Tải bản đầy đủ (.docx) (45 trang)

CƠ sở lý LUẬN về QUẢN lý CÔNG tác CHỦ NHIỆM lớp ở các TRƯỜNG THPT TRONG bối CẢNH đổi mới GIÁO dục PHỔ THÔNG

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (209.52 KB, 45 trang )

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ
CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP Ở
CÁC TRƯỜNG THPT TRONG
BỐI CẢNH ĐỔI MỚI GIÁO DỤC
PHỔ THÔNG


-Tổng quan nghiên cứu
-Các nghiên cứu về hoạt động chủ nhiệm lớp ở trường
THPT
Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, toàn
cầu hóa và hội nhập quốc tế, ngành giáo dục nước ta cũng đã
và đang chuyển biến mạnh mẽ để cùng hòa nhập với thế giới.
Chương trình đổi mới giáo dục từng bước được hoàn thiện,
đang ở giai đoạn dự thảo lần 2 nhằm đưa vào thực hiện trong
những năm sắp tới. Trong giai đoạn đang chuyển mình này,
công tác chủ nhiệm ở các trường phổ thông đã và đang từng
bước thực hiện để đáp ứng đầy đủ những yêu cầu mới. Tại
Hội nghị lần thứ XII của Ban chấp hành TW khóa X đã đề ra
Nghị quyết số 27-NQ/TW “về xây dựng đội ngũ trí thức
trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước”. Đảng ta đã xác định “Giáo dục và đào tạo chính là
chìa khóa, là động lực quan trọng để xây dựng và phát triển
nền kinh tế quốc gia. Trong đó đội ngũ GV và CBQL giáo dục
có ý nghĩa cao cả đặc biệt, họ là bộ phận lao động tinh hoa
của đất nước, lao động của họ trực tiếp và gián tiếp thúc đẩy
sự phát triển của đất nước, cộng đồng đi vào trạng thái phát


triển bền vững”. Ban Bí thư Trung ương có Chỉ thị 40CT/TW về xây dựng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục, [1].
Thủ tướng Chính phủ ra quyết định phê duyệt đề án “Đào


tạo, bồi dưỡng nhà giáo và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục đáp
ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông
giai đoạn 2016-2020, định hướng đến năm 2025”, [13].
Theo quan điểm mới hiện nay, để nâng cao chất lượng
giáo dục, người giáo viên không chỉ dạy học đơn thuần mà
còn phải làm tốt công tác chủ nhiệm lớp nhằm tổ chức, điều
khiển, hướng dẫn học sinh học tập tích cực, chủ động và sáng
tạo. Vì thế, công tác chủ nhiệm lớp được nhiều nhà khoa học
quan tâm như các công trình của: Nguyễn Dục Quang, Lê
Thanh Sử, Nguyễn Thị Kỷ, “Những tình huống giáo dục HS
của người GVCN”, NXB ĐHQG Hà Nội, 2000; Hà Nhật
Thăng (chủ biên), “Phương pháp công tác của người GVCN
trường THPT”, NXB ĐHQG Hà Nội, 2001; Hà Nhật Thăng,
Nguyễn Dục Quang, Nguyễn Thị Kỷ, “Công tác GVCN lớp ở
trường phổ thông”, NXBGD, 2009; Bộ Giáo dục và Đào tạo,
“Kỷ yếu hội thảo Công tác GVCN ở trường phổ thông”,
NXBGD, 2010;


Quyển“Một số vấn đề trong công tác chủ nhiệm lớp ở
trường THPT hiện nay”, của tác giả Nguyễn Thanh Bình đã
tập trung nghiên cứu về công tác chủ nhiệm lớp.Trong đó, tác
giả đã đưa ra những vấn đề cần quan tâm trong công tác chủ
nhiệm lớp ở trường THPT hiện nay như phải trả lời câu hỏi:
Vì sao phải làm việc này?, Làm cái gì?, Làm như thế nào? Để
trả lời được những câu hỏi này, người giáo viên tâm huyết sẽ
được mục đích của công việc mình đang làm. Ngoài ra, tác
giả còn giới thiệu một số tình huống sư phạm thường gặp
trong trường phổ thông thông qua giới thiệu một số chủ đề
giáo dục kĩ năng sống.

- Các nghiên cứu về quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở
trường THPT
Trước đây đã có một số đề tài nghiên cứu về QL công
tác chủ nhiệm lớp như: “Biện pháp quản lý công tác chủ
nhiệm lớp ở các trường trung học phổ thông thành phố Lào
Cai, tỉnh Lào Cai”, 2011 của tác giả Lê Văn Dũng. Trong đề
tài này tác giả đã đi sâu vào đánh giá thực trạng công tác chủ
nhiệm từ đó đã đề xuất được các giải pháp nhằm nâng cao
chất lượng giáo dục toàn diện HS ở địa phương; đề tài “Biện
pháp quản lý công tác chủ nhiệm trong trường trung học phổ


thông các huyện phía nam tỉnh Lâm Đồng”, 2012, của
Nguyễn Duy Bảo. Với đề tài này, tác giả đã khái quát được
thực trạng của công tác chủ nhiệm lớp tại các trường THPT
vùng khó khăn của Tây Nguyên nói chung và của Lâm Đồng
nói riêng, từ đó đã đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm nâng
cao chất lượng giáo dục toàn diện HS ở vùng này. Đề tài
“Quản lý công tác chủ nhiệm lớp của hiệu trưởng trường
THPT Hàn Thuyên tỉnh Bắc Ninh” của tác giả Lưu Thị Phong
Thu cũng nêu lên một số thực trạng và biện pháp quản lý công
tác chủ nhiệm của trường THPT Hàn Thuyên.
Từ thực tế công tác, tôi thấy cần thiết phải nghiên cứu
đề tài: “Quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT
huyện Bảo Lâm, tỉnh Lâm Đồng trong bối cảnh đổi mới
giáo dục phổ thông” nhằm nâng cao hiệu quả GD tại địa
phương.
- Một số khái niệm cơ bản
- Quản lý
Trong xã hội loài người, quản lý là một loại hình lao

động quan trọng nhất, là nhân tố không thể thiếu được trong
xã hội loài người.


Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng (Nxb Giáo
dục,1998) Quản lý là “tổ chức, điều khiển hoạt động của một
đơn vị, cơ quan”[43]
Theo Các Mác: “Một người độc tấu vĩ cầm tự điều
khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc
trưởng”.[11]
Taylor F.W (người Mỹ) cho rằng: “Quản lý là biết được
chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó thấy được
rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt và chi phí thấp
nhất”.
Từ góc độ tâm lý học, Vũ Dũng cho rằng: “ Quản lý là
sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ
thống thông tin của chủ thể đến khách thể của nó” [15];
Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt cho rằng: “Quản lý là
một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một
hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định”[33];
Theo Mai Hữu Khuê: “Hoạt động quản lý là một dạng
hoạt động đặc biệt của người lãnh đạo mang tính tổng hợp
các loại lao động trí óc, liên kết bộ máy quản lý, hình thành


một chỉnh thể thống nhất điều hoà phối hợp các khâu và các
cấp quản lý, làm sao cho hoạt động nhịp nhàng, đưa đến hiệu
quả”[23];
Quan điểm của Nguyễn Văn Lê: “Quản lý là một hệ
thống xã hội khoa học và nghệ thuật tác động vào từng thành

tố của hệ thống bằng phương pháp thích hợp nhằm đạt các
mục tiêu đặt ra cho hệ thống và từng thành tố của hệ”[28];
Theo Phan Văn Kha thì: “Quản lý là một tập hợp các
hoạt động lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các
quá trình tự nhiên, xã hội, khoa học, kỹ thuật và công nghệ để
chúng phát triển hợp quy luật, các nguồn lực (hiện hữu và
tiềm năng) vật chất và tinh thần, hệ thống tổ chức và các
thành viên thuộc hệ thống, các hoạt động để đạt được các
mục đích đã định” [24].
Một số quan điểm khác cho rằng:
- Quản lý là “ hoạt động hoạt động nhằn đảm bảo sự
hoàn thành công việc thông qua sự nổ lực của người khác”


- Quản lý là “ một hoạt động tất yếu nhằm đảm bảo
phối hợp những nổ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của
nhóm”
- Quản lý là sự tác động có ý thức, hợp quy luật giữa
chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt các mục tiêu
đề ra;
- “ Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích
của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm sử dụng có
hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt
được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến đổi của môi trường”
[20].
Từ các định nghĩa trên có thể rút ra một số điểm chung:
“Quản lý bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có
mục tiêu xác định” và quản lý là “quản lý con người”
“Quản lý có khả năng thích nghi giữa chủ thể và đối
tượng quản lý”.

Quản lý là quá trình tác động có chủ đích của chủ thể
đến đối tượng thông qua chức năng quản lý nhằm nhắm


hướng đến mục tiêu của tổ chức trong một môi trường quản lý
luôn biến động.
- Công tác chủ nhiệm lớp
Lớp học là tổ chức cơ bản trong trường học, để một
trường hoạt động dạy và học tốt cần có một tổ chức lớp học
tốt. Để quản lý, giáo dục học sinh, những giáo viên đang dạy
có kinh nghiệm quản lý, giáo dục học sinh, có tinh thần trách
nhiệm và có lòng nhiệt tình, có năng lực chuyên môn sẽ được
nhà trường chọn lựa và phân công làm CTCN. Như vậy nói
đến CTCNL là nói đến những nhiệm vụ, nội dung công việc
mà GVCN buộc phải thực hiện và cần phải thực hiện.
- Quản lý công tác chủ nhiệm lớp
- Khái niệm về quản lý công tác chủ nhiệm lớp
QL công tác chủ nhiệm lớp là “hoạt động tổ chức, điều
hành đội ngũ GVCN và các hoạt động chủ nhiệm nhằm nâng
cao chất lượng GD toàn diện”.
Quản lý công tác chủ nhiệm là quá trình tác động của
cán bộ quản lý đến đội ngũ GVCN thông qua chức năng quản


lý nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục và rèn luyện học sinh
trong môi trường giáo dục luôn biến đổi.
- Nội dung về quản lý công tác chủ nhiệm lớp
Quản lý công tác chủ nhiệm lớp bao gồm:
- QL đội ngũ GVCN: Là sự tác động có ý thức của CBQL
để chỉ huy, điều khiển GVCN thực hiện các hoạt động QL và

GD học sinh nhằm hướng tới mục tiêu xác định.
- Điều kiện làm việc của GVCN:
Để đảm bảo mục tiêu giáo dục của từng trường, CBQL
phải thường xuyên quan tâm đến các điều kiện vật chất nơi
làm việc, hoàn cảnh gia đình của từng GVCN, cần quan tâm
đến chế độ của GVCN như động viên học tập nâng cao trình
độ, tạo điều kiện về thời gian làm việc, tình hình của lớp đang
đảm nhiệm để có giải pháp kịp thời, tạo điều kiện tốt nhất có
thể cho GVCN hoàn thành nhiệm vụ của mình.
- QL các hoạt động của GVCN:
+ Xây dựng và phê duyệt KH chủ nhiệm:


BGH nhà trường cần xây dựng KH tổng thể về công tác
chủ nhiệm cho toàn trường, từ bản kế hoạch này, GVCN lập
kế hoạch riêng cho lớp mình (tùy vào đặc điểm, tình hình cụ
thể từng lớp). BGH phê duyệt KH, theo dõi, kiểm tra, đôn đốc
việc thực hiện kế hoạch, từ đó có thể điều chỉnh KH (nếu
cần).Trong kế hoạch, HT đưa ra những mục tiêu, những tiêu
chí thi đua cụ thể, hướng dẫn GVCN, chỉ đạo xây dựng tập
thể lớp với hướng tới mục tiêu, đưa ra các biện pháp phù hợp
nhằm hình thành một tập thể vững mạnh.Trước khi lập các
loại kế hoạch, HT là người chủ động tìm hiều, nắm vững từng
đặc điểm của đơn vị mình để lập kế hoạch và phổ biến yêu
cầu, tổ chức, kiểm tra kết quả thực hiện .
+ Tổ chức, chỉ đạo công tác chủ nhiệm:
* Công tác tổ chức bộ máy trong nhà trường được
kiện toàn, ổn định như việc lựa chọn, phân công hợp lý, tổ
chức sắp xếp theo tổ nhóm đúng theo tinh thần đúng người,
đúng việc thì kết quả thực hiện nhiệm vụ sẽ được nâng cao.

* Để giáo dục toàn diện HS đáp ứng mục tiêu GD
trong bối cảnh đổi mới giáo dục phổ thông, HT chỉ đạo,
hướng dẫn, là cầu nối các lực lực lượng GD, tạo điều kiện để


các lực lượng phối hợp một cách nhịp nhàng và góp phần
nâng cao hiệu quả; bên cạnh đó, HT cũng cần chỉ đạo, kiểm
tra kết quả thực hiện;
* Bồi dưỡng đội ngũ là một trong những tiêu chí cần
thiết nhất trong thời kỳ mới. Có một đội ngũ vững vàng về
chuyên môn, thành thạo về kỹ năng sẽ giúp cho một tập thể
vững mạnh và đạt hiệu quả cao.
- Kiểm tra, đánh giá công tác chủ nhiệm lớp
Việc kiểm tra, đánh giá CTCN phải khách quan, công
bằng, khoa học và có hiệu quả. BGH cần kiểm tra đột xuất
hoặc định kỳ, khi kiểm tra cần phải có đánh giá, nhận xét kịp
thời để GVCN rút kinh nghiệm. BGH cần kiểm tra kết hợp
nhiều hình thức thông qua các hoạt động của lớp, xếp loại thi
đua hàng tuần, báo cáo hàng tháng, từng học kỳ về kết quả
giáo dục hai mặt của học sinh... Khi kiểm tra đánh giá cần
đảm bảo thống nhất chung về tiêu chí đánh giá cho toàn
trường, tránh hình thức đánh giá chủ quan, không công bằng.
- Thi đua, khen thưởng về công tác chủ nhiệm lớp


Để động viên, khích lệ sự phấn đấu và nỗ lực của
GVCN và học sinh, BGH nhà trường cần phát động các
phong trào thi đua một cách thường xuyên, liên tục và mang
lại hiệu quả cao cho công tác GD. Khi phát động thi đua,
BGH cần xây dựng chỉ tiêu, tiêu chí cụ thể, rõ ràng phù hợp

cho từng đợt thi đua. Sau mỗi đợt thi đua cần phải tổng kết
đánh giá được mặt mạnh, mặt yếu để có phương hướng phấn
đấu và rút kinh nghiệm . BGH cần quan tâm, coi trọng việc
biểu dương, khen thưởng những cá nhân, tập thể có nhiều tiến
bộ và nhiều thành tích. Việc ghi nhận thành tích đóng góp của
đội ngũ GV và GVCN nói riêng sẽ là động lực giúp họ vượt
qua những khó khăn rào cản để đóng góp nhiệt tình vào công
việc giáo dục học sinh.
- Bối cảnh đổi mới giáo dục phổ thông
Những năm gần đây, toàn thế giới thay đổi mạnh mẽ
cùng với cuộc các mạng công nghiệp lần thứ tư ra đời; với
nền kinh tế tri thức phát triển mạnh như hiện nay, Hội nghị
Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ
8 (khóa 11) đã thông qua nghị quyết về “ đổi mới căn bản,
toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp
hóa và hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định


hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”;[2] Quốc hội đã
ban hành Nghị quyết số 88/2014/QH về: “Đổi mới chương
trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông nhằm tạo chuyển
biến căn bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả giáo dục
phổ thông; kết hợp dạy chữ, dạy người và định hướng nghề
nghiệp; góp phần chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ
kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện về cả phẩm
chất và năng lực, hài hòa đức, trí, thể, mỹ và phát huy tốt
nhất tiềm năng của mỗi học sinh”
Chương trình giáo dục phổ thông mới “được xây
dựng theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực, tạo
môi trường học tập và rèn luyện giúp người học tích lũy được

kiến thức phổ thông vững chắc; biết vận dụng hiệu quả kiến
thức vào đời sống và tự học suốt đời; có định hướng nghề
nghiệp phù hợp; biết xây dựng và phát triển hài hòa các mối
quan hệ xã hội; có cá tính, nhân cách và đời sống tâm hồn
phong phú; nhờ đó có được cuộc sống có ý nghĩa và đóng
góp tích cực vào sự phát triển của đất nước và nhân loại” [9]
Quan điểm xây dựng chương trình giáo dục phổ thông:


- Chương trình giáo dục phổ thông là “văn bản chính
sách của nhà nước thể hiện mục tiêu giáo dục phổ thông, quy
định các yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực của học
sinh, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục và phương
pháp đánh giá kết quả giáo dục, làm căn cứ quản lý chất
lượng giáo dục phổ thông; đồng thời là cam kết của nhà nước
đảm bảo chất lượng của cả hệ thống và từng cơ sở giáo dục
phổ thông” [9].
- Chương trình được xây dựng trên “quan điểm của
Đảng, Nhà nước về đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và
Đào tạo; gắn với nhu cầu phát triển của đất nước và những
tiến bộ của thời đại về khoa học- công nghệ và xã hội; phù
hợp với đặc điểm con người, văn hóa Việt Nam, các giá trị
truyền thống của dân tộc và những giá trị chung của nhân loại
cũng như các sáng kiến và định hướng phát triển của
UNESCO về giáo dục, tạo cơ hội bình đẳng về quyền được
bảo vệ, chăm sóc, học tập và phát triển, quyền được lắng
nghe, tôn trọng và được tham gia của học sinh; đặt nền tảng
cho một xã hội nhân văn, phát triển bền vững và phồn vinh”
[9].



Chương trình “đảm bảo phát triển phẩm chất và năng
lực người học thông qua nội dung giáo dục với những kiến
thức cơ bản, thiết thực, hiện đại; hài hòa đức, trí, thể, mỹ; chú
trọng thực hành, vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề
trong học tập và trong đời sống; tích hợp cao ở các lớp học
dưới; phân hóa dần ở các lớp học trên; thông qua các phương
pháp, hình thức tổ chức giáo dục phát huy tính chủ động và
tiềm năng của mỗi học sinh, các phương pháp kiểm tra, đánh
giá phù hợp với mục tiêu giáo dục và phương pháp giáo dục
để đạt được mục tiêu đó” [9].
Chương trình “đảm bảo tính kế thừa và phát triển
những ưu điểm của các chương trình giáo dục phổ thông đã
có ở Việt Nam, đồng thời tiếp thu kinh nghiệm xây dựng
chương trình của những nền giáo dục tiên tiến trên thế giới;
bảo đảm kết nối chặt chẽ giữa các lớp học, cấp học với nhau
và liên thông với chương trình giáo dục mầm non, chương
trình giáo dục nghề nghiệp và chương trình giáo dục đại học”
[9].
Được xây dựng theo hướng mở:


+ Chương trình “bảo đảm định hướng thống nhất và
những nội dung giáo dục cốt lõi, bắt buộc đối với học sinh
toàn quốc, đồng thời trao quyền chủ động và trách nhiệm cho
địa phương và nhà trường trong việc lựa chọn, bổ sung một số
nội dung giáo dục và triển khai kế hoạch giáo dục phù hợp
với đối tượng giáo dục và điều kiện của địa phương, của cơ sở
giáo dục, góp phần bảo đảm kết nối hoạt động của nhà trường
với gia đình, chính quyền và xã hội” [9].

+ Chương trình chỉ “quy định những nguyên tắc, định
hướng chung về yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực
của học sinh, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục và
phương hướng đánh giá kết quả giáo dục, không quy định quá
chi tiết để tạo điều kiện cho tác giả sách giáo khoa và giáo
viên phát huy tính chủ động, sáng tạo trong thực hiện chương
trình” [9].
+ Chương trình “đảm bảo tính ổn định và khả năng phát
triển trong quá trình thực hiện phù hợp với tiến bộ khoa học công nghệ và yêu cầu của thực tế” [9].
- Công tác quản lý chủ nhiệm lớp ở trường THPT trong
bối cảnh đổi mới giáo dục phổ thông.


- Vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của giáo viên chủ
nhiệm lớp
- Vị trí của người GVCN lớp ở trường THPT
Ở trường, lớp học là đơn vị cơ sở, là tế bào để hình
thành nên trường học. Trong đó, GVCN là người chỉ huy, chịu
trách nhiệm chính về mọi hoạt động và kết quả học tập, tu
dưỡng rèn luyện của tập thể lớp cũng như từng thành viên của
lớp. GVCN là cầu nối gắn kết các thành viên trong lớp, giữa
các tập thể lớp, với nhà trường, với gia đình và với xã hội.
-Vai.trò.của.người.GVCN.lớp.ở.trường.THPT
Giáo viên chủ nhiệm là nhân vật trung tâm, là linh hồn
của lớp, Tập hợp và đoàn kết học sinh trong lớp. GVCN quản
lý, theo dõi HS từ học tập đến các hoạt động vui chơi, sinh
hoạt, những biểu hiện bất thường…, từ tâm tư, tình cảm đến
nguyện vọng, phát triển và bồi dưỡng tiềm năng của các em,
giúp các em phát triển toàn diện.
Giáo viên chủ nhiệm đại diện cho nhà trường truyền đạt

những chủ trương của nhà trường, bên cạnh đó họ là người
đại diện cho học sinh nói lên những nguyện vọng của mình


đối với nhà trường; là người chủ động kết nối các tổ chức, cá
nhân có liên quan cùng tham gia giáo dục HS.
- Chức năng của người GVCN lớp ở trường THPT
- Chức năng quản lý lãnh đạo: Quản lý, lãnh đạo là
việc làm đầu tiên đối với GVCN vì họ được giao quản lý từ
30- 50 học sinh, họ phải có đủ kiến thức, am hiểu và có kỹ
năng điều tra, khảo sát lớp chủ nhiệm, xây dựng kế hoạch, tổ
chức thực hiện kế hoạch, kiểm tra đánh giá kết quả giáo
dục…
- Chức năng cố vấn: (tác động để phát triển nhân cách):
Công việc quan trọng của GVCN là làm sao tạo điều kiện tốt
nhất để mỗi HS của mình có thể “phát triển hết khả năng vốn
có của bản thân, hình thành được những tính cách, thói quen”
mà mục tiêu chương trình giáo dục phổ thông đề ra. Để làm
được điều này, GVCN cần phải có kiến thức cơ bản về tâm lý
học, giáo dục phù hợp với lứa tuổi học sinh đang chủ nhiệm.
GVCN không chỉ là người biết thương yêu, tôn trọng, quý
mến học sinh của mình mà còn biết rõ hoàn cảnh, nắm bắt cá
tính từng học sinh , biết cách lắng nghe, thấu hiểu, chia sẻ, gợi
mở, dẫn dắt học sinh để mỗi trò có đủ những giá trị làm người


như: Yêu thương, khoan dung, tôn trọng để các em luôn biết
sống tự chủ, tự tin, tự chịu trách nhiệm về các hành vi của
mình. Mỗi GVCN phải tạo cho học sinh mình phát triển nhân
cách theo tinh thần biết “ tự giáo dục”

- Chức năng tổ chức, phối hợp các lực lượng giáo dục:
Nhân cách của HS không chỉ được hình thành không chỉ ở
lớp học mà diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi nên việc giáo dục các
em chỉ thành công khi GVCN có khả năng tập hợp, phối hợp
các lực lượng giáo dục. Đây là năng lực cần có để các đối
tượng cùng tham gia giáo dục với họ như giáo viên bộ môn,
Đoàn, cha mẹ học sinh và các lực lượng khác ngoài xã hội.
- Chức năng kiểm tra, đánh giá: Đây là chức năng có ý
nghĩa rất quan trọng đối với quá trình học tập, rèn luyện, phát
triển nhân cách của mỗi học sinh.


- Nhiệm vụ của người GVCN lớp ở trường THPT
Ngoài những nhiệm vụ của GV theo điều lệ trường trung
học thông. GVCN còn có những nhiệm vụ sau:
- Tìm hiểu HS lớp học mà mình quản lý như kinh tế,
chính trị , xã hội truyền thống học tập, nghề nghiệp của cha
mẹ học sinh, đặc điểm lứa tuổi tâm sinh lý học sinh lớp mình
chủ nhiệm
- Xây dựng tập thể lớp tự quản chú ý đến ban cán sự
lớp. Đây là chỗ dựa vững chắc và là nơi kết nối GVCN với
HS để người làm công tác quản lí lớp thực hiện thành công
các hoạt động giáo dục.
- Xây dựng tập thể đoàn kết: Đoàn kết sẽ thúc đẩy nhau
trong học tập, trong rèn luyện đạo đức đảm bảo mục tiêu giáo
dục đã đề ra.
- Phối hợp với giáo viên bộ môn và các lực lượng giáo
dục khác trong và ngoài nhà trường để giáo dục học sinh.
- Thực hiện theo kế hoạch đã xây dựng về các hoạt
động giáo dục một cách đa dạng và phong phú về nội dung



cũng như hình thức; đặc biệt quan tâm giáo dục các kỹ năng
sống, kỹ năng trải nghiệm sáng tạo đáp ứng yêu cầu mới.
- Những yêu cầu về phẩm chất và năng lực cần thiết của
người GVCN ở trường THPT trong bối cảnh đổi mới giáo dục
phổ thông
Để “ học sinh phát triển hài hòa về thể chất và tinh thần,
trở thành người học tích cực, tự tin, có ý thức lựa chọn nghề
nghiệp và học tập suốt đời, để trở thành người công dân có trách
nhiệm, người lao động có văn hóa, cần cù, sáng tạo”, người
GVCN là người lãnh đạo , đóng vai trò chủ đạo, tổ chức, điều
khiển HS phù hợp với mục tiêu giáo dục để hình thành con
người mới. GVCN là người tác động, ảnh hưởng rất lớn đến
quá trình phát triển nhân cách HS.Vì vậy, họ phải có tâm,
đức, tài, trí, có năng lực sư phạm, biết nắm bắt tâm lý HS,
hoàn cảnh HS. Thầy cô phải là tấm gương sáng, tạo được
niềm tin và đạo đức của người Thầy phải được đặt lên hàng
đầu.Thế nên, GVCN cần có những yêu cầu về phẩm chất như
sau:
- Uy tín đạo đức cao: “Mỗi thầy cô là tấm gương đạo
đức để học sinh noi theo”. Vì thế, nhân cách người thầy phải


trong sáng, cao đẹp, phù hợp với chuẩn mực của xã hội, tạo
được uy tín đối với phụ huynh và học sinh,. Đạo đức của
người thầy là nhân tố quan trọng trong công tác quản lý cũng
như công tác GD học sinh. Chính họ là người ảnh hưởng đến
sự hình thành nhân cách, ý thức và hành vi của học sinh.
GVCN phải phẩm chất chính trị vững vàng, có niềm tin vào

sự nghiệp cách mạng, vào đường lối lãnh đạo của Đảng.
- Nghệ thuật sư phạm: Sân khấu như bục giảng thì
“Thầy giáo như một nghệ sĩ”, Mỗi giáo viên có cách riêng thể
hiện phong cách và tác phong của mình, GVCN càng cần phải
rèn luyện, tự học tập, tự nghiên cứu để không ngừng nâng cao
trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm, mở rộng hiểu biết
về văn hóa, chính trị…tăng cường học hỏi cách xử lý tình
huống sư phạm.
- Tầm hiểu biết rộng rãi: Trong bối cảnh đổi mới giáo
dục phổ thông như hiện nay, nhu cầu hiểu biết của học sinh
ngày càng tăng. Để tạo được uy tín và sức ảnh hưởng của
mình đối với học sinh, GVCN không những có trình độ
chuyên môn mà còn phải hiểu biết về xã hội, kiến thức về
nghệ thuật, văn học, lịch sử, địa lý, những thành tựu mới của
khoa học và kỹ thuật đang phát triển như vũ bảo. Muốn thế,


GVCN phải thay đổi chính mình, phải luôn tìm tòi học hỏi
từng ngày.
- Thương yêu và tôn trọng HS: Tình thương yêu học sinh
là điều kiện cần thiết để nâng cao hiệu quả công tác giáo dục.
Không có điều gì làm cho GVCN gần gũi HS bằng mối quan
hệ tin yêu, bao dung và chân thành. Sự yêu thương, động
viên, khích lệ của GVCN sẽ tạo điều kiện thuận lợi sẽ giúp
các em phát huy hết khả năng tiềm ẩn của mình, đóng góp vào
sự thành công theo mục tiêu giáo dục đã đề ra.
- Kỹ năng tổ chức, thiết kế các hoạt động GD: Hoạt
động của GVCN lớp bao gồm việc tổ chức, sắp xếp buổi trải
nghiệm sáng tạo, các cuộc vui chơi, các hoạt động giáo dục
NGLL, hoạt động hướng nghiệp,… Vì vậy, GVCN phải có kỹ

năng, phương pháp, cách thức tổ chức các hoạt động, trong
việc xử lý các tình huống có thể xảy ra.
- Sáng tạo trong công tác GD: Trong bối cảnh đổi mới
giáo dục phổ thông như hiện nay, nếu không có sự thay đổi,
sự sáng tạo, sáng kiến, nghiên cứu khoa học, kiên trì giải
quyết những vấn đề đặt ra trong thực tiễn thì không thể giúp
học sinh hoàn thành mục tiêu GD. GVCN là người phải có đủ


các yếu tố trên, phải sáng tạo, linh động, nhạy bén trong quản
lý, tổ chức các hoạt động giáo dục học sinh.
Bên cạnh đó, GVCN cần phải có những năng lực cốt lõi
cần thiết và bắt buộc như: năng lực chuyên môn, năng lực giải
quyết vấn đề, năng lực điều khiển….Ngoài ra, để đáp ứng
mục tiêu giáo dục và hỗ trợ học sinh phát triển hoàn thiện
nhân cách trong bối cảnh đổi mới giáo dục phổ thông phải có:
- Năng lực quản lý lãnh đạo
- Năng lực tác động để phát triển nhân cách
- Năng lực phối hợp các lực lượng giáo dục
- Năng lực “ tay trái” của giáo viên chủ nhiệm
- Năng lực giá trị sống, kỹ năng sống
- Năng lực định hướng nghề nghiệp
- Năng lực tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo
- Năng lực giáo dục học sinh kỹ luật tự giác, hoạt động
giáo dục giới tính. (Theo TS. Nguyễn Tùng Lâm - báo Giáo
dục.Net)


×