TÌM HIỂU CÔNG TÁC CUNG CẤP NƯỚC SẠCH VÀ
VỆ SINH MÔI TRƯỜNG TẠI XÃ MỸ YÊN- HUYỆN
ĐẠI TỪ- TỈNH THÁI NGUYÊN
I. Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Đại Từ là một huyện miền núi nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Thái Nguyên, cách thành phố
Thái Nguyên 25 km với tổng diện tích tự nhiên là 57.415,7 ha, chiếm 16,26% tổng diện
tích tự nhiên của tỉnh. Trên địa bàn huyện, nguồn tài nguyên, đất, nước, khoáng sản
phong phú và đa dạng, có khu du lịch Hồ Núi Cốc huyền thoại, huyện có nhiều thuận lợi
trong phát triển kinh tế, trong những năm gần đây tốc độ phát triển kinh tế của huyện
luôn ở mức độ cao.
Nước, không khí và thực phẩm,… là những thứ rất cần thiết cho tồn tại, phát triển của
người và các sinh vật trên trái đất. Nước là dung môi tốt để hòa tan tất cả các chất ( trừ
mỡ và một ít hợp chất cacbon). Hầu hết các phản ứng hóa học xảy ra trong cơ thể có liên
quan đến sự trao đổi chất đều cần đến nước. Các quá trình biến hóa thức ăn, tổng hợp
chất cho tế bào, đều thực hiện trong môi trườn nước, đối với cơ thể sống, thiếu nước là
một hiểm họa. Nhu cầu sinh lý của con người một ngày cần đến 1.83 lít nước, nhưng
cũng có thể lên tới 2,5- 3,5 lít/ người, tùy theo cường độ lao động và tính chất môi trường
xung quanh. Cung cấp nước đầy đủ và nước sạch là một trong những công tác chủ yếu để
tăng cường và bảo vệ sức khỏe của nhân dân. Ở nông thôn nước ta, theo báo cáo chiến
lược quốc gia về nước và vệ sinh nông thôn thì vào cuối năm 2001, cả nước đã có 46%
dân số nông thôn được cung cấp nước sạch. Cùng với việc cung cấp nước sạch là vấn đề
vệ sinh môi trường. Các chất thải của người và gia súc, các phế thải của ngành tiểu thủ
công nghiệp, dư lượng hóa chất trong nông nghiệp đang hàng ngày gây ô nhiễm môi
trường.
Nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn có ý nghĩa quan trọng trong đời sống hàng
ngày của mọi người. Nhận thức được tầm quan trọng, vai trò to lớn của nước đối với đời
sốn con người cũng như tính phức tạp của các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình
khai thác, sử dụng, tác động tới nước, những năm gần đây Nhà nước ta đã xây dựng và
tổ chức thực hiện nhiều chương trình, chiến lược về bảo vệ, phát triển tài nguyên
nước.Mỹ Yên là một xã miền núi thuộc huyện Đại Từ- tỉnh Thái Nguyên, nằm trong diện
135 của Chính phủ- vùng sâu vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Việc thi hành pháp luật về
bảo vệ môi trường còn gặp nhiều trở ngại, ý thức tự giác bảo vệ môi trường chưa trở
thành thói quen trong cộng đồng dân cư, công tác cung cấp nước sạch và vệ sinh môi
trường còn tồn tại nhiều hạn chế.Tất cả đang trở thành những yêu cầu cấp thiết đòi hỏi
phải được giải quyết. Để tìm hiểu rõ hơn về thực trạng vấn đề cung cấp nước sạch và vệ
sinh môi trường tại xã Mỹ Yên, chúng tôi đã lựa chọn vấn đề Tìm hiểu công tác cung cấp
nước sạch và vệ sinh môi trường tại xã Mỹ Yên- huyện Đại Từ- tỉnh Thái Nguyên làm đề
tài nghiên cứu trong chuyến thực tế vừa rồi.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích
Trên cơ sở tìm hiểu thực trạng, chỉ ra những nguyên nhân còn tồn tại của công tác cung
cấp nước sạch và vệ sinh môi trường tại xã Mỹ Yên – Đại Từ – Thái Nguyên đề xuất một
số biện pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác cung cấp nước sạch và vệ
sinh môi trường của xã.
Đánh giá hiện trạng môi trường nước sinh hoạt tại xã Mỹ Yên.
Đánh giá tình hình sử dụng nước sinh hoạt tại xã Mỹ Yên.
Đề ra một số giải pháp cung cấp nước sạch nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng nước sinh
hoạt của người dân địa phương.
2.2. Nhiệm vụ
Làm rõ một số khái niệm có liên quan đến đề tài.
Khảo sát thực tế và đánh giá thực trạng công tác cung cấp nước sạch và vế sinh môi
trường tại xã.
Chỉ ra nguyên nhân của thực trạng trên.
Đề xuất một số giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác cung cấp
nước sạch và vệ sinh môi trường tại xã.
2.3. Yêu cầu
Phản ánh đúng hiện trạng môi trường nước sạch tại xã Mỹ Yên
Đảm bảo những đề nghị, kiến nghị, để phù hợp, mang tính khả thi đối với thực tế điều
kiện kinh tế xã hội địa phương.
3. Đối tượng
Công tác cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường tại xã Mỹ Yên – Đại Từ – Thái
Nguyên.
II. Nội dung
1. Vị trí địa lý
Mỹ Yên là một xã thuộc huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, Việt Nam. Xã nằm ở phía tây
của huyện và tựa lưng vào dãy núi Tam Đảo. Đỉnh núi cao nhất của dãy núi (1590 m) là
nơi giáp ranh giữa ba tỉnh Thái Nguyên và Vĩnh Phúc và Tuyên Quang.
Mỹ Yên có ranh giới tiếp giáp với xã Khôi Kỳ ở phía bắc, Bình Thuận ở phía đông
bắc, Văn Yên ở phía đông và đông nam. Qua dãy Tam Đảo, Mỹ Yên giáp với xã Đạo
Trù thuộc huyện Tam Đảo của tỉnh Vĩnh Phúc. Trên địa bàn xã có một số khe suối nhỏ
chảy từ các đỉnh núi cao theo phía tây đổ ra hồ Núi Cốc. Trên địa bàn xã có dựa án kè
chống xói mòn suối Chì song có nhiều khúc mắc. Đây là một trong năm xã duy nhất của
tỉnh Thái Nguyên có thể nuôi được các loài cá nước lạnh như cá Hồi hay cá Tầm
Theo Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên 1999-2003, xã Mỹ Yên có diện tích
34,11 km², dân số là 5829 người, mật độ cư trú đạt 171 người/km². Mỹ Yên được chia
thành 25 xóm: Kỳ Linh Trong, Kỳ Linh Ngoài, Đồng Khâm, Cao, Chùa, La Yến, Đồng
Cháy, Đầm Gành, Đầm Pháng, Trại Cọ, Đồng Cạn, Lò Gạch, Suối Trì, Bắc Hà 1, Bắc Hà
2, Bắc Hà 3, Thuận Yên, Việt Yên, Đồng Phiêng, La Vương, Na Hang, Tân Yên, Na
Hồng, La Tre, Làng Lớn.
Bản đồ hành chính huyện Đại Từ
2. Khí hậu
Mỹ Yên có lượng mưa lớn (trung bình 1.700-1.800 mm/năm) độ ẩm trung bình 70%80%, nhiệt độ trong năm từ 22 °C-27 °C, cao nhất trong tháng 6 năm 2013 (32 °C), lạnh
nhất trong tháng 1 năm 2014 (6 °C).
3. Hiện trạng cấp nước hiện nay
Nước mặt: Mạng lưới sông ngòi của huyện Đại Từ có 1 sông chính là sông Công. Hiện
nay nguồn nước cung cấp cho nhu cầu sinh hoạt và phát triển công, nông nghiệp toàn
huyện Đại Từ chủ yếu sử dụng nguồn nước mặt từ sông này. Chất lượng nước sông Công
ổn định.
Nước mặt là nước trong sông, hồ hoặc nước ngọt trong vùng đất ngập nước. Nước mặt
được bổ sung một cách tự nhiên và chúng mất đi khi chảy vào đại dương, bốc hơi và
thấm xuống đất.
Nước ngầm: Trữ lượng nước ngầm tại huyện Đại Từ khá lớn. Chất lượng nước ngầm đều
nhạt, đáp ứng yêu cầu sử dụng cho ăn uống sinh hoạt. Chất lượng nước nhìn chung có thể
sử dụng vào mục đích sinh hoạt nhưng phải xử lý Mn làm thoáng và lọc cát.
Nước ngầm ( hay còn gọi là nước dưới đất) là nước ngọt được chứa trong các lỗ rỗng của
đất hoặc đá. Nó cũng có thể là nước chứa trong các tầng ngâm nước bên dưới mực nước
ngầm.
4. Khái niệm nước sạch và tiêu chuẩn nước sạch
4.1. Khái niệm nước sạch
Nước sạch là nước không có màu, mùi vị khác thường gây khó chịu cho người sử dụng,
không có chất tan và không tan độc hại cho con người, không có các vi khuẩn gây bệnh
và không gây tác động xấu cho sức khoẻ người sử dụng trước mắt cũng như lâu dài”.
4.2. Tiêu chuẩn nước sạch
Nước là một nhu cầu không thể thiếu của con người. Trung bình nước chiếm độ 75%
trọng lượng của cả cơ thể. Nói về nước “sạch”, theo định nghĩa, nước sạch là nước chỉ
chấp nhận sự hiện diện của các hợp chất hữu cơ, kim loại và các ions hòa tan với một vi
lượng rất nhỏ tuỳ theo độc chất của các chất kể trên. Và định mức này đã được Liên Hợp
Quốc cũng như các quốc gia trên thế giới chấp nhận tùy theo điều kiện phát triển của
từng quốc gia. Tuy nhiên, các tiêu chuẩn cho nước uống ở các nơi cũng gần giống nhau.
Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg, ngày 2-12-2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê
duyệt Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm
2020.
Ions: nồng độ của Fluor trong nước không được quá 2mg/L; Chlor, 250 mg/L; Sulfate,
250 mg/L; Nitrate, 45 mg/L
Về các yếu tố vật lý thì độ dẫn điện (specific conductance) không được vượt quá 900
microhmos. Lượng chất rắn hòa tan cũng không được quá 550 mg/L.
Nói chung, nước được gọi là sạch và hợp vệ sinh khi đạt được các tiêu chuẩn yêu cầu trên
và có độ pH trong khoảng từ 6,5 đến 7,5 (pH trung hòa trong nước là 7,0).
Đối lập với nước sạch là nước bị ô nhiễm:
Khái niệm ô nhiễm nước: là hiện tượng thay đổi về chất lượng nước do trong nước có
chứa quá mức các thành phần, vật chất, các chất độc hại và các vi khuẩn, vi sinh vật gây
bệnh đã làm giảm giá trị sử dụng của nước, ảnh hưởng xấu tới sự tồn tại và phát triển của
các sinh vật cũng như tới sức khỏe của con người.
4.3. Khái niệm môi trường, phân loại môi trường và ô nhiễm môi trường
4.3.1. Khái niệm môi trường
Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với
nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của
con người và thiên nhiên.” (Theo Điều 1, Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam).
4.3.2. Phân loại môi trường:
Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá học, sinh học, tồn
tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con người. Đó
là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí, động, thực vật, đất, nước…
Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người với người. Đó là những luật lệ, thể
chế, cam kết, quy định, ước định… ở các cấp khác nhau như: Liên Hợp Quốc, Hiệp hội
các nước, quốc gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã, họ tộc, gia đình, tổ nhóm, các tổ chức
tôn giáo, tổ chức đoàn thể,… Môi trường xã hội định hướng hoạt động của con người
theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm
cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác.
4.3.3. Khái niệm Ô nhiễm môi trường :
Ô nhiễm môi trường là tình trạng môi trường bị ô nhiễm bởi các chất hóa học, sinh học,
gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người, các cơ thể sống khác. Dưới góc độ pháp lý, ô
nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu
chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật.
4.4. Sự cần thiết của công tác cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường đối với cuộc
sống con người.
Tính đến năm 2012 trên địa bàn cả nước đã có khoảng 80% số dân nông thôn được cấp
nước sinh hoạt, khoảng 60% số hộ gia đình có nhà tiêu hợp vệ sinh, nhiều chuồng trại
chăn nuôi được cải tạo và xây mới đảm bảo quản lý chất thải, khoảng 100% tổng số
trường học, nhà trẻ, lớp mẫu giáo, 100% tổng số trạm xá xã, 40% tổng số chợ ở khu vực
nông thôn được cấp nước sinh hoạt và có công trình vệ sinh đủ tiêu chuẩn, 28 đồn biên
phòng cùng với hơn 8 vạn dân vùng lân cận được cung cấp nước sinh hoạt. Kết quả này
đã góp phần quan trọng vào việc phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn, cải thiện cảnh quan
và vệ sinh môi trường, cải thiện điều kiện sống, điều kiện sinh hoạt và nâng cao sức khỏe
cho nhân dân.
Cùng với kết quả đó, trên phạm vi cả nước đã cơ bản hoàn thành quy hoạch tổng thể
nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn theo từng vùng, từng tỉnh. Nhiều loại hình
công nghệ trong cấp nước và vệ sinh môi trường đã được xác định và ứng dụng phù hợp
với điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội, đặc điểm dân cư, tập quán và truyền thống sử
dụng nước sinh hoạt của từng địa phương.
Tính đến nay, bộ máy quản lý thực hiện công tác cấp nước sạch và vệ sinh môi trường
nông thôn từ Trung ương đến cấp cơ sở đã được hình thành. Nhiều văn bản chính sách,
tài liệu hướng dẫn về quản lý, công nghệ kỹ thuật…đã được xây dựng và ban hành. Nhận
thức của chính quyền các cấp và nhân dân về việc sử dụng nước sạch và vệ sinh môi
trường được nâng cao một bước. Bên sạnh đó, chương trình đã hình thành được một số
mô hình huuy động vốn đầu tư có hiệu quả, bao gồm các nguồn vốn từ ngân sách Nhà
nước, vốn tín dụng, vốn từ các thành phần kinh tế, vốn hỗ trợ của quốc tế và vốn đóng
góp của nhân dân.
4.5. Những khó khăn và thách thức
Tuy đã đạt được những kết quả quan trọng trên đây nhưng thực tế việc cấp nước sạch và
vệ sinh môi trường nông thôn ở nước ta vẫn còn khá nhiều khó khăn và thách thức.
Chất lượng nước và chất lượng xây dựng các công trình cấp nước nhìn chung còn thấp,
chưa đạt các yêu cầu đặt ra. Đến nay vẫn còn 10% dân số nông thôn chưa được tiếp cận
với nước sinh hoạt hợp vệ sinh. Trong số 80% dân số nông thôn được sử dụng nước hợp
vệ sinh. Nhiều vùng đang diễn ra tình trạng ô nhiễm nguồn nước do sự xâm nhập mặn,
do chất thải chăn nuôi, chất thải làng nghề, hóa chất sử dụng trong nông nghiệp, ngày
càng nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sinh hoạt, sức khỏe của nhân dân. Bên cạnh đó nhiều
khu vực ở các vùng đồng bằng đã phát hiện hàm lượng Asen có trong nước ngầm khá cao
so với tiêu chuẩn cho phép đang là một trong những thách thức lớn đói với công nghệ sử
lý và nguồn lực đầu tư.
Tính đồng đều trong việc cấp nước sạch ở các vùng, miền còn nhiều hạn chế. Trong khi 3
vùng sing thái đã có số dân cư nông thôn được cấp nước sinh hoạt trên 60%, thì 4/7 vùng
còn lại chỉ có chưa đến 50% số dân được cấp nước sinh hoạt, nhiều vùng như: miền núi,
vùng ven biển, vùng khó khăn về nguồn nước, người dân chỉ được sử dụng bình quân
dưới 20 lít nước/người/ngày.
Tính bền vững của những thành quả đạt được về cấp nước chưa cao. Số lượng và chất
lượng nước cung cấp ở nhiều nơi hiện đang bị giảm sút, việc giám sát và kiểm tra chất
lượng nước chưa đúng quy định đặc biệt là đối với các công trình cấp nước nhỏ lẻ. Quản
lý bền vững công trình cấp nước tập trung sau xây dựng còn yếu, hầu hết do kinh phí
chưa đủ đảm bảo duy trì, quản lý, khai thác, tu sửa dẫn đến công trình bị xuống cấp, thậm
chí không tiếp tục hoạt động được. Một số công trình do tư nhân hoặc hợp tác xã nước
sạch đầu tư và quản lý tuy có khá hơn nhưng cũng chỉ đảm bảo tái sản xuất đơn giản.
Phương pháp công nghệ sử lý rác thải, chất thải tập trung, đặc biệt là vùng làng nghề
đang là vấn đề bức xúc, chưa có giải pháp hữu hiệu. Chương trình Mục tiêu Quốc gia giai
đoạn 1999 – 2005 mới chỉ tập trung việc giải quyết nước sinh hoạt cho người dân mà
chưa quan tâm đầy đủ đến việc vệ sinh môi trường, xử lý nước thải, xử lý rác thải, chất
thải chuồng trại chăn nuôi và xử lý chất thải làng nghề do đó đây đang là vấn đề cản trở
sự phát triển của các làng nghề và phát triển chăn nuôi ở nông thôn.
Mặc dù đã có nhiều tiến bộ, tuy nhiên, vấn đề vệ sinh ở nông thôn vẫn chưa được chú
trọng như đối với cấp nước. Tính đến nay cả nước vẫn còn 50% số hộ gia đình chưa có
nhà tiêu hợp vệ sinh như nhà tiêu cầu, nhà tiêu đào, nhà tiêu ao cá…hiện là nguy cơ cao
gây nhiễn bẩn các nguồn nước mặt phục vụ cho sinh hoạt của cộng đồng. Trong khi đó
nhận thức của các cấp chính quyền và người dân vẫn còn lệch lạc, coi trọng vấn đề cấp
nước hơn vệ sinh, coi trọng việc xây dựng mới hơn là phát huy hiệu quả những công trình
hiện có.
Thị trường nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn chưa được hình thành rõ ràng, các
chính sách khuyến khích đầu tư và cơ chế tín dụng hiện có chưa thu hút được sự tham gia
của các thành phần kinh tế trong xã hội, đặc biệt là khu vưc tư nhân.
Các công trình cấp nước sạch và vệ sinh môi trường trong các trường học, trạm y tế và
các cơ sở công cộng khác ở nông tôn mặc dù đã được quan tâm nhưng kết quả đạt được
vẫn còn khá khiêm tốn so với nhu cầu thực tế. nhiều trường học còn thiếu các công trình
cấp nước và vệ sinh hoặc có nhưng không đáp ứng được nhu cầu, thêm nữa nhiều cơ sở
công cộng đang được xây dựng mới nhưng không có hạng mục xây dựng công trình cấp
nước và vệ sinh.
5. Khái quát về điều kiện tự nhiên xã Mỹ Yên – Huyện Đại Từ
Mỹ Yên là một xã miền núi thuộc huyện Đại Từ- tỉnh Thái Nguyên, nằm cách trung tâm
huyện 10 km. Địa hình chủ yếu là đồi núi, với tổng diện tích tự nhiên là 3400 ha, trong đó
đất nông nghiệp trồng lúa là 280 ha, trồng chè là 130 ha, diện tích rừng sản suất là 400
ha, còn lại là rừng vườn của vườn quốc gia Tam Đảo.
Về khí hậu: Mỹ Yên mang đặc điểm chung của khí hậu miền núi phía Bắc, chia làm 2
mùa rõ rệt.
Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 và kéo dài tới tháng 11. Tập trung vào các tháng 6, 7, 8
chiếm khoảng 80% lượng mưa cả năm.
Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau.
Nhiệt độ trung bình năm là trên 200C.
Độ ẩm không khí dao động từ 80- 85%.
Về thủy văn: do điều kiện địa hình đồi núi nên mạng lưới suối nguồn ít, hệ thống kênh
mương được xây dựng là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho sản xuất nông nghiệp.
6. Điều kiện kinh tế- Văn hóa- Xã hội xã Mỹ Yên- Đại Từ
6.1. Sản xuất nông- lâm nghiệp.
Trồng lúa:
Diện tích gieo cấy là 270 ha, năng suất đạt 56 tạ/ ha, với sản lượng là 1512 tấn.
Trong đó, lúa lai cấy được 33 ha.
Cây ngô:
Ngô đông năm 2010 có 35 ha, năng suất 41 tạ/ ha, đạt sản lượng 143.5 tấn
Ngô xuân với diện tích là 5 ha, năng suất đạt 40 tạ/ ha, sản lượng 20 tấn
Tổng sản lượng lương thực cây có hạt 6 tháng đầu năm đạt 1675,5 tấn
Chăm sóc thâm canh 102 ha chè kinh doanh, năng suất đạt 65 tạ/ ha, với sản lượng là
461.1 tấn.
Trồng rừng:
Rừng sản xuất: Đã cấp giống và phân bón cho nhân dân trồng và chăm sóc 36.1 ha tại 5
xóm: Bắc Hà 1, Bắc Hà 2, Bắc Hà 3, Việt Yên và Đồng Cháy
Triển khai mô hình thâm canh keo Tai tượng với diện tích là 25 ha tại 6 xóm: Suối Chì,
Lò Gạch, Đồng Cạn, Trại Cọ, Đầm Pháng, Đầm Gành.
Công tác bảo vệ rừng: đã tăng cường sự phối hợp giữa các ban ngành và cơ sở thực hiện
tốt công tác phòng chống cháy rừng; kiểm tra, giám sát việc khai thác, vận chuyển, chế
biến lâm sản trên địa bàn xã.
6.2. Văn hóa- xã hội.
Sự nghiệp giáo dục - đào tạo thu được nhiều thành tích quan trọng, hàng năm duy trì 14/
13 cấp học. Chất lượng dạy và học cùng với đội ngũ giáo viên ngày càng được nâng cao.
Về y tế: chỉ đạo trạm y tế xã tăng cường công tác khám chữa bệnh cho nhân dân. Trong 6
tháng đầu năm khám bệnh cho 2.855 bệnh nhân. Thành lập đoàn kiểm tra liên ngành tăng
cường kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm. Tổ chức tập huấn về vệ sinh an toàn thực
phẩm cho các hộ kinh doanh mặt hàng thực phẩm trên địa bàn toàn xã với tổng số 100 hộ
tham gia.
7. Thực trạng cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường tại xã Mỹ Yên - huyện Đại
Từ
7.1. Công tác cung cấp nước sạch tại xã Mỹ Yên – Đại Từ
7.1.1. Tình hình về việc cung cấp nước sạch tại xã Mỹ Yên.
Là một xã miền núi thuộc diện 135 của Chính phủ về vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt
khó khăn nên công tác cung cấp nước sạch ở xã Mỹ Yên- Huyện Đại Từ- Tỉnh Thái
Nguyên còn nhiều vấn đề cần quan tâm.
Công trình cấp nước sinh hoạt xã Mỹ Yên được UBND tỉnh Thái Nguyên đầu tư xây
dựng với tổng kinh phí đầu tư là 3.7 tỉ đồng với quy mô công trình được xây dựng thuộc
hệ thống nước tự chảy. Xã Mỹ Yên gồm có 2 công trình nước sạch được xây dựng vào
năm 1997 và năm 2003, đó là công trình Cao Chùa và công trình La Tre.
Công trình Cao Chùa được xây dựng năm 1997 với tổng kinh phí là 320 triệu đồng, do
công tác quản lý lỏng lẻo, ý thức nhân dân chưa cao, nên công trình đã xuống cấp nghiêm
trọng. Tháng 11/ 2004, trung tâm nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường tỉnh Thái Nguyên
đã đầu tư 63 triệu đồng để xây bể tạo áp 20 m3 và sửa chữa các vị trí đường ống bị mất
cắp. Công trình Cao Chùa đã đi vào hoạt động phục vụ cho 4 xóm gồm: xóm Cao, xóm
Chùa, Đồng Cháy, Đồng Khâm, với số hộ hưởng lợi từ công trình Cao Chùa là 120 hộ.
Công trình La Tre được khới công xây dựng năm 2003 với tổng kinh phí trên 3,7 tỷ đồng,
nhằm đáp ứng thêm nhu cầu sử dụng nước sạch của người dân.
Hai công trình cung cấp nước sạch nêu trên thì một công trình đạt công suất trên 150
m3/ngày đêm đó là công trình Cao Chùa. Công trình La Tre đạt trên công suất 800 m 3/
ngày đêm. Theo lãnh đạo hợp tác xã cho biết khả năng cung ứng nguồn nước như vậy là
thừa so với nhu cầu của người dân.
Các công trình đều được xây dựng trên trên địa bàn đồi núi, đồi dốc, đường xá đi lại rất
khó khăn, đường ống được trải dài trên địa bàn 21 xóm với tổng chiều dài đường ống trục
chính là 32.6 km và 27 km đường ống về các cụm dân cư và các gia đình. Trên công trình
lắp đặt một số thiết bị có giá trị như: khu bể xử lý, 6 cầu cáp treo, hơn 1.4 km đường ống
kẽm được lắp đặt trên mặt đất và 27 van điều tiết nước.
7.1.2. Công trình cung cấp nước sạch tại xã Mỹ Yên
Sau khi bàn giao công trình đưa vào sử dụng ngày 04/06/2003 UBND xã Mỹ Yên đã tiến
hành đại hội và thành lập Hợp tác xã với tên khai sinh là hợp tác xã dịch vụ cung cấp
nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường xã Mỹ Yên. Nhiệm vụ của hợp tác xã là quản lý
vận hành duy tu, sửa chữa công trình, mở mang lắp đạt cung cấp nước sinh hoạt cho nhân
dân các dân tộc xã Mỹ Yên.
Ngoài các chức danh chuyên môn trên các thành viên trong hợp tác xã được phân công
kiêm nhiệm thực hiện quản lý khu vực xóm đội, khu vực mình được phân công, hàng
tháng trực tiếp thu tiền sử dụng nước của các hộ hưởng lợi công trình về hợp tác xã.
Trước đây khi chưa có công trình cung cấp nước sạch, đa số người dân sử dụng nước
giếng khơi và nước ở khe suối tự chảy không qua thiết bị lọc nước nên tỉ lệ người mắc
bệnh ngoài da và phụ khoa cao. Người dân phải đi lấy nước xa rất bất tiện và không hợp
vệ sinh. Kể từ khi các công trình cung cấp nước sạch đi vào hoạt động, người dân được
sử dụng nước sạch. Vì thế tỉ lệ mắc bệnh đã giảm xuống rõ rệt, từ đó bà con có ý thức
hơn trong việc bảo vệ công trình nước sạch.
7.1.3. Công tác tuyên truyền và duy tu, sửa chữa, bảo vệ công trình.
Công trình cung cấp nước sinh hoạt tại xã Mỹ Yên là một công trình lớn nhất tỉnh Thái
Nguyên, thuộc hệ nước tự chảy với công xuất của cả hai công trình là trên 950m 3/ ngày
đêm nên việc duy tu, sửa chữa công trình được xác định là công việc thường xuyên của
hợp tác xã.
Để đảm bảo nguồn nước hợp vệ sinh vì công trình được sử dụng lâu dài và cung cấp đủ
nước cho toàn xã, hợp tác xã đã tham mưu với UBND để bảo vệ công trình cần phải cấm
các việc làm như: Chặt phá rừng, tắm giặt gây ô nhiễm nước đầu nguồn… và xử phạt
nghiêm các hành vi vi phạm. Thường xuyên sửa chữa các đường ống bị hở, vỡ ngăn
không cho nguồn nước bẩn nhiễm vào đường ống gây mất vệ sinh.
Công tác bảo vệ công trình:
Với trách nhiệm của tổ bảo vệ, ban quản lý công trình trong nhiệm kỳ vừa qua đã làm tốt
công tác bảo vệ từ đập thu nước, bể xử lý và các tuyến đường ống trục về các cụm dân
cư, nhìn chung các thiết bị trên công trình được đảm bảo nguyên vẹn. Tình trạng học sinh
đến khu vực đầu nguồn tắm giặt được ngăn chặn.
Với trách nhiệm của mình trong 3 năm qua ban quản lý, tổ chức bảo vệ đã thực hiện tốt
kế hoạch của hợp tác xã đề ra đã tiến hành kiểm tra và phục bắt quả tang một vụ tháo 34
đai, 68 ốp ống kẽm lớp 10 tại xóm La Tre, phục bắt quả tang một công dân xóm Làng
Lớn đục đường ống trục chính để lấy nước vào ruộng cấy vụ chiêm năm 2004 và 04 đối
tượng xóm Bắc Hà 3 tự ý tháo đồng hồ cho nước chảy xuống ruộng.
Đồng hồ đo mực nước sử dụng:
Hợp tác xã đã tiến hành tổ chức đoàn kiểm tra các hộ hưởng lợi công trình trong 3 năm
qua đã phát hiện 83 hộ tự ý sửa chũa đồng hồ bằng mọi hình thức: bẻ bánh răng cánh
quạt, cắt cụt cánh quạt, đệm cao su vào cánh quạt, treo đá vào cánh quạt. Mục đích cho
đồng hồ mất tác dụng. Tất cả các đối tượng trên đều bị lập biên bản và chuyển lên công
an xã giải quyết.
Công tác tuyên truyền:
Ban đầu công tác tuyên truyền còn gặp nhiều khó khăn, người dân chưa có ý thức bảo vệ
công trình, vẫn còn có tư tưởng phá hoại công trình. Sau khi đi vào hoạt động một thời
gian, bằng mọi biện pháp tuyên truyền, phối hợp với các ban ngành đoàn thể xã, xóm tổ
chức họp dân để nêu lên tầm quan trọng của nước sạch và từ đó nhận thức của người dân
có nhiều chuyển biến. Các hộ dân được hưởng lợi từ công trình cung cấp nước sạch phải
có hợp đồng giữa bên cấp nước và bên sử dụng nước. Người dân phải có ý thức phối hợp
với hợp tác xã trong việc bảo vệ nguồn nước .
7.2. Những thành tựu và hạn chế tồn tại của công tác cung cấp nước sạch tại xã Mỹ
Yên.
Thành tựu đạt được:
Kể từ khi đi vào hoạt động với tinh thần trách nhiệm và quyết tâm cao, chủ động khắc
phục khó khăn, phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương kiên trì tuyên truyền vận
động nhân dân nâng cao nhận thức về vấn đề sử dụng nước sinh hoạt, qua đó nhận thức
của nhân dân đã được nâng lên, tập quán lạc hậu dần được xóa bỏ, tạo thói quen sử dụng
nước sinh hoạt hợp vệ sinh và trả tiền sử dụng nước sinh hoạt từ dịch vụ của đơn vị cung
cấp đã đi vào đời sống của người dân. Vì vậy tạo được sự ổn định trong hoạt động dịch
vụ, hình thành và từng bước phát triển thị trường nước sinh hoạt nông thôn trong xã, góp
phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân.
Thành tích đã đạt được:
Năm 2010 dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy- HĐND, sự điều hành trực tiếp của UBND xã,
sự phối hợp giữa các ban ngành đoàn thể, sự giúp đỡ của liên minh hợp tác xã tỉnh, trung
tâm nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn tỉnh Thái Nguyên, sự ủng hộ nhiệt
tình của các hộ hưởng lợi từ các công trình nước.
Phối hợp với đơn vị thi công xây dựng tuyến đường nhựa Khôi Kỳ- Mỹ Yên, tuyến
đường vành đai Mỹ Yên- Khôi Kỳ đã di chuyển và sửa chữa gần 2 km đường ống đê
nhường chỗ cho đơn vị thi công. Sửa chữa kịp thời các vị trí bục hở, tổ chức đoàn kiểm
tra tới hô hưởng lợi công trình.
Những hạn chế còn tồn tại:
Tuy nhiên, tình hình cung cấp nước sạch còn tồn tại một số bất cập do việc trả lương cho
cán bộ quản lý và công nhân tu sửa công trình còn thấp hơn so với công sức và thời gian
mà họ bỏ ra. Vì thế số lượng thành viên trong hợp tác xã có giảm hơn so với thời gian
đầu.
Việc áp dụng Nghị định 117 năm 2009 của Chính phủ về việc sử dụng nước sạch dưới 4
khối thì vẫn phải trả tiền 4 khối để chống việc thất thoát nước nên đã để lại nhiều bất cập
trong nhân dân, họ không ủng hộ chính sách đó. Nhưng đến tháng 06/ 2011 hợp tác xã đã
kiến nghị và hủy bỏ Nghị định trên, tiến hành áp dụng sử dụng bao nhiêu tính tiền bấy
nhiêu.
Bể lọc công trình La Tre xuống cấp, số lượng nước thất thoát khoảng 30% nên không đủ
cung cấp nước sinh hoạt trong những giờ cao điểm.
Một số xã viên hợp tác xã còn chưa thực sự nhiệt tình và làm tốt nhiệm vụ được giao, sơ
suất trong việc thu tiền nước, không phát phiếu thu cho một số hộ dân.
Ngoài ra, một số hộ ở xa nguồn nước thì không đủ nước sinh hoạt, thường xuyên bị mất
nước và họ đã bỏ không sử dụng mà chuyển sang dùng các nguồn nước khác ( giếng
khơi, giếng khoan…).
III. Một số giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao công tác cung cấp nước sạch và
vệ sinh môi trường tại xã.
1. Giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao công tác cung cấp nước sạch tại xã Mỹ
Yên.
1.1. Giải pháp:
Do nhận thức về việc sử dụng và bảo vệ nguồn nước của người dân còn nhiều hạn chế
nên cần phải tăng cường,đẩy mạnh hơn nữa công tác thông tin, giáo dục truyền thông
nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ công trình cấp nước sinh hoạt trên địa bàn xã,
đó là 2 công trình Cao Chùa và công trình La Tre.
Phối hợp với các ban công tác mặt trận trong từng xóm vận động nhân dân đóng góp kinh
phí, công sức nâng cấp đường ống vì công trình được xây dựng trên vùng đồi núi dốc dẫn
đến việc duy tu, sửa chữa mất nhiều công sức và tốn kém.
Đề nghị trung tâm nước sinh hoạt tỉnh hỗ trợ kỹ thuật kiểm định toàn bộ đồng hồ của các
hộ dân và thay thế những đồng hồ không đủ tiêu chuẩn, chất lượng.
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện các kế hoạch, nghị quyết, duy trì
nghiêm túc chế độ giao ban, họp của hợp tác xã đã đề ra. Chấp hành sự lãnh đạo của
Đảng ủy, UBND phối hợp tốt với các ban ngành đoàn thể.
Áp dụng giá thu tiền nước theo đúng quyết định của UBND Tỉnh Thái Nguyên.
Phối hợp chặt chẽ với Ngân hàng chính sách xã hội, đẩy mạnh việc xây dựng tu bổ công
trình cấp nước sạch từ nguồn vốn ưu đãi của Chính Phủ, lồng ghép với các công trình
mục tiêu khác. Đồng thời huy động các nguồn vốn nhằm đem lại lợi ích và an sinh XH
cho người dân.
Gắn việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở với việc lập kế hoạch triển khai, thực hiện,
quản lý, duy tu, bảo dưỡng và giám sát xây dựng công trình theo phương châm “Dân
biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và được hưởng lợi”.
1.2. Khuyến nghị
Đối với ủy ban xã:
UBND xã quan tâm hơn nữa đến việc chỉ đạo hợp tác xã và có chủ trương biện pháp phối
hợp với các ban ngành, đoàn thể và hợp tác xã trong việc tuyên truyền vận động nhân dân
thực hiện tốt nội quy quản lý sử dụng nước.
Áp dụng giá thu tiền nước hợp lý vừa đúng quy định của UBND tỉnh, vừa phù hợp với
hoàn cảnh kinh tế của nhân dân.
Đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, giáo duc nhằm nâng cao nhận thức của cộng
đồng, thực hiện tốt quy chế quản lý, vận hành, bảo vệ và sử dụng nước sạch.
Phân công công việc cho từng thành viên trong hợp tác xã sao cho phù hợp
Ban quản trị cần duy trì tốt chế độ giao ban tuần, tháng, quý. Tổ chức hội nghị tổng kết
hàng năm để đanh giá hoạt động của hợp tác xã.
Tranh thủ sự hỗ trợ của cấp trên về chuyên môn, nghiệp vụ và kinh phí.
Kiểm tra định kì nguồn nước để đảm bảo nguồn nước hợp vệ sinh.
Đối với nhân dân:
Tuyên truyền giáo dục đến học sinh phải có ý thức trách nhiệm bảo vệ công trình đầu
nguồn, nhất là khu vực xử lý và cầu cáp treo ống.
Người dân cần nâng cao ý thức, trách nhiệm của mình để bảo vệ và sử dụng tiết kiệm
nguồn nước sinh hoạt.
Chấp hành mọi quy định của UBND xã về việc nguồn nước sạch. Không đập phá làm
hỏng công trình.
Người dân nên xây các bể chứa nước nhằm trữ nước sinh hoạt đảm bảo không bị thiếu
nước sinh hoạt trong giờ cao điểm.
2. Một số giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao công tác vệ sinh môi trường tại xã
Mỹ Yên.
2.1. Giải pháp
Đẩy mạnh các hoạt động thông tin giáo dục, truyền thông bằng nhiều hình thức khác
nhau về vấn đề vệ sinh môi trường.
Chủ động xây dựng kế hoạch phối hợp với các cơ quan chuyên môn, các nhà khoa học,
tiến hành điều tra, khảo sát, đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp ưu tiên, góp
phần giảm thiểu ô nhiễm, ngăn ngừa và hạn chế tốc độ ô nhiễm, cạn kiệt tài nguyên nông
thôn.
Tăng cường kiểm tra, hướng dẫn, phát hiện và xây dựng nhiều mô hình tại chỗ, tạo điều
kiện cho các hộ khác đến tham quan, trao đổi hoc hỏi và chia sẻ thông tin, phổ biến kinh
nghiệm và nhân rộng.
Thường xuyên vận động, hướng dẫn người dân thực hiện nếp sống văn minh, gia đình
văn hóa “ ăn sạch, ở sạch, uống sạch”, mỗi người có ý thức giữ gìn vệ sinh gia đình và
nơi công cộng, duy trì các phong trào dọn vệ sinh, khơi thông cống dãnh, thu gom, xử lý
rác thải trong tuần.
2.2. Khuyến nghị
Phải xử lý các chất thải nguy hại theo quy định.
Cơ sở xử lý chất thải nguy hại phải đảm bảo khoảng cách an toàn xa khu dân cư, khu bảo
tồn thiên nhiên. Phải được thiết kế xây dựng theo đúng yêu cầu kỹ thuật và quá trình
công nghệ đảm bảo xử lý chất thải nguy hại đạt tiêu chuẩn.
Phát động phong trào hàng tuần bà con quét dọn đường làng, ngõ xóm.
Xã nên khuyến khích cộng đồng dân cư thành lập tổ chức tự quản về bảo vệ môi trường
nơi mình sống, nhằm thực hiện các nhiêm vụ:
Kiểm tra đôn đốc các hộ gia đình, cá nhân thực hiện quy định giữ gìn vệ sinh và bảo vệ
môi trường.
Tổ chức thu gom tập kết và xử lý rác thải, chất thải
Các hộ dân cần có công trình chăn nuôi hợp vệ sinh, chất thải phải được xử lý phù hợp,
đối với các hộ chăn nuôi có quy mô lớn thì nên xây dựng công trình bioga.
Thường xuyên thực hiện công tác tuyên truyền về vấn đề bảo vệ môi trường cho người
dân
Hướng dẫn người dân xây dựng nhà tiêu hợp vệ sinh theo các nguyên tắc sau:
Không làm nhiễm bẩn các nguồn nước dùng để ăn uống, sinh hoạt.
Vị trí của bể chứa phải xử lý đơn giản, giá thành thấp.
Đảm bảo không có mùi hôi.
Tổ chức cho nhân dân, cán bộ tham gia các lớp tập huấn, kỹ thuật và quy trình canh tác
bằng phân hữu cơ, phân vi sinh, kỹ thuật phòng trừ sâu bệnh bằng thuốc sinh học, hoàn
toàn không sử dụng hóa chất. Cây trồng sinh trưởng tốt, ít sâu bệnh, cho năng suất cao,
đặc biệt sản phẩm thu được đều là nông sản siêu sạch, chất lượng cao, môi trường sinh
thái được cải thiện. Người dân tránh được hóa chất độc hại, ảnh hưởng đến sức khỏe con
người.
Khuyến nghị với người dân :
Thường xuyên vệ sinh nơi ở, khu chăn nuôi đảm bảo khô dáo sạch sẽ tránh sự phát sinh
của dịch bệnh.
Rác thải phải được thu gom đúng nơi quy định, không vứt bừa bãi ra môi trường xung
quanh.
Không được tự ý xử lý các chất thải nguy hại.
Tham gia các lớp tập huấn về vệ sinh môi trường để nâng cao sự hiểu biết của mình về
vai trò của môi trường sống xung quanh.
IV. Kết luận
Nước sạch cũng như vấn đề vệ sinh môi trường là một vấn đề quan trọng trong cuộc
sống,sinh hoạt,sản xuất. Đây là vùng núi cao nên có được nguồn nước sạch là vô cùng
quan trọng nhưng làm cách nào để bảo vệ và sử dụng hợp lý mói là điều quan trọng.
Chính vì người dân nơi đây chưa có nhiều kiến thức về vệ sinh môi trường nên nhiều hộ
dân đã tùy tiện vứt rác không đúng nơi quy định, gây ô nhiễm môi trường, ô nhiễm nguồn
nước và cũng là nơi trú ngụ của vi trùng gây bệnh làm hại chính sức khỏe của họ. Để
khắc phục tình hình trên và nâng cao hiểu biết cho người dân về ô nhiễm môi trường, các
cấp ủy, ban lãnh đạo xã, thôn đã tuyên truyền cho người dân. Xong tình trạng vẫn tiếp
diễn xảy ra, chúng tôi mong các ban ngành đoàn thể xã Mỹ Yên quan tâm hơn nữa tới
vấn đề trên.
Thúc đẩy người dân nhằm nâng cao ý thức cộng đồng để giữ sạch nguồn nước bằng cách
không được vứt rác bừa bãi, không thải trực tiếp vào nguồn nước sạch, không dùng phân
tươi làm phân bón; nên sử dụng thuốc trừ sâu theo đúng hướng dẫn. Cần hạn chế tối đa
việc sử dụng các hóa chất gây ô nhiễm môi trường hơn biệt là môi trường nước rất quan
trọng đối với con người
.