Tải bản đầy đủ (.doc) (9 trang)

Văn hóa doanh nghiệp – những tác động của văn hóa đến tiêu dùng tại VIệt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (154.53 KB, 9 trang )

Văn hóa doanh nghiệp – những tác động của văn hóa
đến tiêu dùng tại VIệt Nam
Văn hoá doanh nghiệp chính là tài sản vô hình vô cùng quý báu của mỗi
doanh nghiệp bởi vì nó sẽ quyết định sự thành bại trong định hướng phát triển
kinh doanh nhất là trong bối cảnh khi Việt Nam hội nhập kinh tế thế giới thì
sự cạnh tranh sẽ trở nên khốc liệt hơn đòi hỏi các doanh nghiệp phải xây dựng
cho mình văn hoá doanh nghiệp có tính riêng biệt và hiện đại, điều đó là hết
sức cần thiết tuy nhiên cũng hết sức khó khăn do việc hình thành văn hoá
doanh nghiệp đòi hỏi phải xây dựng phù hợp và trải qua thời gian.
Trong giai đoạn hiện nay, các doanh nghiệp đang đứng trước thách thức
phải tăng cường tối đa hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua sự
khác biệt và sự sáng tạo của sản phẩm và dịch vụ để tạo lợi thế cạnh tranh. Để
đạt được mục tiêu này, họ phải dựa nguồn tài nguyên lớn nhất của doanh
nghiệp đó chính là “Nguồn nhân lực”. Không những thế, các doanh nghiệp
hàng đầu luôn đề cao việc nghiên cứu và xây dựng môi trường “Văn hóa
doanh nghiệp” lành mạnh, có bản sắc riêng để tạo sự liên kết và nhân lên
nhiều lần giá trị của nguồn tài nguyên quý giá này.

I. Tổng quan về văn hóa doanh nghiệp
1. Lý luận về văn hóa và văn hóa doanh nghiệp
1.1. Khái niệm về văn hoá và văn hoá doanh nghiệp
Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu
hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm phù hợp với những yêu cầu
của đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn.
Văn hoá công ty được định nghĩa là một hệ thống ý nghĩa, giá trị,
niềm tin chủ đạo, nhận thức và phương pháp tư duy được mọi thành viên


một tổ chức cùng đồng thuận và có ảnh hưởng ở phạm vi rộng đến cách
thức hành động của các thành viên.
1.2. Cách tiếp cận về văn hoá doanh nghiệp


Do có nhiều cách tiếp cận về văn hoá doanh nghiệp nên để thống nhất lý
luận, cách tiếp cận của luận văn là văn hoá doanh nghiệp được nghiên cứu
dưới góc độ là một công cụ quản lý mới nhằm xây dựng nề nếp, phong cách
quản lý, nâng cao năng lực cạnh tranh đối với doanh nghiệp và tạo lập thương
hiệu bền vững.
Theo đó, Văn hóa doanh nghiệp là một hệ thống những ý nghĩa, giá trị
niềm tin chủ đạo; cách nhận thức và phương pháp tư duy được mọi thành
viên trong một tổ chức cùng thống nhất, và có ảnh hưởng ở phạm vi rộng
đến cách thức hoạt động của từng thành viên.
1.3. Đặc điểm của văn hóa doanh nghiệp
Thứ nhất, văn hoá doanh nghiệp liên quan đến nhận thức.
Thứ hai, văn hoá doanh nghiệp có tính thực chứng.
1.4. Bản chất của văn hóa doanh nghiệp
1.4.1. Văn hoá doanh nghiệp - Công cụ quản lý bằng giá tri
Văn hoá doanh nghiệp là công cụ quan trọng nhất trong quản lý bằng
giá trị (MBV).
Mấu chốt của MBV là dựa vào con người: tổ chức không làm cho MBV
có hiệu lực mà chính là con người; người lãnh đạo đóng vai trò khởi xướng,
thành viên tổ chức đóng vai trò hoàn thành. Chính con người làm cho những
giá trị được tuyên bố chính thức trở thành hiện thực.
1.4.2. Văn hoá doanh nghiệp - Công cụ thực thi chiến lược
Để soạn thảo chiến lược, thông tin cần được thu thập. Cách thức thu nhận
thông tin về môi trường hoạt động có ảnh hưởng rất lớn đến việc định hướng
chiến lược. Khi tiến hành thu thập thông tin và phân tích môi trường kinh doanh,
2


những người khảo sát và phân tích đều dựa trên những giả thiết hay mô hình,
cách thức sàng lọc nhất định làm cho tư liệu thu thập mất đi một phần tính hiện
thực, khách quan và tính toàn diện. Những tư liệu thu thập được lại được diễn

đạt theo những cách thức, ngôn ngữ thịnh hành trong tổ chức; chúng đã chịu ảnh
hưởng của đặc trưng văn hoá của tổ chức. Chính vì vậy, MBV – qua văn hóa
doanh nghiệp - luôn được thể hiện trong chiến lược kinh doanh và chiến lược
kinh doanh cũng chính là bản “kế hoạch lớn”, “chương trình hành động tổng
quát” để triển khai văn hoá doanh nghiệp.
Như vậy, có thể coi văn hoá doanh nghiệp chính là một công cụ quan
trọng để thực thi chiến lược.
2. Tiền đề văn hóa doanh nghiệp
2.1. Mục đích, ý nghĩa của việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp
Mục đích của việc xây dựng văn hoá doanh nghiệp là xây dựng một hình
ảnh đặc trưng điển hình mang đậm bản sắc (phong cách) riêng về những giá
trị triết lý mà doanh nghiệp mong muốn đại diện và thể hiện; xây dựng một
phương pháp ra quyết định/ hành động, những lề lối/nề nếp/thói quen làm
việc mang lại kết quả công việc chuyên môn cao bằng cách thể hiện đặc sắc
điển hình.
Nhiệm vụ của xây dựng văn hóa doanh nghiệp là thiết lập quy tắc hành
động thống nhất hình thành một nề nếp, lề lối làm việc điển hình trên cơ sở đó
định hình một phong cách đặc trưng dễ nhận diện và chuyển hóa vào hành vi,
thói quen làm việc hàng ngày.
Nội dung của xây dựng văn hóa doanh nghiệp là xác định hình ảnh/giá trị
cốt lõi; định hướng văn hóa doanh nghiệp bằng lời hứa/cam kết; xây dựng hệ
thống chuẩn mực hành vi và xây dựng các bản cam kết cá nhân.
Ý nghĩa của việc xây dựng văn hoá doanh nghiệp: là công cụ xây dựng
hình ảnh; nâng cao năng lực cạnh tranh, nâng cao hiệu quả quản lý và hoàn
thiện tổ chức.
3


2.2. Xác đinh tiền đề xây dựng văn hoá doanh nghiệp
Muốn phát triển văn hóa doanh nghiệp thì trước tiên là phải hoàn thiện tiền đề

về hệ thống tổ chức.
Thứ hai, hoàn thiện các chương trình văn hóa doanh nghiệp trong doanh
nghiệp
Thứ ba, xây dựng phong cách lãnh đạo điển hình.
2.3. Hoàn thiện các tiền đề xây dựng văn hoá doanh nghiệp
2.3.1. Hoàn thiện hệ thống tổ chức:
Hoàn thiện hệ thống tổ chức là lựa chọn mô hình, cơ cấu tổ chức phù hợp
chiến lược phát triển và môi trường hoạt động của doanh nghiệp.
2.3.2. Xây dựng và triển khai các chương trình đạo đức và văn hóa doanh
nghiệp
Hệ thống các văn bản thể hiện mối quan hệ pháp lý, quan hệ quản lý và
quan hệ lao động trong nội bộ doanh nghiệp hoặc quan hệ của doanh nghiệp
với các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân khác.
Một doanh nghiệp xây dựng tốt các văn bản nội bộ của mình thì nó sẽ
giúp cho doanh nghiệp có được một tổ chức chặt chẽ và đồng bộ. Qua hệ
thống văn bản nội bộ của doanh nghiệp chúng ta cũng có thể đánh giá được
VHDN đó.
Nội dung của tổ chức triển khai xây dựng hệ thống các bản giao ước cá
nhân là tự xây dựng một kế hoạch hay phương án hành động của cá nhân với
những tiêu chí, chỉ báo tổng hợp cụ thể cho từng vị trí công tác.
II. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CHÍNH TRONG VĂN HÓA TIÊU DÙNG TẠI
VIỆT NAM
Do nền kinh tế Việt Nam hiện nay đang trong quá trình phát triển và hội
nhập kinh tế quốc tế, trong khi thu nhập của người dân được nâng cao đáng kể
cùng với sự phát triển của sản xuất hàng hoá đã tạo nên văn hoá tiêu dùng
4


theo kiểu mới, về cơ bản văn hoá tiêu dùng tại Việt Nam có 3 đặc điểm chính
là : Tiêu dùng dựa trên giá trị, tiêu dùng thông minh và tiêu dùng có trách

nhiệm.
- Tiêu dùng dựa trên giá trị : đó là việc người tiêu dùng không còn bị động
mua hàng hoá sẵn có mà chủ động tìm hiểu thông tin về doanh nghiệp, về sản
phẩm để đặt hàng với các doanh nghiệp sản xuất về các sản phẩm ưng ý về
chuẩn mực giá trị mà người tiêu dùng yêu cầu ( về giá cả, mẫu mã, màu sắc,
chủng loại , kích cỡ, chất lượng, độ bền, tính thời trang, gu thẩm mỹ…) , từ
đó thoả mãn được những nhu cầu của người tiêu dùng, đồng thời tạo động lực
cho các nhà sản xuất phải năng động, sáng tạo để tạo ra được các sản phẩm có
chất lượng cao, tăng tính cạnh tranh lành mạnh với các đối thủ , qua đó làm
cho nền sản xuất xã hội ngày càng phát triển hơn.
- Tiêu dùng thông minh: là hành vi tiêu dùng dựa trên tư duy nhận thức,
người tiêu dùng sẽ chỉ tiêu dùng những sản phẩm của những doanh nghiệp
sản xuất mà họ hiểu rõ ( ví dụ như : nguồn gốc , xuất xứ rõ ràng, chất lượng,
nguyên liệu tạo ra sản phẩm có gây tác hại cho cơ thể không?...) và tập hợp
các thông tin đầy đủ của sản phẩm để quyết định mua hàng hoá đó hay không
mà không bị chi phối bởi các tác nhân khác ( như giá cả, phong tục tập quán
vùng miền, chính trị, tôn giáo…), do đó đã bảo vệ được chính người tiêu dùng
và cộng đồng.
- Tiêu dùng có trách nhiệm: là hành vi tiêu dùng mang tính xã hội cao xuất
phát từ nhận thức và tính cộng đồng cao của con người ,người tiêu dùng có
trách nhiệm không chỉ biết tiêu dùng những hàng hoá-dịch vụ phù hợp mà
còn biết lựa chọn các sản phẩm hàng hoá trong nước và tiêu dùng những sản
phẩm của những doanh nghiệp có trách nhiệm với cộng đồng , đóng góp vào
sự nâng cao chất lượng cuộc sống và kinh tế nói chung của xã hội, chính văn
hoá này đã góp phần làm cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh ngoài
yếu tố về lợi nhuận còn phải tính đến việc sản xuất lành mạnh, đề cao đạo đức
trong kinh doanh ( Hoạt động sản xuất không làm ảnh hưởng xấu đến môi
5



trường, sức khoẻ con người, tham gia làm từ thiện), từ đó sẽ làm cho nền sản
xuất của Việt Nam cũng phát triển theo hướng lành mạnh và thân thiện với xã
hội hơn.
4. Những tác động của các yếu tố văn hoá :
4.1. Những tác động các yếu tố văn hoá đến nền kinh tế :
- Văn hoá và kinh tế là hai lĩnh vực có tác động qua lại lẫn nhau, không thể có
văn hoá suy đồi mà kinh tế phát triển.Văn hoá bao giờ cũng vừa là mục tiêu
vừa là động lực quan trọng cho phát triển kinh tế , mặt khác thì nền kinh tế
phát triển sẽ là “mảnh đất” thuận lợi để cho phát triển văn hoá và cộng đồng .
Có thể nói văn hoá ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế của mỗi quốc gia cụ
thể như sau :
- Văn hoá ảnh hưởng đến hiệu quả nền kinh tế thông qua sự thúc đẩy các giá
trị được chia sẻ trong cộng đồng mỗi quốc gia ( như niềm tin, truyền thống,
phong tục , tôn giáo…) tạo nên một bản sắc và gắn kết các thành viên của
cộng đồng để từ đó kết tinh thành bản sắc , giá trị diện mạo của các thành viên
, đưa ra những quyết định thay đổi nhạy bén thì năng suất kinh tế và tính
năng động của cộng đồng đó sẽ cao hơn , do đó nền kinh tế sẽ tăng trưởng cao
hơn ( ví dụ như nền văn hoá Nhật bản luôn mang tính kỷ luật cao và ý thức
cao do vậy nền kinh tế luôn tăng trưởng do văn hoá con người Nhật Bản luôn
ý thức vươn lên và tôn trọng kỷ luật lao động… Trong khi đó thì Văn hoá
Trung Quốc lại rẩt đề cao sự thành đạt qua việc siêng năng, chăm chỉ do vậy
nền kinh tế Trung Quốc thường tập trung chủ yếu vào sản xuất, còn tại Mỹ thì
tôn sùng những người có tiền và có cuộc sống sung túc do vậy nền kinh tế chủ
yếu nằm trong tay nhà tư bản ngân hàng và tài phiệt …)
- Văn hoá ảnh hưởng đến tính công bằng trong nền kinh tế : Mỗi quốc gia có
một nền văn hoá khác nhau sẽ ảnh hưởng đến sự công bằng trong phát triển
kinh tế , ví dụ đối với các nước phương đông chịu ảnh hưởng của văn hoá tôn
giáo theo khổng giáo, phật giáo, thần giáo như Việt Nam, Trung Quốc, Nhật
Bản, Thái Lan …thì nền kinh tế luôn cân bằng, đạo đức kinh doanh luôn được
6



tôn trọng.
- Văn hoá có ảnh hưởng hay thậm chí quyết định đến mục tiêu phát triển kinh
tế của mỗi quốc gia thông qua các chỉ số như tỷ lệ tăng trưởng GDB bình
quân, tỷ lệ thay đổi công nghệ, mức độ việc làm…và liên quan đến các chỉ số
bình đẳng như phân phối thu nhập, an ninh xã hội, bình đẳng giới…Các yếu
tố văn hoá này do xuất phát từ nhiều yếu tố trong đó có yếu tố văn hoá tôn
giáo nó đã hình thành nên những hệ tư tưởng để quyết định nên các chính
sách phát triển kinh tế của mỗi quốc gia ( chẳng hạn như nền kinh tế các nước
Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore do bị ảnh hưởng của
tôn giáo nho giáo đề cao tôn ti trật tự và quyền lực trong xã hội do đó đã
quyết định đến việc nền kinh tế nước này luôn phát triển kinh tế vĩ mô một
cách ổn định, đẩy mạnh tính cạnh tranh, hướng tới xuất khẩu …)
4.2. Những tác động các yếu tố văn hoá đến những thị trường xuất nhập
khẩu cho những sản phẩm nhất định :
Khi tiếp cận quảng bá thương hiệu sản phẩm, bất cứ một công ty nào
cũng đều phải tìm hiểu về văn hoá của quốc gia , khu vực đó bởi văn hoá là
yếu tố có tác động rất mạnh mẽ và phổ biến đến các hoạt động kinh doanh tại
thị trường đó , cụ thể :
-Văn hoá ảnh hưởng đến hàng loạt các vấn đề về hoạt động marketing như :
lựa chọn lĩnh vực kinh doanh, thị trường mục tiêu, lựa chọn chiến lược
marketing chung cho sản phẩm, các chiến lược mục tiêu chung của doanh
nghiệp đó …
- Văn hoá ảnh hưởng đến việc thực hiện các chiến thuật, các chính sách, các
biện pháp cụ thể, các thao tác, hành vi cụ thể của nhà nhập khẩu và xuất khẩu
- Văn hoá ảnh hưởng đến các công cụ khác nhau của hệ thống marketing hỗn
hợp của doanh nghiệp đặc biệt là ảnh hưởng đến công cụ sản phẩm, hệ thống
phân phối và xúc tiến hỗn hợp hoạt động thị trường của sản phẩm đó.
Cụ thể hoạt động kinh doanh tại mọt thị trường sẽ bị ảnh hưởng bởi

7


những yếu tố văn hoá chính sau :
- Hoạt động thị trường sẽ bị ảnh hưởng bởi vấn đề ngôn ngữ , chẳng hạn các
quảng cáo cần phải thay đổi một LÔGÔ hay biểu ngữ về sản phẩm mà nó
mang ý nghĩa xấu tại đất nước, quốc gia đó
- Sự chấp nhận của thị trường đó về sản phẩm bị tác động bởi các tiêu chuẩn
thái độ và giá trị (Ví dụ ở các thị trường Trung Đông thì tôn giáo theo đạo Hồi
thường kiêng ăn thịt lợn…, ở Việt Nam thường ăn kiêng thịt chó và thịt vịt
vào đầu tháng, ở thị trường các nước phương đông như Nhật Bản, Hàn Quốc,
Trung Quốc…thường có gu tiêu dùng những sản phẩm có nguồn gốc thiên
nhiên…), những yếu tố này bị chi phối bởi các yếu tố văn hoá như : Tôn giáo,
phong tục, tập quán, thời trang, lối sống…
- Chính sách giá thường bị ảnh hưởng bởi các thái độ văn hoá đối với sự thay
đổi, ví dụ ở một số nơi sự thay đổi được coi là sự tích cực nên những mặt
hàng thời trang Mốt thường có giá rất cao vì nó tượng trưng cho sự thay
đổi( ví dụ thị trường Italia), nhưng ngược lại có những nơi sự thay đổi được
coi là không tốt, một mức giá cao hơn với sản phẩm mới thường không được
thị trường chấp nhận…
Hệ thống phân phối sản phẩm thường bị ảnh hưởng bởi các chế định xã hội
của đất nước đó, ví dụ có một số quốc gia thì mối quan hệ giữa nhà cung cấp
và người mua dựa trên quan hệ họ hàng, anh em, những người không có quan
hệ sẽ bị loại bỏ ra một số kênh phân phối nào đó.
Kết Luận
Trong một nền văn hoá các giá trị văn hoá đều có tính bền vững và phổ
cập khác nhau do đó sẽ ảnh hưởng với các mức độ khác nhau đến hoạt động
xâm nhập thị trường và phát triển sản phẩm tại thị trường đó . Bên cạnh các
giá trị văn hoá mang tính phổ thông và thống nhất thì còn có các giá trị văn
hoá vùng miền mang tính địa phương , tuy nhiên những giá trị văn hoá phổ

thông thì thường có ảnh hưởng lớn đến phạm vi rộng và tạo nên đặc tính

8


chung về nhu cầu, ước muốn, phong cách và hành vi tiêu dùng đông đảo của
mỗi quốc gia( ví dụ văn hoá ẩm thực của châu âu là tập quán tiêu dùng bơ
sữa, Mỹ là tập quán dùng các đồ ăn nhanh…), điều đó đòi hỏi các nhà kinh
doanh sản phẩm vào thị trường đó cần phải tìm hiểu kỹ lưỡng và tung ra
những sản phẩm phù hợp với văn hoá sở tại để phát triển được sản phẩm theo
chiến lược kinh doanh đã xác định về thị trường sản phẩm. Ðặc điểm văn hóa
– xã hội khác nhau ở các nước thường được thể hiện ở các mặt như quan niệm
về thời gian, không gian, ngôn ngữ, tôn giáo… Hiểu rõ những nét đặc trưng
của từng nền văn hóa là cơ sở để tạo nên sản phẩm phù hợp với nhu cầu và
chủ động trong đàm phán kinh doanh, cố áp đặt lên đối tác của mình những
cách cư xử cũng như của mình, là một cách trực tiếp gây khó chịu cho khách
hàng và có thể rất dễ thất bại trong kinh doanh tại thị trường đó.

9



×