ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TẠI TẬP ĐOÀN DỆT MAY
VIỆT NAM VINATEX
Tập đoàn Dệt-May Việt Nam (Vinatex) là tổ hợp các công ty đa sở hữu gồm
có công ty mẹ Tập đoàn Dệt-May Việt Nam; các đơn vị nghiên cứu đào tạo; và gần
120 công ty con, công ty liên kết là các công ty cổ phần, kinh doanh đa lĩnh vực từ
sản xuất - kinh doanh hàng dệt may đến hoạt động thương mại dịch vụ; có hệ
thống phân phối bán buôn, bán lẻ; hoạt động đầu tư tài chính, đầu tư vào lĩnh vực
hỗ trợ ngành sản xuất chính dệt may…
Tập đoàn Dệt-May Việt Nam - doanh nghiệp lớn nhất của ngành Dệt-May
Việt Nam sẽ tham gia tích cực nhất vào chiến lược chung của toàn ngành đã đề ra,
theo đuổi mục tiêu đưa Vinatex trở thành một tập đoàn đa sở hữu trong top 10 các
tập đoàn dệt may trên toàn thế giới vào năm 2015.
Trong chiến lược phát triển ngành công nghiệp dệt, may Việt Nam đến năm
2015, định hướng đến năm 2020 sẽ tập trung phát triển theo hướng chuyên môn
hoá, hiện đại hoá, tạo ra bước nhảy vọt về giá trị gia tăng của sản phẩm dệt, may
thông qua việc thực hiện ba chương trình trồng bông, dệt vải chất lượng cao và đào
tạo nguồn nhân lực có tính quyết định đến sự phát triển bền vững, ổn định lâu dài
của ngành Dệt-May Việt Nam.
Hiện tại Tập đoàn Dệt-May Việt Nam đã có quan hệ thương mại với hơn 400
tập đoàn, công ty đến từ 65 quốc gia và vùng lãnh thổ với kim ngạch xuất khẩu
hàng năm chiếm hơn 20% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt, may cả nước.
Vinatex chủ trương mở rộng hợp tác với mọi đối tác trong và ngoài nước
thông qua các hình thức liên doanh, hợp tác kinh doanh, tạo thị trường xuất khẩu
lớn và ổn định; gọi vốn các nhà đầu tư chiến lược để hợp tác lâu dài trên tinh thần
bình đẳng hai bên cùng có lợị.
Đánh giá lại hiện trạng ứng dụng CNTT
Ban Truyền thông có thể coi như một đối tượng tiếp nhận chuyển giao công
nghệ (phần cứng, phần mềm) để vận hành và khai thác. Sau một thời gian cần đánh
giá lại hiệu quả đầu tư, các chỉ tiêu kỹ thuật, các chỉ tiêu liên quan đến vận hành để
bước vào chu kỳ nâng cấp và đầu tư mới. Các kết quả đánh giá này nếu đầy đủ,
chính xác sẽ cung cấp cho chủ doanh nghiệp các thông tin giúp họ cải thiện nâng
cao hiệu quả vận hành của hệ thống hiện có, đồng thời có những quyết định đầu tư
mới đúng đắn hơn. Các công tác trên được gọi là kiểm toán (Audit) hệ thống
CNTT của Ban.
Trong những năm qua, Tập Đoàn đã đầu tư không ít tiền bạc, thời gian, con
người cho việc ứng dụng CNTT. Nhưng cái kết quả chưa cao.
Theo logic của cuộc sống, những dự án đầu tư không được đánh giá hiệu
quả một cách nghiêm ngặt thường là những dự án yếu kém (không sinh lời), giống
như kiến thức còn lưu lại trong đầu sinh viên sau mỗi môn học không phải thi kiểm
tra thường là con số 0. Theo logic này, hiệu quả ứng dụng CNTT trong những năm
qua phải là yếu kém?
Xuất phát từ những quan sát thực tế, cá nhân tôi cho rằng hiện trạng ứng
dụng CNTT tại Việt Nam trong những năm qua là rất yếu kém. Có thể nhìn thấy
mức độ yếu kém này nếu chúng ta:
- So sánh với các nước trong khu vực như Singapore, Malaisia, Thailand...
- So sánh với tốc độ phát triển ứng dụng của ngành tin học viễn thông trên
thế giới.
- So sánh với tiền bạc mà chúng ta đã đầu tư.
- So với nhân lực mà chúng ta đã đầu tư.
- So với thời gian mà chúng ta đã triển khai.
- So với kế hoạch mà nhà nước và các doanh nghiệp đã đưa ra.
Như vậy, quan điểm "về cơ bản là thất bại" không phải là hoàn toàn vì lý.
Nhưng dù thế nào đi nữa, để có thể thành công hơn, tôi cho rằng chúng ta phải chỉ
ra bằng được những nguyên nhân căn bản, cốt lõi của những thất bại đã qua và
kiên quyết tìm cách loại trừ tận gốc những nguyên nhân này.
Vậy những nguyên nhân không thành công khi ứng dụng CNTT là gì?
Nguyên nhân đầu tiên và quan trọng nhất là Nhận thức chưa đúng mức vai
trò của CNTT trong việc nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm của
các cấp lãnh đạo.
Phần lớn lãnh đạo các tổ chức tin rằng họ đã nhận thức được vai trò của
CNTT, nhưng thực chất mới chỉ trên lời nói chứ chưa phải trên việc làm. Tuy nói
CNTT là quan trọng, nhưng lãnh đạo không dành đủ thời gian, không dành đủ tiền
bạc cho CNTT, không trực tiếp chỉ đạo hay tham gia ý kiến. Cán bộ phụ trách
CNTT tại các đơn vị hầu như chẳng được trao quyền hạn gì đáng kể. Họ không
được tham gia vào định hướng chiến lược ứng dụng CNTT, không được tham gia
vào tái cấu trúc các quy trình nghiệp vụ...
Nguyên nhân thứ hai là môi trường ứng dụng CNTT chưa tốt.
Đầu tiên, môi trường ứng dụng CNTT chưa tốt thể hiện ở tập quán lãnh đạo
theo kinh nghiệm và bản năng của rất nhiều lãnh đạo. Điều này thực sự làm giảm
vai trò của CNTT. Nếu lãnh đạo không sử dụng thông tin để ra quyết định thì ý
nghĩa của hệ thống thông tin không còn nữa. Lãnh đạo không sử dụng thông tin thì
thuộc cấp cũng không cần thông tin, cuối cùng dẫn đến tình trạng không có nhu
cầu về thông tin trong toàn bộ hệ thống. Các tổ chức, nơi mà lãnh đạo luôn luôn
đói tin, luôn luôn đòi hỏi thông tin, thực sự là mảnh đất mầu mỡ cho CNTT phát
triển.
Thứ hai, môi trường ứng dụng CNTT chưa tốt thể hiện ở các quy trình
nghiệp vụ lạc hậu hoặc không ổn định. Chúng ta đều biết, không thể ứng dụng
CNTT cho một quy trình nghiệp vụ không ổn định. Ngoài ra, nếu ứng dụng CNTT
cho các quy trình cũ lạc hậu thì sự cải thiện không đáng kể (nếu tính kỹ hiệu quả
đầu tư có thể cho kết quả âm).
Thứ ba, môi trường ứng dụng CNTT chưa tốt thể hiện ở trình độ quản lý của lãnh
đạo các cấp không cao. Do trình độ hạn chế, nhiều cán bộ lãnh đạo ngại ứng dụng
CNTT, ngại học tin học vì sợ lộ ra những khiếm khuyết về trình độ. Nhưng thực tế
chỉ ra rằng, chính CNTT có thể trở thành trợ thủ đắc lực nhất để bù cho những
khiếm khuyết về trình độ của lãnh đạo nếu có (những giám đốc thực sự giỏi có thể
không cần đến CNTT).
Nguyên nhân thứ ba là các Phòng, Ban chưa cảm thấy nguy cơ mất cạnh
tranh :
Tâm lý chung của rất nhiều lãnh đạo các cơ quan hiện nay là, ứng dụng
CNTT cũng tốt, chưa ứng dụng cũng chẳng sao. Không có gì bức bách cả. Thực tế
ngày nay, không chỉ các doanh nghiệp phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt.
Trong nội bộ một Tập Đoàn, những Phòng, Ban áp dụng CNTT điện tử tốt cũng có
cơ hội thu hút đầu tư tốt hơn những Phòng, Ban quan liêu giấy tờ. Ứng dụng
CNTT là biện pháp tốt nhất để nâng cao năng lực cạnh tranh của tất cả các Phòng,
Ban của Tập Đoàn trong bối cảnh hiện nay.
Nguyên nhân thứ tư là các đề cương dự án CNTT chất lượng kém nhưng vẫn
được triển khai
Rất ít dự án ứng dụng CNTT bắt đầu bằng những đánh giá chính xác nhu
cầu thực tế. Thiếu việc xác định và đánh giá nhu cầu một cách nghiêm túc sẽ dẫn
đến tình trạng, nhiều nhu cầu cấp thiết hơn không được đáp ứng, trong khi những
cầu không quan trọng và tốn kém lại được phục vụ. Hầu hết các dự án CNTT hiện
nay bắt đầu bằng ngân sách có bao nhiêu tiền. Một dự án với mong muốn tiêu tiền,
tất nhiên khó có thể có hiệu quả đầu tư cao.
Nguyên nhân thứ năm là thiếu cán bộ có đủ trình độ
Để triển khai CNTT trong bất kỳ lĩnh vực nào, chúng ta cần sự tích hợp hai
mảng kiến thức: CNTT và kiến thức chuyên ngành của lĩnh vực đó. Nhiều dự án
ứng dụng CNTT không thành công là do thiếu cán bộ trầm trọng: thiếu cán bộ hiểu
biết nghiệp vụ có kiến thức tin học; thiếu cán bộ tin học có hiểu biết nghiệp vụ;
thiếu cán bộ có kinh nghiệm triển khai dự án; Thiếu cán bộ có kinh nghiệm quản lý
dự án... Ngoài ra trình độ của người sử dụng, khai thác các ứng dụng cũng đóng
vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả của các dự án ứng dụng CNTT.
Các nguyên nhân khác
Có rất nhiều những nguyên nhân khác, tôi chỉ xin liệt kê một số nguyên
nhân quan trọng hơn.
Nhận thức của các nhà đầu tư còn phiến diện, coi trọng phần cứng, coi nhẹ
phần mềm. Đa số chưa coi trọng công tác tổ chức thực hiện. Rất ít lãnh đạo coi
trọng việc tái cấu trúc các quy trình cũ để nâng cao hiệu quả của ứng dụng CNTT.
Không đánh giá đúng tầm quan trọng trong mối quan hệ tương tác với người
sử dụng. Nhiều dự án bỏ ngỏ phần đào tạo, hoặc chỉ làm lấy lệ. Một số dự án
không đánh giá đúng vai trò của các công nghệ liên quan. Có nhiều dự án không
thành công vì chọn sai đối tác.
Cung cách tổ chức thầu hiện nay chủ yếu dựa vào giá bỏ thầu. Các tiêu chí
về kỹ thuật, kinh nghiệm triển khai, đội ngũ thực hiện, quy trình thực hiện ít được
chú ý. Các công ty đầu tư vào các quy trình chất lượng ISO9000 không được cộng
điểm, cho dù chất lượng triển khai của những công ty này có mức độ bảo đảm cao
hơn rất nhiều. Nhiều dự án thất bại do quy trình chuyển giao (bàn giao hệ thống)
không tốt. Một số dự án khác không có hiệu quả do không có kinh phí để duy trì hệ
thống sau khi nghiệm thu như: cập nhật dữ liệu, khắc phục sự cố...
Thực tế hiện nay các phòng, Ban áp dụng CNTT chưa được hình thành hoặc
mới được số ít Phòng, Ban áp dụng. Việc đánh giá hiện trạng, hiệu năng, hiệu quả
của hệ thống mang tính định tính, chưa lượng hóa bằng các chỉ tiêu dạng KPI. Từ
đó làm cho lãnh đạo không có các số liệu và luôn coi CNTT là nơi tiêu tiền nhưng
không tính được hiệu quả đầu tư.
Đánh giá hiện trạng hệ thống CNTT cũng giúp cho bộ phận IT đưa gia các
giải pháp cải tiến vận hành hệ thống CNTT tốt hơn. Giúp cho xây dựng hoạch định
định hướng phá triển, xây dựng kế hoạch tổng thể ứng dụng CNTT của Tập Đoàn
chính xác.
Về kỹ thuật, một hệ thống CNTT trong Tập Đoàn có thể được xem xét phân
loại theo các mảng sau:
•
Hệ thống hạ tầng bao gồm:trung tâm dữ liệu, hệ thống máy chủ, hệ
thống network, các thiết bị máy tính và thiết bị ngoại vi, thiết bị lưu trữ
•
Các phần mềm hệ thống: Hệ điều hành máy chủ, CSDL, hệ điều
hành máy trạm, Email, phòng chống Virus, an toàn an ninh dữ liệu
•
Các giải pháp ứng dụng: Các phần mềm, giải pháp ứng dụng đang
vận hành khai thác
Dưới quan điểm vận hành, việc phân loại lại theo các góc nhìn sau:
•
Các quy trình vận hành hệ thống , kiểm soát sự thay đổi
•
Tính liên tục trong vận hành
•
An toàn và an ninh dữ liệu
Ở quan điểm quản lý, các vấn đề cần được xem xét lại là:
•
Quản lý tài sản CNTT
•
Xây dựng tổ chức, bộ máy vận hành hệ thống CNTT của doanh
nghiệp
•
Xây dựng hệ thống quy trình cho điều hành bộ máy CNTT : Quy trình
quản lý sự thay đổi, mua sắm, Quy trình quản trị dự án
•
Công tác giám sát và kiểm tra
Hiện nay, công nghệ thông tin (CNTT) đang hiện diện và đóng vai trò quan
trọng không thể thiếu trong quá trình quản trị, điều hành các hoạt động sản xuất
kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Sự phát triển và ứng dụng của Internet đã làm
thay đổi mô hình và cách thức hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, việc
chuyển dần các giao dịch truyền thống sang giao dịch điện tử đã ảnh hưởng đến vị
trí, vai trò và cả nhu cầu của các bên hữu quan (khách hàng, nhà cung cấp, nhà đầu
tư…) của doanh nghiệp.
Các hoạt động đầu tư CNTT trong doanh nghiệp nhằm phục vụ cho các mục
tiêu của doanh nghiệp như hỗ trợ các hoạt động tác nghiệp, hỗ trợ cho việc ra các
quyết định quản lý, hỗ trợ việc xây dựng các chiến lược nhằm đạt lợi thế cạnh
tranh,…Có nhiều mô hình đầu tư CNTT trong doanh nghiệp, mỗi mô hình có cách
tiếp cận khác nhau nhưng đều có chung mục đích là giúp doanh nghiệp xác định
được lộ trình đầu tư và mối quan hệ giữa các thành phần trong bức tranh tổng thể
về ứng dụng CNTT trong doanh nghiệp. Mỗi doanh nghiệp cần phải chọn cho
mình mô hình đầu tư CNTT cho phù hợp để phát huy hiệu quả các khoản đầu tư,
phục vụ cho mục tiêu kinh doanh và phù hợp với năng lực khai thác công nghệ
của doanh nghiệp.
Mô hình đầu tư CNTT trong Ban truyền thông thuộc Tập Đoàn Dệt May
Việt Nam được tổng hợp theo 4 giai đoạn kế thừa nhau: Đầu tư cơ sở về CNTT;
Tăng cường ứng dụng điều hành, tác nghiệp; Ứng dụng toàn diện nâng cao năng
lực quản lý và sản xuất; Đầu tư để biến đổi doanh nghiệp và tạo lợi thế cạnh tranh
quốc tế. Tại mỗi giai đoạn đều có những mục tiêu cụ thể và tuân theo các nguyên
tắc cơ sở của đầu tư CNTT là: đầu tư phải phù hợp với mục tiêu kinh doanh của
doanh nghiệp; đầu tư phải đem lại hiệu quả; đầu tư cho con người đủ để sử dụng và
phát huy các đầu tư cho công nghệ.
Giai đoạn 1: Đầu tư cơ sở về CNTT
Giai đoạn này muốn nói đến sự đầu tư ban đầu của doanh nghiệp vào CNTT
bao gồm các trang bị cơ bản về phần cứng, phần mềm và nhân lực. Mức độ trang
bị “cơ bản” có thể không đồng nhất, tuy nhiên, cần đạt được một số yêu cầu chính
về cơ sở hạ tầng công nghệ (phần cứng & phần mềm) được trang bị đủ để triển
khai một số ứng dụng thường xuyên của doanh nghiệp như: trang bị máy tính, thiết
lập mạng LAN, WAN, thiết lập kết nối Internet, môi trường truyền thông giữa các
văn phòng trong nội bộ hoặc giữa các đối tác; về con người được đào tạo để sử
dụng được các hạ tầng trên vào một số hoạt động tác nghiệp hoặc quản lý của
doanh nghiệp, các đầu tư trong giai đoạn này nhằm xây dựng “nền tảng” cho các
ứng dụng CNTT tiếp theo.
Giai đoạn 2: Tăng cường ứng dụng điều hành, tác nghiệp
Mục tiêu của giai đoạn này là đầu tư CNTT để nâng cao hiệu suất hoạt động,
hỗ trợ cho các bộ phận chức năng trong doanh nghiệp, cụ thể cho hoạt động của
các phòng ban chức năng hoặc các nhóm làm việc theo nhiệm vụ. Đây là bước phát
triển tự nhiên của hầu hết các doanh nghiệp, vì khối lượng thông tin cần xử lý tăng
lên, và do đã có được các kỹ năng cần thiết về ứng dụng CNTT trong các giai đoạn
trước. Các đầu tư nhằm tự động hóa các quy trình tác nghiệp, kinh doanh nhằm
nâng cao hiệu quả hoạt động doanh nghiệp như triển khai các ứng dụng để đáp ứng
từng lĩnh vực tác nghiệp và sẵn sàng mở rộng theo yêu cầu kinh doanh; chương
trình tài chính-kế toán, quản lý nhân sự-tiền lương, quản lý bán hàng; các ứng dụng
mang tính rời rạc, hướng tới tác nghiệp và thống kê, CNTT tác động trực tiếp đến
phòng ban khai thác ứng dụng.
Giai đoạn 3: Ứng dụng toàn diện nâng cao năng lực quản lý và sản xuất
Nếu coi giai đoạn 2 là giai đoạn số hóa cục bộ, thì giai đoạn 3 là giai đoạn
số hóa toàn thể doanh nghiệp, chuyển từ cục bộ sang toàn thể là vấn đề lớn nhất
của giai đoạn 3 này. Về cơ sở hạ tầng CNTT cần có mạng diện rộng phủ khắp
doanh nghiệp, đảm bảo cho các luồng thông tin lưu chuyển thông suốt giữa các bộ
phận; các phần mềm tích hợp và các CSDL cấp toàn công ty là những công cụ chủ
đạo hỗ trợ cho hoạt động quản lý và tác nghiệp; triển khai các giải pháp đồng bộ
giúp DN thay đổi chất lượng quản lý nội tại, nâng cao năng lực điều hành, tăng
hiệu quả và tăng năng lực cạnh tranh như ERP, SCM, CRM,…Văn hóa số - được
khởi đầu xây dựng và phát triển dần dần trong hai giai đoạn trước nay đã trở nên
chín muồi, góp phần tạo nên văn hóa kinh doanh của doanh nghiệp, mà nền tảng là
các chuẩn mực làm việc, các thước đo công việc mới, cùng hệ thống các quy định
và công cụ đảm bảo cho việc thực thi đầy đủ các chuẩn mực đó trong toàn doanh
nghiệp.
Giai đoạn 4: Đầu tư để biến đổi doanh nghiệp, tạo lợi thế cạnh tranh quốc tế
Đây là giai đoạn đầu tư CNTT nhằm đạt được lợi thế cạnh tranh trong môi
trường kinh doanh hiện đại, tức là đầu tư CNTT vào các sản phẩm và dịch vụ để
tạo nên ưu thế về giá, tạo nên sự khác biệt, và các sản phẩm khác, phù hợp với
chiến lược cạnh tranh của doanh nghiệp. Hiện nay, các vấn đề kinh doanh trong
thời đại Internet, cụ thể hơn là sử dụng công nghệ và các dịch vụ của Internet trong
kinh doanh, có vai trò quyết định: xây dựng Intranet để chia sẻ thông tin trong
doanh nghiệp, extranet để kết nối và chia sẻ có lựa chọn các nguồn thông tin với
các đối tác, nhà cung cấp, khách hàng,…Sử dụng Internet để hình thành các quan
hệ TMĐT như B2B, B2C và B2G. Kế thừa phát huy sức mạnh trên nền tảng dữ
liệu và các quy trình nghiệp vụ đã hình thành trong DN đưa DN lên tầm cao mới,
kinh doanh toàn cầu, CNTT là công cụ đắc lực trong việc thực thi các chiến lược
kinh doanh.
Chiến lược giai đoạn 2015 - 2016theo những nội dung cơ bản dưới đây:
1. Các phương châm và quan điểm của chiến lược
•
Lấy phát triển nguồn nhân lực Công nghệ thông tin và Truyền thông
có trình độ và chất lượng cao làm khâu đột phá;
•
Lấy việc nhanh chóng làm chủ thị trường trong nước để từng bước
vững chắc mở rộng sang thị trường khu vực và toàn cầu làm khâu
quyết định.
Cùng với hai phương châm nêu trên, ba quan điểm cơ bản cần quán triệt,
nhấn mạnh khi xây dựng và triển khai :
•
Chuyển mạnh từ phát triển chiều rộng sang chiều sâu; từ số lượng
sang chất lượng; tăng cường hiệu quả, năng suất.
•
Tận dụng hiệu quả ngoại lực để tăng cường nội lực. Nội lực phải trở
thành nòng cốt và chủ yếu, ngoại lực giữ vai trò quan trọng.
•
Phát huy tính chủ động và sáng tạo trong mọi hoạt động kinh doanh
theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nâng cao năng
lực cạnh tranh toàn ngành.
2. Các mục tiêu định hướng cơ bản của chiến lược đến năm 2016
Đến năm 2016,Ban Công nghệ thông tin và Truyền thông Tập Đoàn trở
thành một Ban quan trọng đóng góp tích cực vào tăng trưởng GDP với tỷ lệ ngày
càng tăng. Công nghệ thông tin và Truyền thông Tập Đoàn đạt trình độ tiên tiến
trong các Doanh nghiệp góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước, tạo tiền đề cho phát triển kinh tế tri thức và xã hội thông tin.
Hạ tầng và Công nghệ thông tin đạt các chỉ tiêu về mức độ sử dụng dịch vụ
tương đương với mức bình quân của Doanh nghiệp, đa dạng các loại hình dịch vụ,
bắt kịp xu thế hội tụ công nghệ và dịch vụ Viễn thông - Công nghệ thông tin Truyền thông, hình thành hệ thống mạng tích hợp theo công nghệ thế hệ mới, băng
thông rộng, dung lượng lớn, mọi nơi, mọi lúc với mọi thiết bị truy cập, đáp ứng
nhu cầu ứng dụng Công nghệ thông tin và Truyền thông, rút ngắn khoảng cách số,
bảo đảm tốt hệ thống
Các giải pháp tạo tiền đề cho việc thực hiện chiến lược
a) Nâng cao nhận thức về vai trò của Công nghệ thông tin và Truyền thông:
Nâng cao nhận thức về xã hội thông tin, kinh tế tri thức và vai trò của Công nghệ
thông tin và Truyền thông trong toàn xã hội thông qua mọi hình thức tuyên truyền,
phổ biến, đặc biệt chú ý tận dụng các phương tiện thông tin đại chúng. Lãnh đạo
các Phòng, Ban cần thực sự nhận thức được Công nghệ thông tin và Truyền thông
là lĩnh vực quan trọng và ưu tiên của quốc gia; quan tâm tạo điều kiện thuận lợi và
hỗ trợ mạnh mẽ cho ứng dụng và phát triển Công nghệ thông tin và Truyền thông;
gương mẫu, đi đầu trong việc ứng dụng Công nghệ thông tin và Truyền thông.
b) Hoàn thiện cơ chế, chính sách, luật pháp
Rà soát và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật, các cơ chế, chính
sách nhằm tạo môi trường thuận lợi hỗ trợ ứng dụng và phát triển Công nghệ thông
tin và Truyền thông đáp ứng các yêu cầu về hội nhập toàn diện kinh tế quốc tế, bảo
đảm chủ quyền, an ninh quốc gia; tăng cường và phát huy nội lực, thúc đẩy hợp tác
và cạnh tranh lành mạnh giữa các Phòng, Ban trong Tập Đoàn.
c) Thực hiện tốt các chiến lược và quy hoạch
Xây dựng và thực hiện chiến lược, quy hoạch ngành nhằm sử dụng hiệu quả
và tiết kiệm nguồn vốn đầu tư, nguồn tài nguyên và các nguồn lực khác bảo đảm
thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Tập Đoàn. Từng lĩnh
vực cụ thể cần xây dựng chiến lược và quy hoạch bảo đảm phát huy cao độ tính
độc lập, tự chủ và sáng tạo.
d) Tăng cường tổ chức bộ máy quản lý của nhà nước; Đổi mới mô hình
Phòng,
Ban;
Tăng cường cán bộ quản lý về Công nghệ thông tin và Truyền thông theo mô hình
quản lý đa ngành, đa lĩnh vực phù hợp với xu thế hội tụ công nghệ và dịch vụ Viễn
thông - Công nghệ thông tin - Truyền thông.
Tổ chức hợp lý bộ máy cán bộ trên cơ sở phân biệt rõ các tổ chức có chức
năng xây dựng với các tổ chức có chức năng thực thi; đảm bảo hình thành hệ thống
quản lý nhà nước mạnh theo nguyên tắc “Năng lực quản lý đón đầu yêu cầu phát
triển”.
Đổi mới tổ chức, cải tiến quy trình, nâng cao trình độ quản lý, năng suất lao
động, hiệu quả kinh doanh và năng lực cạnh tranh của Phòng, Ban. Nghiên cứu áp
dụng các mô hình Phòng, Ban sáng tạo mới với các hình thức khác nhau nhằm đa
dạng hóa các hình thức sở hữu. Hình thành, liên kết chặt chẽ giữa các Phòng, Ban
trong lĩnh vực Công nghệ thông tin.
đ) Mở rộng và phát triển Công nghệ thông tin và Truyền thông.
Phát huy thế mạnh của các Phòng, Ban nhanh chóng làm chủ công nghệ
thông tin. Tập trung đầu tư phát triển các sản phẩm và dịch vụ Công nghệ thông tin
và Truyền thông Việt Nam với hàm lượng sáng tạo ngày càng cao.
e) Phát triển mạnh nguồn nhân lực
Hoàn thiện hệ thống chương trình đào tạo, dạy nghề thống nhất và chuyên
nghiệp về Công nghệ thông tin trong Tập Đoàn thông, đảm bảo cung cấp nguồn
nhân lực có trình độ và chất lượng cao.
Đẩy mạnh các hoạt động đào tạo nâng cao trình độ cho cán bộ công chức,
người lao động ở các doanh nghiệp, đặc biệt là nâng cao trình độ ứng dụng Công
nghệ thông tin và Truyền thông vào hoạt động quản lý nhà nước và sản xuất kinh
doanh.
Có chính sách và chế độ đãi ngộ đặc biệt để thu hút nhân tài, khuyến khích
chuyên gia có trình độ, năng lực, kinh nghiệm, vị trí và điều kiện thuận lợi trong
lĩnh vực Công nghệ thông tin và Truyền thông tích cực, nhiệt tình tham gia đóng
góp cho phát triển ngành Công nghệ thông tin và Truyền thông của Tập Đoàn.
g) Thu hút đầu tư và huy động nguồn vốn
Hình thành môi trường nuôi dưỡng, phát triển và đón đầu cuộc cách mạng khoa
học công nghệ, sẵn sàng về cơ sở hạ tầng vật chất, hậu cần, nguồn nhân lực để thu
hút các tập đoàn Công nghệ thông tin và Truyền thông lớn trên thế giới đầu tư,
triển khai hoạt động nghiên cứu và phát triển Công nghệ thông tin và Truyền thông
tại Việt Nam.