Các công trình bƣớc đầu gắn với các khái niệm và phƣơng pháp từ các nghiên cứu
đói nghèo ở nông thôn. Điển hình nhƣ nghiên cứu của Chambers, Robert (1983) lập
luận rằng hộ gia đình có thu nhập thấp hƣớng tới sinh kế bền vững thông qua việc
chống lại tính dễ bị tổn thƣơng khi gặp rủi ro và bất an bằng cách thế chấp cả tài sản
hữu hình và tài sản vô hình. Đối với Carney (1998), ông cho rằng sinh kế bao gồm
các khả năng, tài sản (gồm cả vật chất, nguồn lực xã hội) và các hoạt động cần thiết
để sống. Hay Cục Phát triển Quốc tế Vƣơng quốc Anh (DFID) và tổ chức CARE
Quốc tế đã phát triển khung lý thuyết về sinh kế, sinh kế bền vững. Dựa trên khung
lý thuyết này, rất nhiều các nghiên cứu đã đƣợc triển khai và mở rộng các khung lý
thuyết cho sinh kế nông thôn. Các chính sách để xác định sinh kế cộng đồng dân cƣ
theo hƣớng bền vững đƣợc xác định liên quan chặt chẽ đến bối cảnh kinh tế vĩ mô
và liên quan đến các yếu tố bên ngoài. Tiêu biểu cho các nghiên cứu này là Ellis
(2000) với nghiên cứu khẳng định sự bền vững của sinh kế cộng đồng phụ thuộc
vào nhiều yếu tố nhƣ: khả năng trang bị nguồn vốn, trình độ lao động, các mối quan
hệ trong cộng đồng và chính sách phát triển sinh kế. Theo nghiên cứu của Koos
Neefjes (2009) về “Biến đổi khí hậu và sinh kế bền vững”, để tạo lập sinh kế bền
vững trƣớc tác động của biến đổi khí hậu, ngƣời dân và các cộng đồng dễ bị tổn
thƣơng bởi biến đổi khí hậu cần có các nguồn lực sinh kế chất lƣợng cao và các
chính sách, thể chế cần đƣợc thiết kế sao cho các nguồn lực sinh kế đƣợc tiếp cận
một cách công bằng để ngƣời dân có thể quản lý và sử dụng sinh kế một cách bền
3
vững. Nghiên cứu của IUCN, SEI, và IISD (2003) về “Livelihoods and climate
change” đã đƣa ra cách tiếp cận tổng hợp trong việc giải quyết vấn đề sinh kế bền
vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu.
Tại Việt Nam, chúng tôi tìm thấy một số đề tài nghiên cứu về mô hình sinh
kế tiêu biểu. Năm 2008, Oxfam có báo cáo về “Việt Nam: Biến đổi khí hậu, sự
thích ứng và ngƣời nghèo”. Tuy nhiên, báo cáo này chỉ tập trung phân tích cuộc
sống của các hộ gia đình nghèo ở hai tỉnh Bến Tre và Quảng trị trong bối cảnh khí
hậu đang thay đổi và tìm hiểu cách thức ngƣời dân địa phƣơng đối phó với biến đổi
khí hậu. Công trình nghiên cứu “Thích ứng sinh kế của cộng đồng dân cƣ ven biển
tỉnh Bến Tre trong bối cảnh biến đổi khí hậu” của TS. Lê Thị Kim Thoa, Trung tâm
Nghiên cứu Biển và Đảo, Trƣờng ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn TPHCM cũng
đã nghiên cứu về một số hoạt động sinh kế tiêu biểu của ngƣời dân vùng ven biển
tỉnh Bến Tre, nhƣ: trồng dừa và sản xuất các sản phẩm từ cây dừa, đánh bắt thủy hải
sản, phát triển du lịch,... Từ đó đánh giá tác động của biến đổi khí hậu tới các hoạt
động sinh kế này và đề xuất giải pháp cụ thể về vốn, cơ chế chính sách, sinh kế thay
thế và thích ứng với biến đổi khí hậu,…
Năm 2010, Bộ Tài nguyên và Môi Trƣờng Việt Nam phối hợp với cơ quan
phát triển quốc tế vƣơng quốc Anh và chƣơng trình phát triển Liên Hợp Quốc thực
hiện nghiên cứu về “Các chiến lƣợc thích ứng cho sinh kế ven biển chịu nhiều rủi ro
nhất do tác động của biến đổi khí hậu ở miền Trung Việt Nam”. Nghiên cứu cho
rằng hệ thống sinh kế nông thôn vùng ven biển có nguy cơ cao nhất trƣớc biến đổi
khí hậu là những sinh tế phụ thuộc trực tiếp vào nguồn lực tự nhiên. Vì vậy việc xây
dựng khả năng phục hồi cho các sinh kể về chịu tác động của biến đổi khí hậu đòi
hỏi các biện pháp nhằm đảm bảo khả năng phục hồi của các nguồn tài nguyên thiên
nhiên.
“Phát triển mô hình cải thiện sinh kế bền vững cho cộng đồng đựa trên tiềm
năng tri thức bản địa của các dân tộc thiểu số” là công trình nghiên cứu do PGS.TS.
Ngô Quang Sơn, Viện trƣởng Viện Dân tộc Ủy ban Dân tộc thực hiện. Qua nghiên
cứu trƣờng hợp 4 dân tộc thiểu số tại chỗ Ê Đê, Gia Rai của Đắk Lắk và Mông, Dao
4
của Lai Châu từ năm 2010 - 2013, công trình đã đƣa ra kết quả về các loại vốn sinh
kế và các hoạt động sinh kế tại những địa phƣơng này. Từ đó, chỉ rõ vai trò quan
trọng của tiềm năng tri thức bản địa của các dân tộc thiểu số trong việc phát triển
bền vững các mô hình sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu.
Đề tài nghiên cứu khoa học của trƣờng đại học quốc gia Hà Nội về “Ảnh
hƣởng của biến đổi khí hậu đến sử dụng đất và biến đổi sinh kế của cộng đồng dân
cƣ Đồng bằng Sông Hồng” do Lƣu Bích Ngọc và cộng sự thực hiện đã tiến hành
khảo sát hộ gia đình tại 5 xã thuộc 4 tỉnh đồng bằng sông Hồng là Thái Bình, Ninh
Bình, Nam Định và Hà Nội để minh họa cho các phân tích và đánh giá. Tuy nhiên
các kết quả nghiên cứu chủ yếu mang tính định tính và các tác động của biến đổi
khí hậu đến sinh kế ngƣời dân chƣa đƣợc định chƣa đƣợc lƣợng hóa. Khoảng trống
này đã đƣợc tác giả Vũ Thị Hoài Thu bổ sung trong luận án tiến sĩ “Sinh kế bền
vững vùng ven biển đồng bằng sông Hồng trong bối cảnh biến đổi khí hậu”. Tác giả
đã áp dụng phƣơng pháp nghiên cứu định tính để bƣớc đầu đánh giá nghiên cứu
đƣợc thực hiện tại huyện tỉnh Nam Định - 1 trong 5 tỉnh bị ảnh hƣởng nhiều nhất
bởi biến đổi khí hậu ở vùng ven biển Đồng bằng sông Hồng.
Mỗi công trình về sinh kế bền vững trên thế giới và ở Việt Nam trong bối
cảnh biến đổi khí hậu lại có một hƣớng tiếp cận nghiên cứu riêng. Những kết quả
nghiên cứu tập hợp lại tạo thành một bức tranh đa dạng, phong phú về sinh kế cộng
đồng trong quá trình phát triển và có ý nghĩa gợi mở vấn đề, cung cấp nhiều thông
tin có giá trị làm cơ sở cho việc nghiên cứu sinh kế ở Việt Nam hiện nay. Nhìn
chung, các nghiên cứu này là cơ sở, nền tảng lý thuyết về biến đổi khí hậu, về sinh
kế và tác động của biến đổi khí hậu tới sinh kế bền vững cho ngƣời dân,… để luận
văn có thể tham khảo và dựa vào đó tìm ra hƣớng nghiên cứu riêng.
- Các nghiên cứu về vai trò của báo chí với phát triển bền vững:
Trên lĩnh vực Báo chí học trong nƣớc, có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều
bài báo, tạp chí về vai trò của báo chí đối với đời sống kinh tế xã hội, trong đó có
vấn đề phát triển bền vững cũng nhƣ phát triển bền vững địa phƣơng nói chung và
mô hình sinh kế nói riêng.
5
Tại Việt Nam, đối với sách, chúng ta có thể kể đến một số công trình nghiên
cứu tiêu biểu, nhƣ: Cơ sở Lý luận báo chí truyền thông (của các tác giả: Dƣơng
Xuân Sơn, Đinh Văn Hƣờng, và Trần Quang, tái bản nhiều lần), “Truyền thông đại
chúng và phát triển xã hội” (2008), Bộ sách 8 tập “Báo chí - những vấn đề lý luận
và thực tiễn” (Khoa Báo chí và Truyền thông, Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn),… Đây là những nghiên cứu về báo chí học quan trọng, là cơ sở lý
thuyết thiết yếu khi thực hiện nghiên cứu bất kỳ một vấn đề nào của báo chí.
Về vai trò của báo chí với phát triển bền vững, có thể nói, đây là nội dung luôn
đƣợc báo chí quan tâm tuyên truyền. Nhiều hội thảo khoa học đã đƣợc các cơ quan
báo chí, các tổ chức quản lý báo chí tổ chức. Tiêu biểu có thể kể đến: hội thảo khu
vực: “Vai trò của báo chí đối với phát triển kinh tế bền vững” do Hội Nhà báo Việt
Nam phối hợp với Viện KAS tổ chức (2012), hội thảo "Báo chí vì sự phát triển bền
vững vùng dân tộc và miền núi" (2014), hay hội thảo: „Vai trò, tác động của báo
chí, truyền thông đối với phát triển bền vững địa phƣơng do Ban Tuyên giáo Tỉnh
uỷ Lào Cai và Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn tổ chức (2016),…
Những hội thảo này không chỉ nhằm nâng cao hiểu biết, nhận thức của nhà báo khi
thực hiện truyền thông về lĩnh vực này để mang lại hiệu quả thông tin cao nhất, mà
còn giúp các địa phƣơng nhận thấy vai trò quan trọng của báo chí trong việc thông
tin, truyền thông, nâng cao nhận thức của ngƣời dân, của cộng đồng về tác động của
biến đổi khí hậu tới đời sống dân sinh cũng nhƣ việc quan tâm hoạch định các chính
sách, chiến lƣợc phát triển bền vững.
Bên cạnh đó, chúng tôi tìm thấy một số công trình nghiên cứu khoa học tiêu
biểu về vai trò của báo chí đối với phát triển bền vững, nhƣ: “Báo cáo tổng quan vai
trò của báo chí đối với phát triển bền vững vùng Tây Bắc” (PGS. TS. Đặng Thị Thu
Hƣơng - Trƣởng Khoa Báo chí và Truyền thông, Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn chủ trì), “Báo điện tử với vấn đề phát triển bền vững vùng Tây Bắc”
(Th.s. An Thị Thu Hiền, Trƣờng ĐH Khoa học Xã hội & Nhân văn), … Đây là
những công trình mang tính tổng quát, có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển
bền vững của đất nƣớc nói chung và khu vực Tây Bắc nói riêng.
6
Nghiên cứu “Truyền thông phát triển - vai trò, sứ mệnh đối với phát triển địa
phƣơng” của tiến sĩ Bùi Chí Trung đã nêu bật hiệu quả, tác động của báo chí truyền
thông đến sự phát triển của xã hội, là cầu nối thúc đẩy các chiến lƣợc đi vào cuộc
sống. Công trình cũng đã xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò, nhiệm vụ,
phƣơng thức và những đóng góp của truyền thông đối với việc phát triển kinh tế xã hội, đối với sự phát triển bền vững; nghiên cứu, khảo sát, đánh giá thực trạng
hoạt động truyền thông hiện nay, thành công và những hạn chế, cũng nhƣ những tác
động của truyền thông đến thúc đẩy sự phát triển xã hội; từ nghiên cứu lý luận thực
tiễn, đề xuất các giải pháp nâng cao chất lƣợng và hiệu quả của truyền thông. Đây
cơ sở quan trọng để phục vụ quá trình nghiên cứu về các mô hình sinh kế trên sóng
truyền hình địa phƣơng hiện nay của luận văn này.
Một số bài nghiên cứu: “Báo chí truyền thông Việt Nam trong tiến trình phát
triển và hội nhập” (PGS.TS Đinh Văn Hƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân
văn, ĐHQG Hà Nội), “Phát huy hơn nữa vai trò của báo chí với vấn đề phát triển
bền vững ở địa phƣơng” (TS. Đinh Xuân Hòa - Khoa Phát thanh & truyền hình,
Học viên Báo chí Tuyên truyền), “Vai trò của báo chí với phát triển bền vững địa
phƣơng” (PGS. TS. Dƣơng Xuân Sơn - Khoa Báo chí & Truyền thông, ĐH Khoa
học Xã Hội & Nhân văn Hà Nội), “Phát triển bền vững và vai trò của báo chí” (TS.
Phạm Việt Dũng – Trƣởng Ban Kinh tế, Tạp chí Cộng sản),… cho thấy vai trò của
báo chí đối trong thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền phục vụ phát triển bền vững địa
phƣơng, phát triển bền vững quốc gia. Tuy nhiên có thể nhận thấy, vấn đề sinh kế
đƣợc phản ánh trên báo chí nói chung và trên truyền hình nói riêng nhƣ thế nào thì
rất ít công trình nghiên cứu đề cập.
- Các nghiên cứu về phát triển kinh tế xã hội tỉnh Tuyên Quang và thành
phố Hải Phòng nhìn từ định hƣớng phát triển bền vững địa phƣơng
Đối với 2 địa phƣơng đƣợc khảo sát trong luận văn này, chúng tôi cũng đã tìm
thấy một số công trình nghiên cứu liên quan, nhƣ: “Cảng thị Hải Phòng trong hệ
thống giao thƣơng của đƣờng biển Việt Nam và thế giới” (Th.s. Nguyễn Thị Hoài
Phƣơng, trƣờng ĐH Khoa học Xã hội & Nhân văn), “Làng nghề Hải Phòng trong
7
bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” (Nguyễn Văn Tùng, Luận văn Th.s Kinh tế),
“Tăng trƣởng kinh tế gắn với công bằng xã hội ở Hải Phòng” (Trƣơng Thị Nga,
Luận văn Ths. Kinh tế),…Nghiên cứu đề xuất giải pháp thực hiện cung cấp nƣớc
sạch và vệ sinh môi trƣờng nông thôn tại tỉnh Tuyên Quang” (Nguyễn Thị Thúy Ái,
Luận văn Ths. Khoa học môi trƣờng và bảo vệ môi trƣờng), “Nghiên cứu điều
kiện phát triển du lịch cộng đồng ở huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang” (Nguyễn
Đức Khoa, Luận văn Th.s Du lịch),…
Các công trình nghiên cứu kể trên đều có những điểm chung: hoặc là nghiên
cứu về mô hình sinh kế trên từng lĩnh vực cụ thể nhƣ kinh tế, xã hội hay môi trƣờng
của các ngành chuyên biệt; hoặc đặt trọng tâm nghiên cứu một cách tổng quát về
vai trò của báo chí với phát triển bền vững; hay một loại hình báo chí cụ thể, nhƣ:
báo điện tử, phát thanh,… đối với vấn đề phát triển bền vững nói chung. Đây là
những tài liệu quí giá mà tác giả luận văn có thể khai thác và tham khảo những kiến
thức cần thiết cho luận văn của mình. Tuy nhiên, mặc dù đã có nhiều khoá luận tốt
nghiệp Đại học và Luận văn sau Đại học nghiên cứu về vấn đề phát triển bền vững
cũng nhƣ mô hình sinh kế trên báo chí nhƣng chƣa có đề tài nào nghiên cứu, khảo
sát riêng về các mô hình sinh kế trên sóng truyền hình địa phƣơng. Bởi vậy, “Mô
hình sinh kế trên sóng truyền hình địa phương” là một đề tài hoàn toàn mới, thú vị.
Do vậy, chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài này với mong muốn sẽ đem lại những kết
quả nghiên cứu hữu ích về báo chí truyền thông nói chung và báo truyền hình nói
riêng, đồng thời đóng góp thêm những cơ sở lý luận và thực tiễn đối với phát triển
sinh kế bền vững tỉnh Tuyên Quang và thành phố Hải Phòng - những địa phƣơng dễ
chịu tổn thƣơng bởi biến đổi khí hậu.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu:
- Luận văn xác định mục tiêu đánh giá thực trạng công tác thông tin, truyền
thông về mô hình sinh kế trên sóng truyền hình địa phƣơng hiện nay. Từ đó, chỉ ra
những thành công và hạn chế, đồng thời để xuất giải pháp nhằm góp phần nâng cao
chất lƣợng truyền thông phát triển các mô hình sinh kế, đóng góp vào quá trình xóa
đói giảm nghèo và phát triển bền vững quốc gia.
8
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa lý luận về truyền thông phát triển nói chung và báo chí truyền
hình với phát triển bền vững địa phƣơng nói riêng; về định hƣớng của Đảng, Nhà
nƣớc đối với phát triển bền vững địa phƣơng, xây dựng các mô hình sinh kế phù
hợp và bền vững cho các địa phƣơng với từng đối tƣợng cụ thể bị tác động.
- Tổng quan về định hƣớng truyền thông phát triển, về định hƣớng của Đảng,
Nhà nƣớc đối với phát triển sinh kế bền vững tại tỉnh Tuyên Quang và thành phố
Hải Phòng cũng nhƣ vai trò của truyền hình đối với vấn đề này.
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng, so sánh công tác thông tin tuyên
truyền về mô hình sinh kế của 2 kênh truyền hình Hải Phòng (THP) và truyền hình
Tuyên Quang (TTV) về các mặt nội dung, hình thức thể hiện thông tin mô hình sinh
kế của 2 địa phƣơng.
- Đánh giá ƣu, nhƣợc điểm của truyền hình với vấn đề thông tin về mô hình
sinh kế, đề xuất giải pháp nâng cao chất lƣợng các chƣơng trình truyền hình về vấn
đề này trên 2 kênh truyền hình THP và TTV.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài: hoạt động thông tin, tuyên truyền về mô
hình sinh kế cho ngƣời dân trên sóng truyền hình địa phƣơng.
- Phạm vi nghiên cứu: Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi thực hiện
khảo sát mô hình sinh kế đƣợc phát sóng trong chƣơng trình Thời sự của 2 địa
phƣơng là Hải Phòng và Tuyên Quang từ tháng 4 năm 2016 đến tháng 4 năm 2017.
Sở dĩ, chúng tôi chọn 2 địa phƣơng này bởi đây là 2 tỉnh, thành phố có đặc điểm địa
lý và điều kiện tự nhiên khá đặc trƣng cho 2 vùng kinh tế là khu vực Tây Bắc Bộ và
Đông Bắc Bộ, đại diện cho khu vực miền núi và miền biển. Qua đây mong muốn có
đƣợc cái nhìn tổng quan về việc sử dụng, phát huy vai trò của các chƣơng trình
truyền hình trên 2 kênh truyền hình Hải Phòng (THP) và truyền hình Tuyên Quang
(TTV) trong thực hiện tuyên truyền, định hƣớng phát triển bền vững của 2 địa
phƣơng này qua các mô hình sinh kế cho nhân dân địa phƣơng. Việc khảo sát,
nghiên cứu trong thời gian một năm cũng sẽ cơ bản đánh giá đƣợc một cách tổng
9
quát về việc phản ánh vấn đề phát triển của các địa phƣơng, nhất là những tác động
của điều kiện thời tiết, thiên tai đặc thù tới tỉnh Tuyên Quang và thành phố Hải
Phòng qua từng thời điểm trong năm.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu:
Để thực hiện đề tài này, luận văn có sử dụng một số phƣơng pháp nghiên cứu
sau:
- Phương pháp nghiên cứu lịch sử và sử dụng các tài liệu thứ cấp: Chúng tôi
tiến hành sƣu tầm, tập hợp các văn kiện, chỉ thị, nghị quyết; các văn bản, tài liệu của
Đảng, nhà nƣớc liên quan đến xã hội hóa thông tin báo chí nhằm tìm hiểu chủ
trƣơng, đƣờng lối, định hƣớng của Đảng, Nhà nƣớc về vấn đề này; tập hợp, hệ
thống tài liệu lý tuận từ các sách, báo, tạp chí, các công trình khoa học trong và
ngoài nƣớc có liên quan đến đề tài. Chúng tôi cũng đã thu thập các tài liệu liên quan
đến định hƣớng, chính sách của 2 địa phƣơng là tỉnh Tuyên Quang và thành phố
Hải Phòng về phát triển bền vững địa phƣơng và xây dựng các mô hình sinh kế cho
nhân dân địa phƣơng.
-Phương pháp phân tích nội dung: Đề tài sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu
này để khảo sát, phân tích nội dung và hình thức thể hiện các tin, bài của hai kênh
truyền hình địa phƣơng là THP và TTV để đánh giá thực trạng, thành công và hạn
chế của báo chí truyền hình trong việc hỗ trợ, thúc đẩy sự phát triển bền vững của
hai địa phƣơng là thành phố Hải Phòng và tỉnh Tuyên Quang.
- Phương pháp phỏng vấn sâu và và thảo luận nhóm: phƣơng pháp phỏng vấn
sâu (phỏng vấn trực tiếp và phỏng vấn qua điện thoại) đƣợc tác giả luận văn tiến
hành đối với lãnh đạo các địa phƣơng, các nhà khoa học, các nhà quản lý báo chí,
lãnh đạo đài, phóng viên chuyên làm phóng sự… nhằm thu đƣợc những đánh giá
khách quan, có trọng lƣợng về chất lƣợng và hiệu quả xã hội của các chƣơng trình
truyền hình về mô hình sinh kế của thành phố Hải Phòng và tỉnh Tuyên Quang trên
sóng truyền hình THP và TTV.
- Phương pháp tiếp cận liên ngành: Đề tài nghiên cứu trƣờng kết hợp sử dụng
các phƣơng pháp cơ bản của báo chí học với các lĩnh vực khoa học xã hội, địa văn
10
hóa, kinh tế phát triển để tìm hiểu thực trạng hoạt động thông tin tuyên truyền về
mô hình sinh kế tại các những địa phƣơng trong diện khảo sát.
Các nhóm phƣơng pháp này vừa truyền thống, vừa hiện đại, giúp cho kết quả
nghiên cứu đạt đƣợc độ chính xác cao nhất, đáng tin cậy nhất.
6. Đóng góp mới của luận văn
- Đây là công trình đầu tiên ở cấp độ luận văn thạc sĩ chuyên ngành Báo chí
học đặt vấn đề nghiên cứu về các mô hình sinh kế trên sóng truyền hình địa phƣơng.
-Trong luận văn này, các tin, bài, phóng sự, các chƣơng trình truyền hình trên
hai kênh truyền hình THP và TTV về các mô hình sinh kế đƣợc nhìn nhận, phân
tích, đánh giá một cách toàn diện, từ nhiều góc độ. Qua đó làm rõ thực trạng, bao
gồm những thành công, hạn chế. Trên cơ sở đó, luận văn đề xuất các giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả tuyên truyên, giáo dục, giải thích về phát triển bền vững
trên sóng truyền hình địa phƣơng.
- Kết quả của luận văn là sự khẳng định vai trò của truyền hình địa phƣơng
trong thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền về mô hình sinh kế, góp phần thực hiện các
nhiệm vụ chính trị theo tinh thần các chỉ thị, nghị quyết của Đảng cũng nhƣ định
hƣớng phát triển của 2 địa phƣơng là thành phố Hải Phòng và tỉnh Tuyên Quang về
phát triển bền vững, ổn định đời sống cho nhân dân.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Ý nghĩa lý luận của đề tài:
- Đề tài góp phần làm rõ và phong phú hơn lý luận về vai trò của báo chí
truyền hình với phát triển bền vững. Đồng thời, đề tài cũng cung cấp những luận
điểm khoa học, hệ thống hóa cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu về vai trò
của báo chí truyền hình đối với sự phát triển mô hình sinh kế bền vững một địa
phƣơng.
Ý nghĩa thực tiễn của đề tài:
- Quá trình khảo sát, phân tích để nghiên cứu, đề tài đánh giá những thành
công, hạn chế của truyền hình địa phƣơng trong việc thông tin, tuyên truyền, thúc
đẩy phát triển các mô hình sinh kế ở địa phƣơng. Từ đó đề xuất các giải pháp, kiến
11
nghị nhằm nâng cao chất lƣợng, hiệu quả tuyên truyền của các chƣơng trình truyền
hình trên hai Đài truyền hình địa phƣơng là Đài PT - TH Hải Phòng và Đài PT - TH
Tuyên Quang về lĩnh vực này.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài cũng sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho các
địa phƣơng trong việc khai thác, sử dụng thông tin trên sóng truyền hình địa phƣơng
để hỗ trợ, thúc đẩy phát triển các mô hình sinh kế ở địa phƣơng mình.
8. Kết cấu, bố cục
Luận văn gồm 3 phần: Mở đầu, Nội dung và Kết luận.
Phần Nội dung của luận văn gồm 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Lý luận chung về truyền thông phát triển và vai trò của truyền hình
trong hoạt động thông tin tuyên truyền về phát triển mô hình sinh kế
Chƣơng 2: Thực trạng truyền thông về mô hinh sinh kế trên sóng truyền hình địa
phƣơng
Chƣơng 3: Đề xuất giải pháp nâng cao chất lƣợng truyền thông về mô hình
sinh kế trên sóng truyền hình địa phƣơng.
12
CHƢƠNG 1:
LÝ THUYẾT CHUNG VỀ TRUYỀN THÔNG PHÁT TRIỂN,
TRUYỀN HÌNH ĐỊA PHƢƠNG VÀ VĂN HÓA VÙNG
TRONG TRUYỀN THÔNG VỀ MÔ HÌNH SINH KẾ
1.1. Các khái niệm liên quan
- Biến đổi khí hậu: là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyển, thuỷ
quyển, sinh quyển, thạch quyển hiện tại và trong tƣơng lai bởi các nguyên nhân tự
nhiên và nhân tạo [27, tr.4].
- Phát triển bền vững: là một phƣơng thức phát triển kinh tế- xã hội nhằm
giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trƣởng kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội và
bảo vệ môi trƣờng với mục tiêu đáp ứng tốt hơn các nhu cầu của thế hệ hiện tại
đồng thời không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau. Hay
nói cách khác: đó là sự phát triển hài hoà cả về kinh tế, văn hoá, xã hội, môi trƣờng
ở các thế hệ nhằm không ngừng nâng cao chất lƣợng sống của con ngƣời [27, tr.4].
- Sinh kế:
Ý tƣởng về sinh kế đã có từ tác phẩm của Robert Chambers vào giữa những
năm 80 (sau đó đƣợc phát triển bởi Chamber, Conway và những ngƣời khác vào
đầu những năm 1990). Từ đó một số cơ quan phát triển đã tiếp nhận khái niệm sinh
kế và cố gắng đƣa vào thực hiện.
Theo đó, sinh kế bao gồm năng lực, tài sản (dự trữ, nguồn lực, yêu cầu, tiếp
cận) và các hoạt động cần có để bảo đảm phƣơng tiện sinh sống. Tổ chức CRD
(Trung tâm phát triển nông thôn miền Trung Việt Nam) khi triển khai các chƣơng
trình hoạt động phát triển cộng đồng giải thích rằng sinh kế là “tập hợp tất cả các
nguồn lực và khả năng mà con ngƣời có đƣợc, kết hợp với những quyết định và
hoạt động mà họ thực thi nhằm để đạt đƣợc mục tiêu và các ƣớc nguyện của họ”
Trong khung phân tích sinh kế bền vững của DFID thì “sinh kế bao gồm các khả
năng các tài sản (bao gồm cả các nguồn lực vật chất và xã hội) và các hoạt động cần
thiết để kiếm sống” [DFID, 1999, tr. 4].
13
Ở Việt Nam khái niệm sinh kế đƣợc giải thích trong Từ điển Tiếng Việt với
nghĩa “sinh kế là việc làm để kiếm ăn, để mƣu sống” [Viện Ngôn ngữ học, 2002].
Sinh kế là cách mƣu sinh của một ngƣời hoặc một nhóm ngƣời phụ thuộc chặt
chẽ vào nguồn lực năng lực ra quyết định và những hoạt động kiếm sống nhằm đạt
đƣợc những mục tiêu và ƣớc nguyện của họ. Tuy nhiên để mƣu sinh, con ngƣời
luôn phải chịu áp lực và mọi phía, đó là các nguồn lực tự nhiên, kinh tế, xã hội, môi
trƣờng. Trong các yếu tố tác động đến sinh kế, yếu tố khí hậu môi trƣờng có những
tác động ngày càng mạnh. Tình hình biến đổi khí hậu đã ảnh hƣởng lớn đến cuộc
sống sinh kế của cộng đồng dân cƣ đặc biệt là cộng đồng dân cƣ nghèo.
Một sinh kế gồm có những khả năng, những tài sản (bao gồm cả nguồn tài
nguyên vật chất và xã hội) và những hoạt động cần thiết để kiếm sống. Một sinh kế
đƣợc xem là bền vững khi nó có thể đối phó và khôi phục trƣớc tác động của những
áp lực và những cú sốc, và duy trì hoặc tăng cƣờng những năng lực lẫn tài sản của
nó trong hiện tại và tƣơng lai, trong khi không làm suy thoái nguồn tài nguyên thiên
nhiên (Chambers, R. And G. Conway, 1992).
Chiến lƣợc sinh kế là quá trình sinh ra quyết định về các vấn đề cấp hộ, bao
gồm những vấn đề nhƣ thành phần của hộ, tính gắn bó giữa các thành viên, phân bổ
các nguồn lực vật chất và chi phí vật chất của hộ (Seppala, 1996).
Khái niệm về sinh kế của hộ hay một cộng đồng là một tập hợp của các nguồn
lực và khả năng của con ngƣời kết hợp với những quyết định và những hoạt động
mà họ sẽ thực hiện để không những kiếm sống mà còn đạt đến mục tiêu đa dạng
hơn. Hay nói cách khác, sinh kế của một hộ gia đình hay một cộng đồng còn đƣợc
gọi là kế sinh nhai của hộ gia đình hay cộng đồng đó.
Và sinh kế chỉ bền vững khi nó có thể đƣơng đầu và phục hồi sau các cú sốc
hoặc cải thiện năng lực, tài sản, cung cấp các cơ hội sinh kế bền vững cho các thế hệ
kế tiếp; và đóng góp lợi ích cho các sinh kế khác ở cấp độ địa phƣơng hoặc toàn
cầu, trong ngắn hạn và dài hạn.
Khái niệm cho thấy “sinh kế” bao gồm các nguồn lực tự nhiên, kinh tế, xã hội
và văn hóa mà các cá nhân, hộ gia đình, hoặc nhóm xã hội sở hữu có thể tạo ra thu
14
nhập hoặc có thể đƣợc sử dụng, trao đổi để đáp ứng nhu cầu của họ. Hiểu biết và
đánh giá đúng cũng nhƣ biết huy động tối đa các nguồn lực sẽ thúc đẩy quá trình
phát triển sinh kế của cộng đồng.
- Mô hình sinh kế: Mô hình theo định nghĩa Từ điển tiếng Việt [Hoàng Phê,
2011] là hình thức diễn đạt ngắn gọn các đặc trƣng chủ yếu của một đối tƣợng theo
một phƣơng tiện nào đó để nghiên cứu đối tƣợng đó.
Nhƣ vậy, mô hình sinh kế là một hệ thống sinh kế mà ở đó con ngƣời là chủ
thế tác động lên các nguồn lực sinh kế để hình thành nên các hoạt động sinh kế nhằm
thực hiện chiến lƣợc sinh kế tạo ra kết quả sinh kế. Hay hiểu đơn giản, mô hình sinh kế
là cách thức tổ chức hoạt động cần có để bảo đảm phƣơng tiện sinh sống.
- Khung sinh kế: là một công cụ đƣợc xây dựng nhằm phân tích những yếu
tố ảnh hƣởng đến sinh kế của con ngƣời và tác động qua lại giữa chúng. Để duy trì
sinh kế, mỗi hộ gia đình thƣờng có các kế sách sinh nhai khác nhau. Kế sách sinh
nhai của hộ hay chiến lƣợc sinh kế của hộ là quá trình ra quyết định về các vấn đề
cấp hộ. Bao gồm những vấn đề nhƣ thành phần của hộ, tính gắn bó giữa các thành
viên, phân bổ các nguồn lực vật chất và chi phí vật chất của hộ. [DFID (1999),
Sustainable Livelihoods Guidance Sheets]
Chiến lƣợc sinh kế của hộ phải dựa vào năm loại nguồn lực (tài sản) cơ bản sau:
+ Nguồn nhân lực: Bao gồm kỹ năng, kiến thức, khả năng lao động và sức
khoẻ con ngƣời. Các yếu tố đó giúp cho con ngƣời có thể theo đuổi những chiến lƣợc
tìm kiếm thu nhập khác nhau và đạt những mục tiêu kế sinh nhai của họ. Ở mức độ gia
đình nguồn nhân lực đƣợc xem là số lƣợng và chất lƣợng nhân lực có sẵn.
+ Nguồn lực xã hội: Là những nguồn lực định tính dựa trên những gì mà con
ngƣời đặt ra để theo đuổi mục tiêu kế sinh nhai của họ. Chúng bao gồm uy tín của
hộ, các mối quan hệ xã hội của hộ.
+ Nguồn lực tự nhiên: Là cơ sở các tài nguyên thiên nhiên của hộ hay của
cộng đồng, đƣợc trông cậy vào để sử dụng cho mục đích sinh kế nhƣ đất đai, nguồn
nƣớc, cây trồng, vật nuôi, mùa màng v.v.
15
Trong thực tế, sinh kế của ngƣời dân thƣờng bị tác động rất lớn bởi những
biến động của nguồn lực tự nhiên. Trong các chƣơng trình di dân tái định cƣ, việc di
chuyển dân đã làm thay đổi nguồn lực tự nhiên của ngƣời dân và qua đó đã làm
thay đổi sinh kế của họ.
+ Nguồn lực vật chất: Bao gồm tài sản hộ gia đình hỗ trợ cho sinh kế nhƣ nhà
ở, các phƣơng tiện sản xuất, đi lại, thông tin v.v.
+ Nguồn lực tài chính: Là những gì liên quan đến tài chính mà con ngƣời có
đƣợc nhƣ: Nguồn thu nhập tiền mặt, tiền tiết kiệm, tín dụng và các nguồn khác nhƣ
lƣơng, nguồn hỗ trợ, viện trợ từ bên ngoài cho hộ gia đình và cho cộng đồng.
Bảng 1.1. Khung sinh kế
(Nguồn: Bộ phát triển quốc tế Anh quốc (DFID)
Mỗi hộ dân là một bộ phận cấu thành nên cộng đồng họ đang sống, các tài sản
và nguồn lực của họ cũng là một phần tài sản và nguồn lực của cộng đồng đó, vì
vậy chiến lƣợc sinh kế của mỗi hộ đều có sự tƣơng đồng và phù hợp với nhau cũng
nhƣ phù hợp với chiến lƣợc sinh kế của cộng đồng.
Chiến lƣợc sinh kế cộng đồng cũng dựa trên 5 loại nguồn lực trên nhƣng mang
ý nghĩa rộng hơn cho cả cộng đồng, đó là: số lƣợng và chất lƣợng nguồn nhân lực
của cộng đồng; Thể chế chính trị, phong tục, tập quán, uy tín của cả cộng đồng;
Điều kiện tự nhiên của địa bàn cộng đồng sinh sống; Các cơ sở hạ tầng xã hội hỗ trợ
16