Tải bản đầy đủ (.doc) (19 trang)

PHÂN TÍCH PEST và SWOT của SEABANK KHI RA NHẬP THỊ TRƯỜNG NGÂN HÀNG bán lẻ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (298.18 KB, 19 trang )

PHÂN TÍCH PEST VÀ SWOT CỦA SEABANK KHI RA NHẬP THỊ TRƯỜNG
NGÂN HÀNG BÁN LẺ

I. GIỚI THIỆU VỀ NGÂN HÀNG TMCP ĐÔNG NAM Á (SEABANK)
1. Giới thiệu chung
Tên tiếng Việt:

Ngân hàng TMCP Đông Nam Á

Tên tiếng Anh:

Southeast Asia Commercial Joint Stock Bank

Tên viết tắt:

SeABank

Hội sở:

25 Trần Hưng Đạo, Hoàn Kiếm, Hà Nội

Điện thoại:

(+844) 3944 8688

Fax:

(+844) 3944 8689

Website:


www.seabank.com.vn

Email:



Ngân hàng TMCP Đông Nam Á - SeABank được thành lập từ năm 1994, là một trong
những ngân hàng TMCP thành lập sớm nhất tại Việt Nam. Trải qua 18 năm hình thành và
phát triển, hiện tại SeABank có vốn điều lệ 5.335 tỷ đồng cùng tổng giá trị tài sản lên tới
gần 102 nghìn tỷ đồng và mạng lưới hoạt động gồm 155 điểm giao dịch tại khắp 3 miền
trên cả nước cùng đội ngũ nhân sự hơn 2100 người được đào tạo bài bản, có tính hệ thống
và chiều sâu.
Theo chiến lược phát triển rõ ràng, SeABank đã lựa chọn hợp tác với các cổ đông hàng
đầu trong nước và quốc tế, tiêu biểu nhất là cổ đông chiến lược nước ngoài, Tập đoàn tài
chính ngân hàng hàng đầu châu Âu và thế giới, Société Générale (Pháp) có bề dày 150
năm kinh nghiệm và các cổ đông chiến lược trong nước VMS Mobifone, Tổng công ty
Khí Việt Nam (PV Gas).
Với nội lực và nền tảng vững mạnh, SeABank luôn hướng tới mục tiêu trở thành Ngân
hàng bán lẻ tiêu biểu tại Việt Nam với các giá trị nổi bật về uy tín thương hiệu và chất
lượng sản phẩm, dịch vụ. Toàn bộ điểm giao dịch của ngân hàng trên toàn quốc đều được
triển khai xây dựng nội - ngoại thất theo các chuẩn mực quốc tế, đảm bảo về kỹ thuật, mỹ


thuật và nhận diện thương hiệu, qua đó đã góp phần tạo lập không gian giao dịch chuyên
nghiệp của một ngân hàng bán lẻ tiêu biểu, mang đến sự thuận tiện cho khách hàng khi
đến giao dịch.

2. Chiến lược phát triển
Xây dựng và phát triển SeABank trở thành ngân hàng bán lẻ tiêu biểu tại Việt Nam là
chiến lược phát triển cốt lõi của SeABank thời gian tới. Trong chiến lược phát triển ngân

hàng bán lẻ, SeABank sẽ tập trung đặc biệt vào khách hàng cá nhân (bắt đầu bằng thị
trường đại chúng và thị trường trung lưu, sau đó sẽ tiến tới thị trường cao cấp), nhưng
vẫn phát triển đối tượng doanh nghiệp vừa và nhỏ và một số doanh nghiệp lớn. Các sản
phẩm dịch vụ của SeABank được thiết kế đa dạng phù hợp với nhu cầu và năng lực tài
chính của từng đối tượng và phân khúc khách hàng khác nhau.
3. Sứ mệnh
SeABank phấn đấu trở thành Tập đoàn Tài chính Ngân hàng bán lẻ tiêu biểu tại Việt Nam
với các giá trị nổi bật về uy tín thương hiệu và chất lượng sản phẩm dịch vụ, tài sản...
SeABank cam kết mang đến cho các khách hàng một tập hợp các sản phẩm - dịch vụ có
tính chuyên nghiệp cao đáp ứng tối đa nhu cầu của từng đối tượng khách hàng, tối ưu hoá
các giá trị cho khách hàng, lợi ích cổ đông và sự phát triển bền vững của tập đoàn, đóng
góp vào sự phát triển chung của cộng đồng và xã hội.
4. Tầm nhìn
Phát triển mạnh hệ thống theo cấu trúc của một ngân hàng bán lẻ , từng bước tạo lập mô
hình của một ngân hàng đầu tư chuyên doanh và phát triển đầy đủ theo mô hình của một
tập đoàn ngân hàng - tài chính đa năng, hiện đại, có giá trị nổi bật về chất lượng sản
phẩm dịch vụ và uy tín thương hiệu.
5. Phương châm hoạt động
Phát triển toàn diện, an toàn, hiệu quả và bền vững.
II. TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI MÔ HÌNH NGÂN HÀNG BÁN LẺ TẠI VIỆT NAM


Trong những năm qua, các ngân hàng thương mại tại Việt Nam tập trung nhiều và ngày
càng nhiều hơn về thị trường bán lẻ. Cho đến năm 2014 thị trường ngân hàng bán lẻ Việt
Nam đang bước sang giai đoạn bùng nổ với sự tham gia của hơn 100 tổ chức tín dụng,
trong đó có 48 ngân hàng thương mại và 53 chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Có thể thấy nổi bật từ năm 2013, các ngân hàng thương mại cổ phần nhà nước như
Vietcombank, VietinBank hay BIDV đều đẩy mạnh bán lẻ trong đó nổi bật nhất là BIDV
với một hệ thống bán lẻ rất chuyên nghiệp. Là một khách hàng của BIDV và nhiều ngân
hàng khác, bản thân tác giả thấy BIDV còn tham gia quảng cáo và triển khai bán lẻ mạnh

hơn rất nhiều các ngân hàng khác.
Làm thế nào để tồn tại trong một môi trường đang ngày càng cạnh tranh gay gắt? Một số
ngân hàng đã triển khai nhờ vào sự hỗ trợ của các ngân hàng nước ngoài như
Techcombank hợp tác với HSBC, Sacombank hợp tác với ANZ hay điển hình là
SeABank với thương vụ đình đám bán 20% cổ phần cho tập đoàn tài chính số một nước
Pháp – Societe Generale. Nhờ vào sự tư vấn và hỗ trợ của các ngân hàng nước ngoài, các
sản phẩm bán lẻ của SeABank đều nhanh chóng được đưa ra thị trường và đánh trực tiếp
vào người tiêu dùng cuối cùng là cá nhân hay các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Sang đến
2014, thương hiệu của SeABank đã trở nên khá mạnh do sự đầu tư vào phát triển thương
hiệu rất bài bản và khoa học. Nghiên cứu của các chuyên gia tài chính trên thế giới đã chỉ
ra rằng, phát triển ngân hàng bán lẻ là xu thế tất yếu đối với ngành ngân hàng. Hệ thống
ngân hàng Việt Nam cũng không ngoại lệ. Theo đó, một ngân hàng bán lẻ thành công cần
phải khẳng định mối liên hệ mật thiết giữa câu chuyện thương hiệu và sự khác biệt. Đó
không chỉ là sự khác biệt trong chất lượng dịch vụ, sản phẩm mà còn là sự sáng tạo trong
cách làm thương hiệu nhằm tạo ra các sản phẩm, dịch vụ không giống với các ngân hàng
khác. Ngay cả việc thay đổi nhận diện thương hiệu, SeABank cũng đã thay đổi từ màu
xanh vàng chuyển sang màu đỏ - màu được ưa chuộng trong khu vực Đông Nam Á nói
chung và Việt Nam nói riêng.
Như vậy, nhìn vào bức tranh tổng thể, với hơn 100 tổ chức tín dụng tham gia thị trường
bán lẻ trong đó có 48 Ngân hàng thương mại và hơn 53 tổ chức tín dụng nước ngoài vào


cuộc (một con số khá lớn) thì cho tới hiện nay, liệu ngân hàng bán lẻ có còn hấp dẫn đối
với các ngân hàng khác khi bắt đầu tham gia thị trường?
Để kiểm chứng điều này, chúng ta sẽ áp dụng mô hình 05 Áp lực cạnh tranh của Micheal
Porter để đánh giá xem liệu ngân hàng bán lẻ có còn thực sự hấp dẫn.
Về mô hình 05 áp lực cạnh tranh của Micheal Porter:

Theo Michael Porter, cường độ cạnh tranh trên thị trường trong một ngành sản xuất bất
kỳ chịu tác động của 5 lực lượng cạnh tranh sau:

1. Sức mạnh nhà cung cấp thể hiện ở các đặc điểm sau:
- Mức độ tập trung của các nhà cung cấp,
- Tầm quan trọng của số lượng sản phẩm đối với nhà cung cấp,
- Sự khác biệt của các nhà cung cấp,
- Ảnh hưởng của các yếu tố đầu vào đối với chi phí hoặc sự khác biệt hóa sản phẩm,
- Chi phí chuyển đổi của các doanh nghiệp trong ngành,
- Sự tồn tại của các nhà cung cấp thay thế,
- Nguy cơ tăng cường sự hợp nhất của các nhà cung cấp,


- Chi phí cung ứng so với tổng lợi tức của ngành.
2. Nguy cơ thay thế thể hiện ở:
- Các chi phí chuyển đổi trong sử dụng sản phẩm,
- Xu hướng sử dụng hàng thay thế của khách hàng,
- Tương quan giữa giá cả và chất lượng của các mặt hàng thay thế.
3. Các rào cản gia nhập thể hiện ở:
- Các lợi thế chi phí tuyệt đối,
- Sự hiểu biết về chu kỳ dao động thị trường,
- Khả năng tiếp cận các yếu tố đầu vào,
- Chính sách của chính phủ,
- Tính kinh tế theo quy mô,
- Các yêu cầu về vốn,
- Tính đặc trưng của nhãn hiệu hàng hóa,
- Các chi phí chuyển đổi ngành kinh doanh,
- Khả năng tiếp cận với kênh phân phối,
- Khả năng bị trả đũa,
- Các sản phẩm độc quyền.
4. Sức mạnh khách hàng thể hiện ở:
- Vị thế mặc cả,
- Số lượng người mua,

- Thông tin mà người mua có được,
- Tính đặc trưng của nhãn hiệu hàng hóa,
- Tính nhạy cảm đối với giá,
- Sự khác biệt hóa sản phẩm,
- Mức độ tập trung của khách hàng trong ngành,
- Mức độ sẵn có của hàng hóa thay thế,
- Động cơ của khách hàng.
5. Mức độ cạnh tranh thể hiện ở:
- Các rào cản nếu muốn “thoát ra” khỏi ngành,


- Mức độ tập trung của ngành,
- Chi phí cố định/giá trị gia tăng,
- Tình trạng tăng trưởng của ngành,
- Tình trạng dư thừa công suất,
- Khác biệt giữa các sản phẩm,
- Các chi phí chuyển đổi,
- Tính đặc trưng của nhãn hiệu hàng hóa,
- Tính đa dạng của các đối thủ cạnh tranh,
- Tình trạng sàng lọc trong ngành.
Với mô hình của Micheal Porter, chúng ta sẽ cùng phân tích dựa trên một số chỉ số cơ
bản nhất để đánh giá.
III. PHÂN TÍCH PEST VÀ SWOT CỦA SEABANK KHI RA NHẬP THỊ
TRƯỜNG NGÂN HÀNG BÁN LẺ
1. PHÂN TÍCH PEST
• Chính trị (Political)
- Về môi trường pháp lý hiện tại và tương lai: Hiện tại, Ngân hàng nhà nước đang chỉ đạo
các ngân hàng tập trung xử lý nợ xấu và đồng thời thúc đẩy các biện pháp bán lẻ nhằm
thúc đẩy cá nhân và doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đây là cơ hội để các ngân hàng bán lẻ như
SeABank mở rộng thị trường và tăng trưởng kinh doanh.

- Về cơ quan quản lý và quy trình công việc: Thời điểm hiện tại đang là thời điểm cạnh
tranh gay gắt của các ngân hàng bán lẻ, sau 05 năm xây dựng ngân hàng bán lẻ, SeABank
đã có hệ thống sản phẩm cùng quy trình kinh doanh ổn định và khoa học nhờ sự tư vấn
của Ngân hàng SG – Pháp. Năm 2014 là thời điểm lý tưởng để SeABank vượt lên và bứt
phá.
- Các chính sách của chính phủ: Hiện tại ngân hàng nhà nước giảm trần lãi suất xuống
mức thấp, điều này tạo điều kiện cho ngân hàng thương mại giảm lãi suất cho vay để thúc
đẩy tín dụng. Đây là điều kiện tốt cho một ngân hàng có nguồn vốn ổn định như
SeABank. Không quá áp lực bởi sự thiếu hụt nguồn vốn, SeABank sẽ có cơ hội vượt qua


các đối thủ cạnh tranh khác, những ngân hàng gặp nỗi lo về vốn và phải tìm cách nâng lãi
suất tiết kiệm, điều đó ảnh hưởng lớn đến lãi suất cho vay do áp lực về lợi nhuận.
• Kinh tế (Economic)
- Tình hình kinh tế trong nước và thế giới: Hiện nay, suy thoái kinh tế đang dần được đẩy
lùi, các nước suy thoái bắt đầu cho thấy sự phục hồi với mức tăng trưởng dương. Việt
Nam cũng nằm trong số đó. Các chỉ số về bất động sản và chứng khoán cũng đang cho
thấy sự phục hồi với mức tăng trưởng dương tuy chưa được cao. Tuy nhiên điều này cho
thấy năm 2014 nền kinh tế sẽ có những thuận lợi nhất định cho ngân hàng khi là năm bản
lề cho các doanh nghiệp phục hồi sản xuất kinh doanh.
- Các vấn đề về thuế chung và cụ thể cho sản phẩm/dịch vụ: Để khắc phục và hỗ trợ khó
khăn cho doanh nghiệp, Trong năm 2014, nhiều chính sách giảm và giãn thuê mới được
áp dụng. Dự kiến năm 2013 sẽ giảm khoảng 5000 tỉ đồng dựa vào các chính sách như:
gia hạn 06 tháng thời hạn nộp thuế doanh nghiệp, áp mức thuế TNDN 20% (thay vì 25%)
cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Giảm 50% thuế GTGT từ ngày 01/07/2013 đến hết
ngày 30/06/2014 cho các hoạt động kinh doanh nhà ở xã hội, cùng với đó là đề xuất giảm
lệ phí trước bạ đối với ôtô chở người dưới 10 chỗ ngồi theo hướng: đối với ôtô đăng ký
lần đầu có mức thu chung là 10%, các địa phương được điều chỉnh tăng không quá 50%
mức quy định chung; đối với ôtô đăng ký lần 2 trở đi áp mức thu không quá 2% và thực
hiện thống nhất trên toàn quốc. Các chính sách này sẽ có lợi cho những sản phẩm mũi

nhọn của ngân hàng là Cho vay mua nhà, mua ô tô, đặc biệt là các sản phẩm ngân hàng
bán lẻ.
- Về chu kỳ thị trường: Sau thời gian khủng hoảng, năm 2014 sẽ là năm mà theo dự đoán
Bất động sản cùng chứng khoán sẽ có cơ hội phục hồi. Các ngân hàng bán lẻ như
SeABank cũng đang có những chính sách nhằm thúc đẩy cho vay bất động sản và chứng
khoán nhằm đón đầu chu kỳ này.
- Các xu hướng phân phối: Hiện nay, ngày càng có nhiều chủ đầu tư và công ty kết hợp
với ngân hàng phân phối các sản phẩm. Kênh phân phối qua ngân hàng của các doanh
nghiệp và ngược lại, phát triển cho vay dựa vào sản phẩm của doanh nghiệp (các sản
phẩm cho vay mua nhà, ô tô, các sản phẩm cho vay tiêu dùng mua sắm trả góp) đang diễn


ra hết sức sôi nổi. Điều này ảnh hưởng lớn đến khách hàng, người tiêu dùng cuối cùng.
Việc thiếu hụt nguồn ngân sách cho chi tiêu sẽ được bù đắp từ phía ngân hàng. Đây là
một xu thế mới khi người dân có thể sở hữu những sản phẩm đắt tiền mà không phải sử
dụng tiền tích lũy. Đây cũng là cơ hội cho ngân hàng có thể đẩy mạnh các sản phẩm bán
lẻ như thẻ tín dụng, cho vay tiêu dùng.
- Về Lãi suất, tỷ giá hối đoái và các vấn đề tiền tệ: Tỷ giá được nhà nước giữ ở mức ổn
định trong những năm qua, tỷ lệ lạm phát đang được kiềm chế rất tốt nhờ các chính sách
tài khóa của nhà nước. Lãi suất như được đề cập ở trên đang ở mức lý tưởng cho người
dân và các công ty chi tiêu và hoạt động sản xuất kinh doanh.
• Văn hóa - xã hội (Sociocultural)
- Về xu hướng thay đổi phong cách sống: Người dân đang dần thay đổi nhận thức về việc
mua sắm và tiêu dùng. Thay vì tích lũy và đợi đến khi đủ tiền, người dân Việt Nam hiện
tại sẵn sàng vay vốn ngân hàng để thực hiện ước mơ sở hữu của mình. Điều này là phổ
biến tại các nước phát triển và sẽ ngày càng là xu hướng tương lai. Điều này rất có lợi
cho ngân hàng và nhất là các ngân hàng định hướng bán lẻ như SeABank.
- Thái độ và ý kiến của khách hàng: Hiện tại khách hàng đã có những thay đổi trong nhận
định về ngân hàng. Trước đây việc tiếp cận ngân hàng là rất khó khăn và ngân hàng
thường ở “chiếu trên” so với khách hàng nhưng giờ đây mọi thứ đã thay đổi. Khách hàng

trở thành những thượng đế thực sự và họ tìm đến các ngân hàng có dịch vụ và phong
cách phục vụ tốt. Là một trong những ngân hàng có dịch vụ tốt nhất Việt Nam, SeABank
chăc chắn sẽ có vị thế tốt để cạnh tranh với các ngân hàng khác.
- Về vấn đề truyền thông: Ngày càng nhiều ngân hàng quan tâm hơn đến vấn đề truyền
thông và Hình ảnh thương hiệu, công ty. Ngân sách truyền thông của SeABank là không
lớn, chỉ tầm 05 tỷ/01 năm và thấp hơn nhiều so với nhiều ngân hàng hàng khác. Điều đó
cũng cho thấy xu hướng cạnh tranh bình đẳng giữa các ngân hàng và các ngân hàng ngày
càng trở nên giống công ty.
• Công nghệ (Technological)
- Công nghệ độc lập hay phụ thuộc: Hiện tại các ngân hàng đang tự trang bị công nghệ
cho mình và độc lập về công nghệ. Không có nhiều quy định ràng buộc từ ngân hàng nhà


nước. Mức độ hoàn thiện của công nghệ cho phép ngân hàng gia tăng năng lực cạnh tranh
với các đối thủ nhờ việc hoàn thiện sản phẩm công nghệ cao. Năm 2012, SeABank được
vinh danh là ngân hàng số 01 Việt Nam về công nghệ thông tin, điều này cho thấy sức
mạnh cạnh tranh về các sản phẩm công nghệ cao của SeABank là rất lớn.
- Hoàn thiện về công nghệ cũng giúp các ngân hàng bán lẻ như SeABank hoàn thiện năng
lực sản xuất khi mà cuộc sống hiện tại ngày càng đòi hỏi nền tảng công nghệ cao.
Các phân tích với mô hình PEST đã cho thấy các điều kiện thuận lợi cho ngân hàng bán
lẻ nói chung và SeABank nói riêng. Năm 2014 là năm để ngân hàng bán lẻ bứt phá và
SeABank sẽ có cơ hội phát triển những nền tảng đã được xây dựng trong 05 năm qua.
2. PHÂN TÍCH SWOT
a. Điểm mạnh của SeABank:
-

Có nguồn vốn kinh doanh lớn và ổn định

-


Có sự hỗ trợ về vốn, kinh nghiệm từ ngân hàng hàng đầu thế giới là ngân hàng SG

-

Có đội ngũ nhân viên trẻ giàu tiềm năng và được đào tạo kỹ lưỡng.

-

Có nền tảng công nghệ vững chắc để phát triển sản phẩm.

-

Có chất lượng dịch vụ rất tốt.

b. Điểm yếu của SeABank:
-

Thương hiệu SeABank chưa thực sự mạnh, sức mạnh thương hiệu không lớn bằng các
ngân hàng khác như các ngân hàng cổ phần nhà nước BIDV, Vietinbank hay
Vietcombank và các ngân hàng lớn khác như ACB hay Techcombank.

-

Quy mô ngân hàng nhỏ chỉ với hơn 150 điểm giao dịch trên toàn quốc. So với hơn
1000 điểm giao dịch của Vietcombank hay BIDV thì đó là con số rất nhỏ.

c. Cơ hội
Như phân tích trong mô hình PEST, cơ hội với SeABank là rất lớn trong thời điểm hiện
tại. Các điều kiện thị trường đều đang có lợi cho các ngân hàng nhỏ hơn có thể cạnh tranh
sòng phẳng với các ngân hàng lớn. Là ngân hàng nhỏ những với những điểm mạnh như

công nghệ hay chất lượng dịch vụ cùng quy trình triển khai bài bản, SeABank sẽ có
những điều kiện tốt và sức mạnh để cạnh tranh trên thị trường.
d. Thách thức:


SeABank sẽ phải đối mặt với các thách thức đến từ:
-

Sự suy thoái kinh tế vẫn còn ảnh hưởng mạnh mẽ đến nền kinh tế. Nỗi lo về nợ xấu và
sự tích lũy tiền của người dân sẽ ảnh hưởng đến bước tiến của ngân hàng. Tuy nhiên
đây là thách thức chung cho toàn ngành ngân hàng .

-

Thách thức đến từ sự phát triển của các ngân hàng lớn khi giờ đây họ cũng bắt đầu
cho thấy sự thay đổi trong cách thức tiếp cận thị trường.

-

Thách thức đến từ các đối thủ ngang tầm và sự vươn lên mạnh mẽ của các ngân hàng
nhỏ hơn.

-

Cuối cùng là sự thách thức đến từ nội tại SeABank,làm sao để giữ được nhân viên
giỏi, liệu ngân hàng có mạnh dạn đầu tư những khoản chi phí lớn cho truyền thông và
phát triển sản phẩm mạnh hơn nữa để bứt phá

Cơ hội đang hiện hữu. Đi cùng với nó là những thách thức không nhỏ. SeABank cần phải
dựa vào và nâng tầm hơn nữa những điểm mạnh của mình để hạn chế và dần khắc phục

những điểm yếu để gia tăng sức mạnh cạnh tranh và bứt phá trong những năm tới.
IV. PHÂN TÍCH VỀ TÍNH HẤP DẪN CỦA THỊ TRƯỜNG NGÂN HÀNG BÁN LẺ
TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY
1. Thứ nhất, về sức mạnh của nhà cung cấp.
Nhà cung cấp ở đây thể hiện đầu vào của ngành. Với ngành ngân hàng, nhà cung cấp
phần lớn được quan tâm nhiều nhất chính là những người gửi tiền. Bản chất của ngân
hàng là đơn vị kinh doanh tiền tệ, nguồn thu chủ yếu đối với các ngân hàng vẫn là các
dịch vụ liên quan đến tiền như cho vay tiền, quy đổi tiền và đặc biệt là nhận tiền gửi. Ở
đây, nhà cung cấp vừa là khách hàng của ngân hàng. Trên phương diện kinh doanh thuần
túy như một công ty, những người gửi tiền ở vị thế của một nhà cung cấp nhiều hơn.
Người dân Việt Nam rất quan tâm đến vấn đề tiết kiệm và tích lũy. Theo báo cáo khảo sát
toàn cầu về niềm tin người tiêu dùng mới được hãng nghiên cứu thị trường Nielsen công
bố, Việt Nam là quốc gia tiết kiệm nhất trong khu vực ASEAN. Cụ thể, có 74% người
Việt tham gia khảo sát cho biết họ sẽ để dành tiền sau khi đã trang trải hết các sinh hoạt
phí thiết yếu trong cuộc sống. Xếp thứ 2 là Indonesia (72%), kế đến Philippines (68%),


Thái Lan (66%), Singapore (64%) và Malaysia (63%). Các quốc gia này đều thuộc Top
10 nước tiết kiệm nhất thế giới.
Có 90% người Việt Nam được hỏi cho biết họ thay đổi thói quen mua sắm của mình để
tiết kiệm tiền thừa. Trong đó, chi tiêu cho quần áo mới và các khoản giải trí ngoài gia
đình là những lựa chọn cắt giảm đầu tiên, kế đó là gas và điện. Tiết kiệm vẫn là lựa chọn
hàng đầu vì người tiêu dùng muốn bảo vệ ngân sách gia đình mình. Với tỷ lệ người dân
tiết kiệm như thế, có thể nói lượng đầu vào cho ngân hàng là rất lớn vì tỷ lệ phần tiền còn
lại sau khi chi tiêu của người dân Việt Nam vào khoảng 20%.
Bảng tổng hợp thu nhập - chi phí bình quân năm 2012 (ngàn đồng)
Chi tiêu
1608

Thu nhập

2000

Phần còn lại
392

CẢ NƯỚC
Phân theo thành thị, nông thôn
Thành thị
2304
3071
767
Nông thôn
1316
1541
225
Phân theo vùng
Đồng bằng sông Hồng
1898
2304
406
Trung du và miền núi phía
Bắc
1196
1285
89
Bắc Trung Bộ và duyên hải
miền Trung
1406
1469
63

Tây Nguyên
1535
1631
96
Đông Nam Bộ
2145
3241
1096
Đồng bằng sông Cửu Long
1373
1785
412
Nguồn: Theo số liệu chính thức của tổng cục thống kê công bố

Tỷ lệ
20%
25%
15%
18%
7%
4%
6%
34%
23%

Như vậy có thể thấy với tỷ lệ 90% dân số có thu nhập tham gia tiết kiệm, đầu vào của
ngân hàng vẫn là rất lớn. Thực tế trong những năm qua, tiết kiệm, vàng và chứng khoán
vẫn là một trong số những kênh tiết kiệm chính của người dân trong đó tiết kiệm chiếm
phần lớn. Ngoài ra, theo các chuyên gia phân tích, với tình hình kinh tế bất ổn như hiện
tại, Bất động sản vẫn sẽ chưa thể thanh khoản, vàng và chứng khoán có rủi ro cao, tiết

kiệm vẫn sẽ là kênh mà người dân đầu tư.


Trong khi đó, để kích thích tăng trưởng kinh tế, Ngân hàng nhà nước lại giảm lãi suất trần
xuống còn rất thấp (6%/ 01 năm). Đây là mức lãi suất trần thấp kỷ lục. Điều này khiến
cho “Vị thế” của người dân trở nên yếu kém hơn so với các năm trước. Nếu không gửi
tiết kiệm, người dân cũng chưa biết đầu tư vào đâu để sinh lời trong thời gian này. Có thể
thấy trong thời gian qua, khi sóng hạ lãi suất ngày càng lan rộng, nhiều khách hàng đang
băn khoăn, xót xa cho những khoản tiền gửi của mình. Không ít người mải miết tìm kiếm
xem nơi nào có lãi suất cao nhất để gửi. Thừa tiền nhưng đầu ra lại không có khiến nhiều
ngân hàng phải giảm lãi suất huy động. Hầu hết các ngân hàng cổ phần đã hạ từ 0,1-0,3
điểm phần trăm ở các kỳ hạn ngắn, trong đó có một số ngân hàng cắt giảm đến hai lần lãi
suất trong tuần qua. Tuy lãi suất huy động bị cắt giảm, nhưng theo các chuyên gia, tiền sẽ
không chảy ra khỏi hệ thống ngân hàng, bởi gửi tiết kiệm vẫn là kênh đầu tư tốt nhất hiện
nay. Tuy có thể không còn nhiều hấp dẫn, nhưng đây vẫn là lựa chọn khá an toàn và yên
tâm bởi lãi suất thực dương, so với các kênh khác như vàng, chứng khoán, bất động sản
thì có quá nhiều rủi ro.
2. Thứ hai, về sản phẩm thay thế
Đối với các sản phẩm đầu ra của ngân hàng nổi bật và được quan tâm nhiều nhất vẫn là
các sản phẩm cho vay. Cho đến nay, tín dụng vẫn mang lại cho ngân hàng nhiều lợi
nhuận nhất. Cùng với việc hạ trần lãi suất cơ bản, nhiều ngân hàng cũng “nhanh
chân” giảm lãi suất cho vay để kích cầu tín dụng. Chuyên gia cho rằng, nếu việc
giải quyết nợ xấu không có chuyển biến rõ rệt thì việc giảm lãi suất cho vay sẽ chủ
yếu đến từ các khoản vay cũ. Thực tế từ ngay trong ngày đầu thực hiện việc giảm
trần lãi suất huy động xuống 6%/năm (ngày 18/3), nhiều ngân hàng đã thông báo
chương trình giảm lãi suất cho vay. Điển hình như: LienVietPostBank với “Cho vay
ưu đãi - Giảm lãi hết năm với tổng trị chương trình là 2.000 tỷ đồng và 100 triệu
USD. Cùng với đó là một loạt các ngân hàng như BIDV, Agribank với lãi suất cho
vay áp mức 8%/năm đối với các đối tượng ưu tiên. Riêng lãi suất cho vay các đối
tượng thông thường, BIDV tiếp tục tuân thủ mức trần lãi suất 13%/năm đối với cho

vay sản xuất kinh doanh. Riêng cho vay ngắn hạn dưới 6 tháng tối đa không quá
9,5%năm…SeABank cũng có chương trình cho vay 0% trong tháng đầu tiên và 8%


trong 11 tháng tiếp theo, đây đang là chương trình được đánh giá là rất hấp dẫn đối
với người dân. Tuy nhiên, không phải ai cũng đủ điều kiện để đáp ứng các nhu cầu
của ngân hàng. Để đáp ứng được điều kiện của ngân hàng phải là những khách
hàng thực sự tốt. Hiện nay, dù cơ chế đã thoáng ra rất nhiều so với năm 2013 nhưng
ngân hàng vẫn hết sức thận trọng và phần lớn vẫn tập trung vào việc xử lý và phòng
ngừa rủi ro nợ xấu. Đứng trước tình hình đó nhiều doanh nghiệp và người dân triển
khai vay tiền tại các tổ chức tín dụng khác. Đây được xem là các sản phẩm thay thế
cho sản phẩm ngân hàng. Tuy nhiên, lãi suất quá cao và số tiền vay thấp làm cho
các sản phẩm của các tổ chức này có tính cạnh tranh thay thế không cao. Chờ đợi
ngân hàng nới lỏng chính sách cho vay và hạ lãi suất cho vay vẫn là phương án mà
nhiều doanh nghiệp và người dân chờ đợi.
3. Thứ ba, về các rào cản ra nhập,
Hiện nay, có thể thấy ngành bán lẻ đang gặp rất nhiều thuận lợi để phát triển và ngày
càng có thêm nhiều ngân hàng gia nhập bán lẻ. Thứ nhất, khi nền kinh tế ổn định,
tăng trưởng mạnh, các ngân hàng tập trung bán buôn vì nó đem lại lợi nhuận cao.
Thế nhưng, khi suy giảm, hàng loạt các tập đoàn, doanh nghiệp, nhà máy thua lỗ,
mất khả năng thanh toán. Những khoản cho vay đầu tư trước đây bắt đầu chuyển
sang nợ xấu khiến cho số tiền trích lập dự phòng ngày càng tăng, ảnh hưởng nghiêm
trọng đến lợi nhuận. Do vậy, để hạn chế rủi ro, cân đối tài chính, các ngân hàng
buộc phải ráo riết chuyển hướng đầu tư, tìm kiếm lợi nhuận ở thị trường bán lẻ
nhằm bù đắp cho những tổn thất ở thị trường bán buôn. Thứ hai, dân số Việt Nam
đã đạt tới 90 triệu người. Số người tiếp cận các dịch vụ NH đến nay ở mức 30%, dư
địa còn rất lớn. Bên cạnh đó, khả năng tiếp nhận thông tin của thế hệ trẻ nhanh, số
người sử dụng mobie, internet, …ngày càng nhiều. Hơn thế nữa, các chính sách tài
khóa của nhà nước hiện đang thúc đẩy mạnh các ngân hàng bán lẻ.
4. Thứ tư, về phía khách hàng

Đối với cơ chế thị trường, khách hàng là thượng đế, tuy nhiên, trong một vài trường hợp
thì lại không phải như vậy. Đối với ngân hàng bán lẻ, nếu là bán thẻ hay bán các dịch vụ
Ngân hàng điện tử, gửi tiết kiệm… thì khách hàng hiện nay đúng là thượng đế khi mà


ngày càng có nhiều các chương trình khuyến mại, các chương trình giảm giá thúc đẩy bán
hàng và các sản phẩm, dịch vụ tràn ngập trên thị trường để phục vụ khách hàng. Nghiên
cứu các ngân hàng, có thể thấy ngân hàng nào cũng có chương trình cho tiết kiệm từ lớn
đến nhỏ. SCB có chương trình Tiết kiệm hè - đón xe sang, SeABank có chương trình
mừng sinh nhật 20 năm, BIDV có chương trình May mắn trọn niềm vui…Với sản phẩm
cho vay, các chương trình cũng không kém phần sôi động. Hầu hết các ngân hàng đều có
sản phẩm cho vay với lãi suất rất thấp kèm theo rất nhiều những ưu đãi.
Các chương trình đối với thẻ tín dụng mới thật sự sôi động, Các chắn hiện tại một người
có rất nhiều thẻ tín dụng và tuần nào cũng nhận được vài thông tin khuyến mãi về các
chương trình giảm giá thẻ tín dụng tại các địa điểm liên kết với các ngân hàng. Chưa bao
giờ các chương trình ưu đãi giảm giá với thẻ tín dụng lại sôi động như năm nay do suy
thoái kinh tế, người ta muốn tìm đến những mặt hàng được giảm giá và rẻ hơn bình
thường. Như vậy, phải chăng khách hàng thực sự có vị trí cao đối với ngành ngân hàng.
Thực tế không phải vậy, để đáp ứng được các hồ sơ cho vay hoặc làm thẻ tín dụng, khách
hàng phải qua nhiều thủ tục được quản lý chặt chẽ từ ngân hàng mới có thể “mua” được
hàng. Riêng về sản phẩm tiết kiệm, suy thoái kinh tế cùng độ rủi ro quá cao của các
ngành khác khiến cho khách hàng vẫn chỉ biết đưa tiền dư thừa vào tiết kiệm. Khách
hàng vẫn rất cần ngân hàng, chỉ là lựa chọn ngân hàng nào để giao dịch mà thôi.
5. Thứ năm, về cạnh tranh nội bộ ngành
Thị trường ngân hàng bán lẻ tại Việt Nam đang trở nên cạnh tranh với các cuộc chạy đua
ráo riết về công nghệ, mạng lưới và tiện ích dịch vụ. Với cuộc “cuộc chiến” này, trong
vòng 5 năm tới đây, thị trường ngân hàng sẽ chứng kiến mức tăng đột biến về tỷ lệ người
dân được tiếp cận các dịch vụ ngân hàng hiện đại. “Kho vàng” lớn đã khiến cho các ngân
hàng thương mại âm thầm đưa vào tầm ngắm, đặc biệt là khối cổ phần và nước ngoài. Họ
bắt đầu chuyển hướng đầu tư, tập trung khai thác triệt để miền đất hứa này.

Nhờ có mạng lưới rộng khắp, kênh phân phối dày đặc, các ngân hàng nội đang có lợi thế
tại sân nhà, chiếm tới 90% thị phần bán lẻ. Tuy nhiên, các ngân hàng nước ngoài
(NHNNg) như ANZ, HSBC, Standard Chartered, HSBC, Shinhan Vina... cũng đang dần
khẳng định được tên tuổi của mình trên thị trường. Các chương trình quảng bá trong thời


gian gần đây đã cho thấy các ngân hàng nước ngoài đang tấn công thị trường bán lẻ tại
Việt Nam một cách mạnh mẽ. Theo ngân hàng nhà nước dự đoán, sau năm 2015, thị
trường bán lẻ sẽ là thị trường chủ đạo của các Ngân hàng nước ngoài và hiện 80 - 90%
khách hàng bán lẻ của nhiều Ngân hàng nước ngoài là người Việt Nam.
Theo thống kê từ Ngân hàng Nhà nước, hiện hệ thống các tổ chức tín dụng của Việt Nam
khá đầy đủ, bao gồm 48 ngân hàng thương mại, 2 ngân hàng chính sách, 53 chi nhánh
ngân hàng nước ngoài, 28 tổ chức tín dụng phi ngân hàng, 2 tổ chức tài chính vi mô và hệ
thống quỹ tín dụng nhân dân gồm 1 ngân hàng hợp tác xã và 1.414 quỹ cơ sở. Mặc dù chỉ
mới phát triển ở giai đoạn đầu nhưng ngành bán lẻ đã và đang góp phần đáng kể vào tăng
tưởng kinh tế của đất nước. Trung bình mỗi năm, các nhà bán lẻ đóng góp vào GDP của
cả nước khoảng 14%. Đến năm 2014, mức đóng góp của ngành này vào GDP sẽ tăng lên
mức 23%. Nhất là trong bối cảnh, dân số nước ta đã lên đến 90 triệu người, lại chủ yếu là
dân số trẻ, 70% thu nhập dành cho mua sắm. Trước tiềm năng lớn này, rõ ràng hướng tới
phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ là sự lựa chọn của các ngân hàng thương mại ở Việt
Nam. Điều này được thể hiện trong các kế hoạch cơ cấu lại ngân hàng, cổ phần hóa ngân
hàng.
Trước nguy cơ sống còn đó, một số ngân hàng bắt đầu cố gắng tạo dựng một dấu ấn riêng
nhằm giành lấy thị phần. Cho vay tiêu dùng cá nhân được xem là sản phẩm đầu tiên dễ
thấy nhất để các ngân hàng cạnh tranh với nhau. Như đã phân tích ở trên, hầu như ngân
hàng nào cũng hạ lãi suất cho vay đối tượng này xuống 10 - 11%/năm khiến chênh lệch
lãi suất thực hưởng (sau khi trừ chi phí) chỉ còn lại từ 1 đến 2%, mức chênh lệch rất khó
bù đắp nếu rủi ro xảy ra. Không thua kém, các ngân hàng ngoại tiếp tục khuyến mãi
thông qua nghiệp vụ phát hành thẻ tín dụng. HSBC đã liên kết 50 cửa hàng đối tác để
triển khai Chương trình ưu đãi mua sắm trả góp, cho phép khách mua hàng, trả dần trong

vòng 12 tháng với lãi suất 0%. Trong “chiến dịch” này, HSBC khẳng định, không cần thế
chấp tài sản hay bảo lãnh, khách hàng có thể vay lên đến 250 triệu đồng, giải ngân nhanh
trong vòng 48 giờ, thời hạn vay linh hoạt từ 12 đến 48 tháng, thủ tục đơn giản, nhanh
gọn. Ngoài ra phải kể đến là các tổ chức tín dụng khác cũng vào cuộc cạnh tranh khối liệt
này với các sản phẩm mà đối với ngân hàng là không tưởng như sản phẩm cho vay mua


sắm xe máy, máy tính hay điện thoại di động chỉ trong vòng 20 phút. Khách hàng chỉ cần
có chứng minh nhân dân và bằng lái xe là có thể vay tiền. Mặc dù lãi suất cao là trở ngại
nhưng cũng có khá nhiều khách hàng lựa chọn các hình thức này để tiếp cận vốn. Cuộc
đua trên thị trường bán lẻ chưa có điểm dừng, tất nhiên nó sẽ “ngốn” rất nhiều thời gian
và nhân lực. Chính vì vậy, trong 2 năm gần đây, thị trường nhân sự ngân hàng bị xáo trộn
rất nhiều. Bên cạnh việc sa thải hàng ngàn nhân viên, các NH đã liên tục tuyển dụng thêm
hàng ngàn nhân viên và cộng tác viên để mở rộng tín dụng tiêu dùng, phát hành thẻ, quản
lý cho vay trực tuyến,… Thị trường bán lẻ của ngân hàng đang nóng lên từng ngày và rõ
ràng mức độ cạnh tranh là rất lớn. Tuy vậy, cũng không phải không có hướng để các ngân
hàng phát triển.
Như đã biết, để phát triển dịch vụ bán lẻ, phải đầu tư công nghệ lớn, trong khi các ngân
hàng của Việt Nam còn bị hạn chế tiềm lực tài chính. Ngân hàng nào càng đầu tư nhiều
vào công nghệ cao thì ngân hàng đó sẽ càng có lợi cho tương lai. Hiện nay, các dịch vụ,
sản phẩm ngân hàng của Việt Nam gần như giống nhau, quá truyền thống và không tạo
được sự khác biệt để thu hút khách hàng. Bên cạnh đó, sự khác biệt giữa các đơn vị chưa
được thể hiện rõ nét. Để đạt được sự thành công thì mỗi ngân hàng luôn phải tìm cho
mình một sự khác biệt, một hướng đi để tạo nên một thương hiệu riêng và ngân hàng nào
có sự khác biệt sẽ có được cơ hội. Trong bối cảnh thị trường ngân hàng có nhiều biến
động, yêu cầu khách hàng ngày càng phức tạp và sự cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày
càng khốc liệt thì việc phát triển các lợi thế cạnh tranh thông qua đổi mới kênh phân phối
và tối ưu hóa hoạt động sẽ giúp các ngân hàng bán lẻ đứng vững và phát triển trong tình
hình mới. Hiện có nhiều ngân hàng đã có những sản phẩm bước đầu cho những thị
trường ngách và mang lại sự khác biệt. SeABank có sản phẩm Tiết kiệm “Ươm mầm ước

mơ” dành cho những gia đình trẻ muốn tiết kiệm tiền cho con cái của mình trong thời
gian dài, cùng với đó là sản phẩm Cho vay Giáo viên, đánh vào đối tượng khách hàng là
giáo viên. Ocean Bank có sản phẩm cho vay Quân nhân, lực lượng vũ trang, đánh vào
khối khách hàng là những người trong quân đội hoặc cảnh sát. Các sản phẩm đặc biệt này
có thể là hướng đi cho các ngân hàng và cũng là cơ hội để các ngân hàng tiến đến những
khách hàng có nhu cầu rõ nét hơn nữa.


Rõ ràng, với những phần tích dựa trên mô hình 05 áp lực cạnh tranh của Micheal Porter
có thể thấy ngành bán lẻ đối với các ngân hàng vẫn đang rất hấp dẫn. Mới chỉ có 20 – 30
% dân số Việt Nam tiếp cận với sản phẩm ngân hàng, có thể thấy thị trường còn rất rộng
lớn. Dịch vụ ngân hàng bán lẻ là xu hướng tất yếu của các ngân hàng thương mại trên thế
giới cũng như ở Việt Nam do:
- Cạnh tranh về dịch vụ tài chính ngày càng mạnh và khốc liệt tại Việt Nam.
- Ngày càng có nhiều tổ chức phi tài chính tham gia vào lĩnh vực này.
- Đây là một trận tuyến mới còn bỏ ngỏ ở một đất nước đông dân, có tiềm năng phát triển
cao trong những năm tới, tiêu dùng dân cư có tiềm năng tăng trưởng cao.
- Sự đa dạng trong hoạt động kinh doanh ngày càng mạnh mẽ.
Hiện nay, ban lãnh đạo của khối ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam đều xác định
mục tiêu hoạt động tới năm 2015 thậm chí 2020 là trở thành ngân hàng bán lẻ hàng đầu,
hướng tới khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ hay khách hàng cá nhân. Các ngân hàng
thương mại nhà nước cũng đã xác định thị trường bán lẻ trong kế hoạch cơ cấu lại ngân
hàng, cổ phần hóa ngân hàng sau năm 2010. Sau năm 2015, thị trường bán lẻ sẽ là thị
trường chủ đạo mà các ngân hàng nước ngoài sẽ khai thác mạnh sau khi đã đặt chân vững
chắc vào thị trường Việt Nam. Ngoài ra, nhu cầu của xã hội về dịch vụ và các tiện ích của
chúng ngày càng gia tăng và luôn đổi mới. Các dịch vụ bán lẻ của ngân hàng thương mại
Việt Nam ngày càng đa dạng, trở nên đồng đều hơn với việc triển khai của hầu hết các
NHTM, tạo cho khách hàng có nhiều cơ hội lựa chọn. Trong đó, các sản phẩm của ngân
hàng điện tử ngày càng trở nên rộng rãi và phổ biến: Nếu như năm 2004 chỉ có 3 NHTM
triển khai dịch vụ Internet banking thì đến năm 2008, con số này lên tới 25, chủ yếu là

cung cấp thông tin, thanh toán hoá đơn định kỳ, chuyển tiều trong hệ thống, trong đó có 5
NHTM là Đông Á, Kỹ thương, Á châu, Citibank Việt Nam, Indovina là chuyển khoản ra
ngoài hệ thống trong tổng số 11 ngân hàng có chức năng chuyển khoản trực tuyến. Có 3
NHTM là Đông Á, Vietcombank, Kỹ thương và Á châu thực hiện đầy đủ cả 3 nội dung
của Internet banking là cung cấp thông tin, giao tiếp và giao dịch. Riêng NHTMCP Á
châu triển khai dịch vụ này, dịch vụ Home banking, Mobile Banking, Phone banking tới
tất cả khách hàng cá nhân có tài khoản tiền gửi thanh toán tại ngân hàng. Ngoài các tiện


ích khi sử dụng dịch vụ ngân hang điện tử, khách hàng còn được hưởng ưu đãi về phí
dịch vụ. Riêng về dịch vụ Inernet banking, có thể thấy 2 vấn đề nổi lên: (1) khối
NHTMCP nhanh và thực hiện toàn diện hơn các tiện ích của ngân hàng điện tử so với
khối NHTMNN; (2) khối NHTM có yếu tố nước ngoài thực hiện dịch vụ này với các tiện
ích và chất lượng vượt trội so với NHTM Việt Nam (HSBC Việt Nam được Global
Finance bình chọn là ngân hàng có dịch vụ Inernet banking tốt nhất Việt Nam năm 2009).
Cho đến năm 2013 đã có tới 35 ngân hàng thực hiện được chuyển khoản trực tuyến. Sự
phát triển vũ bão này đến từ sự cạnh tranh khốc liệt của các ngân hàng. Dịch vụ thẻ ngày
càng trở nên phổ biến trong các tầng lớp dân cư, các doanh nghiệp với nhiều tiện ích,
nhiều loại thẻ tín dụng. Việc chuyển từ thẻ từ sang sử dụng thẻ chip là một hướng đi đúng
và cần thiết nhằm bảo toàn cho khách hàng, mặc dù cần đến công nghệ, nhân lực và chi
phí. Theo thống kê của NHNN, hệ thống ngân hàng có gần15.000 máy ATM, hơn 54.000
điểm chấp nhận thẻ (POS).
Như vậy có thể thấy, rõ ràng ngân hàng bán lẻ vẫn sẽ là xu thế cho các ngân hàng Việt
Nam trong năm 2014 và các năm tới. Đây rõ ràng vẫn là một ngành vô cùng hấp dẫn để
các ngân hàng hoặc tổ chức khác đầu tư vào. Hạn chế hiện nay trong việc mở rộng các
dịch vụ ngân hàng bán lẻ hiện đại về phía ngân hàng thương mại nhằm đáp ứng nhu cầu
của nền kinh tế Việt Nam là do: Chiến lược phát triển của các NHTM có nhiều điểm
tương đồng, như phát triển dịch vụ bán lẻ, dịch vụ doanh nghiệp hoặc trên thị trường tiền
tệ, mở rộng quy mô mạng lưới và phát triển nguồn nhân lực, công nghệ, quản trị điều
hành... Điều này phản ánh mặt bằng phát triển chung, song cũng là điểm khó trong xây

dựng chiến lược riêng của mỗi NHTM khi muốn tạo dựng cái riêng của mình trước công
chúng. Ngoài ra, sự phối kết hợp giữa các ngân hàng thương mại trong thực hiện các giao
dịch còn kém gây ra sự lãng phí vốn và thời gian, sự cạnh tranh không đáng có giữa các
ngân hàng, sự khó khăn cho lựa chọn của các doanh nghiệp khi sử dụng dịch vụ ngân
hàng. Hiệu quả sử dụng vì vậy còn thấp.
Về phía Ngân hàng nhà nước, do các ngân hàng thương mại sẽ là ngân hàng đa năng, vì
vậy, quản lý nhà nước sẽ gặp khó khăn do thiếu thông tin, kinh nghiệm quản lý, mặt bằng
công nghệ, nhận thức và trình độ. Để khắc phục những điểm này để ngành bán lẻ còn


phát triển hơn nữa thì các ngân hàng cần phải đa dạng hơn các sản phẩm này không chỉ
danh mục chung mà còn là các sản phẩm cụ thể, cần phải ứng dụng công nghệ thông tin
rộng rãi không chỉ trong một hệ thống mà còn phải kết nối giữa các ngân hàng trong
những dịch vụ đòi hỏi có sự liên kết như dịch vụ chuyển tiền. Cần phải lựa chọn các sản
phẩm “lõi” của từng để tạo ra tính khác biệt trong thương hiệu và hấp dẫn riêng, chú
trọng thị trường cũ và quan tâm thực sự tới thị trường mới trong bối cảnh cạnh tranh
mạnh với khối ngân hàng nhà nước.
Bài viết trên đã khẳng định ngành bán lẽ vẫn đang hấp dẫn và sẽ là xu thế của các ngân
hàng thương mại tại Việt Nam. Dựa trên những phân tích của mô hình 05 Áp lực cạnh
tranh của Micheal Porter ta có thể nhận ra điều này. Bài viết còn hạn cho do thiếu thông
tin và sự so sánh giữa các ngân hàng nói riêng và với thị trường chung. Các hạn chế này
sẽ được khắc phục nếu có sự điều tra kỹ lưỡng và quy mô hơn.
Tài liệu tham khảo:
• Giáo trình quản trị chiến lược - PGSM
• Website: www.gso.gov.vn
• Website: />


×