MỞ ĐẦU
Áo dài là một trang phục truyền thống của Việt Nam, mặc cùng với quần dài, che
thân từ cổ đến hoặc quá đầu gối và dành cho cả nam lẫn nữ nhưng hiện nay thường
được biết đến nhiều hơn với tư cách là trang phục nữ. [1] Áo dài thường được mặc
vào các dịp lễ hội, trình diễn; hoặc tại những môi trường đòi hỏi sự trang trọng,
lịch sự; hoặc là đồng phục nữ sinh tại trường trung học phổ thông hay đại học; hay
đại diện cho trang phục quốc gia trong các quan hệ quốc tế. Các người đẹp Việt
Nam hầu hết đều chọn áo dài cho phần thi trang phục dân tộc tại các cuộc thi sắc
đẹp quốc tế.[2]
NỘI DUNG
I.
NGUỒN GỐC
Trước đây, áo dài thường được mặc kết hợp cùng với nón quai thao, nón
lá, hay là khăn đóng. Dựa theo hình dạng và cấu tạo của cổ áo, áo dài có
thể coi là một dạng áo lập lãnh, tức áo cổ đứng. Trước khi xuất hiện áo
dài, trang phục phổ biến của người Việt là dạng áo giao lãnh (tức áo cổ
chéo) và áo viên lãnh (tức áo cổ tròn). Chúa Nguyễn Phúc Khoát là người
được xem là có công sáng chế chiếc áo dài và định hình chiếc áo dài Việt
Nam như ngày nay.
Y phục xa xưa nhất của người Việt, theo những hình khắc trên mặt chiếc trống
đồng Ngọc Lũ cách nay khoảng vài nghìn năm cho thấy hình phụ nữ mặc trang
phục với hai tà áo xẻ. Sử giả Đào Duy Anh viết, "Theo sách Sử ký chép thì
người Văn Lang xưa, tức là tổ tiên ta, mặc áo dài về bên tả (hình thức tả nhiệm).
Sử lại chép rằng ở thế kỷ thứ nhất, Nhâm Diên dạy cho dân quận Cửu Chân dùng
kiểu quần áo theo người Tàu. Theo những lời sách đó chép thì ta có thể suy luận
rằng trước hồi Bắc thuộc thì người Việt gài áo về tay trái, mà sau bắt chước người
Trung Quốc mới mặc áo gài về tay phải"[3].
Trước khi xuất hiện áo dài, trang phục phổ biến của người Việt là áo giao lãnh và
áo viên lãnh. Khi mặc áo giao lãnh thì hai cổ áo để giao nhau, áo mặc phủ ngoài
yếm lót, váy, thắt lưng buông thả. Áo viên lĩnh tương tự như giao lĩnh thường,
nhưng áo là dạng cổ tròn thay vì cổ giao nhau. Cổ nhân xưa đi chân đất, người
quyền quý thì mang guốc gỗ, dép, giày. Ngoài ra còn kiểu áo tứ thân (gồm bốn vạt
nửa: vạt nửa trước phải, vạt nửa trước trái, vạt nửa sau phải, vạt nửa sau trái). Kiểu
áo do chúa Nguyễn Phúc Khoát đặt định là áo năm thân cổ đứng cài khuy. Áo ngũ
thân che kín thân hình không để hở áo lót. Mỗi vạt có hai thân nối sống (vị chi
thành bốn) tượng trưng cho tứ cha mẫu, và vạt con nằm dưới vạt trước chính là
thân thứ năm tượng trưng cho người mặc áo. Vạt con nối với hai vạt cả nhờ cổ áo
có bâu đệm, và khép kín nhờ 5 chiếc khuy tượng trưng cho quan điểm về ngũ
thường theo quan điểm Nho giáo và ngũ hành theo triết học Đông phương.
Thời chúa Nguyễn Phúc Khoát (1744)[sửa | sửa mã nguồn]
Áo dài ngũ thân, khoảng năm 1900
Với tham vọng lập quốc 1 cõi, Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát ban hành sắc dụ về
ăn mặc cho toàn thể dân chúng xứ Đàng Trong phải theo đó thi hành để phân biệt
với Đàng Ngoài. Trong sắc dụ đó, người ta thấy lần đầu tiên sự định hình cơ bản
của chiếc áo dài Việt Nam, như sau: "Thường phục thì đàn ông, đàn bà dùng áo cổ
đứng ngắn tay, cửa ống tay rộng hoặc hẹp tùy tiện. Áo thì hai bên nách trở xuống
phải khâu kín liền, không được xẻ mở. Duy đàn ông không muốn mặc áo cổ tròn
ống tay hẹp cho tiện khi làm việc thì được phép..." (sách Đại Nam Thực lục) từ
Thái Tổ đến nay vừa đúng con số ấy, bèn thay đổi y phục, đổi phong tục, cùng dân
đổi mới, bắt đầu hạ lệnh cho nam nữ sĩ thứ trong nước, đều mặc áo nhu bào, mặc
quần, vấn khăn, tục gọi quần chân áo chít bắt đầu từ đây.
Tổng hợp các ghi chép vừa rồi có thể thấy, cải cách năm 1744 là một cuộc cải cách
lớn về y phục cung đình dựa vào các sách Hội điển, bách khoa thư ghi chép điển
chương chế độ của các triều đại Hán, Đường, Tống, Minh, Thanh và đặc biệt là
Tam tài đồ hội của Vương kỳ thời Minh. Năm 1744 cũng là thời điểm đánh dấu sự
xuất hiện của quần chân áo chít, bộ trang phục ban đầu áp dụng tại hai vùng Thuận
Hóa, Quảng Nam. Sau khi nhà Nguyễn thống nhất đất nước, áo dài được phổ biến
rộng rãi trong toàn quốc và trở thành quốc phục của triều Nguyễn.
Thời vua Minh Mạng (1828)
Cho đến thế kỷ 17 truyền thống mặc váy vẫn tồn tại ở Việt Nam như đã ghi trong
sách Lê Triều Thiên Chính đời vua Lê Huyền Tông, tháng 3năm 1665 với sắc lệnh
nhắc nhở: "... áo đàn bà con gái không có thắt lưng, quần không có hai ống từ xưa
đến nay vốn đã có cổ tục như thế...". Năm Minh Mạng thứ 9 (1828), triều đình Huế
ra chiếu chỉ cấm đàn bà mặc váy và bắt phải mặc quần hai ống, nên hồi ấy mới
xuất hiện câu ca dao than vãn:
Tháng Tám có chiếu vua ra
Cấm quần không đáy, người ta hãi hùng!
Áo dài Lemur (1930)
Các cô thanh nữ mặc áo dài tân thời Lemur, ảnh in trên báo Ngày
Nay năm 1938.
"Le Mur" chính là cách dịch sang tiếng Pháp của Cát Tường, một họa sĩ tên
Le Mur vào thập kỷ 1930 đã thực hiện một cải cách quan trọng trên chiếc áo
tứ thân để biến nó chỉ còn lại hai vạt trước và sau mà thôi.Vạt trước được
họa sĩ nối dài chấm đất để tăng thêm dáng vẻ uyển chuyển trong bước đi
đồng thời thân trên được may ôm sát theo những đường cong cơ thể người
mặc tạo nên vẻ yêu kiều và gợi cảm rất độc đáo. Để tăng thêm vẻ nữ tính,
hàng nút phía trước được dịch chuyển sang một chỗ mở áo dọc theo vai rồi
chạy dọc theo một bên sườn. Tuy nhiên, áo dài Le Mur có nhiều biến cải mà
nhiều người thời đó cho là "lai căng" thái quá, như áo may ráp vai, ráp tay
phồng, cổ bồng hoặc cổ hở. Thêm nữa áo Le Mur mặc cho đúng mốt phải
với quần xa tanh trắng, đi giày cao, một tay cắp ô và quàng vai thêm chiếc
bóp đầm. Lối tân thời này tuy được nhiều người yêu thích nhưng cũng đã bị
một số dư luận khi đó tẩy chay và cho là "đĩ thõa" (như được phản ảnh
không hề thiện cảm trong tác phẩm Số đỏ của Vũ Trọng Phụng).
Áo dài Lê Phổ (1934)[
Năm 1934, một họa sĩ khác là Lê Phổ bỏ bớt những nét lai căng, cứng nhắc
của áo Le Mur, đồng thời đưa thêm các yếu tố dân tộc từ áo tứ thân, ngũ
thân vào, tạo ra một kiểu áo vạt dài cổ kính, ôm sát thân người, trong khi hai
vạt dưới được tự do bay lượn. Sự dung hợp này quá hài hòa, vẹn vẻ giữa cái
mới và cái cũ, được giới nữ thời đó hoan nghênh nhiệt liệt. Từ đây, áo dài
Việt Nam đã tìm được hình hài chuẩn mực của nó, và từ bấy giờ đến nay dù
trải qua bao thăng trầm, bao lần cách tân cách điệu, hình dạng chiếc áo dài
về cơ bản vẫn giữ nguyên.
"Đời sống mới (1945)"
Năm 1947 trong bối cảnh Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mới tuyên bố độc
lập và các phong trào "diệt giặc đói, giặc dốt" đang được phát động, nhằm
phát động phong trào tiết kiệm, ngày 20 tháng 3 năm 1947, Hồ Chí Minh,
với bút hiệu Tân Sinh, đã viết một cách vắn tắt rõ ràng và dễ hiểu bài "Đời
sống mới" trong đó vận động người dân bỏ thói quen mặc áo dài để thay
bằng áo vắn vì mặc áo dài đi đứng, làm việc bất tiện, lượt thượt, luộm
thuộm. Áo dài tốn vải, khoảng hai cái áo dài may được ba cái áo vắn, nếu
chỉ mặc áo vắn có thể sẻn được 200 triệu đồng/năm. Áo dài không hợp với
phụ nữ Việt Nam đời sống mới[4]. Cuộc vận động này dần đã được người
dân hưởng ứng và áo dài không còn là trang phục thông dụng của phụ nữ
Việt Nam trong một thời gian dài ở miền bắc vĩ tuyến 17.
Áo dài Trần Lệ Xuân (1958)
Cuối năm 1958 khi bà Trần Lệ Xuân còn tại vị Đệ Nhất Phu Nhân của
nước Việt Nam Cộng Hòa, bà đã thiết kế ra kiểu áo dài cách tân mới bỏ đi
phần cổ áo gọi là áo dài cổ thuyền, cổ hở, cổ khoét, dân gian gọi là áo dài
Trần Lệ Xuân hay áo dài bà Nhu. Không chỉ lạ về mẫu áo, chiếc áo dài hở
cổ còn được ‘phá cách’ với họa tiết trang trí trên áo: nhành trúc mọc ngược.
Một số nhà phê bình phương tây cho rằng nó hợp lý với thời tiết nhiệt đới
của miền nam Việt Nam. Nhưng kiểu áo này khiến những người theo cổ học
lúc đó tức giận và lên án nó không hợp với thuần phong mỹ tục. Loại áo dài
không có cổ này vẫn phổ biến đến ngày nay và phần cổ được khoét sâu cho
tròn chứ không ngắn như bản gốc.
Áo dài với tay giác lăng (1960)
Thập niên 1960 có nhà may Dung ở Dakao, Sài Gòn đưa ra kiểu may áo dài
với cách ráp tay raglan (giác lăng). Cách ráp này đã giải quyết được vấn đề
khó khăn nhất khi may áo dài: những nếp nhăn thường xuất hiện hai bên
nách. Cách ráp này cải biến ở chỗ hàng nút cài được bố trí chạy từ dưới cổ
xéo xuống nách, rồi kế đó chạy dọc một bên hông. Với cách ráp tay raglan
làn vải được bo sít sao theo thân hình người mặc từ dưới nách đến lườn eo,
khiến chiếc áo dài ôm khít từng đường cong của thân hình người phụ nữ, tạo
thêm tính thẩm mỹ theo đánh giá của một số nhà thiết kế.
Bộ sưu tập Nghê - Mậu Tuất 2018
Áo dài miniraglan
Phiên bản này được áp dụng rộng rãi cho nữ sinh. Theo phiên bản gốc này,
áo ngắn tay ranglan có tà chỉ ngắn tới bàn chân, nhưng hai ống quần ôm lòa
xòa phủ kín đôi chân. Hai đặc điểm này làm cho tà áo nữ sinh đậm chất hồn
nhiên, dễ thương.
Áo dài xu thế cách tân
Tết Đinh Dậu 2017 chứng kiến sự “thống lĩnh” mạnh mẽ của tà áo dài, hàng
loạt những thiết kế "áo dài cách tân" đã ra đời với kiểu dáng và chất liệu
ngày càng phong phú.[5]
Cấu tạo áo dài Việt Nam
Các bộ phận của một chiếc áo dài phổ biến
Cổ áo cổ điển cao khoảng 4 đến 5 cm. Ngày nay, kiểu cổ áo dài được
biến tấu khá đa dạng như kiểu trái tim, cổ tròn, cổ chữ U, trên cổ áo
thường được đính ngọc.
Thân áo được tính từ cổ xuống phần eo. Cúc áo dài thường từ cổ chéo
sang vai rồi kéo xuống ngang hông. Từ eo, thân áo dài được xẻ làm hai
tà, vị trí xẻ tà ở hai bên hông.
Áo dài có hai tà: tà trước và tà sau. Ngày xưa tà trước bằng tà sau nhưng
ngày nay đã có nhiều loại áo tà trước ngắn hơn tà sau. Trên tà áo trước
thường được thêu những hoa văn hay những bài thơ.
Tay áo được tính từ vai, may ôm sát cánh tay, dài đến qua khỏi cổ tay.
Chiếc áo dài được mặc với quần thay cho chiếc váy ngày xưa. Quần áo
dài được may chấm gót chân, ống quần rộng. Quần áo dài khi xưa may
bằng vải cứng cáp, nay thường được may với vải mềm, rũ. Màu sắc
thông dụng nhất là màu trắng. Nhưng xu thế thời trang hiện nay thì chiếc
quần áo dài có màu đi tông với màu của áo.
Học sinh Việt Nam mặc Áo dài tới trường.
Áo dài Việt Nam vừa truyền thống vừa hiện đại. Trang phục dành cho nữ
này có thể mặc mọi nơi, dùng làm trang phục công sở, đồng phục đi học,
mặc đi chơi hay mặc để tiếp khách một cách trang trọng ở nhà. Việc mặc
loại trang phục này không hề rườm rà hay cầu kỳ, những thứ mặc kèm đơn
giản: mặc với quần lụa hay vải mềm, dưới chân đi hài, guốc, hay giày gì đều
được; nếu cần trang trọng (như trang phục cô dâu) thì thêm áo
choàng và khăn đóng truyền thống đội đầu, hoặc vương miện Tây phương
tùy thích.
Chiếc áo dài tân thời (tức áo dài hiện đại) hình như có cách riêng để tôn đẹp
mọi thân hình. Phần trên ôm sát thân nhưng hai vạt buông thật mềm mại
trên đôi ống quần rộng. Hai tà xẻ chí trên vòng eo khiến cho cử chỉ người
mặc thật thoải mái, lại tạo dáng thướt tha, tôn vẻ nữ tính, vừa kín kẽ vì toàn
thân được bao bọc bởi lụa mềm, lại cũng vừa khêu gợi vì chiếc áo làm lộ ra
sống eo.
Chiếc áo dài hiện đại vì vậy mang tính cá nhân hóa rất cao: mỗi chiếc chỉ
may riêng cho một người, dành cho riêng người đó. Người đi may được lấy
số đo thật kỹ. Khi may xong phải qua một lần mặc thử để sửa nhỏ nữa mới
hoàn thiện.
Áo dài Việt Nam vừa truyền thống vừa hiện đại. Trang phục dành cho nữ này có
thể mặc mọi nơi, dùng làm trang phục công sở, đồng phục đi học, mặc đi chơi hay
mặc để tiếp khách một cách trang trọng ở nhà. Việc mặc loại trang phục này không
hề rườm rà hay cầu kỳ, những thứ mặc kèm đơn giản: mặc với quần lụa hay vải
mềm, dưới chân đi hài, guốc, hay giày gì đều được; nếu cần trang trọng (như trang
phục cô dâu) thì thêm áo choàng và khăn đóng truyền thống đội đầu, hoặc vương
miện Tây phương tùy thích.
Chiếc áo dài tân thời (tức áo dài hiện đại) hình như có cách riêng để tôn đẹp mọi
thân hình. Phần trên ôm sát thân nhưng hai vạt buông thật mềm mại trên đôi ống
quần rộng. Hai tà xẻ chí trên vòng eo khiến cho cử chỉ người mặc thật thoải mái,
lại tạo dáng thướt tha, tôn vẻ nữ tính, vừa kín kẽ vì toàn thân được bao bọc bởi lụa
mềm, lại cũng vừa khêu gợi vì chiếc áo làm lộ ra sống eo.
Chiếc áo dài hiện đại vì vậy mang tính cá nhân hóa rất cao: mỗi chiếc chỉ may
riêng cho một người, dành cho riêng người đó. Người đi may được lấy số đo thật
kỹ. Khi may xong phải qua một lần mặc thử để sửa nhỏ nữa mới hoàn thiện
Áo dài trong nghệ thuật
Thơ văn[
Áo dài màu trắng (thường là áo dài nữ sinh) tại Huế
Áo dài màu đỏ (thường dùng trong lễ cưới, lễ ăn hỏi của người Việt)
Trình diễn áo dài trong một chương trình thời trang ở Hà Nội
Hình ảnh phụ nữ/con gái Việt Nam với chiếc áo dài truyền thống đã được nhiều
nhà nghệ sĩ ghi lại, nổi bật nhất là trong thơ và nhạc. Bài thơ nổi tiếng về chiếc áo
dài có thể kể là "Áo lụa Hà Đông" của Nguyên Sa, bài này được phổ nhạc thành
một bài hát nổi tiếng và là cảm hứng cho một bộ phim điện ảnh cùng tên, với
những câu:
Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông...
Nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc bài này cũng không quên làm nổi bật hình ảnh
áo dài khi sửa thành:
Ôm nghiêng tập vở, tóc dài, tà áo vờn bay...
Áo dài cũng in đậm nét trong những vần thơ nghịch ngợm của Nguyễn
Tất Nhiên:
Đài các chân ngà ai bước khẽ
Nguyện theo tà lụa cả phương Đông (Tháng giêng, chim)
đưa em về dưới mưa/ áo dài sầu hai vạt/ khi chấm bùn lưa thưa... (Em hiền
như Ma-soeur)
Trong thơ Bùi Giáng, màu áo dài của ký ức được nâng lên thành huyền thoại:
Biển dâu sực tỉnh giang hà
Còn sơ nguyên mộng sau tà áo xanh
Và có lẽ trong những vần thơ rất dung dị sau đây của Huy Cận cũng có hình bóng
của chiếc áo dài trắng nữ sinh:
Áo trắng đơn sơ mộng trắng trong
Hôm xưa em đến mắt như lòng
Nở bừng ánh sáng em đi đến
Gót ngọc dồn hương bước tỏa hồng (Áo trắng).
Hay vô cùng gợi cảm trong bài thơ Chiếc áo dài Việt Nam của nhà thơ Đinh Vũ
Ngọc ở Quảng Nam:
Chiếc áo quê hương dáng thướt tha
Non sông gấm vóc mở đôi tà
Tà bên Đông Hải lung linh sóng
Tà phía Trường Sơn rực rỡ hoa
Vạt rộng Nam phần chao cánh gió
Vòng eo Trung bộ thắt lưng ngà
Nhịp tim Hà Nội nhô gò ngực
Hương lúa ba miền thơm thịt da
Âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]
Chiếc áo dài cũng phảng phất hay xuất hiện nhiều trong các ca khúc Việt Nam.
Trong nhạc Trịnh Công Sơn có thể nhìn thấy khá nhiều. Theo hồi ký, chính những
bước chân hoàng cung của những nữ sinh áo tím Huế đã làm cho nhạc sĩ họ Trịnh
viết nên bài "Diễm xưa" nổi tiếng. Hay trong bài "Hạ trắng", hình ảnh áo dài cũng
chập chờn:
Gọi nắng trên vai em gầy đường xa áo bay... (Hạ trắng)
"Bé ca" của Phạm Duy viết cho con gái mới lớn, có bài "Tuổi ngọc" tả về niềm
hân hoan của cô bé khi bước chân vào trung học, lần đầu khoác lên mình "một
chiếc áo như mây hồng":
Xin cho em một chiếc áo dài, cho em đi mua xuân tới rồi
Mặc vào đời rồi ra, mừng lạy chào mẹ cha
Hàng lụa là thơm dáng tuổi thơ
Phạm Duy cũng không quên nhắc về chiếc áo này trong một giấc mơ
hòa bình từ thập niên 1940:
Nằm mơ, mơ thấy trăm họ tốt tươi, mơ thấy bên lề cuộc đời, áo dài đùa
trong nắng cười... (Quê nghèo)
Nữ sinh mặc áo dài đạp xe trên phố
Bài "Một thoáng quê hương" của Từ Huy nổi tiếng một thời với
câu:
Tà áo em... bay, bay, bay, bay... trong gió nhẹ nhàng...
Dù ở đâu, Paris, Luân Đôn hay ở những miền xa. Thoáng thấy áo dài bay
trên đường phố, sẽ thấy tâm hồn quê hương ở đó... em ơi...
Nhạc sĩ Sỹ Luân cũng có bài "Áo dài ơi" vui tươi:
Có chiếc áo dài tung tăng trên đường phố
Những lúc buồn vui vu vơ nào đó
Ánh mắt hồn nhiên vô tư dễ thương á hà…...
...Áo dài vui áo dài hát bao nắng xuân đang về khắp nơi
Áo dài nói áo dài cười mang hạnh phúc đến cho mọi người
Áo dài vui vui áo dài hát hát bao nắng xuân đang về khắp nơi
Áo dài nói nói áo dài cười cười mang hạnh phúc đến cho mọi người
Nhạc sĩ Huỳnh Nhật Tân với bài "Cô gái Việt Nam":
Em, cô gái kiêu sa trong tà áo dài Việt Nam
Em, duyên dáng thơ ngây trong vườn nắng đẹp bình minh
Em chân bước mượt mà, em tay trắng ngọc ngà, đẹp lộng lẫy thướt tha.
Em như đóa hoa xinh trong tà áo dài Việt Nam.
Em yêu quý quê hương, yêu tà áo dài Việt Nam...
Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng với ca khúc "Một đời áo mẹ áo em" kể lại lịch sử và sự
gắn kết nhiều thế hệ của chiếc áo dài.
Nhạc sĩ Jo Marcel và ca khúc "Áo dài Việt Nam":
...Người Việt Nam trong chiếc áo dài
Người Việt Nam tha thướt bước về
Vẻ đẹp Việt Nam ngàn đời không phai
Cùng tha thướt bước trên đường của xứ khách
Cùng nắm tay nhau chia xẻ buồn vui
Cùng tiếp tay nhau duy trì nét đẹp
Vẻ đẹp của người Việt Nam ":
Em đẹp không cần son phấn… xinh thật xinh… thật xinh... rất hiền...
Không quần jeans… giầy cao gót… em chọn riêng mình em áo dài… duyên
dáng...
Giống như hoa kia bên thềm… ngát hương không khoe sắc màu… ngàn đóa
hoa đang rực rỡ không sánh bằng...
Nhẹ nhàng tung bay tà áo dài... Em phụ nữ Việt…
Ánh lên bao rạng ngời người Phương Đông…
Hội họa[sửa | sửa mã nguồn]
Tranh Thiếu nữ bên hoa huệ của Tô Ngọc Vân
Bức tranh "Thiếu nữ bên hoa huệ" của họa sĩ Tô Ngọc Vân sáng tác năm 1943, là
một trong những tác phẩm hội họa hiện đại Việt Nam đầu tiên và nổi tiếng bậc
nhất, miêu tả một cô gái mặc áo dài trắng ngồi bên một bình hoa huệ tây(hoa loa
kèn).
Trình diễn thời trang[sửa | sửa mã nguồn]
Đã có rất nhiều cuộc thi thiết kế và trình diễn áo dài được tổ chức tại Việt Nam
cũng như ở nước ngoài.
Nhà thiết kế Minh Hạnh, người từng giữ vị trí cao nhất ở nhiều Tuần lễ thời trang
Việt Nam hay các lễ hội lớn, là một trong những người đã gặt hái được nhiều thành
công khi giới thiệu và quảng bá các bộ sưu tập áo dài do chính mình thiết kế
tới Nhật Bản với bộ sưu tập được thiết kế trên nền vải lụa sống hai da, cổ và tay áo
được xếp thành nhiều lớp áo như kimono. Gam màu chủ đạo là hồng phấn và hồng
đào lấy cảm hứng từ màu hoa anh đào[6]; tới Anh với 100 mẫu áo dài lấy ý tưởng từ
các họa tiết trong trang phục của Hoàng gia Anh được kết hợp với các màu sắc
trang phục dân tộc Việt[7]; cùng nhà thiết kế Lan Hương tới Mỹ[8] trong bộ sưu tập
từ chất liệu jeans và hoa sen vừa kết hợp truyền thống và hiện đại, vừa thể hiện
những giao hoa văn hóa Việt Mỹ. Bà cũng là người thiết kế bộ trang phục áo dài
mới cho Vietnam Airline với những cách tân táo bạo gây nên những tranh luận đa
chiều[9].
Đại nhạc hội Paris By Night 106 mang tên Silk Lụa, trực tiếp thu hình trong hai
ngày 1 và 2 tháng 9 năm 2012 tại Planet Hollywood Resorts and Casino, Las
Vegas trình diễn bộ sưu tập áo "Dáng Lụa" được thiết kế trên công nghệ in hiện đại
của nhà thiết kế Thái Tuấn, Việt Nam.[10]
Trong các cuộc thi nhan sắc tầm cỡ thế giới như Hoa hậu Thế giới, Hoa hậu Hoàn
vũ, Hoa hậu Trái đất, những người đẹp đại diện Việt Nam luôn đầu tư và chuẩn bị
kỹ lưỡng cho phần thi trang phục dân tộc, và đã không hiếm lần tà áo dài đồng
hành cùng chiến thắng với chủ nhân của trang phục. Bộ áo dài đen cách điệu với
đuôi công kết cườm và kim sa đã giúp Mai Phương Thúy lọt top 20 thí sinh mặc
trang phục dân tộc đẹp nhất cuộc thi Hoa hậu Thế giới 2006. Bộ áo dài "vũ khúc
hạc" của nhà thiết kế Thuận Việt với cách thiết kế hai lớp áo theo kiểu dáng áo
của Nam Phương Hoàng Hậu giúp hoa hậu Thùy Lâm lọt top 10 người đẹp trình
diễn trang phục truyền thống đẹp nhất tại cuộc thi Hoa hậu Hoàn vũ 2008. Bộ áo
dài lấy cảm hứng từ rồng phương Đông, với các họa tiết thổ cẩm đặc trưng của dân
tộc miền núi phía Bắc Việt Nam, được hoa hậu Lưu Thị Diễm Hương lựa chọn tại
cuộc thi Hoa hậu Hoàn vũ 2012 cũng lọt Top 10 trang phục dân tộc đẹp nhất do
trang web nổi tiếng về các cuộc thi sắc đẹp Missosology bình chọn. Đặc biệt bộ áo
dài lấy ý tưởng từ bông sen với hai màu chủ đạo là đỏ và vàng, điểm xuyết đá pha
lê đậm chất hoàng gia của á hậu Trương Thị May tại cuộc thi Hoa hậu Hoàn vũ
năm 2013 được Missology bình chọn đứng đầu bảng xếp hạng những bộ quốc phục
đẹp nhất; và trong chính cuộc thi, bộ áo dài này cũng đứng thứ 4 trong Top 10
trang phục dân tộc đẹp nhất[2]
Áo dài nam
Áo dài trong Hội nghị APEC tổ chức tại Hà Nội năm 2006
Ban đầu, chiếc áo ngũ thân vốn được tạo ra để nam mặc rồi nữ cũng mặc theo. Tuy
nhiên theo thời gian, chiếc áo dài nam dần mất. Vì thế khi nhắc đến áo dài người ta
nghĩ ngay đến tà áo dài nữ. Chiếc áo có cổ cao, thẳng và vuông tượng trưng cho sự
chính trực của người quân tử. Áo có 5 cúc làm bằng kim loại, ngọc, gỗ,... chứ
không phải bằng vải như sương sám Trung Quốc. Áo có năm thân tượng trưng cho
tứ thân phụ mẫu, một thân con (nhỏ nhất, nằm trong) tượng trưng cho mình (người
mặc). Tà áo không bó sát người mà rộng, càng xuống càng xòe ra. Tay áo rộng, hẹp
tùy ý.
Áo mặc thường màu sắc nhã nhặn, ít hoa văn, không có kiểu riềm cổ, riềm tay áo.
Thường được mặc kèm một chiếc áo lót màu trắng để làm nền cho áo ngoài, thể
hiện sự sạch sẽ ở bên trong; hoặc có màu sặc sỡ hơn ở trong. Thể hiện quan niệm
truyền thống đẹp đẽ của người Việt: cái gì đẹp thì nên giấu vào trong. Áo dài luôn
đi kèm với khăn xếp.
Theo nhà biên khảo Trần Thị Lai Hồng thì áo ngũ thân đi đôi với quần hai ống và
khăn đội đầu cũng là quốc phục của cánh đàn ông. Các bà các cô dùng màu sắc
óng ả dịu mát trong khi đàn ông con trai chỉ dùng màu đen, trắng, hoặc lam thẫm.
Theo sắc dụ ban hành từ thời Chúa Nguyễn Vũ Vương thì sự quy định trang phục
cho nam giới ít gò bó và thoáng hơn, "Thường phục thì đàn ông, đàn bà dùng áo cổ
đứng ngắn tay, cửa ống tay hoặc rộng hoặc hẹp tùy tiện. Áo thì hai bên nách trở
xuống phải khâu kín liền không cho xẻ mớ. Duy đàn ông không muốn mặc áo cổ
tròn và hẹp tay cho tiện làm việc thì cũng được" (trích sắc dụ này).
Kể từ năm 1952 thời Quốc gia Việt Nam, thủ tướng Trần Văn Hữu đã ấn định quốc
phục cho các viên chức hành chánh trong chính phủ: nếu buổi lẽ mang tính
cách tôn giáo hay lịch sử thì lễ phục là áo dài chẽn, khăn đen, quần lụa trắng.[11]
Vậy nếu nói đến quốc phục truyền thống thì chính chiếc áo dài nữ phục mới đậm
nét hơn, được quy định bởi những văn bản pháp quy (sắc dụ chúa Nguyễn Vũ
Vương) và chuẩn mực ăn mặc rõ ràng hơn (chiếu chỉ quy định của vua Minh Mạng
về trang phục hoàn chỉnh cho áo dài nữ phục). Do đó khi nói đến áo dài Việt Nam,
người trong lẫn ngoài nước thường nghĩ đến chiếc áo dài nữ phục.
Áo dài nam phục Việt Nam không phổ biến như áo dài nữ phục. Áo dài nam phục
chỉ còn xuất hiện tại những lễ hội mang đậm nét truyền thống Việt Nam hay là lễ
cưới, khi làm lễ ra mắt gia tộc. Đặc biệt, tại tuần lễ cấp cao APEC 2006 tổ chức tại
Việt Nam, trong lễ công bố Tuyên bố chung, các nhà lãnh đạo các nền kinh tế
APEC đều mặc trang phục truyền thống của nước chủ nhà.
Các
nhạc
chiến cũng ha
áoáo xanh"
Chuẩn - Từ
cảm xúc về c
thu mưa rơi
em màu tíN
đau thương v
em màu tím
Nhuộm tím những chuỗi ngày vắng nhau
Tháng năm càng lướt mau
Biết bao giờ trông thấy nhau
(Ngàn thu áo tím)
Bài hát "Áo
Xuân Phươn
cùng tên của
Áo trắng em mặc đến trường
Đừng bao giờ để... ai thương lại gần
Áo trắng thì phải biết lo
Biết không cô nhỏ học trò sáng nay ?
Bài Hát "Cho
"Áo trắng ai bay khiến cho ai kia mơ màng"