HỌC VIỆN CÁN BỘ THÀNH PHỐ
KHOA QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH
CÂU HỎI THẢO LUẬN PHẦN 1
ĐỀ SỐ 2
Câu 1. Phân tích quan điểm “Quản lý hành chính nhà nước là sự tác động có tổ
chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước”. Cho ví dụ minh họa.
Trong quản lý nhà nước nói chung, hoạt động quản lý hành chính nhà nước
(QLHCNN) là hoạt động có vị trí trung tâm, chủ yếu. Đây là hoạt động tổ chức và điều
hành để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ cơ bản nhất của nhà nước trong quản lý xã hội.
QLHCNN là hoạt động thực thi quyền hành pháp, đó là sự tác động có tổ chức và
điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của
con người của Nhà nước nhằm duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp
luật, đáp ứng các yêu cầu, nhu cầu chính đáng, hợp pháp của công dân, tổ chức.
Tổ chức nghĩa là sự thiết lập mối quan hệ trong hệ thống các cơ quan HCNN để
thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình. Biểu hiện đầu tiên của sự tác động có tổ chức đó
là tổ chức hệ thống cơ quan HCNN phải gọn nhẹ, tiết kiệm, hiệu quả. Ví dụ hiện nay Bộ
Công an không tổ chức cấp tổng cục, sắp xếp, tinh gọn các đơn vị trực thuộc Bộ Công an
theo cấp cục theo nguyên tắc sáp nhập các đơn vị tương đồng hoặc không rõ nhiệm vụ,
bảo đảm một cơ quan đơn vị có thể thực hiện nhiều việc nhưng một việc chỉ giao một đơn
vị phụ trách. Ngoài ra, Bộ Công an cũng sáp nhập 20 đơn vị cảnh sát phòng cháy, chữa
cháy tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương với công an tỉnh, thành phố để bảo đảm gắn
kết, phát huy tối đa nguồn lực trong thực thi nhiệm vụ; sắp xếp lại các đơn vị sự nghiệp
công lập báo chí, y tế trong công an nhân dân. So với bộ máy cũ, mô hình bộ máy Bộ Công
an sẽ giảm 6 tổng cục, tinh giản gần 60 đơn vị cấp cục và gần 300 đơn vị cấp phòng. Cấp
công an địa phương sau khi tinh gọn bộ máy, sáp nhập cảnh sát PCCC giảm hơn 500 đơn
vị cấp phòng, gần 1.000 đơn vị cấp đội. Tổ chức bộ máy của Bộ công an theo phương
châm "Bộ tinh, tỉnh mạnh, huyện toàn diện, xã bám cơ sở".
Biểu hiện thứ hai của sự tác động có tổ chức đó là liên kết, phối hợp hoạt động giữa
cơ quan HCNN với cơ quan HCNN, với cơ quan nhà nước khác và các tổ chức, cá nhân.
Ví dụ để đối phó với thiên tai, bão lụt cần có sự phối hợp từ TW đến địa phương, sự tham
gia của các ban ngành từ y tế đến công an, quân đội, các đơn vị vận hành hồ chứa thủy lợi,
thủy điện; đơn vị đảm bảo hậu cần lương thực thực phẩm…
Biểu hiện thứ ba của sự tác động có tổ chức đó là sự tác động mang tính trật tự, tính
thứ bậc hành chính nhằm đảm bảo hiệu lực, hiệu quả quản lý HCNN. Đây là việc mang
tính nguyên tắc, cấp dưới phải phục tùng cấp trên. Các địa phương có thể linh hoạt trong
việc triển khai các hoạt động, tuy nhiên cần phải thượng tôn pháp luật và phục tùng cấp
trên.
* Có sự điều chỉnh:
Điều chỉnh là sự sắp xếp thay đổi của chủ thể quản lý HCNN bằng các tiêu chuẩn,
biện pháp nhằm tạo sự phù hợp, cân bằng, cân đối giữa chủ thể và khách thể, giữa các mặt
hoạt động của quá trình xã hội và hành vi con người. Ví dụ việc tăng lương tối thiểu hằng
năm là theo quy định pháp luật, Chính phủ quyết định trên cơ sở đề xuất của Hội đồng
Tiền lương quốc gia bao gồm Bộ LĐTBXH, Tổng LĐLĐVN và đại diện của tổ chức đại
diện người sử dụng lao động ở TW. Vấn đề là phải tìm được tiếng nói chung của 3 bên,
bởi bên nào cũng muốn bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình. Do vậy cần phải chọn đúng
lộ trình, nâng lương tối thiểu để đảm bảo cho NLĐ tồn tại để sản xuất kinh doanh, trong
khi chủ sử dụng lao động cũng có cơ hội để phát triển sản xuất, chăm lo việc làm cho NLĐ.
Lý do cần phải có sự điều chỉnh là vì quá trình quản lý là luôn phải năng động và
biến đổi, các quyết định quản lý HCNN có thể phù hợp với giai đoạn này, nhưng không
phù hợp với giai đoạn khác. Nếu không kịp thời điều chỉnh khi cần thiết sẽ làm giảm hiệu
lực, hiệu quả QLHCNN. Ví dụ HN từng áp dụng thay đổi giờ học giờ làm, hoặc cấm các
xe tỉnh vào thành phố. Việc thực thi này cho thấy sự kém hiệu quả và vấp phải phản đối từ
người dân, do đó phải điều chỉnh lại các quyết định QLHCNN này.
Hình thức của các sự điều chỉnh là thông qua các quyết định quản lý HCNN. Nội
dung đó là các chủ trương, chính sách, quyết định quản lý HCNN, tổ chức bộ máy, cơ chế
hoạt động, nhân sự…Mục đích của sự điều chỉnh là khai thông ách tắc, khai thác tiềm
năng, phát huy năng lực…nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý HCNN. Phạm vi của
sự điều chỉnh bao gồm hoạt động quản lý vĩ mô và vi mô.
* Tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước: Quản lý HCNN và quyền lực
nhà nước có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. QLHCNN mà không sử dụng quyền lực nhà
nước là quản lý mang tính hình thức, thể hiện sự nhu nhược, bất cập trong quản lý, vì
không có sức mạnh nào để buộc đối tượng quản lý phải phục tùng quyết định của chủ thể
quản lý. Ngược lại, được trao quyền lực nhà nước mà không có năng lực quản lý HCNN
sẽ không thể hiện được mục tiêu trong quản lý, chủ thể không thể làm tròn được trách
nhiệm, nghĩa vụ phục vụ nhân dân. Do đó quá trình QLHCNN là quá trình chủ thể sử dụng
đúng đắn, chính xác quyền lực nhà nước, chủ thể chỉ sử dụng quyền lực nhà nước vào mục
đích QLHCNN.
Câu 2. Phân tích quản lý hành chính nhà nước là hoạt động mang tính quyền lực đặc biệt,
tính tổ chức cao và tính mệnh lệnh đơn phương. Cho ví dụ minh họa.
Trước hết quản lý hành chính nhà nước là hoạt động QLHCNN mang tính quyền
lực nhà nước - quyền lực đặc biệt. Tính quyền lực đặc biệt là đặc điểm cơ bản nhất để phân
biệt hoạt động quản lý hành chính nhà nước với hoạt động quản lý mang tính xã hội khác.
Quyền lực đặc biệt nghĩa là quyền lực do chủ thể QLHCNN sử dụng chủ yếu để tác động
ra bên ngoài cơ quan HCNN, mang tính bắt buộc phải thi hành. Trong trường hợp cần
thiết, chủ thể quản lý HCNN có thể sử dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính.
Thứ hai, quản lý hành chính nhà nước mang tính tổ chức chặt chẽ. Hệ thống cơ
quan HCNN được tổ chức một cách thông suốt từ TW đến cơ sở, thể hiện tính thứ bậc
hành chính chặt chẽ trong tổ chức và hoạt động của nội bộ cơ quan cũng như trong toàn
hệ thống. Các cơ quan HCNN hoạt động trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn
của mình theo quy định pháp luật. Nếu hoạt động không đúng phạm vi quy định là một
trong những hành vi làm ảnh hưởng tiêu cực đến tính tổ chức. Trong quá trình hoạt động,
các cơ quan HCNN phải đảm bảo thực hiện đúng các mối quan hệ: trên – dưới, ngang –
dọc theo quy định của PL. Cơ quan HCNN hoạt động theo quy chế, dựa vào quy chế mẫu
của chính phủ.
Thứ ba, QLHCNN mang tính mệnh lệnh đơn phương. Tính mệnh lệnh đơn phương
xuất phát từ đặc trưng quan hệ giữa chủ thể và khách thể QLHCNN: quyền lực – phục
tùng. Đặc trưng này thể hiện sự không bình đẳng giữa chủ thể với đối tượng QLHCNN.
Sự không bình đẳng được thể hiện: thứ nhất, chủ thể quản lý hành chính đơn phương ban
hành các mệnh lệnh cá biệt hay đặt ra các quy định bắt buộc đối với đối tượng quản lý,
buộc đối tượng quản lý phải phục tùng, đồng thời kiểm tra việc thực hiện các quy định ấy.
Thứ hai, căn cứ vào quy định của pháp luật để đáp ứng hoặc bác bỏ các yêu cầu, kiến nghị
của đối tượng quản lý. Trong trường hợp này quyền quyết định vẫn thuộc về ý chí của
người hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Vì vậy nếu có sự trùng hợp về ý chí của hai
bên thì đó cũng không phải là sự thỏa thuận ý chí. Thứ ba, chủ thể QLHCNN có thể áp
dụng các biện pháp cưỡng chế hành chính. Thứ tư, trước khi ban hành các quyết định
QLHCNN có liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của đối tượng quản lý hành
chính nhà nước, chủ thể ban hành phải tham khảo ý kiến của họ. Việc tham khảo ý kiến
của đối tượng quản lý không phải là sự thỏa thuận ý chí.
Câu 3. Công tác tiếp công dân là trách nhiệm của cơ quan hay của người đứng đầu cơ
quan? Theo anh chị, cán bộ, công chức, viên chức được phân công cần phải có những yêu
cầu gì? Tại sao?
“Tiếp công dân”: Tiếp công dân là việc cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân theo
quy định có trách nhiệm đón tiếp để lắng nghe, tiếp nhận khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản
ánh của công dân, giải thích, hướng dẫn cho công dân về việc thực hiện khiếu nại, tố cáo,
kiến nghị, phản ánh theo đúng quy định pháp luật. (Khoản 1 Điều 2 Luật Tiếp công dân
năm 2013).
Nguyên tắc tiếp công dân (Điều 3 Luật Tiếp công dân năm 2013):
Việc tiếp công dân phải được tiến hành tại nơi tiếp công dân của cơ quan, tổ chức,
đơn vị.
Việc tiếp công dân pháp bảo đảm công khai, dân chủ, kịp thời; thủ tục đơn giản,
thuận tiện, giữ bí mật và bảo đảm an toàn cho người tố cáo theo quy định của pháp luật,
bảo đảm khách quan, bình đằng, không phân việt đối xử trong khi tiếp công dân.
Tôn trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho công dân thực hiện việc khiếu nại, tố cáo,
kiến nghị, phản ánh theo quy định của pháp luật.
Về nguyên tắc “Tiếp công dân pháp bảo đảm công khai, dân chủ, kịp thời; thủ
tục đơn giản, thuận tiện”:
a. Công khai: là mọi thông tin được cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền
tiếp công dân truyền tải tới người dân một cách rõ ràng, minh bạch.
- Công khai thể hiện ở những điểm như:
+ Về địa điểm: rõ ràng, tại nơi tiếp công dân của cơ quan, đơn vị, có hướng dẫn, sơ
đồ chi tiết.
+ Về quy trình, thủ tục công khai, thống nhất, có hướng dẫn cho người dân.
+ Về nội dung tiếp công dân, tùy theo đúng chức năng, quyền hạn mà cơ quan, đơn
vị, cá nhân tổ chức thông tin chi tiết đến người dân những nội dung giải quyết. Được thể
hiện trên bảng thông tin, nội quy tiếp công dân...
+ Về lịch tiếp công dân phải lên lịch rõ ràng, niêm yết trước cửa phòng tiếp công
dân.
+ Người có thẩm quyền tiếp công dân: được phân công và ghi rõ ngày tháng, năm
tiếp công dân. Đúng đối tượng đã thông báo tới nhân dân.
b) Dân chủ:
- Không phân biệt đối xử, bất cứ người dân nào tới cơ quan cũng được đón tiếp với
thái độ như nhau. Không phân biệt sang, hèn, người quen, lạ...
- Tôn trọng, không gây phiền hà, sách nhiễu.
- Người dân dám nói lên tiếng nói của mình. Người tiếp công dân biết lắng nghe,
phản hồi, phản biện đúng nơi, đúng lúc.
c) Kịp thời: tức là giải quyết đúng người, đúng việc, đúng thời hạn. Khi hẹn trả giấy
tờ thì phải đảm bảo đúng hẹn.
d) Thủ tục đơn giản, thuận tiện: Hồ sơ, giấy tờ thuận lợi, thuận tiện cho mọi người
dân. Nếu có bất cứ sự việc khó khăn nào gây bất lợi cho dân thì phải ghi nhận lại để kịp
thời khắc phục, rút kinh nghiệm.
Trách nhiệm của người tiếp công dân:
Khi tiếp công dân, người tiếp công dân phải bảo đảm trang phục chỉnh tề, có đeo
thẻ công chức, viên chức hoặc phù hiệu theo quy định.
Yêu cầu người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh nêu rõ họ tên, địa chỉ hoặc
xuất trình giấy tờ tùy thân, giấy ủy quyền (nếu có); có đơn hoặc trình bày rõ ràng nội dung
khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh, cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết cho việc tiếp
nhận, thụ lý vụ việc.
Có thái độ đúng mực, tôn trọng công dân, lắng nghe, tiếp nhận đơn vị nại, tố cáo,
kiến nghị, phản ánh hoặc ghi chép đầy đủ, chính xác nội dung người đến khiếu nại, tố cáo,
kiến nghị, phản ánh trình bày.
Giải thích, hướng dẫn cho người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị ánh chấp hành chủ
trương, đường lối, chính sách, pháp luật, kết luận, quyết đi. giải quyết đã có hiệu lực pháp
luật của cơ quan có thẩm quyền; hướng dẫn ngu khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh đến
đúng cơ quan hoặc người có thẩm quyền giải quyết.
Trực tiếp xử lý hoặc phân loại, chuyển đơn, trình người có thẩm quyền xi lý khiếu
nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh, thông báo kết quả xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản
ánh cho công dân.
Yêu cầu người vi phạm nội quy nơi tiếp công dân chấm dứt hành vi vi phạm; trong
trường hợp cần thiết, lập biên bản về việc vi phạm và yêu cầu cơ quan chức năng xử lý
theo quy định của pháp luật.
Câu 4. Phân biệt khiếu nại và tố cáo? Cho ví dụ minh họa.
Giống nhau: đều là những phương thức thực hiện quyền tự do dân chủ, góp phần
giải quyết các vấn đề bức xúc trong nhân dân. Đều hướng tới việc bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của cá nhân, tổ chức và đảm bảo pháp luật được thực thi một cách nghiêm minh.
Khác nhau:
Tiêu chí
Khiếu nại
Tố cáo
Chủ thể
Cá nhân, tổ chức
Cá nhân
Người
bị Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền Bất kỳ cơ quan, tổ chức, cá nhân
KN, TC
nào
Đối tượng
Hẹp (quyết định hành chính, hành vi hành Rộng (các hành vi vi phạm pháp
chính, quyết định kỷ luật nhưng có căn cứ luật)
cho rằng trái pháp luật)
Bản chất
Đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm …….phát hiện ……….và báo
quyền xem xét lại quyết định hành chính, cáo……
hành vi hành chính, quyết định kỷ luật
nhưng có căn cứ cho rằng trái pháp luật
Mục đích
Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp trực tiếp Bảo vệ lợi ích cho nhà nước, xã
của người khiếu nại
hội và các cá nhân khác
Thời hiệu
Lần 1 là 90 ngày (đối với QĐHC, HVHC) Không quy định
15 ngày đối với quyết định kỷ luật. Lần 2
là 30 ngày và 10 ngày kể từ ngày hết hạn
giải quyết khiếu nại lần đầu mà không
được giải quyết hoặc giải quyết không thỏa
đáng (đối với quyết định buộc thôi việc thì
khiếu nại lần 2 là 30 ngày)
Thẩm
Lần đầu: Cấp trên trực tiếp; cấp trưởng giải Người đứng đầu giải quyết cho
quyền giải
quyết cho cấp phó; giải quyết khiếu nại nhân viên.
quyết
chính mình
Thủ trưởng cấp trên giải quyết
Lần 2: Trên một cấp
cho thủ trưởng, cấp phó của cấp
dưới
Thời
hạn • Lần đầu là 30 ngày kể từ ngày thụ lý;
giải quyết
45 ngày đối với vùng sâu/xa/đi lại khó
khăn (đối với vụ việc phức tạp thì
không quá 45 ngày; 60 ngày đối với
vùng sâu/xa).
• Lần 2 không quá 45 ngày kể từ ngày thụ
lý; 60 ngày đối với vùng sâu/xa/đi lại
khó khăn (đối với vụ việc phức tạp thì
không quá 60 ngày; 70 ngày đối với
vùng sâu/xa).
Quyền và
• Có thể tự mình hoặc ủy quyền cho
nghĩa vụ
người khác
• Được quyền rút đơn
60 ngày kể từ ngày thụ lý, đối với
vụ việc phức tạp thì thời hạn là
90 ngày. Có thể gia hạn 1 lần
không quá 30 ngày, đối với vụ
việc phức tạp không quá 60 ngày.
• Trực tiếp
• Không được rút đơn
Câu 5. Anh, chị phân biệt kiểm tra hành chính với giám sát và thanh tra nhà nước.
Nêu ý nghĩa của sự phân biệt này.
Giám sát, thanh tra và kiểm tra là một trong 4 công đoạn của công tác quản lý cũng
như việc thực hiện một quyết định quản lý. Công tác quản lý gồm 4 giai đoạn: Giai đoạn
ban hành quyết định quản lý (đối với QH thì ban hành Hiến pháp, Luật, Nghị quyết); tiếp
đến là giai đoạn tổ chức thực hiện quyết định quản lý; để biết việc tổ chức thực hiện quyết
định quản lý đến đâu, tốt, xấu thế nào, có cần điều chỉnh gì không thì phải có giám sát,
thanh tra, kiểm tra; Sau khi tiến hành giám sát, thanh tra, kiểm tra phát hiện đối tượng bị
giám sát, kiểm tra, thanh tra chưa làm đúng, có khiếm khuyết thì phải có cưỡng chế (chế
tài bắt buộc đối tượng bị giám sát phải thực hiện cho đúng) hoặc phải có chỉnh sửa quyết
định quản lý cho phù hợp.
Những đặc điểm giống nhau của giám sát, thanh tra, kiểm tra bao gồm: Thứ nhất
đều là cung đoạn thứ 3 trong quá trình quản lý, thực hiện quyết định quản lý. Thứ hai cùng
có mục tiêu là để xem đối tượng bị giám sát, kiểm tra, thanh tra là có làm đúng hay không
đúng mục tiêu, quy định đã định trước của việc quản lý, quyết định quản lý. Thứ ba là đều
diễn ra trong một khoảng thời gian, không gian nhất định. Thứ tư là hành vi, hoạt động
cũng được tiến hành theo 3 công đoạn nối tiếp nhau: Thu thập thông tin, chứng cứ; tập hợp
phân tích thông tin, chứng cứ thu thập được; Đánh giá và kết luận.
Những điểm khác nhau của giám sát, thanh tra, kiểm tra bao gồm: Thứ nhất là khác
nhau về chủ thể tiến hành. Thứ hai là mức độ, cường độ tác động vào hành vi, hoạt động
của đối tượng bị giám sát, kiểm tra, thanh tra: giám sát thì chỉ theo dõi; kiểm tra, thanh tra
thì cụ thể, tỷ mỉ, chi tiết kiểu vạch lá xem sâu (Kiểm tra thì thường xuyên, thanh tra thì
không thường xuyên, trên một cơ sở nào đó). Thứ ba là kiểm tra, thanh tra là cơ sở để thực
hiện giám sát, đồng thời là biện pháp để giám sát đối tượng bị giám sát thực thi nhiệm vụ,
hoạt động tốt hơn, chính xác hơn. Trong quá trình giám sát có thể tiến hành các hoạt động
thanh tra, kiểm tra để đối chiếu về những nhận định, nhận xét và từ đó đưa ra các đánh giá.
Tiêu chí
Kiểm tra
Thanh tra
Giám sát
Chủ thể
CQHCNN, cá nhân có Cơ quan thanh tra (5 cơ Cơ quan quyền lực nhà
thẩm quyền
quan: tw-tỉnh-huyện-2 nước; cơ quan tư pháp
cơ quan liên ngành)
Đối tượng Cá nhân, cơ quan, tổ Cá nhân, cơ quan, tổ Cơ quan, tổ chức, cá
chức
chức
nhân trong bộ máy
HCNN
Hình thức Linh hoạt
Theo quy định
Theo quy định
Câu 6. Ông A (sinh năm 1965), ngụ tại phường X trong cùng một lần vi phạm đã
thực hiện hai hành vi vi phạm hành chính. Một hành vi có mức xử phạt từ 1 đến 3 triệu,
một hành vi có mức xử phạt từ 2 đến 5 triệu). Các yếu tố khác đều phù hợp với quy định
của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Chủ tịch UBND phường X đã ra quyết định xử
phạt vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm của Ông A nêu trên, với mức phạt là 5,5
triệu. Anh (chị) hãy xác định:
1. Chủ tịch UBND phường ra quyết định xử phạt đúng hay sai? Có phù hợp thẩm
quyền không? Vì sao?
2. Trình tự, thủ tục xử phạt vụ việc nêu trên được thực hiện như thế nào
Trong trường hợp này số tiền xử phạt lớn hơn 250.000đ nên cần phải lập biên bản
để xử phạt vi phạm hành chính. Hồ sơ gồm:
Biên bản vi phạm hành chính;
Quyết định xử phạt hành chính (trong vòng 7 ngày kể từ ngày lập biên bản)
Xử phạt vi phạm hành chính có lập biên bản: khi phát hiện hành vi vi phạm hành
chính đang diễn ra người có thẩm quyền đang thi hành công vụ buộc chấm dứt hành vi vi
phạm hành chính (1) → lập biên bản vi phạm hành chính (2) → tiến hành xác minh tình
tiết vụ việc vi phạm (3) → xác định giá trị tang vật vi phạm hành chính để làm căn cứ xác
định khung tiền phạt, thẩm quyền xử phạt (4) → Giải trình (5):
→ chuyển hồ sơ vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm (6.1).
→ ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính (6.2) → gửi, chuyển, công bố quyết
định xử phạt vi phạm hành chính (7) → thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính
(8) → cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt (9).
Câu 7. Trong các nhiệm vụ cải cách hành chính, nhiệm vụ nào là quan trọng nhất
trong giai đoạn hiện nay? Vì sao?
Bất cứ loại hình tổ chức hành chính công nào cũng cần đến những người làm tốt
công việc của mình với kiến thức, kỹ năng, thái độ đáp ứng yêu cầu của vị trí công việc.
Vì thế, để vận hành bộ máy hành chính thật sự hiệu quả, việc đầu tiên và quan trọng nhất
chính là công tác cán bộ vì "Cán bộ là dây chuyền của bộ máy. Nếu dây chuyền không tốt,
không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy, toàn bộ máy cũng tê liệt". Để đẩy mạnh công cuộc
CCHC, bên cạnh việc phân cấp quản lý kinh tế - xã hội, vấn đề ưu tiên hàng đầu là nâng
cao chất lượng phục vụ của đội ngũ công chức, bởi cốt lõi của CCHC là cải cách về tinh
thần trách nhiệm, ý thức công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức.
Có nhận định cho rằng chỉ khoảng 30% cán bộ, công chức làm việc có hiệu quả
cao, khoảng 30% hiệu quả có mức độ, còn lại là không tạo ra sản phẩm gì… Với cấp xã,
có tới 40% cán bộ, công chức chưa đáp ứng được tiêu chuẩn quy định. Để CCHC thật sự
mang lại hiệu quả, vấn đề trước hết là tinh giảm bộ máy vốn "cồng kềnh" như chúng ta
vẫn nói và đã nói từ rất lâu. Nếu không làm lành mạnh hóa bộ máy hành chính, không thể
tạo động lực phát triển.
Quá trình CCHC, nâng cao chất lượng thực thi công vụ cho cán bộ, công chức là
công việc phức tạp, khó khăn, nhiều điều chưa thành công và chắc chắn sẽ gặp những
vướng mắc, nhưng đó là công việc phải làm và phải làm "đến đầu, đến đũa". Sinh thời,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc nhở chúng ta: "Sau tám mươi năm bị áp bức bóc lột và dưới
chính sách ngu dân của thực dân Pháp, các bạn và tôi, chúng ta đều chưa quen với kỹ thuật
hành chính. Nhưng điều đó không làm chúng ta ngại, chúng ta vừa làm vừa học. Chắc chắn
chúng ta sẽ phạm khuyết điểm, nhưng chúng ta sẽ sửa chữa, chúng ta có can đảm sửa chữa
khuyết điểm…".
Ngày 17/8/2016, tại Hội nghị sơ kết công tác cải cách hành chính Nhà nước giai
đoạn 2011-2015 và phương hướng, nhiệm vụ cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn
2016-2020, Bộ Nội vụ đã công bố giá trị trung bình chỉ số CCHC năm 2015 của 19 bộ, cơ
quan ngang bộ đạt được là 85,3%, đạt giá trị cao nhất trong 4 năm triển khai thực hiện xác
định chỉ số CCHC, cao hơn so với năm 2014 là 8,3%. Theo kết quả này, Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam đạt chỉ số CCHC năm 2015 cao nhất với giá trị 89,4%; tiếp theo là Bộ Tài
chính đạt chỉ số 89,2%. Về phía địa phương, Đà Nẵng tiếp tục khẳng định được vị thế khi
dẫn đầu với chỉ số đạt 93,3%, sau đó là Hải Phòng với 92,6%. Đứng cuối bảng xếp hạng
chỉ số là tỉnh Điện Biên (75%).
Phát biểu tại Hội nghị, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phát biểu “Trong cải cách
hành chính có rất nhiều nội dung, nhưng khâu yếu nhất theo tôi là cán bộ. Cải cách thủ tục
nhiều, nhưng cán bộ vẫn là vấn đề quyết định. Cán bộ chính là người thực hiện. Bộ máy
đông mà chúng ta không mạnh thì cải cách bằng cách nào?”.
Theo đó, hiện cả nước có hơn 2,6 triệu cán bộ, công chức hưởng lương Nhà nước;
số lượng viên chức rất lớn, trên 2 triệu người. Vậy khâu xã hội hóa phải đặt ra mạnh hơn.
Phải nâng cao chất lượng phục vụ, tự trang trải kinh phí, từ đó giảm số lượng biên chế nhà
nước và quỹ tiền lương, nâng lương cho những người làm việc trực tiếp, những người phục
vụ nhân dân- Thủ tướng nêu rõ đồng thời nhấn mạnh, cán bộ phải giỏi, có đạo đức, có tâm
phục vụ nhân dân và phải luôn nhớ “3 xin” là “xin chào, xin cảm ơn và xin lỗi”. Mọi cán
bộ phải là công bộc, phục vụ được dân hài lòng, biết lo cho dân và doanh nghiệp thì dân
vui, yên tâm sản xuất kinh doanh, đất nước thịnh cường. Đồng thời giảm thanh tra, kiểm
tra, không hình sự hoá vấn đề kinh tế, dân sự.
Đảng ta cũng nhận thấy tầm quan trọng trong công tác xây dựng đội ngũ cán bộ đủ
tâm, đủ tài trong quản lý hành chính nên trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X, Đảng
đã chỉ rõ phương hướng: “Tiếp tục đổi mới đồng bộ các khâu của công tác cán bộ, tạo
chuyển biến cơ bản, vững chắc trong công tác cán bộ; xây dựng đội ngũ cán bộ, đặt biệt là
cán bộ chiến lược, người đứng đầu cơ quan, đơn vị thực sự vì Đảng, vì dân, có bản lĩnh,
trí tuệ, đi đầu trong công tác, gương mẫu trong đạo đức, lối sống…”. Giải pháp hữu hiệu
và cơ bản nhất là nâng cao năng lực, phẩm chất của đội ngũ cán bộ công chức bằng công
tác giáo dục. Học tập, bồi dưỡng phải được xem là những mục đích phấn đấu và là chỉ tiêu
đánh giá công chức hằng năm, nhưng không nên quá chú trọng và đề cao “chuẩn” bằng
cấp. Vì nếu lấy bằng cấp làm tiêu chuẩn bổ nhiệm và đánh giá cán bộ công chức thì bằng
cách này hay cách khác, họ cũng có được tấm bằng nhưng không thực chất. Điều quan
trọng nhất của học tập, bồi dưỡng là phải cung cấp và bổ sung những kỹ năng, nghiệp vụ
cho từng công việc cụ thể, tập trung vào kiến thức thực tiễn, những nội dung mà công dân
và doanh nghiệp cần. Cần phải có một chương trình đào tạo cụ thể cho từng đối tượng cụ
thể khác nhau như: đào tạo để nhận nhiệm vụ, áp dụng cho những đối tượng chuẩn bị đi
làm ở cơ quan nhà nước; và đào tạo cho những người đang công tác trong cơ quan nhà
nước, chuẩn bị được đề bạt vào vị trí quản lý. Chương trình đào tạo đó nhất thiết phải sát
với yêu cầu quản lý nhà nước theo hướng huấn luyện kỷ năng thực thi công tác quản lý
hành chính nhà nước trong thời đại mới.
Đổi mới và nâng cao hơn nữa chất lượng giảng dạy ở các trường hành chính, các
trường chính trị trong cả nước. Công tác tuyển dụng cán bộ cần có sự thay đổi về thực
chất. Hình thức thi tuyển công chức phải được thực hiện trong tất cả các chức vụ với những
phương pháp và cách thức khác nhau. Cần người hoặc thiếu người chỗ nào thì phải công
bố rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng và tổ chức thi tuyển bằng những
phương pháp thích hợp nhất để có được người đủ phẩm chất, đủ năng lực cho vị trí đó.
Tăng cường quyền tự chủ trong việc sử dụng, bố trí cán bộ công chức cho các cơ quan,
đơn vị. Lấy quy luật cạnh tranh (cạnh tranh lành mạnh) trong cơ chế thị trường làm cơ sở
để sử dụng cán bộ công chức. Phải dũng cảm thay những cán bộ công chức không còn phù
hợp với bước tiến của cải cách hành chính và ngược lại cần có sự khuyến kích, động viên
dành cho những người thật sự tâm huyết đối với sự nghiệpphục vụ nhân dân, phục vụ đất
nước. Như vậy sẽ tạo được tinh thần tự giác, chấp hành kỷ luật, kỷ cương trong công tác
và ý thức tự nâng cao trình độ bản thân của mỗi cán bộ công chức. Phải xác định rõ trách
nhiệm và quyền lợi của mỗi cá nhân trong từng công việc cụ thể, không để tình trạng có
việc mà không có người làm hoặc có cơ quan mà không có việc, thậm chí có một công
việc mà nhiều đơn vị làm thành ra chồng chéo, “giẫm chân nhau” không thống nhất. Mỗi
cán bộ công chức không suốt đời chỉ hoạt động trong một địa bàn nhất định mà phải có sự
thay đổi thường xuyên. Chế độ luân chuyển cán bộ phải được thực hiện một cách nghiêm
túc hơn nữa. Cán bộ không chỉ được luân chuyển trong các cơ quan nhà nước mà cần có
sự mạnh dạn trao đổi nhân sự giữa bộ máy hành chính nhà nước và khu vực tư nhân. Như
vậy giữa nhà nước và doanh nghiệp sẽ có sự hiểu biết và thông cảm về công việc của nhau,
tránh được tình trạng tham nhũng, đưa và nhận hối lộ, ngăn chặn được sự tha hóa biến
chất, dẫn đến mất cán bộ của bộ máy hành chính nhà nước. Đề cao trách nhiệm của công
chức, viên chức, thực hiện dân chủ, công khai minh bạch. Phát huy quyền làm chủ đối với
mọi cấp, mọi cơ quan, không chỉ về công việc, về thông tin mà còn tăng tính chính xác,
kịp thời, dễ hiểu của các thông tin trong quá trình tiếp xúc với người dân. Nhanh chóng
triển khai những giải pháp mang tính đổi mới về công tác quản lý cán bộ. Có cơ chế loại
bỏ những thành phần sâu mọt, cơ hội, nịnh bợ, chui vào nằm giữ những trọng trách quan
trọng trong bộ máy cơ quan hành chính nhà nước. Bên cạnh đó, không quên nêu cao ý thức
“sống và làm việc theo pháp luật” cho người dân lẫn cán bộ công chức. Thiết lập trật tự kỷ
cương, coi đây là yếu tố cực kỳ quan trọng nhằm tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa,
đảm bảo hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước. Vì vậy, không thể không xử lý kỷ luật
nghiêm khắc những cán bộ công chức thoái hóa, biến chất đã cố tình không thi hành hoặc
cố tình làm sai lệch những chủ trương, chính sách hết sức đúng đắn của Đảng và nhà nước.
Cuối cùng, không quên khuyến khích, đề cao sự giám sát, kiểm tra của nhân dân, của các
tổ chính trị – xã hội, các phương tiện thông tin đại chúng… Thực hiện sự giám sát của
nhân dân đối với hoạt động của cơ quan nhà nước chính là thực hiện chủ trương “dân biết,
dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Nhưng để “dân kiểm tra” được theo như quy định của
pháp luật thì mọi hoạt động cũng như mọi hành vi của công chức phải được công khai
minh bạch, để “dân biết” vì chỉ có biết thì mới có thể kiểm tra đầy đủ nhất.
Thực hiện tốt công tác xây dựng đội ngũ cán bộ công chức sẽ góp phần không nhỏ
vào việc xây dựng một chính quyền đô thị hiện đại “của dân, do dân và vì dân” theo mục
đích cao cả của Đảng và nhà nước ta.
Phương hướng xây dựng CCHC: Điều 4, NQ 30c CP 08 tháng 11 năm 2011
Điều 4. Các giai đoạn thực hiện Chương trình
Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước 10 năm được chia thành 2
giai đoạn:
1. Giai đoạn 1 (2011 - 2015) gồm các mục tiêu sau đây:
a) Sắp xếp, tổ chức lại các cơ quan, đơn vị ở Trung ương và địa phương để không
còn sự chồng chéo, bỏ trống hoặc trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn giữa các
cơ quan hành chính nhà nước; trách nhiệm, quyền hạn của chính quyền địa phương các
cấp được phân định hợp lý;
b) Quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật được đổi mới cơ
bản;
c) Thể chế về sở hữu, đất đai, doanh nghiệp nhà nước được xây dựng và ban hành
ngày càng phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa;
d) Thủ tục hành chính liên quan đến cá nhân, tổ chức được cải cách cơ bản theo
hướng gọn nhẹ, đơn giản; mỗi năm đều có tỷ lệ giảm chi phí mà cá nhân, tổ chức phải bỏ
ra khi giải quyết thủ tục hành chính tại cơ quan hành chính nhà nước;
đ) Cơ chế một cửa, một cửa liên thông được triển khai 100% vào năm 2013 tại tất
cả các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương; bảo đảm sự hài lòng của cá nhân, tổ
chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước đạt mức trên 60%;
e) Từng bước nâng cao chất lượng dịch vụ sự nghiệp công, bảo đảm sự hài lòng của
cá nhân đối với dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công cung cấp trong các lĩnh vực giáo dục, y
tế đạt mức trên 60% vào năm 2015;
g) 50% các cơ quan hành chính nhà nước có cơ cấu cán bộ, công chức theo vị trí
việc làm; trên 80% công chức cấp xã ở vùng đồng bằng, đô thị và trên 60% ở vùng miền
núi, dân tộc đạt tiêu chuẩn theo chức danh;
h) Tiếp tục đổi mới chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức. Tập
trung nguồn lực ưu tiên cho điều chỉnh mức lương tối thiểu chung; xây dựng và ban hành
cơ chế tiền lương riêng đối với từng khu vực: Khu vực hành chính do ngân sách nhà nước
bảo đảm và tính trong chi quản lý hành chính nhà nước; khu vực lực lượng vũ trang do
ngân sách nhà nước bảo đảm và tính trong chi ngân sách nhà nước cho quốc phòng, an
ninh; khu vực sự nghiệp công do quỹ lương của đơn vị sự nghiệp bảo đảm và được tính
trong chi ngân sách nhà nước cho ngành;
i) 60% các văn bản, tài liệu chính thức trao đổi giữa các cơ quan hành chính nhà
nước được thực hiện trên mạng điện tử; 100% cơ quan hành chính nhà nước từ cấp huyện
trở lên có cổng thông tin điện tử hoặc trang thông tin điện tử cung cấp đầy đủ thông tin
theo quy định; cung cấp tất cả các dịch vụ công trực tuyến ở mức độ 2 và hầu hết các dịch
vụ công cơ bản trực tuyến mức độ 3 tới người dân và doanh nghiệp;
k) Các trang tin, cổng thông tin điện tử của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan
thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoàn thành việc
kết nối với Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, hình thành đầy đủ Mạng thông tin điện tử
hành chính của Chính phủ trên Internet.
2. Giai đoạn 2 (2016 - 2020) gồm các mục tiêu sau đây:
a) Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa;
b) Hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước từ Trung ương tới cơ sở thông suốt,
trong sạch, vững mạnh, hiệu lực, hiệu quả;
c) Thủ tục hành chính được cải cách cơ bản, mức độ hài lòng của nhân dân và doanh
nghiệp về thủ tục hành chính đạt mức trên 80% vào năm 2020;
d) Đến năm 2020, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có số lượng, cơ cấu hợp lý,
đủ trình độ và năng lực thi hành công vụ, phục vụ nhân dân và phục vụ sự nghiệp phát
triển của đất nước; 100% các cơ quan hành chính nhà nước có cơ cấu cán bộ, công chức
theo vị trí việc làm; đ) Chính sách tiền lương của cán bộ, công chức, viên chức được cải
cách cơ bản; thực hiện thang, bảng lương và các chế độ phụ cấp mới; đến năm 2020 đạt
được mục tiêu quy định tại Điểm h Khoản 4 Điều 3 Nghị quyết này;
e) Sự hài lòng của cá nhân đối với dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công cung cấp trên
các lĩnh vực giáo dục, y tế đạt mức trên 80% vào năm 2020; sự hài lòng của người dân và
doanh nghiệp đối với sự phục vụ của các cơ quan hành chính nhà nước đạt mức trên 80%
vào năm 2020;
g) Đến năm 2020, việc ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông trong hoạt
động của các cơ quan hành chính nhà nước đạt được mục tiêu quy định tại Điểm a Khoản
6 Điều 3 Nghị quyết này.
Câu 8. Anh, chị hãy nêu thực trạng cải cách hành nhà nước tại cơ quan, đơn vị, địa
phương.
Kết quả thực hiện công tác CCHC tại cơ quan trong thời gian qua đã đạt được những
kết quả đáng khích lệ như:
Quan tâm đến việc sắp xếp, tổ chức lại các cơ quan, đơn vị đã đúng theo các quy
định hiện hành. Mục đích để huy động tối đa nguồn nhân lực, tránh sự chồng chéo về chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn giữa khoa/phòng; phân định rõ ràng, hợp lý trách nhiệm, quyền
hạn của khoa/phòng. Kết quả đã giảm được một số khoa/phòng bằng cách gộp chung các
đơn vị có chức năng tương tự với nhau, hoặc gộp các đơn vị nhỏ lại thành đơn vị lớn hơn.
Thủ tục hành chính (TTHC) liên quan đến khách hàng đã được cải cách cơ bản theo
hướng gọn nhẹ, đơn giản; hàng năm đều có các TTHC sửa đổi. Việc bảo đảm sự hài lòng
của cá nhân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan luôn được quan tâm (chưa đánh giá).
Công tác xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ CBCCVC được quan tâm thực
hiện, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ CBCCVC, thu hút người có trình độ cao,
chuẩn hóa CBCC. Đã thực hiện cắt giảm và tinh giảm một số nhân sự không phù hợp với
đề án vị trí việc làm.
Công tác tài chính công tiếp tục được thực hiện góp phần ngày càng nâng cao đời
sống cho CBCCVC và người lao động. Công tác hiện đại hóa nền hành chính được quan
tâm góp phần tạo điều kiện làm việc tốt cho CBCCVC và quản lý thông qua tân trang trụ
sở làm việc, bảo đảm tranh thiết bị dụng cụ làm việc cho nhân viên, ứng dụng công nghệ
thông tin và áp dụng Hệ thống quản lý chất lượng ISO v.v...
Nhìn chung, công tác CCHC đã được lãnh đạo đơn vị quan tâm thực hiện, hầu hết
các mục tiêu đều đạt và vượt mức đề ra. Tuy nhiên, công tác CCHC vẫn còn một số hạn
chế, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp phát triển. Trong đó năng lực, trình độ, kỹ
năng của một bộ phận công chức, viên chức cần phải trau dồi thêm. Công tác thanh tra,
kiểm tra ở các khoa/phòng chưa thường xuyên. Để tiếp tục đẩy mạnh công tác CCHC trong
thời gian tới, công tác CCHC của đơn vị cần thực hiện một số biện pháp sau: Một là, tăng
cường công tác tuyên truyền, giáo dục làm cho đảng viên, công chức, viên chức nhận thức
sâu sắc, đầy đủ về công tác CCHC. Hai là, tiếp tục rà soát, đơn giản hóa TTHC. Lấy mức
độ hài lòng của khách hàng là thước đo chất lượng, hiệu quả quản lý hành chính; đồng thời
là cơ sở để đánh giá năng lực của công chức, viên chức trong quá trình thực thi công vụ.
Ba là, tập trung kiện toàn, sắp xếp tổ chức cơ quan, kiện toàn tổ chức bộ máy, đội ngũ
CBCCVC, nâng cao hiệu quả hoạt động cơ quan. Thực hiện tốt việc xác định vị trí việc
làm của CBCCVC. Cuối cùng là, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra công vụ, việc
thực hiện quy chế làm việc của các cơ quan, đơn vị và việc thực hiện công tác CCHC. Kịp
thời biểu dương khen thưởng những tập thể, cá nhân thực hiện tốt công tác CCHC.
Câu 9. Hãy nêu thực trạng công tác quản lý cán bộ, công chức hiện nay ở nước ta. Anh,
chị hãy tìm nguyên nhân và đề xuất giải pháp khắc phục.
Quản lý cán bộ là một trong những nội dung rất quan trọng trong công tác xây dựng
đội ngũ cán bộ của Đảng. Thông qua công tác quản lý cán bộ, Đảng đề ra chủ trương, kế
hoạch, biện pháp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ được chính xác, thiết thực; bố trí, sử dụng
đúng người, đúng việc, đồng thời, hạn chế tối đa hiện tượng suy thoái, biến chất của đội
ngũ cán bộ.
Thực trạng công tác quản lý cán bộ
Quản lý cán bộ là một trong những nội dung quan trọng của công tác cán bộ. Từ
trước đến nay Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến công tác quản lý cán
bộ. Sau Đại hội XII, Đảng và Nhà nước đã lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt công tác phòng,
chống tham nhũng, lãng phí và tăng cường công tác quản lý cán bộ. Tuy nhiên, công tác
quản lý cán bộ vẫn còn nhiều hạn chế. Thời kỳ trước đây số cán bộ vi phạm pháp luật cũng
có nhưng chưa nhiều, ảnh hưởng chưa nghiêm trọng. Hiện nay, hầu như không có ngành
nào, địa phương nào là không có một bộ phận cán bộ làm việc thiếu trách nhiệm với Đảng,
với Nhà nước, với nhân dân. Đặc biệt tệ tham nhũng, lãng phí của không ít cán bộ đã trở
thành vấn đề gây bức xúc nhất trong xã hội. Lĩnh vực quản lý doanh nghiệp nhà nước,
quản lý đất đai, khoáng sản, xây dựng cơ bản, quản lý tài sản công... đã làm thất thoát, thiệt
hại rất lớn đến ngân sách nhà nước. Công tác quản lý cán bộ trong một số ít cơ quan thanh
tra, kiểm tra, điều tra, truy tố, xét xử... cũng chưa tốt nên đã để xảy ra một số vụ, việc đáng
tiếc.
Thực trạng việc quản lý cán bộ nêu trên có nhiều nguyên nhân, cả khách quan lẫn
chủ quan, nhưng nguyên nhân chủ quan là chủ yếu, cụ thể là:
Trong cơ chế mới, người cán bộ bị chi phối, tác động của nhiều mối quan hệ, như
quan hệ giữa quản lý với sử dụng, quản lý với lợi ích, quản lý với môi trường, điều kiện
làm việc... nhiều hơn, mạnh hơn trước đây. Một bộ phận cán bộ bộc lộ nhiều nhược điểm,
như chưa quen quản lý sản xuất, kinh doanh, chưa có kinh nghiệm quản lý kinh tế theo cơ
chế thị trường sinh động, vừa có hợp tác, vừa có đấu tranh, chưa quen quản lý xã hội bằng
pháp luật, bằng cơ chế, chính sách trong lúc trình độ khoa học kỹ thuật, quản lý kinh tế nói
chung còn hạn chế nên dễ bị sa ngã, vi phạm pháp luật.
Công tác quản lý cán bộ đang có sơ hở, yếu kém. Quản lý cán bộ còn nặng về quản
lý lý lịch gia đình, quản lý trên hồ sơ bằng cấp, chứng chỉ... mà chưa chú trọng đúng mức
đến quản lý chính trị hiện tại của mỗi cán bộ diễn biến hằng ngày theo nhịp sống của thực
tiễn, chưa gắn quản lý cán bộ với đổi mới phương pháp đánh giá cán bộ. Đảng, Nhà nước
chưa có các văn bản pháp luật chặt chẽ để kiểm soát được quyền lực, còn có những kẽ hở
để cán bộ lợi dụng quyền hạn, trách nhiệm trong thực thi công vụ để tham ô, tham nhũng.
Kỷ cương, kỷ luật của Đảng, Nhà nước có những lúc xử lý chưa nghiêm, chưa kịp thời.
Chính sách tiền lương quá bất hợp lý lại để kéo dài. Phần đông cán bộ, công chức, viên
chức không đủ sống từ lương. Một bộ phận lớn tổ chức cơ sở đảng chưa làm tốt trách
nhiệm quản lý đảng viên, buông lỏng công tác tư tưởng, tình trạng nể nang, né tránh, ngại
đấu tranh của đảng viên diễn ra phổ biến. Một bộ phận cán bộ thiếu bản lĩnh, thiếu tu
dưỡng, rèn luyện, dẫn đến đặc quyền, đặc lợi, thoái hóa biến chất, không nêu gương, nói
không đi đôi với làm dẫn đến tham ô, tham nhũng, ...
Các cơ quan dân cử, như Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp, Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội chưa thực hiện đầy đủ chức năng giám sát của
mình theo quy định của pháp luật.
Một số giải pháp tăng cường công tác quản lý cán bộ
Con người nói chung, cán bộ nói riêng chịu tác động tổng hòa của nhiều mối quan
hệ xã hội, vì thế Đảng, Nhà nước phải có những giải pháp đồng bộ, thiết thực, hiệu quả để
quản lý cán bộ tốt hơn.
Thứ nhất, đổi mới tư duy nhận thức về quản lý cán bộ trong thời kỳ mới. Phải xem
quản lý, bảo vệ cán bộ là cách làm tốt nhất để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ sự nghiệp
cách mạng, bảo đảm cán bộ luôn kiên định tư tưởng, lập trường, phẩm chất chính trị, giữ
gìn đạo đức cách mạng, lối sống tốt đẹp, có nhận thức và hành động đúng đắn.
Thứ hai, thường xuyên phổ biến, quán triệt đường lối, chủ trương của Đảng, chính
sách, pháp luật của Nhà nước về công tác quản lý cán bộ, kỷ luật, kỷ cương hành chính,
đạo đức công vụ.
Thứ ba, Đảng bổ sung các quy định, quy chế quản lý cán bộ, đảng viên chặt chẽ, cụ
thể hơn, như quy định nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của người đứng đầu trong công
tác quản lý cán bộ; các chức danh theo phân cấp quản lý, có cơ chế phát hiện, trọng dụng
người có đức có tài, bổ nhiệm cán bộ đúng người, đúng việc, thực sự vì việc để chọn người.
Các cơ quan quản lý cán bộ cấp trên hằng năm, hằng nhiệm kỳ phải làm tốt việc
đánh giá cán bộ và công khai việc đánh giá đến cán bộ, nhân dân nơi cán bộ công tác và
cư trú. Trước khi nhận xét phải lấy được các kênh thông tin đánh giá hiệu quả lãnh đạo,
chỉ đạo và chỉ số hài lòng của cán bộ, người dân về cán bộ đó. Tăng cường kỷ cương, kỷ
luật gắn với mở rộng, phát huy dân chủ trong Đảng. Có giải pháp hiệu quả nâng cao chất
lượng tổ chức cơ sở đảng, để mỗi tổ chức cơ sở đảng đều vững mạnh, trong sạch, thực
chất. Kiểm tra, làm tốt việc phát triển đảng viên có chất lượng đi đôi với tăng cường giáo
dục, quản lý đảng viên, trên cơ sở đó thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ và đấu
tranh tự phê bình và phê bình trong Đảng.
Thứ tư, Nhà nước sớm bổ sung các văn bản pháp luật để kiểm soát tốt quyền lực.
Quy định rất chặt chẽ, cụ thể quyền hạn, trách nhiệm các chức danh quản lý nhà nước, thực
hiện tốt cải cách hành chính, khắc phục triệt để cơ chế “xin - cho”, tăng cường thanh tra
nhà nước, kỷ luật, kỷ cương hành chính. Đồng thời, từng bước tinh gọn tổ chức bộ máy,
giảm mạnh biên chế và sớm cải cách chế độ tiền lương. Có cơ chế kiểm soát được thu nhập
của cán bộ, công chức, viên chức của cả hệ thống chính trị, quản lý được việc kê khai minh
bạch tài sản. Trên cơ sở đó làm cho cán bộ không muốn tham nhũng, không dám tham
nhũng và không thể tham nhũng (như một số nước đã làm thành công).
Thứ năm, phát huy tốt quyền làm chủ của nhân dân trong công tác quản lý cán bộ.
Câu 10. Anh chị hãy nêu nhận xét của mình về tiền lương và chế độ phúc lợi, của
đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở? Hãy đề xuất giải pháp.
Từ khi thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (Khoá IX) về “Đổi mới và nâng cao chất
lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn”, cán bộ chuyên trách ở cơ sở có chế
độ làm việc và được hưởng chính sách về cơ bản như cán bộ, công chức nhà nước: được
hưởng chế độ lương do ngân sách nhà nước cấp; được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội; bảo
hiểm y tế bắt buộc, được hưởng chế độ hưu trí. Tuy nhiên, về chế độ, chính sách đãi ngộ
đối với cán bộ cấp xã hiện nay vẫn còn những tồn tại, vướng mắc, bất cập.
Những vuớng mắc, bất cập
Bên cạnh những vướng mắc, bất cập về chức danh; cơ cấu đội ngũ cán bộ; số lượng
cán bộ; chế độ bầu cử, tuyển dụng; quy định tiêu chuẩn cán bộ, công chức; công tác quy
hoạch, đào tạo, bồi dưỡng; việc chuẩn hoá và thực hiện liên thông đối với cán bộ, công
chức cấp trên.v.v… thì những bất cập về chế độ, chính sách đãi ngộ (tiền lương, phụ cấp,
bảo hiểm xã hội) đối với cán bộ cấp xã là vấn đề đáng quan tâm nhất. Cụ thể như sau:
- Thứ nhất, về chế độ tiền lương:
Việc quy định mức lương (hay mức sinh hoạt phí trước đây) của cán bộ cấp xã được
dựa theo nguyên tắc: lương bí thư, chủ tịch cấp xã tương đương mức lương trưởng, phó
phòng cấp huyện; các chức danh sau đó được xếp thấp dần, tương ứng với vị trí chức vụ.
a. Bảng lương cán bộ chuyên trách ở xã, phường, thị trấn (ban hành kèm theo Nghị
định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với
cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang):
Như vậy, Bí thư đảng uỷ (dù có bằng cấp hay không có bằng cấp chuyên môn) đều
được xếp bậc 1 với hệ số mức lương là 2,35 (tương đương một cán bộ có trình độ đại học,
được xếp ngạch chuyên viên bậc 1 với hệ số mức lương là 2,34).
Các cán bộ giữ chức vụ bầu cử, cứ sau 5 năm (đủ 60 tháng) hết nhiệm kỳ 1, được
trúng cử làm việc tiếp nhiệm kỳ 2, thì từ tháng thứ 61 trở đi được hưởng lương bậc 2 theo
bảng lương nêu trên.
Sự bất cập ở đây là:
- Người có bằng cấp và người không có bằng cấp đều được hưởng hệ số lương như
nhau;
- Người công tác ở các xã có diện tích lớn, có số dân đông, địa hình phức tạp, hay
có nguồn thu ngân sách khác nhau… đều hưởng lương như nhau;
- Sau 5 năm (đủ 60 tháng) trúng cử ở nhiệm kỳ 2 mới được nâng bậc lương, bậc 2
đồng thời cũng là bậc cuối cùng trong bảng lương (không có các bậc lương tiếp theo).
Sau hai nhiệm kỳ bầu cử (10 năm sau), lương của cán bộ chuyên trách giữ chức vụ
bầu cử sẽ thấp hơn lương công chức chuyên môn có cùng trình độ đào tạo, cùng thâm niên
công tác (vì công chức chuyên môn được nâng bậc lương thường xuyên (2 năm/bậc đối
với ngạch cán sự, 3 năm/bậc đối với ngạch chuyên viên) còn cán bộ chuyên trách thì 5
năm/bậc. Trong khi đó cán bộ chuyên trách là những người giữ chức vụ chủ chốt, trách
nhiệm rất nặng nề.
b. Bảng lương của công chức cơ sở xếp theo bằng cấp chuyên môn cũng phát sinh
bất hợp lý, vì ở cấp xã mỗi chức danh công chức thường chỉ có một người đảm nhiệm, nên
không thể căn cứ bằng cấp mà phân công công việc được…
Khác với ở các cơ quan cấp trên từ huyện, tỉnh trở lên, do có nhiều cán bộ, công
chức nên dễ phân công công việc theo trình độ được đào tạo; còn ở cấp xã xếp lương theo
bằng cấp chuyên môn nhưng việc làm là như nhau, dù hưởng lương cán sự hay chuyên
viên thì công chức cấp xã đều phải hoàn thành một khối lượng công việc như nhau.
- Thứ hai, về chế độ phụ cấp:
Một số chế độ phụ cấp của cán bộ, công chức cấp xã chưa có quy định hoặc có quy
định nhưng chưa thực hiện được (như 10% phụ cấp kiêm nhiệm chức danh lãnh đạo của
Chủ tịch Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn)...
- Thứ ba, về chế độ bảo hiểm xã hội:
Chính sách bảo hiểm xã hội theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội có hiệu lực từ
ngày 1/1/2007 thiên về nguyên tắc “đóng - hưởng”, chưa chú ý kết hợp với chính sách xã
hội, tuổi về hưu và năm công tác của cán bộ, công chức cấp xã làm cho cán bộ, công chức
cơ sở khó có cơ hội được hưởng chế độ hưu trí. Trường hợp cán bộ chuyên trách cấp xã
không được tái cử, không liên tục đảm nhiệm công việc chuyên trách và không đủ thời
gian đóng bảo hiểm xã hội liên tục thì chưa có chế độ giải quyết hợp lý, hợp tình.
Nguyên nhân bất cập:
Chế độ tiền lương theo hệ thống chức nghiệp ở nước ta hiện nay chủ yếu dựa vào
bằng cấp chuyên môn nên chưa phản ánh được đầy đủ kết quả lao động cụ thể của mỗi cán
bộ, công chức. Bởi vì, bằng cấp chuyên môn có thể giống nhau, nhưng con người cụ thể
thì hoàn toàn khác nhau. Cùng một khoá đại học, nhưng có người đạt bằng xuất sắc, giỏi,
khá, trung bình, do đó, trên thực tế ở không ít cơ quan, đơn vị (cả ở cơ quan trung ương và
địa phương) đang diễn ra tình trạng: “chuyên viên làm việc chính, chuyên viên chính làm
việc phụ”, nhưng hệ số mức lương thì đều được hưởng như nhau, điều đó đã triệt tiêu cạnh
tranh và không tạo ra được một môi trường làm việc lành mạnh.
Đề xuất và kiến nghị
Luật Cán bộ, công chức đã được Quốc hội khoá XII, kỳ họp thứ 4 thông qua, trong
đó có riêng một chương quy định về cán bộ, công chức cấp xã; đây là căn cứ pháp lý quan
trọng để các cơ quan hoạch định chế độ, chính sách đối với cán bộ cấp xã. Để góp phần
xây dựng chế độ, chính sách đãi ngộ (chủ yếu tiền lương, phụ cấp và bảo hiểm xã hội) đối
với cán bộ cấp xã, chúng tôi đề nghị:
Trước hết, phải làm rõ mô hình của người cán bộ, công chức cấp xã trong thời kỳ
đổi mới. Vị trí, vai trò của họ là cán bộ, công chức nhà nước thực thi công vụ ở cấp xã. Vì
vậy, phải có một chính sách ổn định, không theo kiểu trúng cử thì làm, không trúng cử thì
nghỉ…; đời sống của họ không còn phụ thuộc vào kinh tế gia đình như trước đây (tuy rằng,
họ vẫn còn tư liệu sản xuất như ruộng đất ở xã, cửa hàng, cửa hiệu ở phố…) nhưng để
hoàn thành được việc công, họ phải sống được bằng đồng lương.
Thứ hai, chế độ, chính sách tiền lương phải bảo đảm theo đúng tinh thần Nghị quyết
Hội nghị Trung ương 6 (khoá X) về cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội và trợ
cấp ưu đãi người có công giai đoạn 2008-2012. “Coi việc trả lương đúng cho người lao
động là thực hiện đầu tư cho phát triển, tạo động lực để kinh tế phát triển và nâng cao chất
lượng dịch vụ công, góp phần làm trong sạch và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của
bộ máy nhà nước”; “Cải cách chính sách tiền lương phải tiến tới bảo đảm cho cán bộ, công
chức, viên chức sống được bằng tiền lương ở mức trung bình khá trong xã hội”; “Cải cách
chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội và trợ cấp ưu đãi người có công phải khắc phục
được những bất hợp lý về quan hệ tiền lương trong từng khu vực và giữa các khu vực:
hành chính, sự nghiệp công lập, doanh nghiệp, lực lượng vũ trang”.
Trước mắt, chế độ tiền lương đối với cán bộ chuyên trách giữ chức vụ bầu cử ở cấp
xã nên xếp theo bằng cấp chuyên môn, cộng với các loại phụ cấp: phụ cấp chức vụ lãnh
đạo, phụ cấp kiêm nhiệm chức danh; phụ cấp trách nhiệm theo loại xã; phụ cấp thâm niên
vượt khung; phụ cấp khu vực… và có chế độ nâng bậc lương như đối với công chức cấp
xã.
Để có cơ sở thực hiện cải cách chế độ tiền lương, cần có một đề án tổng thể về chế
độ, chính sách đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn; tiến hành nghiên cứu, phân
tích nhiệm vụ cụ thể đối với từng chức danh cán bộ, công chức nhà nước, trong đó có cán
bộ, công chức cấp xã; xác định vị trí của từng chức danh; tiêu chí đánh giá kết quả hoàn
thành công việc làm căn cứ đề xuất việc thực hiện kết hợp chế độ tiền lương theo hệ thống
chức nghiệp hiện nay với chế độ tiền lương theo vị trí việc làm.
Thứ ba, áp dụng rộng rãi cơ chế khoán ngân sách và tự chủ tài chính cho cấp cơ sở.
Tạo điều kiện và đảm bảo các cơ sở có quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc tạo
thêm các nguồn thu (ngoài nguồn thu ngân sách) và quy định các khoản chi thường xuyên
theo định mức…Từ đó, cơ sở được chủ động sắp xếp, bố trí, sử dụng hợp lý đội ngũ cán
bộ, công chức và cán bộ không chuyên trách, bổ sung các khoản phụ cấp ngoài lương cho
cán bộ, công chức và giải quyết phụ cấp cho các đối tượng cán bộ không chuyên trách ở
xã, phường, thị trấn.
Thứ tư, cần một cơ chế phối hợp mạnh, đủ sức giải quyết những tồn tại về chế độ,
chính sách đãi ngộ đối với cán bộ cấp xã tồn tại lâu nay.
Hoàn thiện chế độ, chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công chức cấp xã là một quá
trình; về khách quan, phụ thuộc vào điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; về
chủ quan, đòi hỏi phải đổi mới tư duy của những người, những cơ quan hoạch định chế độ,
chính sách, trước hết phải đổi mới ngay từ khâu phối hợp ban hành văn bản, khắc phục
tình trạng bộ, ngành, địa phương nào cũng tham mưu ban hành chế độ đãi ngộ, tạo nên
những mâu thuẫn, bất cập trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành. Trong
chế độ, chính sách đãi ngộ cần quan tâm chế độ tiền lương, nghiên cứu việc áp dụng trả
lương theo hệ thống vị trí việc làm, bảo đảm cán bộ, công chức cấp xã làm việc ở vị trí
như nhau, tài năng và cống hiến như nhau thì được hưởng lương như nhau (không phụ
thuộc nhiều vào bằng cấp với tính chất là một tiêu chí của đầu vào); và, nguồn kinh phí trả
lương không chỉ phụ thuộc vào ngân sách nhà nước cấp mà phải phù hợp với tính chất,
đặc điểm từng loại đối tượng cán bộ, từng loại hình cơ sở.
Lưu ý:
1. Phần trả lời các câu hỏi:
+ Nêu khái niệm (nếu có);
+ Các nội dung, quan điểm hoặc bài tập tình huống chỉ nêu các ý ngắn gọn làm cơ sở cho việc
phát biểu khi thảo luận, không viết dàn trải, dài dòng;
+ Khi thực hiện thảo luận không đọc tài liệu, kể lể, trình bày dài dòng, chủ yếu trao đổi các ý
theo đề cương và thực hiện việc tranh luận.
2. Giảng viên phụ trách thảo luận kiểm tra và ký duyệt vào đề cương. Học viên chỉ được
ký vào Danh sách nộp đề cương sau khi giảng viên ký duyệt.