MỤC LỤC
■
■
Trang
Mở đầu
2
Chương 1: Vài nét về địa bàn nghiẽn cứu
8
1.1. Vài nét về huyện Thanh Trì
8
1.2. Vài nét về nguồn tư liệu
17
Chương 2: Bức tranh khái quát làng xã Thanh Trì đầu thế kỷ
XIX qua địa bạ
2.1. v ể đơn vị hành chính - cộng đồng làng - xã
27
27
2.2. Quy mô làng xã
29
2.3. Các loại hình đất đai
35
2.3.1. Các loại ruộng đất công
37
2.3.2. Các loại ruộng đất tư
43
Chương 3: Chê độ sở hữu tư nhân về ruộng đất và tình
phàn hoá xã hội
50
3.1. Tinh hình chung
51
3.2. Sở hữu của chức sắc
59
3.3. Sở hữu nữ
63
3.4. Hiện tượng phụ canh
64
Kết luận
67
Tài liệu tham khảo
69
Phụ lục
74
Mỏ ĐẦU
1. Hằng số của văn minh Việt Nam là nông thôn - nông nghiệp - nông
dân. Việt Nam hiện vẫn là một nước nông nghiệp. Đến nay, trên 75% dân số
Việt Nam vẫn là nông dân, hầu hết trong số đó đang sống ở khu vực nông
thôn, trong các làng xã, hoạt động kinh tế chủ yếu vẫn là nông nghiệp. Mục
tiêu phấn đấu mà Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra là đến năm 2020 Việt Nam
phải cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Như vậy, công nghiệp hoá, hiện
đại hoá là nhiệm vụ trọng tâm của cách mạng Việt Nam trong thời gian tới,
trong đó công nghiệp hoá, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn có một vị trí
cực kỳ quan trọng. Làng xã, nông dân, nông nghiệp, nông thôn vừa là chủ
thể, vừa là đối tượng của công cuộc cải biến lớn lao này.
Công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nói chung, khu vực
nông thôn nói riêng, nhanh hay chậm, triệt để hay không triệt để phụ thuộc
vào nhiều yếu tố, trong đó việc hiểu rõ, hiểu sâu về làng xã, trong lịch sử và
hiện tại, là một tiền đề hết sức quan trọng. Với cách đặt vấn đề như vậy, bất
luận một nghiên cứu nào góp phần nâng cao nhận thức về làng xã, đều có ý
nghĩa, không chỉ về học thuật mà cả về thực tiễn.
Đề tài khoa học L àng x ã Thanh Trì (ngoại thành H à Nội) đầu th ế kỷ
X IX qua tư liệu địa bạ được triển khai là nhằm vào những mục tiêu khoa
học và thực tiễn nêu trên.
2. Làng xã, cả truyền thống và hiện đại, là vấn đề thu hút sự quan tâm
của giới học giả từ rất sớm, cả trong nước cũng như quốc tế. Đã có nhiều
công trình nghiên cứu có giá trị về đề tài này được công bố. Tuy nhiên,
nghiên cứu làng xã truyền thống qua địa bạ thì lại là một hướng tiếp cận mới
được triển khai trong vài chục năm trở lại đây, thành tựu rất đáng ghi nhận,
nhưng mới chỉ là bước đầu.
2
Trước những năm bẩy mươi giới khoa học cả hai miền Nam, Bắc hầu
như chưn có một nghiôn cím nỉ\o vồ địa bạ. Một trong những người đáu liên
nhận thức giá trị to lớn của địa bạ và gần như là người đầu tiên trực tiếp khai
Ihiíc nguồn lư liệu này mội cách có hộ thống là cô Giáo sư Nguyễn Đức
Nghinh ở trường Đại học sư phạm Hà Nội I. Năm 1974 luận văn Tình hình
phân phối ruộng đất ở x ã Mạc Xá giữa hai thời điểm 1789 - 1805 được đăng
liên tạp chí Nạhiên cứu ì ịch su 1 mở đầu một loạt các bài viết của tác giả
công bố kết quả nghiên cứu địa bạ ở một số địa phương vùng đồng bằng và
trung du Bắc Bộ. Liên tục những năm sau đó tác giả vẫn thuỷ chung gắn bó
với mảng đề tài mà mình yêu thích này và cho đến nay đã có hàng chục luận
văn nghiên cứu về địa bạ được công bô. Địa bàn mà tác giả tập trung nghiên
cứu là huyộn Từ Liêm và một số làng xã xung quanh Hà Nội và đặc biệt là
lỉnh Th.íi Bình2.
ở miên Nam, học giả Nguyễn Đình Đầu và những cộng tác viên là
những người đầu tiên khai thác tư liệu địa bạ. Công viộc được bắt đầu từ
những năm tám mươi và hiện vẫn đang được tiếp tục. Địa bạ được khai thác
tập trung chủ yếu ở các tỉnh phía nam và hiện đã có nhiều công trình nghiên
cứu có giá trị được công bố. Tuy nhiên cũng phải thấy một thực tế là, mặc dù
khối lượng địa bạ mà học giả Nguyễn Đình Đầu và các cộng tác viên khai
' Nguyên Đức Nghinh: Tình hình phân phối ruộng đất ở x ã M ạc Xú giữa hai thời điểm
1789 - ỉ 805, NCLS, số 157, 1974
2 Có thể kể: Tình hình phâ n p h ố i ruộng đất của thôn Đ ịnh C ông giữa hai thời điểm 1790 1805 (NCLS, số 161, 1975J,- v ề tải sản ruộng đất của m ột sô' chức dịch trong làng x ã
thuộc huyện T ừ Liêm vào cuối th ế kỷ XVỈỈỈ đẩu th ế kỷ XIX (NCLS, số 165, 1975J; Xã
Thượnệ P húc giữa hai thời điểm 1790 - 1805 (NCLS, số 173, \9 1 1 ); M ấ y tư liệu ruộng
đất công lùng x ã dưới triêu T ây Sơn (NCLS,sỗ 175, 1977J; Ruộng đất công miên Đ ông
Thái Bìnlị. vào những năm cuối th ế kỷ XVỈỈỈ đầu th ế kỷ XIX (NCLS, số 256, 1991); M ột s ố
tư liệu ruộng đất vùng K iến XiSơỉig - Thái bình m ẩy năm đầu thé kỷ XIX (NCLS, số 244,
1989 - viết chung với Nguyễn Thị Thanh Nhàn); M ấ y tư liệu ruộng đất Ở T húi N inh (Thái
B ình) cuối tliề kỷ XV III đầu th ế k ỷ X IX (NCLS, số 250, 1990 - viết chung với Bùi Thị Minh
Hiên)...
3
thác là rất lớn (hầu hết các làng xã từ Nam Bộ trở ra cho đến Trung Trung
Bộ), nhưng mới chỉ bao gồm những thông tin hết sức cơ bản, hay phần lớn
thông tin vẫn chưa được khai thác3.
Ngoài ra còn có một số học giả khác cũng chú ý khai thác và sử dung
tư liệu địa bạ trong các chuyên khảo của mình (như Trương Hữu Quýnh,
Nguyễn Cảnh Minh, Bùi Quý Lộ, Đào Tố Uyên, Nguyễn Hải Kế...). Gần đây
xu hướng của các nhà khoa học là ngày càng chú ý đến nguồn tư liệu này khi
nghiên cứu về lịch sử nông thôn - nông nghiệp Việt Nam truyền thống. Một
số luận án Tiến sĩ lịch sử chọn đề tài khai thác và nghiên cứu địa bạ (như
Nguyên Thu Thuỷ nghiên cứu về ruộng đất và kinh tế nông nghiệp huyện
Đông Sơn (Thanh Hoá) đầu thế kỷ XIX, Phan Phương Thảo nghiên cứu về
chính sách quân điền của Minh Mệnh qua tư liệu địa bạ...)
Từ đầu những năm chín mươi, Chương trình nghiên cứu địa bạ của
Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam và giao lưu văn hoá thuộc Đại học Quốc
gia Hà Nội do Giáo sư Phan Huy Lê chủ trì đã được triển khai. Đến nay,
ngoài một số luận văn in trên các tạp chí chuyên ngành đã có hai công trình
quy mô lớn được công bố là Địa bạ Hà Đông và Địa bạ Thái Bình4. Khác với
những nghiên cứu địa bạ trước đây nguồn tư liệu địa bạ thường được khai
thác và xử lý theo hướng phục vụ cho những mục đích nghiên cứu cụ thể,
nhóm nghiên cứu thuộc Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam và giao lưu văn
hoá chủ trương, về cơ bản, chỉ công bố tư liệu. Điều này được sự hoan
nghênh của giói nghiên cứu không chỉ trong nước mà cả quốc tế.
3 Có thể kể: T ổng kết nghiên cứu địa bạ: N am Kỳ lục tỉnh, Thành phố Hồ Chí Minh, 1994;
Nghiên cứu địa bạ triều N guyễn: Gitì Đ ịnh, Thành phô Hồ Chí Minh, 1994; N ghiên cứu
địa bạ triều N guyễn: H à T iê n , Thành phố Hồ Chí Minh, 1994; N ghiên cứu địa bạ Bìỉìlì
Đ ịnh (3 tập), Thành phố Hổ Chí Minh, 1995...
4 Phan Huy Lê, Vũ Minh Giang, Vũ Văn Quân, Phan Phươiỹg Thảo: Đici bạ H à Đ ông, Hà
Nội
1995; Phan Huy Lê, Nguyễn Đức Nghinh, Vũ Minh Giang, Vũ Văn Quân, Phan
Phương Thảo: Đ ịa bạ T h ú i B ìn h , Nxb Thế giới, Hà Nội, 1997.
4
Tuy nhiên, ngay cả với những nghiên cứu thuộc loại thứ nhất thì việc
khai thác địa bạ cũng mới chỉ dừng lại chủ yếu ở việc tìm hiểu về các quan
hộ sở hữu ruộng đất, trong khi đó tư liệu địa bạ có nội dung hết sức phong
phú. Đành rằng vấn đề đất đai là nội dung chủ yếu của địa bạ nhưng nếu khai
thác triột để nguồn tư liệu này chúng ta có thể vẽ lên bức tranh tương đối
toàn cảnh của các làng xã trên nhiều phương diện, nhất là có sự kết hợp khai
thác với các nguồn tư liệu khác. Đề tài khoa học này sẽ triển khai việc
nghiên cứu theo hướng trên.
Đối với trường hợp huyện Thanh Trì, bài viết Tình hình phân phối
ruộng đất của thôn Định Công giữa hai thời điểm 1790 - 1805 của Nguyễn
Đức Nghinh đến nay gần như vãn là nghiên cứu duy nhất được công bố khai
thác nguồn tư liệu địa bạ (thôn Định Công thuộc tổng Khương Đình huyện
Thanh Trì).
3.
Sưu tập địa bạ mà chúng ta hiện còn là hết sức phong phú, được lưu
trữ chủ yếu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Cục lưu trữ Nhà nước với
18.519 đơn vị, trong đó, tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm là 1.635 đơn vị, tại
Cục lưu trữ Nhà nước là 16. 844 đơn vị (chủ yếu tại Trung tâm lưu trữ quốc
gia I, Hà Nội). Có thể nói, phần lớn các làng xã được thành lập từ thế kỷ XIX
về trước đều có địa bạ.
Theo quy định của Nhà nước, khi lập địa bạ mỗi làng xã phải làm
thành ba bản (gọi là giáp, ất, bính). Bản giáp nộp cho triều đình, bản ất lưu
giữ ở trấn, tỉnh, bản bính do làng xã quản lý. Sưu tập địa bạ tại Viện Nghiên
cứu Hán Nôm hầu hết đều là những bản sao do Viện Viễn Đông bác cổ Pháp
tiến hành vào đầu thế kỷ XX từ các bản lưu tại địa phương (tỉnh hoặc làng
xã). Địa bạ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm cũng chỉ bao gồm các làng xã từ
Hà Tĩnh trở ra. Địa bạ tại Cục lưu trữ Nhà nước đều là những bản chính, là
bản giáp lưu trữ tại triều đình và phần lớn còn giữ lại được đến ngày nay (hầu
hết các làng xã từ Nam ra Bắc, nếu được lập trong khoảng thời từ giữa thế kỷ
XIX trở về trước đến 1804 đều có địa bạ trong sưu tập này) .
5
v ề niên đại, hầu hết địa bạ được lập vào đầu thế kỷ XIX. Địa bạ có
niên đại Gia Long và Minh Mệnh bao gồm 17.604 đơn vị, chiếm 95,06%.
Các niên đại trước và sau đó có nhưng chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ.
Địa bạ được viết bằng chữ Hán theo những quy định thống nhất của
Nhà nước (về khổ giấy, các nội dung khai báo), ngoài ra vẫn có phần mở để
nếu địa phương có điều gì đặc biệt thì bổ sung thêm vào.
Huyện Thanh Trì vào đầu thế kỷ XIX thuộc phủ Thường Tín trấn Sơn
Nam Thượng. Toàn huyện có 12 tổng và 100 xã thôn sở trại. Tại Viện
Nghiên cứu Hán Nôm chỉ có 1 tập địa bạ huyện Thanh Trì. Trong khi đó tại
Cục lưu trữ Nhà nước địa bạ các làng xã Thánh Trì hầu như có đầy đủ. Niên
đại của địa bạ Thanh Trì hầu hết được lập vào năm 1805, là đợt lập địa bạ
đầu tiên dưới triéu Nguyễn. Trong công trình này chúng tôi sử dụng nguồn tư
liệu địa bạ của huyện Thanh Trì hiện đang lưu trữ tại Cục lưu trữ Nhà nước.
Ngoài ra, bên cạnh địa bạ, các nguồn tư liệu khác có liên quan cũng được kết
hợp khai thác, sử dụng.
4. Địa bạ là nguồn tư liệu thuộc loại đám đông nên việc áp dụng
phương pháp định lượng để khai thác nguồn tư liệu này là cần thiết và chắc
chắn sẽ có kết quả tốt. Tuy nhiên, phương pháp này chỉ phát huy hiệu quả
trong việc thống kê các loại hình đất đai, tức là các sử liệu có thể đo đếm
được. Trong khi đó, như trên đã nói, thông tin địa bạ còn phong phú hơn và
mục đích của công trình này, ngoài nghiên cứu về các quan hệ ruộng đất,
còn phải triệt để khai thác các thông tin khác, để cùng với thông tin về ruộng
đất vẽ lên bức tranh toàn cảnh của các làng xã. Chính vì thế, ngoài phương
pháp định lượng, phương pháp mô tả cũng được áp dụng. Trong các thao tác
nghiên cứu, nhằm vào mục đích được xác định nêu trên, các phương pháp
nghiên cứu cụ thể sẽ được kết hợp sử dụng một cách linh hoạt.
5. Kết cấu công trình gồm 3 chương.
Chương I. Vài nét địa bàn nẹhìên cứu và nẹuầũ tư liệu
Chương II. Bức tranh làn ạ xã Thanh Trì dầu th ế kỷ XlXqua địa bạ
6
Chương III. C h ế độ sở hữu tư nhân về ruộng đất và tình hình phân hoá
xã hội.
Công trình được hoàn thành với sự động viên thường xuyên của Ban
Chủ nhiộm khoa Lịch sử trường Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà
Nội, của TS Trần Kim Đỉnh, nguyên Trưởng phòng Khoa học trường Đại học
KHXH&NV, những ý kiến đóng góp về chuyên môn của GS Phan Đại Doãn,
PGS.TSKH Vũ Minh Giang, PGS.TS Nguyễn Quang Ngọc. Nhân đây xin
được bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc.
Hoàn thành công trình này các tác giả gặp không ít khó khăn, đặc biệt
là việc tiếp cận tư liệu (khối lượng tư liệu lớn, thông tin phong phú nhưng
phức tạp, lại phải chuyển từ chữ Hán sang chữ Việt...). Chúng tôi đã hết sức
cố gắng song chắc vẫn còn, và không thể tránh khỏi nhiều thiếu sót, nhiều
hạn chế. Rất mong nhận được sự chỉ bảo và những ý kiến đóng góp của các
nhà khoa học.
Hà Nội, 10. 2002
Các tác giả
7
CHƯƠNG 1
VÀI NÉT VỂ ĐỈA BÀN
NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN Tư LIỆU
■
■
1.1. Vài nét về huyện Thanh Trì.
Thanh Trì nay là một trong 5 huyện ngoại thành Hà Nội (cùng với Từ
Liêm, Đông Anh, Sóc Sơn, Gia Lâm), nằm ở phía đông nam thành phố, gồm
23 xã và 1 thị trấn (thị trấn Văn Điển).
Thanh Trì phía đông giáp huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên với ranh
giới tự nhiên là sông Hổng, phía tây giáp huyện Thanh Oai tỉnh Hà Tây, phía
nam giáp huyện Thường Tín tỉnh Hà Tây, phía bắc giáp các quận Hai Bà
Trưng, Thanh Xuân thuộc nội thành Hà Nội. Diện tích tự nhiên toàn huyện là
9.791 ha, dân số trên 20 vạn người (1999). Huyện Thanh Trì hiện nay chỉ là
một phần của huyện Thanh Trì xưa, do một số làng - xã đã nhập vào nội
thành Hà Nội, một số làng - xã đã cắt sang Hà Tây, trong khi đó cũng có một
số làng - xã được cắt từ hai huyện Thanh Oai và Thường Tín thuộc tỉnh Hà
Tây về Thanh Trì.
Địa thế Thanh Trì thuộc vùng đồng bằng trCng với nhiều sông ngòi và
đầm hổ. Sông Hồng qua địa phận huyện Thanh Trì từ xã Thanh Trì đến xã
Vạn Phúc, làm ranh giới tự nhiên với tỉnh Hưng Yên. Sông Tô Lịch chảy từ
phía bắc đến phía nam huyện, sông Nhuệ chảy phía tây nam, sông Kim
Ngưu và sông Lừ chảy phía đông bắc. Đầm có nhiều, lớn nhất là đầm Linh
Đường (hay Linh Đàm, còn gọi Đầm Vân hay Đầm Đại), là dấu vết để lại
của một đoạn sông Tô Lịch đã đổi dòng. Đầm Thịnh Liệt (Đầm Sét) nổi
tiếng với cá rô ngon được Nguyễn Trãi nhắc đến trong D ư địa chí từ thế kỷ
XV5. Đầm Vạn Xuân - tên gọi như một ghi nhớ về quốc gia độc lập của
người Việt thời Tiền Lý. Đầm Mực gắn với truyền thuyết vể người học trò
thuỷ thần của thầy giáo nổi tiếng Chu Văn An thế kỷ XIV và gắn liền với
5 Nguyền Trãi: T oàn tậ p , Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1976
8
chiến thắng vĩ đại của quân và dân Đại Việt trong trận đại phá Mãn Thanh
sáng mồng 5 Tết Kỷ Dậu (1789) dưới sự chỉ huy của anh hùng dân tộc
Quang Trung - Nguyẽn Huệ...
Vì có nhiều sông ngòi, hồ, đầm cho nên trong cơ cấu đất đai huyện
Thanh Trì công châu thổ và các loại đất bãi ven sông, loại công pha, công
pha trì chiếm một tỷ lệ đáng kể và vì thế nó cũng đóng một vai trò nhất định
trong đời sống cư dân, dù không phải làng xã nào cũng có các loại đất đai
trên.
Huyện Thanh Trì xưa có tên là Long Đàm. Tên gọi Long Đàm (Đầm
Rồng) - như nhiều người giải thích - có lẽ xuất phát từ chỗ vùng đất này có
nhiéu đầm hồ rộng lớn (như hổ - đầm Linh Đường hay Linh Đàm, đầm
Thanh Liệt hay Đầm Sét, đầm Vạn Xuân, Đầm Mực...). Tên gọi Long Đàm
mới thấy xuất hiộn lần đầu trong các bộ sử ghi chép về thời Trần (1226 1400), bấy giờ là huyộn Long Đàm thuộc châu Thượng Phúc lộ La Thành
(sau đổi thành lộ Đông Đô). Thời thuộc Minh (đầu thế kỷ XV) đổi huyện
Long Đàm thành huyện Thanh Đàm thuộc châu Phúc Yên (tên mới của châu
Thượng Phúc - Đông Đô), đến năm 1419 sáp nhập vào huyện Đông Quan
(kinh thành Thăng Long - Đông Đô thời Lý - Trần - Hổ). Đến đòi Lê Thánh
Tông, niên hiệu Quang Thuận (1460 - 1469) huyện Thanh Đàm lại tách ra, lệ
vào phủ Thường Tín thuộc đạo thừa tuyên (sau là xứ, rồi trấn) Sơn Nam (sau,
đến năm 1741 tách ra thành hai trấn Sơn Nam Thượng và Sơn Nam Hạ,
huyện Thanh Trì phủ Thường Tín thuộc Sơn Nam Thượng). Tinh hình này
được duy trì cho đến đầu thế kỷ XIX. Năm 1831 vua Minh Mệnh tiến hành
cải cách hành chính lớn, chia đặt các tỉnh. Cả nước được chia thành 29 tỉnh
và 1 phủ, trong đó có tỉnh Hà Nội. Địa giới tỉnh Hà Nội bấy giờ rất rộng, bao
gồm cả khu vực kinh thành Thăng Long - Đông Đô - Đông Kinh cũ và một
phần lốn trấn Sơn Nam Thượng (tương đương hầu hết khu vực nội thành Hà
Nội, huyện Thanh Trì, một phần tỉnh Hà Tây và toàn bộ tỉnh Hà Nam ngày
nay). Huyện Thanh Trì lúc này thuộc phủ Thường Tín tỉnh Hà Nội. Cơ cấu
9
hành chính này được duy trì cho đến năm 1888 khi Hà Nội trở thành nhượng
địa của thực dân Pháp.
Về tên gọi, đến thời Lê Thế Tông (1573 - 1599) do kiêng tên huý của
vua, huyộn Thanh Đàm đổi thành huyện Thanh Trì (Lê Thế Tông tên huý là
Lê Duy Đàm). Đến thời Trịnh Tráng (1623 - 1657) lại đổi chữ thanh có
nghĩa là trong thành chữ thanh có nghĩa là xanh do kiêng huý vương hiệu
của chúa (Trịnh Tráng vương hiệu là Thanh Đô Vương với chữ thanh có
nghĩa là trong).
v ể quy mô, theo sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi, huyện Thanh Đàm
thời Lê sơ bao gồm 78 xã , 5 thôn, 3 sở6. Đầu thế kỷ XIX, theo sách Các trấn
tổn% xã danh bị lãm huyện Thanh Trì bao gồm 12 tổng với 100 xã, thôn, trại,
_ 7
7
sở .
Cuối thế kỷ XIX sau khi chiếm được nước ta thực dân Pháp tiến hành
nhiéu cải cách hành chính. Năm 1888 Pháp lấy Ihành phô' Hà Nội làm
nhượng địa (khu vực nội thành gồm hai huyện Thọ Xương và Vĩnh Thuận và
các làng Hoàng Mai, Mai Động, Phương Liệt tổng Hoàng Mai, Khương
Trung tổng Khương Đình, Vĩnh Tuy tổng Vĩnh Trung huyện Thanh Trì gộp
làm huyện Hoàn Long). Phần còn lại của tỉnh Hà Nội được chia làm hai tỉnh:
tỉnh Hà Nam và tỉnh Hà Đông. Phần còn lại của huyện Thanh Trì thuộc phủ
Thường Tín tỉnh Hà Đông.
Về quy mô, vào đầu thế kỷ XX, huyện Thanh Trì vẫn gồm 12 tổng vói
102 xã thôn, không kể số xã thôn đã sát nhập vào huyện Hoàn Long. Như
vậy, số xã thôn vẫn tăng so với đầu thế kỷ XIX mặc dù một số đã nhập vào
huyện Hoàn Long. Sở dĩ có tình hình này vì trong khoảng trên dưới một thế
kỷ, từ đầu thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, có một số xã, thôn mới được thành
lập trên cơ sở tách ra từ các xã cũ (xem bảng số 1)
6 Nguyễn Trãi : Toàn tập, sđd.
7Tên ìàng .xã V iệt NíHìì đầu th ế kỷ XIX thuộc các tỉnh từ N ghệ Tĩnh trỏ ra, Nxb Khoa học
xã hội, Hà N ội, 1981.
10
Danh sách làng xã huyện Thanh Trì
(so sánh hai thời điểm đầu th ế kỷ XIX và đầu th ế kỷ XX)
Bảng l 8
TT
Tổng
Xã thôn
Xã thôn
(đầu XIX)
(đầu XX
Ghi chú
1
Thanh Trì
Thanh Trì
Thanh Trì
Nay thuộc Thanh Trì
2
Thanh Trì
Đ ồng Nhân Châu
Đồng Nhân
Nay thuộc Thanh Trì
3
Thanh Trì
VTnh Hưng
Tế Trường
Nay thuộc Thanh Trì
4
Thanh Trì
Nam Dư
Nam Dư
Nay thuộc Thanh Trì
5
Thanh Trì
Khuyến Lương
Khuyến Lương
Nay thuộc Thanh Trì
6
Thanh Trì
Yên Duyên
Yên Duyên
Nay thuộc Thanh Trì
7
Thanh Trì
Thuý Ái Châu
Thuý Lĩnh
Nay thuộc Thanh Trì
8
Thanh Trì
thôn Thượng
Yên Duyên Sở
Nay thuộc Thanh Trì
sở Yên Duyên
Thượng
thôn Hạ
Yên Lương
Nay thuộc Thanh Trì
-
Nay thuộc quận Hai Bà
9
Thanh Trì
sờ Yên Duyên
10
Hoàng Mai
Hoàng Mai
Trưng
11
Hoàng Mai
Tương Mai
Tương Mai
Nay thuộc quận Hai Bà
Trưng
12
Hoàng Mai
Mai Động
-
Nay thuộc quận Hai Bà
Trưng
13
Hoàng Mai
Giáp Nhất
Giáp Nhất
Nay thuộc Thanh Trì
Giáp Nhị
Nay thuộc Thanh Trì
(Thịnh Liệt)
14
Hoàng Mai
Giáp Nhị
(Thịnh Liệt)
8 Một số tổng đổi tên vào đầu thế kỷ XX: tổng Hoàng Mai đổi thành tổng Thịnh Liệt, tổng
Quang Liệt đổi thành Thanh Liệt, tổng VTnh Hưng Đặng đổi thành VTnh Ninh.
11
15
Hoàng Mai
Giáp Tứ
Giáp Tứ
Nay thuộc Thanh Trì
Giáp Lục
Nay thuộc Thanh Trì
-
Nay thuộc Thanh Trì
Giáp Bát
Nay thuộc Thanh Trì
-
Nay thuộc quận Đống
(Thịnh Liột)
16
Hoàng Mai
Giáp Lục
(Thịnh Liệt)
17
Hoàng Mai
Giáp Thất
(Thịnh Liệt)
18
Hoàng Mai
Giáp Bát
(Thịnh Liệt)
19
Hoàng Mai
Phương Liột
Đa
20
Khương Đình
t. Lý
-
(Nhân Mục Môn)
21
Khương Đình
Quan Nhân
Xuân
Quan Nhân
(Nhân Mục Môn)
22
Khương Đình
t. Trung
Khương Đình
-
t. Hạ
Khương Đình
Khương Hạ
Thượng Đình
Khương Đình
Hạ Đình
Thượng Đình
Khương Đình
Hạ Đình
Hoa Kinh
Khương Đình
Nay thuộc quận Thanh
Xuân
Chính Kinh
(Nhân Mục Môn)
27
Nay thuộc quận Thanh
Xuân
(Nhân Mục Cựu)
26
Nay thuộc quân Thanh
Xuân
(Nhân Mục Cựu)
25
Nay thuộc quận Thanh
Xuân
(Khương Đình)
24
Nay thuộc quận Thanh
Xuân
(Khương Đình)
23
Nay thuộc quận Thanh
Nay thuộc quận Thanh
Xuân
t. Thượng
Định Công
(Định Công)
Thượng
Nay thuộc quận Hai Bà
28
Khương Đình
t. Hạ (Định Công)
Định Công Hạ
Nay thuộc quận Hai Bà
29
Khương Đình
Kim Lũ
Kim Lũ
Nay thuộc Thanh Trì
30
Khương Đình
Cự Lộc
Cự Lôc
Nay thuộc quận Thanh
12
(Nhân Mục Môn)
Xuân
31
Khương Đình
-
Giáp Nhất
Nay thuộc quận Hai Bà
32
Khương Đình
-
Đại Từ
Nay thuộc Thanh Trì
33
Quang Liệt
Quang Liệt
Thanh Liệt
Nay thuộc Thanh Trì
34
Quang Liệt
Bằng Liệt
Bằng Liệt
Nay thuộc Thanh Trì
35
Quang Liột
Pháp Vân
Pháp Vân
Nay thuộc Thanh Trì
Tứ Kỳ
Nay thuộc Thanh Trì
Linh Đàm
Nay thuộc Thanh Trì
Đại Từ
(Nhập vào tổng
Nay thuộc Thanh Trì
(Linh Đường)
Khương Đình)
(Hoằng Liệt)
36
Quang I lêt
Tứ Kỳ
(Hoằng Liệt)
37
Quang Liệt
Linh Đường
(Linh Đường)
38
Quang Liệt
39
Quang Liệt
Tựu Liệt
Tựu Liệt
Nay thuộc Thanh Trì
40
CỔ Điển
CỔ Điển
Cổ Điển
Nay thuộc Thanh Trì
41
Cổ Điển
Văn Điển
Văn Điển
Nay thuộc Thanh Trì
42
Cổ Điển
Cương Ngô
Cương Ngô
Nay thuộc Thanh Trì
43
CỔ Điển
Quỳnh Đô
Quỳnh Đô
Nay thuộc Thanh Trì
44
Cổ Điển
Yên Ngưu
Yên Ngưu
Nay thuộc Thanh Trì
45
Cổ Điển
Đồng Trì
Đồng Trì
Nay thuộc Thanh Trì
46
Cổ Điển
Lưu Phái
Lưu Phái
Nay thuộc Thanh Trì
47
Cổ Điển
Bảo Thị
Lạc Thị
Nay thuộc Thanh Trì
Ngọc Hồi
Nay thuộc Thanh Trì
ích Vịnh
Nay thuộc Thanh Trì
Huỳnh Cung
Nay thuộc Thanh Trì
(Vĩnh Trung)
48
CỔ Điển
Ngọc Điển
(VTnh Trung)
49
Cổ Điển
Ngõ Vịnh
(VTnh Trung)
50
Cổ Điển
Huỳnh Cung
13
51
Cổ Điển
-
Yên Kiện
Nay thuộc Thanh Trì
52
Nam Phù Liột
Tự Khoát
Tự Khoát
Nay thuộc Thanh Trì
Việt Yên
Nay thuộc Thanh Trì
Mỹ Liệt
Nay thuộc Thanh Trì
(Nam Pliìi Liột)
53
Nam Phù Liệt
Yên Việt
(Nam Phù Liệt)
54
Nam Phù Liệt
Hưu Liệt
(Nam Phù Liột)
55
Nam Phù Liệt
Đông Phù Liệt
Đông Phù Liệt
Nay thuộc Thanh Trì
56
Nam Phù Liệt
Tranh Khúc
Tranh Khúc
Nay thuộc Thanh Trì
57
Nam Phù Liệt
Đông Trạch
Đông Trạch
Nay thuộc Thanh Trì
58
Nam Phù Liột
Hoa Ả
Mỹ Ả
Nay thuộc Thanh Trì
59
Nam Phù Liệt
Văn Uyên
Văn Uyên
Nay thuộc Thanh Trì
60
Nam PliCi Liộl
Tương Trúc
Tương Trúc
Nay thuộc Thanh Trì
61
Nam Phù Liệt
-
Đại Ninh
Nay thuộc Thanh Trì
62
Vĩnh Hung Đặng
VTnh Hưng Đặng
Vĩnh Ninh
Nay thuộc Thanh Trì
63
Vĩnh Hung Đặng
Đại Áng
Đại Áng
Nay thuộc Thanh Trì
64
VTnh Hưng Đặng
Vĩnh Bảo
VTnh Thịnh
Nay thuộc Thanh Trì
65
Vĩnh Hưng Đặng
Nguyệt Áng
Nguyệt Ang
Nay thuộc Thanh Trì
66
Vĩnh Hưng Đặng
Vĩnh Hưng Trung
VTnh Trung
Nay thuộc Thanh Trì
67
Hà Liễu
Khánh Vân
Khánh Vân
Nay thuộc Hà Tây
(Hà Liễu)
68
Hà Liễu
ĐỖ Hà (Hà Liễu)
ĐỖ Hà
Nay thuộc Hà Tây
69
Hà Liễu
Hoàng Xá
Hoàng Xá
Nay thuộc Hà Tây
Liễu Nội
Nay thuộc Hà Tây
Liễu Ngoại
Nay thuộc Hà Tây
(Hà Liễu)
70
Hà Liễu
Liễu Nội
(Hà Liễu)
71
Hà Liễu
Liễu Ngoại
(Hà Liễu)
14
72
Hà Liễu
th. Tứ (Vĩnh Dụ)
-
Nay thuộc Hà Tây
73
Hà Liễu
Đàn Giản
Đàn Giản
Nay thuộc Hà Tây
74
Hà Liễu
Xuân Nê
Xuân Nê
Nay thuộc Hà Tây
(Hà Liễu)
75
Hà Liễu
Dư Dụ
Dư Dụ
Nay thuộc Hà Tây
76
Hà Liễu
Dụ Tuyển
Dụ Tiền
Nay thuộc Hà Tây
77
Hà Liễu
Cửa Am
Từ Am
Nay thuộc Hà Tây
78
Hà Liễu
-
Bùi Xá
Nay thuộc Hà Tây
79
Hà Liễu
-
Quan Nhân
Nay thuộc Hà Tây
80
Hà Liễu
-
Gia Dụ
Nay thuộc Hà Tây
81
Hà Liễu
-
Vĩnh Thị
Nay thuộc Hà Tây
82
Ninh Xá
Ninh Xá
Ninh Xá
Nay thuộc Hà Tây
83
Ninh Xá
Duyên Trường
Duyên Trường
Nay thuộc Hà Tây
84
Ninh Xá
Hạ Thái
Hạ Thái
Nay thuộc Hà Tây
85
Ninh Xá
Nội Am
N ội Am
Nay thuộc Hà Tây
86
Ninh Xá
Bằng Sở
Bằng Sở
Nay thuộc Hà Tây
87
Ninh Xá
Thọ Am
Thọ Am
Nay thuộc Hà Tây
88
Ninh Xá
Phúc Am
Phúc Am
Nay thuộc Hà Tây
89
Ninh Xá
Nhị Châu
Nhị Châu
Nay thuộc Hà Tây
90
Ninh Xá
Đại Lộ
Đại Lộ
Nay thuộc Hà Tây
91
Ninh Xá
Yên Phú
Yên Phú
Nay thuộc Hà Tây
92
Ninh Xá
Hoa Nhị
Phương Nhị
Nay thuộc Hà Tây
93
Vạn Phúc
Vạn Phúc châu
Vạn Phúc châu
Nay thuộc Thanh Trì
94
Vạn Phúc
Yên Mỹ châu
Yên Mỹ
Nay thuộc Thanh Trì
95
Vạn Phúc
-
Đại Lan
Nay thuộc Thanh Trì
96
Thâm Thị
Thâm Thị
Thâm Thị
Nay thuộc Hà Tây
97
Thâm Thị
Thâm Dương
Thâm Dương
Nay thuộc Hà Tây
98
Thâm Thị
Thâm Đ ộng
Thâm Đ ộng
Nay thuộc Hà Tây
15
99
Thâm Thị
Thâm Xuyên
Thâm Xuyên
Nay thuộc Hà Tây
100
ThAm Thị
Thủm Hồ
Thủm Hồ
Nay thuộc Hà Tây
101
TliAm Thị
Cắm Cơ
Cẩm Cơ
Nay thuộc Hà Tây
102
Thâm Thị
-
Sờ Hạ
Nay thuộc Hà Tây
103
Vân La
Thị (Vân La)
Vân La Thị
Nay thuộc Hà Tây
104
Vân La
Thượng (Vân La)
Vân LaThượng
Nay thuộc Hà Tây
105
Vân La
Nội (Van La)
v a n La Nội
Nay thuộc Hà Tây
106
Vân La
Thận Vi
Thuận Vi
Nay thuộc Hà Tây
107
Vân La
Đ ông Thai
Đông Thai
Nay thuộc Hà Tây
108
Vân La
NỖ Bạn
NỖ Bạn
Nay thuộc Hà Tây
109
Vân La
Dương Cảo
Dương Tảo
Nay thuộc Hà Tây
110
Vân La
-
Phú Mỹ
Nay thuộc Hà Tây
Cộng
102
100
Từ sau Cách mạng tháng Tám thành công đến nay địa giới hành chính
huyên Thanh Trì có nhiều thay đổi. v ể cơ bản cho đến trước đợt điểu chỉnh
lớn về địa giới Thủ đô Hà Nội lần thứ nhất (1961) Thanh Trì vẫn là một
huyện thuộc tỉnh Hà Đông. Tuy nhiên, ngay sau ngày giải phóng miền Bắc,
toàn bộ khu vực phía bắc Thanh Trì được lập thành một quận thuộc về Thủ
đô Hà Nội - quận 7 (bấy giờ Hà Nội gồm 8 quận, 4 quận nội thành và 4 quận
ngoại thành). Ngày 20 tháng 4 năm 1961, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hoà khoá II, kỳ họp thứ II ra Nghị quyết sáp nhập huyện Thanh Trì vào
thành phố Hà Nội, là một trong bốn huyện ngoại thành, bao gồm phần lớn
các làng xã của huyện Thanh Trì cũ. Số làng xã còn lại gồm tổng Hà Liễu
(14 xã), tổng Vân La (8 xã), tổng Thâm Thị (8 xã), tổng Ninh Xá (7/11 xã),
tổng cộng là 37 xã thôn (đầu thế kỷ XX là 41 xã thôn) được sáp nhập vào
tỉnh Hà tây, chủ yếu là vào huyện Thường Tín, một số vào huyện Thanh Oai
và thị xã Hà Đông. Từ đó đến nay còn một số đợt điểu chỉnh địa giới hành
chính nữa nhưng không lớn, theo đó một số làng xã phía bắc huyện giáp với
16
nội thành qua quá trình đô thị hoá đã được sáp nhập vào các quận nội thành
(quận Hai Bà Trưng), nhất là khi lập quận mới (quận Thanh Xuân).
Quan sát bảng 1 thì thấy huyện Thanh Trì hiện nay so vói huyện
Thanh Trì đầu thế kỷ XX trở về trước có sự thu hẹp đáng kể. Huyện Thanh
Trì hiện nay chỉ bảo gồm 57/100 đơn vị xã thôn của huyện Thanh Trì xưa,
chiếm tỷ lệ trên 57%, số còn lại đã nhập về tỉnh Hà Tây và hai quận Hai Bà
Trưng, Thanh Xuân thuộc nội thành Hà Nội. Tuy nhiên, Thanh Trì cũng
được cắt thêm một số xã của huyện Thanh Oai tỉnh Hà Tây: các xã Nhân
Hoà, Siêu Quần, Tả Thanh Oai và thôn Thượng Phúc thuộc xã Tả Thanh Oai.
Trong để tài nghiên cứu này các nội dung được trình bày là theo phạm
vi địa giới huyện Thanh Trì vào đầu thế kỷ XIX. Điều này xuất phát từ chỗ,
mặc dù có sự co giãn nhưng huyện Thanh Trì ngày nay vẫn cơ bản là huyện
Thanh Trì đầu thế kỷ XIX. Mặt khác, cũng như nhiều lĩnh vực nghiên cứu
khác, chúng tôi tôn trọng tính lịch sử của vấn đề - ở đây là làng xã huyện
Thanh Trì vào đầu thế kỷ XIX.
1.2. Vài nét về nguồn tư liệu
1.2.1. Địa bạ và thông tin địa bạ
Quản lý ruộng đất là một nội dung trọng tâm của quản lý Nhà nước
thời phong kiến, ở Việt Nam, ruộng đất chủ yếu là ruộng đất thuộc phạm vi
quản lý của các làng xã, bao gồm cả ruộng đất công và ruộng đất tư, và các
loại đất đai khác. Vì lẽ đó, để quản lý ruộng đất, cơ sở kinh tế của quản lý
nông thôn nói chung, Nhà nước phải lấy làng xã làm đơn vị. Địa bạ ra đời từ
thực tế như vậy.
I
Dưới thời phong kiến có nhiều loại văn bản quản lý đất đai nhưng địa
bạ của các xã thôn thường là loại văn bản có giá trị pháp lý cao nhất vì nó
được lập theo sự chỉ đạo của Nhà nước, việc đo đạc đất đai cũng được thực
hiện dưới sự tổ chức của Nhà nước. Trong lịch sử Việt Nam, lần đầu tiên Nhà
nước lập sổ địa bạ là vào năm 1092 dưới triều Lý, bấy giờ gọi là điền tịch9.
9 Đ ại V iệt sử kỷ toàn thư, tập 1, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993, tr. 296.
17
DĨÍCvM ĩ'
Thời Lê sơ, ngay sau kháng chiến chống Minh thắng lợi, năm 1428 Lê Lợi
đã ra lệnh cho các địa phương tiến hành điổu tra, khám xót vổ tinh hình sở
hữu ruộng đất, lập lại địa bạ trong 1 năm10. Trong Quốc triều hình luật, điều
437 quy định cứ 4 năm làm lại điền bạ một lần để phản ánh đúng tình hình
ruộng đất của các làng xã. Các thế kỷ về sau công việc lập và tu bổ địa bạ
được tiến hành trong nhiều năm. Đáng tiếc là hiện nay chúng ta mới chỉ tìm
được một số rất ít địa bạ trước thế kỷ XIX (tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm có
2 địa bạ niên đại 1694 và 1695, 2 địa bạ niên đại 1789, 1 địa bạ niên đại
1790 và 1 địa bạ niên đại 1795. Tuy nhiên, điểu chắc chắn là trong dân gian
vẫn còn giữ được nhiêu địa bạ có niên đại trước thế kỷ XIX.
Nhà Nguyễn sau khi bình định xong cả nước (1802) đã ý thức ngay
được tầm quan trọng của việc lập địa bạ. Năm 1803, tức chỉ 1 năm sau khi
lên ngôi, Gia Long đã sai lập địa bạ các trấn thuộc Bắc Hà, tức vùng Đàng
Ngoài thuộc quyền cai trị của chúa Trịnh trước đây. Công việc cơ bản hoàn
thành vào năm 1805 (trừ hai huyện Thọ Xương và Vĩnh Thuận thuộc phủ
Hoài Đức, nay thuộc nội thành Hà Nội và ba trấn đạo Ninh Bình, Thanh Hoá
và Nghệ An). Năm Gia Long thứ 9 (1810) quyết định triển khai công việc tại
các tỉnh từ Quảng Bình vào đến cực nam Trung Bộ. Tuy nhiên việc lập địa bạ
ở đây tiến hành có vẻ chậm nên phải tới những năm cuối thời Minh Mệnh
mới xong. Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831) tiến hành lập địa bạ ba trấn Ninh
Bình, Thanh Hoá và Nghệ An, công việc hoàn thành trong hai năm 1832 và
1834. Năm Minh Mệnh thứ 13 (1834) tiếp tục hoàn thành địa bạ hai huyện
nội thành Hà Nội (Thọ Xương và Vĩnh Thuận). Năm 1836 đo đạc lại ruộng
đất là lập sổ địa bạ các tỉnh Nam Kỳ.
Như vậy, cho đến hết thời Minh Mệnh vê cơ bản nhà Nguyễn đã lập
xong sổ địa bạ trên toàn quốc. Từ thời Thiệu Trị (1841) cho đến hết thời Bảo
Đại (1945) công việc còn lại chỉ là bổ sung thêm. Vì thế, trong số các địa bạ
hiện đang lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Cục lưu trữ Nhà nước,
'"Đ ại V iệt s ử ký toàn thư, tập 2, Nxb Khoa học xã hội, Hà N ội, 1993, tr. 298
18
hai sự tập địa bạ lớn nhất, số địa bạ có niên đại Gia Long và Minh Mệnh
chiếm tới 95,06%.
Sưu tập địa bạ tại Viện Nghiên cứu Hán Nồm do EFEO tiến hành
trước năm 1945. Đây hầu hết là các bản sao chép lại địa bạ lúc bấy giờ do
các làng xã quản lý. Theo thống kê, số địa bạ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm
hiện có 526 tập với 1635 đơn vị địa bạ bao gồm 70.662 trang phân bố ở 94
huyện thuộc 18 tỉnh Bắc Kỳ và 2 tỉnh Trung Kỳ thời Pháp thuộc, tương
đương với 17 tỉnh Bắc Bộ và 3 tỉnh Trung Bộ hiện nay. Như vậy, so với sô'
làng xã thì sưu tập địa bạ ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm thiếu rất nhiều (chỉ
bằng 30,9% số xã thôn)
Sưu tập địa bạ tại Cục lưu trữ Nhà nước là sưu tập địa bạ lớn nhất hiện
nay. Đây là kho địa bạ của triều đình Huế do bộ Hộ quản lý, trước năm 1945
được lưu trữ tại Tàng thư lâu. Năm 1960 chính quyền Sài Gòn chuyển kho
địa bạ này lên Đà Lạt và đầu năm 1975 được chuyển về Sài Gòn. Sau ngày
miển Nam được hoàn toàn giải phóng kho địa bạ này do Cục lưu trữ Nhà
nước quản lý, bảo quản tại Trung tâm lưu trữ quốc gia II (Thành phố Hổ Chí
Minh). Cuối năm 1991 được chuyển ra Hà Nội, bảo quản tại Trung tâm lưu
trữ quốc gia I.
Sưu tập đại bạ này bao gồm hầu hết các tỉnh thành trên toàn quốc. Đây
là những địa bạ chính thức (bản giáp) do triều đình Nguyễn quản lý, mang
đầy đủ chữ ký và dấu ấn của những người chịu trách nhiệm từ làng xã đến bộ
Hộ. Toàn bộ kho địa bạ này đóng thành 10.044 tập, mỗi tập thường có 1 địa
bạ, nhưng cũng có một số tập có trên 2 địa bạ, vì thế tổng số địa bạ hiện có ở
đây là 16.884 đơn vị. Số địa bạ này phân bố ở các miền như sau: Bắc Kỳ
4.296 tập với 8.704 địa bạ, Trung Kỳ 5.246 tập với 6.465 địa bạ, Nam Kỳ
484 tập với 1715 địa bạ. Có thể nói phần các làng xã Việt Nam được thành
lập từ giữa thế kỷ XIX trở về trước đều có địa bạ trong sun tập này (những
làng xã được lập về sau cũng có rải rác trong sưu tập địa bạ tại Viện Nghiên
cứu Hán Nôm, nhưng số lượng không nhiều, nội dung cũng đơn giản hơn).
19
Tổng cộng ci\ hai kho địa bạ ở Viộn Nghiôn cứu Hán Nôm và Cục Lưu
trữ Nhà nước là 10.570 tập với 18.519 địa bạ. Đây quả thật là khối tư liệu đổ
sộ vào bậc nhất trong các tư liệu lịch sử của Việt Nam còn lại đến ngày nay.
Thông tin địa bạ rất phong phú. Tuy được lập theo mẫu thống nhất của
Nhà nước nhưng do đặc thù của (ừng địa phương, từng thời điểm lập địa bạ
nên nó cũng có những khác biệt nhất định. Để hình dung cụ thể dưới đây
giới thiộu nội dung một địa bạ điển hình vùng đồng bằng Bắc Bộ lập vào
năm 1805 (phân tích theo thứ tự trình bày trong địa bạ):
1. Đơn vị hành chính: Đây là mục mở đầu của một địa bạ, cho biết tên
xã (thôn, trại, sở) thuộc tổng, huyộn, phủ, trấn; tiếp đó là họ tên các sắc mục
(hoặc hương mục), xã trưởng, thôn trưởng, khán thủ cùng toàn thể xã dân xin
khai địa bạ.
2. Tổng diện tích các loại ruộng đất: Ngoài thông tin về tổng diện tích
mục này còn cho biết diộn tích thực trưng, diện tích hoang hoá, một sô xã
ven sông thường có hiộn tượng đất bãi ven sông khi bổi khi lở cũng được
cước chú cụ thể.
3. Địa giới xã (thôn, trại, sở): Mục này cho biết bốn phía đông tây nam
bắc của xã (thôn, trại, sở) giáp với những xã thôn nào, lấy vật gì làm mốc
giới, chẳng hạn như cột gỗ, cột đá, như đường (thậm chí nói rõ đó là loại
đường nào, đường thiên lý hay đường nhỏ), như sông (cũng như thế, nói rõ là
sông lớn hay sông vừa hay sông nhỏ)...
4. Các loại đất đai:
4.1. Công điển (hoặc công thổ): tổng diện tích; tình hình đất đai (thực
trưng, lưu hoang); thòi vụ (ruộng mùa, ruộng chiêm, ruộng hai vụ), đẳng
hạng (hạng nhất, hạng nhì, hạng ba); các xứ đổng (diện tích, tên gọi, giáp
giới, tình hình đất đai, thời vụ, đẳng hạng); các thửa ruộng (diện tích, giáp
giới, tình hình đất đai, thời vụ, đẳng hạng, cách thức sử dụng).
4.2. Tư điển (hoặc tư thổ): tổng diện tích; tình hình đất đai (thực trưng,
lưu hoang); thời vụ (ruộng mùa, ruộng chiêm, ruộng hai vụ); đẳng hạng
20
(hạng nhất, hạng nhì, hạng ba); các xứ đồng (diện tích, tên gọi, giáp giới,
tình hình đất đai, thời vụ, đẳng hạng); các thửa ruộng (diện tích, giáp giới,
tình hình đất đai, thời vụ, đẳng hạng, tên chủ sở hữu và quê nếu là phu canh).
4.3. Thần từ Phật tự điền (nói chung là ruộng tôn giáo tín ngưỡng):
tổng diện tích; tình hình đất đai (thực trưng, lưu hoang), thời vụ (ruộng mùa,
ruộng chiêm, ruộng hai vụ); đẳng hạng (hạng nhất, hạng nhì, hạng ba); các
xứ đổng (diện tích, tên gọi, giáp giới, tình hình đất đai, thời vụ, đẳng hạng);
các thửa ruộng (diện tích, giáp giới, tình hình đất đai, thời vụ, đẳng hạng,
cách thức sử dụng).
4.4. Công châu thổ (trường hợp này không phổ biến, chỉ những làng
ven sông mới có): tổng diện tích; tình hình đất đai (thực trưng, lưu hoang);
các xứ đồng (diện tích, tên gọi, giáp giới, tình hình đất đai); các thửa ruộng
(diộn tích, giáp giới, cách thức sử dụng).
4.5. Thổ trạch viên trì: tổng diện tích, các khu (diện tích, tên gọi, giáp
giới, tình hình sử dụng).
4.6. Tha ma mộ địa: tổng diện tích; các khu (thuộc xứ đồng nào, diện
tích, giáp giới).
4.7. Thổ phụ: tổng diện tích; các đồi gò (thuộc xứ đồng nào, diện tích,
giáp giới).
4.8. Công điền của các làng xã khác toạ lạc tại địa phận bản xã (loại
này không phổ biến): tổng diện tích, tên xã thôn có ruộng, các xứ đồng (diện
tích, tên gọi, giáp giới, tình hình đất đai, thời vụ, đẳng hạng).
(Các mục 4.6, 4.7, 4.8 không tính vào tổng diện tích, chính xác là
không tính vào diện tích tính thuế).
Như vậy, thông tin địa bạ là hết sức phong phú. Mặc dù địa bạ - với
nghĩa là sổ ghi chép về ruộng đất, nhưng nó không chỉ cung cấp tư liệu về
ruộng đất, mà nói chung là nhiều tư liệu khác về làng xã. Với những nội
dung nêu trên rõ ràng nếu được khai thác triệt để địa bạ có thể giúp phác hoạ
tương đối toàn diện bức tranh làng xã vào thời điểm lập địa bạ.
21
1.2.2. Địa bạ huyện Thanh Trì
Huyên Thanh Trì vào đầu thế kỷ XIX thuộc phủ Thường Tín trấn Sơn
Nam Thượng. Theo sách Các trấn tổng xã danh bị lãm, huyện Thanh Trì bao
gồm 12 tổng với 100 xã, thôn, trại, sở. Hầu hết các làng xã này hiện đều còn
địa bạ, đều được lập vào năm Gia Long 4 (1805) và đang được bảo quản tại
Trung tâm lưu trữ quốc gia I (Hà Nội). Tuy nhiên, trong công trình này, do
nhiểu hạn chế, chúng tôi không có điều kiện khai thác được hết số tư liệu
trên. Số địa bạ mà chúng tôi khai thác được là 50 cuốn (chiếm tỷ lệ 50%).
Mặc dù chỉ chiếm 50% so với tổng số đon vị xã thôn nhưng lại được phân bố
tất cả các tổng (12/12 tổng) rải tương đối đều trên địa bàn toàn huyện. Vì lẽ
đó, dù chưa đầy đủ, nhưng qua đây vẫn có thể, ở một mức độ nhất định, khái
quát bức tranh làng xã của huyện Thanh Trì nói chung (xem bảng 2)
Tình hình chung về tư liệu
Bảng 2
Tổng
TT
Số xã thôn
Số có địa bạ
Số lượng
Tỷ lệ
1
Thanh Trì
9
6
66,60
2
Hoàng Mai
10
3
30,00
3
Khương Đình
11
7
63,63
4
Quang Liệt
7
2
32,85
5
Cổ Điển
12
7
58,33
6
Nam Phù Liệt
9
7
77,77
7
VTnh Hưng Đặng
5
4
80,00
8
Hà Liễu
11
5
45,45
9
Ninh Xá
11
5
45,45
10
Vạn Phúc
2
1
50,00
11
Thâm Thị
6
2
33,33
12
Vân La
7
1
14,28
100
50
50,00
Cộng
22
Danh sách các xã thôn có địa bạ được khai thác
Bảng 3
TT
Tên làng xã
Tổng
Số tờ
1
Thanh Trì
Thanh Trì
15
2
Khuyến Lương
Thanh Trì
21
3
Thuý Ái Châu
ThanhTrì
5
4
Vĩnh Hưng (sở)
Thanh Trì
12
5
Hạ thôn (Yên Duyên)
Thanh Trì
12
6
Nam Dư
Thanh Trì
14
7
Giáp Nhất (Thịnh Liệt)
Hoàng Mai
9
8
Giáp Thất Giáp Bát (Thịnh Liệt)
Hoàng Mai
12
9
Phương Liệt
Hoàng Mai
12
10
Hạ thôn (Khương Đình)
Khương Đình
14
11
Trung thôn (Khương Đình)
Khương Đình
25
12
Quan Nhân (Nhân Mục Môn)
Khương Đình
14
13
Cự Lộc Hoa Kinh (Nhân Mục Môn)
Khương Đình
23
14
Thượng Đình (Nhân Mục Cựu)
Khương Đình
15
15
Hạ Đình (Nhân Mục Cựu)
Khương Đình
12
16
Thượng thôn (Định Công)
Khương Đình
14
17
Đại Từ (Linh Đường)
Quang Liệt
25
18
Pháp Vân (Hoằng Liệt)
Quang Liệt
12
19
Văn Điển
Cổ Điển
15
20
N gọc Hồi (VTnh Trung)
Cổ Điển
16
21
An Ki£n (Vĩnh Trung)
Cổ Điển
8
22
N gõ Vịnh (Vĩnh Trung)
Cổ Điển
12
23
Bảo Thị (VTnh Trung)
Cổ Điển
16
24
Huỳnh Cung
Cổ Điển
24
25
Lưu Phái
Cổ Điển
17
23
26
Hưu Liệt (Nam Phù Liệt)
Nam Phù Liệt
4
27
Tự Khoát (Nam Phù Liôt)
Nam Phù Liột
10
28
Yôn Viột (Nam Phù Liột)
Nam Phù Liột
6
29
Văn Uyên
Nam Phù Liệt
8
30
Tranh Khúc
Nam Phù Liệt
11
31
Đông Phù Liệt
Nam Phù Liệt
14
32
Tương Tiiíc
Niiin Phìi Liôl
7
33
VTnh Hưng Đặng
Vĩnh Hưng Đặng
10
34
Vĩnh Bảo
Vĩnh Hưng Đặng
10
35
Vĩnh Hưng Trung
Vĩnh Hưng Đặng
11
36
Nguyột Áng
VTnh Hưng Đặng
18
37
Liễu Ngoại (Hà Liễu)
Hà Liễu
10
38
Hoàng Xá
Hà Liẽu
7
49
Khánh Vân
Hà Liễu
10
40
ĐỖ Hà (Hà Liễu)
Hà Liễu
18
41
Quan Nhân (Vĩnh Dụ)
Hà Liễu
14
42
Thọ Am
Ninh Xá
15
43
Phúc Am
Ninh Xá
15
44
Nhị Châu
Ninh Xá
18
45
Đại Lộ
Ninh Xá
13
46
Hoa Nhị
Ninh Xá
12
47
Thâm Đ ộng
Thâm Thị
26
48
Cẩm Cơ
Thâm Thị
11
49
Thận Vy
Vân La
6
50
Vạn Phúc châu
Vạn Phúc
11
50
671
Cộng
Tổng số tư liệu được khai thác bao gồm 671 tờ (hai mặt, tức 1342
trang) chữ Hán, trung bình mỗi địa bạ có 13,5 tờ (tức 27 trang). Tuy nhiên,
24
độ dầy mỗi địa bạ không đểu nhau. Địa bạ có số trang nhiều nhất là 26 tờ (52
trang), địa bạ có số trang ít nhất là 4 tờ (8 trang). Điều này xuất phát từ nhiều
nguyên nhân. Đó một mặt tuỳ thuộc vào quy mô xã thôn (xã thôn có quy mô
diên tích lớn địa bạ thường gồm nhiều trang và ngược lại), mặt khác phụ
thuộc vào tỷ lệ ruộng tư so với tổng diện tích (những xã thôn nhiều tư điền
thổ địa bạ thường gồm nhiều trang do phải kê khai từng thửa ruộng tư và
ngược lại) và cuối cùng là phụ thuộc vào mức độ manh mún hay tập trung
ruộng đất (những xã thôn nhiều tư điển nhưng sở hữu manh mún địa bạ
thường bao gồm nhiều trang do số thửa ruộng phải kê khai nhiều và ngược
lại). Việc dịch và xử lý nguồn tư liệu địa bạ được tiến hành theo các thao tác
sau: dịch và lập phiếu phân tích địa bạ (công việc của bước 1 đòi hỏi phải
được tiến hành hết sức cẩn thận; mẫu phiếu phân tích địa bạ được lập trên cơ
sở phân tích nội dung thông tin của địa bạ đã được dịch), tiếp đó là nhập dữ
liệu từ phiếu vào máy tính và cuối cùng là hệ thống hoá tư liệu làm cơ sở cho
việc phân tích.
Đặc điểm của những nghiên cứu dựa trên nguồn tư liệu đám đông là
mỗi một nhận xét được rút ra đều phải qua khao sát và xử lý một khối lượng
tư liệu lớn. Trong trường hợp này, chẳng hạn, để có được những số liệu tổng
quát, chúng tôi đã phải tiến hành hàng chục, có khi hàng trăm phép tính. Đó
là một khó khăn lớn mà các tác giả đề tài đã phải hết sức cố gắng để vượt
qua.
Chọn Thanh Trì là địa bàn khảo sát, các tác giả đề tài - ngoài những lý
do nêu ở phần Mở đầu - còn một dụng ý nữa, là muốn thông qua kết quả
nghiên cứu của mình góp một phần nhỏ bé vào việc tìm hiểu lịch sử Thăng
Long - Hà Nội, nhât là khi Hà Nội cùng cả nước đang hướng tới kỷ niệm
1000 năm tuổi.
25