MỤC LỤC
Trang
2
A.LỜI MỞ ĐẦU
B. NỘI DUNG
I. Những vấn đề lý luận về hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa
thành niên
1. Khái niệm hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên
2. Quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên
3. Hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên
II. Hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên
3
3
4
4
7
7
1. Căn cứ hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên
2. Thủ tục hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên
8
3. Hậu quả pháp lý của việc hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con
10
chưa thành niên
III. Hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên
1. Thực trạng giải quyết quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên
tại Tòa án
2. Nhận thức của cá nhân, cơ quan, tổ chức về hạn chế quyền của cha,
mẹ đối với con chưa thành niên
3. Cơ chế đảm bảo thực hiện quy định hạn chế quyền của cha, mẹ đối
với con chưa thành niên
IV. Một số giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật về hạn chế quyền
của cha, mẹ đối với con chưa thành niên
C. KẾT LUẬN
Danh mục tham khảo
1
11
11
12
13
A. LỜI MỞ ĐẦU
Ở Việt Nam, việc chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em là một trong những
truyền thống tốt đẹp, truyền thống này ngày càng được tôn trọng và phát huy. Việt
Nam đã xây dựng các văn bản pháp luật quy định về bảo vệ quyền trẻ em từ Hiến pháp
1992 và đã tiếp tục cụ thể hóa trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Bảo vệ trẻ
em và con chưa thành niên là một trong những nguyên tắc cơ bản của Luật, được cụ
thể hóa bằng những quy định về nghĩa vụ của các thành viên trong gia đình trong việc
chăm sóc, nuôi dưỡng hoặc cấp dưỡng cho con chưa thành niên.
Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn không ít người cha, người mẹ thực hiện việc chăm
sóc, bảo vệ và giáo dục con chủ yếu là dựa trên bản năng, thực sự chưa coi đó là nghĩa
vụ pháp lý. Do đó quyền trẻ em nói chung và quyền cảu con chưa thành niên nói riêng
chưa được bảo đảm một cách tốt nhất. Chính vì vậy, bên cạnh việc quy định nghĩa vụ
và quyền của cha, mẹ đối với con, pháp luật hiện nay còn quy định hạn chế quyền của
cha, mẹ đối với con chưa thành niên.
Nhằm góp phần hiểu rõ hơn về hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa
thành niên em xin trình bày đề tài: “Hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa
thành niên – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” trong bài tập lớn học kỳ của mình.
2
B. NỘI DUNG
I. Những vấn đề lý luận về hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành
niên
1. Khái niệm hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên
a, Quyền của cha mẹ
Quyền của cha, mẹ có những đặc điểm sau:
- Thứ nhất, quyền của cha, mẹ gắn với tư cách của cha, mẹ.
- Thứ hai, quyền của cha, mẹ không phải là một quyền đơn thuần mà bao gồm
nhiều quyền và luôn gắn với nghĩa vụ.
- Thứ ba, quyền của cha, mẹ được sử dụng trước hết vì lợi ích của con.
Qua phân tích trên, có thể hiểu quyền của cha, mẹ là: “Quyền của cha, mẹ là một
thuật ngữ pháp lý thể hiện tổng hợp các quyền và nghĩa vụ cảu cha, mẹ đối với nhân
thân và tài sản của con, được pháp luật quy định nhằm bảo đảm tối đa lợi ích của
con. Quyền và nghĩa vụ này gắn liền với nhân thân của cha, mẹ, không thể chuyển
giao cho người khác”
2. Quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên
Cha, mẹ luôn có quyền và nghĩa vụ như nhau đối với con. Quyền và nghĩa
vụ đó bao gồm: quyền và nghĩa vụ nhân thân, quyền và nghĩa vụ tài sản
- Thứ nhất, đối với con chưa thành niên, cha, mẹ có quyền quyết định chế độ
pháp lý về nhân thân của con.
- Thứ hai, cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền yêu thương, trông nom, chăm sóc, bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con.
- Thứ ba, cha mẹ có quyền và nghĩa vụ giáo dục con.
- Thứ tư, cha, mẹ có quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng con.
- Thứ năm, cha, mẹ có quyền quản lý tài sản riêng của con.
Như vậy, quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên thể hiện trong
các quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản. Cha ,mẹ thực hiện quyền của cha, mẹ
trên nguyên tắc trực tiếp, chủ động và tích cực. Đồng thời, cha, mẹ không được
phân biệt đối xử giữa con trai, con gái, con đẻ, con nuôi, con trong giá thú, con
ngoài giá thú. Cha, mẹ đối xử với các con là như nhau trên cơ sở chú ý tới đối
tuổi, giới tính, tâm lý của con mà thể hiện sự chăm sóc, yêu thương, nuôi dưỡng
cho phù hợp.
3. Hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên
3
Đặc diểm của hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên:
- Thứ nhất, hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên là một biện
pháp chế tài của Luật hôn nhân và gia đình.
- Thứ hai, hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên là một biện
pháp nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên.
- Thứ ba, hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên chỉ làm hạn
chế một số quyền của cha, mẹ chứ không làm chấm dứt mối quan hệ giữa cha, mẹ và
con.
Như vậy, “Hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên là
một biện pháp chế tài được thể hiện bằng quyết định của Tòa án khi cha, mẹ có
hành vi xâm phạm nghiêm trọng quyền lợi và lwoij ích hợp pháp của con chưa
thành niên khi cha, mẹ có lối sống đồi trụy hoặc xúi giục, ép buộc con làm việc
trái pháp luật, trái đạo đức xã hội. Quyết định hạn chế quyền của cha, mẹ đối
với con chưa thành niên không làm chấm dứt mối quan hệ giữa cha, mẹ thực
hiện một số quyền đối với con chưa thành niên trong một thời hạn nhất định.”
II. Hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên
1. Căn cứ hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên
Điều 41 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Khi cha, mẹ đã bị kết
án về một trong các tội cố ý xâm phạm sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con hoặc
có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục
con; phá tán tài sản của con; có lối sống đồi truỵ, xúi giục, ép buộc con làm những
việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội thì tuỳ từng trường hợp cụ thể Toà án có thể tự
mình hoặc theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại Điều 42 của Luật
này ra quyết định không cho cha, mẹ trông nom, chăm sóc, giáo dục con, quản lý tài
sản riêng của con hoặc đại diện theo pháp luật cho con trong thời hạn từ một năm đến
năm năm. Toà án có thể xem xét việc rút ngắn thời hạn này”. Có thể thấy, hạn chế
quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên là biện pháp chế tài đối với người cha,
người mẹ có hành vi vi phạm nghiêm trọng tới con chưa thành niên hoặc có lối sống
đồi trụy; hoặc xúi giục, ép buộc con làm việc trái pháp luật, đạo đức xã hội làm ảnh
hưởng nghiêm trọng đến con chưa thành niên. Theo quy định tại Điều 41 nêu trên, có
thể thấy tòa án ra quyết định hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên
dựa trên những căn cứ sau:
4
a, Cha, mẹ bị kết án trong các tội cố ý xâm phạm sức khỏe, nhân phẩm, danh
dự của con.
Cha, mẹ cố ý xâm phạm sức khỏe của con chưa thành niên là những hành vi cố
ý, có thể bằng hành động hoặc không hành động hoặc không hành động xâm phạm tới
quyền được tôn trọng và bảo vệ sức khỏe của con chưa thành niên. Hành vi của cha,
mẹ cố ý xâm phạm sức khỏe đối với con chưa thành niên có thể là: Hành hạ, ngược
đãi, đánh đập hoặc những hành vi khác gây tổn hại tới sức khỏe cho con chwua thành
niên. Theo quy định của Bộ luật hình sự hiện hành thì cha, mẹ có hành vi cố ý xâm
phạm sức khỏe của con có thể cấu thành những tội như: Tội cố ý gây thương tích cho
người khác (Điều 104, 105,106); tội hành hạ người khác (Điều 110); và tội ngược đãi
hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con cháu, người có công nuôi dưỡng mình
(Điều 151).
Cha, mẹ cố ý xâm phạm danh dự, nhân phẩm của con chưa thành niên là những
hành vi cố ý xâm phạm tới quyền được tôn trọng về danh dự, nhân phẩm của con chư
thành niên. Những hành vi đó có thể là: Lăng mạ, chửi mắng, mạt sát… là cho con xấu
hổ trước đám đông. Theo quy định củ Bộ luật hình sự hiện hành, khi cha, mẹ có hành
vi cố ý xâm phạm danh dự, nhân phẩm đối với con chưa thành niên có thể cấu thành
các tội như: Tội hiếp dâm trẻ em (Điều 111); tội cưỡng dâm trẻ em (Điều 114); tội giao
cấu với trẻ em (Điều 115); tội dâm ô với trẻ em (Điều 116); tôi mua bán, đánh tráo,
chiếm đoạt trẻ em (Điều 120), tội làm nhục người khác (Điều 121).
b, Cha, mẹ có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc,
nuôi dưỡng, giáo dục con.
Cha, mẹ vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trông nom, chăm sóc đối với con chưa
thành niên là việc cha, mẹ không quan tâm, quản lý con, không bảo vệ con một cách
tốt nhất, làm cho con chưa thành niên bị thiệt hại về sức khỏe, danh dự, nhân phẩm.
Cha, mẹ vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ chăm sóc, trông nom con được thể hiện dưới
những hình thức như cha, mẹ bỏ rơi con chưa thành niên; cha, mẹ bắt con lao động
sớm dẫn đến con rơi vào tình trạng bị lạm dụng và bị bóc lột sức lao động; cha, mẹ
thiếu sự quan tâm làm con bị tai nạn, thương tích…
c, Cha, mẹ có hành vi phá tài sản của con
Có thể hiểu, hành vi phá tài sản của con là hành vi cha, mẹ cố ý không bảo
quản, giữ gìn khối tài sản của con chu đáo, làm cho khối tài sản đó bị mất mát, hư
hỏng, giảm sút giá trị , hay bị tiêu hao. Được biểu hiện như; trường hợp cha, mẹ dùng
tài sản của con vào phục vụ cho mục đích riêng của mình mà không vì lợi ích, nhu cầu
5
của con, dung tài sản riêng của con để đánh bạc, ăn chơi, để người khác chiếm đợt tài
sản của con mà không bảo vệ khối tài sản đó,…
d, Cha, mẹ có lối sống đồi trụy
Khi cha, mẹ có lối sống đồi trụy, tức cha, mẹ có lối sống lệch lạc, có những
hành vi thiếu văn hóa, vi phạm đạo đức, vi phạm pháp luật. Khi đó, nếu con sống
chung với cha, mẹ sẽ tạo cho con có môi trường sống không lành mạnh, ảnh hưởng
xấu tới sự phát triển tâm sinh lý, nhân cách của con. Nếu cha, mẹ có lối sống lệch
chuẩn, rất dễ tạo cho con bị ảnh hưởng bởi chính đạo đức xuống cấp đó của cha, mẹ.
Khi đó con có thể có những suy nghĩ sai lầm, đạo đức xuống cấp. Nguy hiểm hơn, lối
sống không lành mạnh của cha, mẹ còn có thể dẫn tới những hành vi phạm tội của
con. Theo thống kê tội phạm học những năm gần đây, cho thấy số thanh thiếu niên vi
phạm pháp luật có nguồn gốc từ gia đình buôn bán, làm ăn bất hợp pháp chiếm
50.49%; gia đình có người phạm tội hình sự chiếm 45.6%. Trẻ em hư có nguồn gốc từ
gia đình không trong sạch, lành mạnh chiếm 86.6% (tamlyhoc.net, ngày 26/7/2007).
e, Cha, mẹ xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, đạo đức xã
hội
Cha, mẹ xúi giục, ép buộc con làm những việc trái pháp luật, đạo đức xã hội, đó
là việc cha, mẹ có hành vi, lời nói, thái độ thể hiện sự kích động, dụ dỗ, lừa phỉnh…
tác động tới ý chí, tư tưởng của con chưa thành niên, dẫn đến con co những hành vi vi
phạm pháp luật hoặc có những hành vi trái đạo đức xã hội. Hậu quả của việc xúi giục,
dụ dỗ này có thể làm cho con có hành vi phạm tội hay vi phạm pháp luật hành chính.
Theo thống kê tội phạm học thì cư 10 trẻ phạm tội thì có đến 3 trẻ có bố, mẹ hoặc cả
hai nghiện hút.Có trường hợp bố mẹ trực tiếp đẩy con ra đường, xúi giục con vi phạm
pháp luật khiến con bỏ nhà đi lang thang, trộm cắp. Theo số liệu của Viện kiểm sát
nhân dân thành phố Hà Nội, tỷ lệ người chưa thành niên có hành vi trộm cắp tài sản
đồng phạm với bố mẹ là 5% (tamlyhoc.net, ngày 19/10/2010).
2. Thủ tục hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên
a, Thẩm quyền giải quyết
Người có quyền yêu cầu tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa
thành niên:
- Cha, mẹ nười thân thích của con chưa thành niên
- Cơ quan bảo vệ trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ
b, Thủ tục giải quyêt yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành
niên
6
Thủ tục giải quyết yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ với con chưa thành niên
bao gồm:
Tòa án có thể tự mình ra quyết định hạn chế quyền của cha, mẹ với con chưa
thành niên khi ra các bản án đối với cha. Mẹ về các tội xâm phạm sức khỏe, nhân
phẩm, danh dự của con được quy định tại Điều 41 Luật hôn nhân và gia đình năm
2000 theo thủ tục Tố tụng dân sự.
Khi thấy có dấu hiệu được quy định tại Điều 41 Luật hôn nhân và gia đình năm
2000 thì người có quyền yêu cầu tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cha, mẹ của con
chưa thành niên cư trú, làm việc.
Khi nhận được đơn yêu cầu của người có quyền yêu cầu, Tòa án kiểm tra đơn
yêu cầu cả về nội dung lẫn hình thức, khi đơn đủ điều kiện để thụ lý thì Tòa án ra
quyết định thụ lý đơn yêu cầu.
Phiên họp giải quyết yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ với con chưa thành
niên quy định tại Điều 314 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004.
Những người yêu cầu, người lien quan có quyền kháng cáo các quyết định của
mình, Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên có quyền kháng nghị quyết
định hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên theo Bộ luật Tố tụng dân
sự.
3. Hậu quả pháp lý của việc hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành
niên
-
Người cha, mẹ bị hạn chế quyền đối với con chưa thành
niên không được trông nom, chăm sóc, giáo dục, quản lý tài sản riêng cho con
và đại diện theo pháp luật đối với người con đó.
Người bị hạn chế quyền đối với con chưa thành niên vẫn
phải thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng đối với con.
Cha, mẹ bị hạn chế một số quyền đối với con chưa thành
niên trong một thời gian nhất định.
III. Thực trạng áp dụng pháp luật và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về
hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên
1. Thực trạng giải quyết hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành
niên
Theo quy định của pháp luật thì yêu cầu hạn chế quyền cha, mẹ đối với
con chưa thành niên là một việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
7
nhân dân cấp huyện và giải quyết theo Điều 42 Luật hôn nhân và gia đình năm
2000
Hàng trăm vụ việc về hôn nhân và gia đình mà Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm
giải quyết hàng năm là rất lớn, tuy nhiên không có vụ việc nào giải quyết về vấn đề
này. Theo thống kê của tòa án nhân dân huyện Thanh Miện (Hải Dương), năm 2010 có
thụ lý và giải quyết 107 vụ việc về hôn nhân gia đình, thì chủ yếu là về ly hôn (có 40
vụ ly hôn, 60 việc công nhận thuận tình ly hôn, 7 việc về hôn nhân gia đình khác
nhưng không có một việc yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành
niên).
Trong hơn 11 năm kể từ khi luật hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực tìm
hiểu thực tế cho thấy số vụ Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành
niên còn rất hạn chế mặc dù tình trạng cha, mẹ có lối sống đồi trụy là tương đối nhiều.
Thậm chí còn có nhiều vụ án mà Tòa án xét xử về hình sự khi cha, mẹ có hành vi
phạm tội đối với con chưa thanh niên nhưng Tòa án lại không ra quyết định hạn chế
quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.
Ví dụ: Các phương tiện truyền thông trước đó cũng đã từng đưa tin về vụ người
cha mất hết nhân tính Lê Khắc Tự (SN 1971, ngụ Thôn 8, xã Long Hưng, huyện Bù
Gia Mập, tỉnh Bình Phước) hiếp dâm con gái ruột của hắn là em L.T.P (SN 1995).
Vụ việc kinh hoàng xảy ra từ tháng 6/2006 và ngay tại phòng riêng của em P một cách
đều đặn cho đến khi hắn bị bắt vào tháng 9/2010. Đáng trách hơn, người mẹ của P.- bà
L. - khi biết vụ việc đã không báo chính quyền vì sợ gia đình tan vỡ. Cho đến khi
không thể chịu đựng được sự hành hạ về thể xác lẫn tinh thần của chính cha ruột mình,
P đã tố giác lên Công an xã Long Hưng.
Cũng tang thương không kém khi đầu tháng 2/2011, TAND Tối cao tại TPHCM
đã tuyên án 20 năm tù đối với bị cáo Nguyễn Đình Thế Phong về tội hiếp dâm trẻ em,
mà cụ thể là chính con gái ruột 11 tuổi.
Theo các trạng, tối 1/1/2010, đi nhậu về, Nguyễn Đình Thế Phong (41 tuổi, ngụ
Đồng Nai), thấy con gái mình là cháu N.T.T.T. (11 tuổi) đang ngồi xem tivi, Phong
bảo cháu T. tắt tivi vào buồng đi ngủ. Vợ chưa đi làm về nên Phong đã mon men vào
buồng giở trò loạn luân.
Sự việc bại lộ, vợ chồng Phong ly hôn, Phong trốn khỏi nơi cư trú và ra đầu thú
10 ngày sau đó. Ngoài sự việc nói trên, Phong khai thêm đã 3 lần quan hệ với con gái
mình khi em T. mới được 10 tuổi.
8
Hành vi hiếp dâm bị coi là đồi bại, nhưng càng bỉ ổi hơn khi chính người cha lại
làm việc này với con đẻ của mình. Tuy nhiên, Tòa án lại không hề xử những người cha
đồi bại này vào hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên mà chỉ xử đơn
thuần theo Bộ luật hình sự về tội Hiếp dâm trẻ em mà thôi.
Bên cạnh đó, hện tượng trẻ em trong độ tuổi vị thành niên vi phạm pháp luật ở
mức báo động, một trong những nguyên nhân chính của hiện tượng này là sự thiếu
quan tâm, chăm sóc, giáo dục của cha, mẹ. Theo số liệu điều tra của Bộ công an chỉ ra
nguyên nhân phạm tội của trẻ vị thành niên xuất phát từ gia đình: 8% trẻ phạm tội do
có bố, mẹ ly hôn, 28%phàn nàn bố, mẹ không đáp ững đủ yêu cầu của các em, 49%
phàn nàn về cách đối xử của bố, mẹ. Cũng theo số liệu điều tra trê……….
Trên đây là những con số khiến ai cũng phải suy nghĩ lại vè cách giáo dục con
cái của cha, mẹ. Nguyên nhân con chưa thành niên phạm tội phần lớn do xuất phát từ
cha, mẹ. Tuy nhiên, khi xét xử các vụ án mà trẻ chưa vi thành niên phạm tội, Tòa án
không hề đề cập, phân tích lỗi của cha, mẹ trong đó.
Trong thực tế, cũng có một số vụ án mà cha, mẹ có hành vi xâm phạm sức khỏe,
danh dự, nhân phẩm của con bên cạnh việc tuyên về trách nhệm hình sự thì cũng đã có
tuyên việc hạn chế quyền của cha, mẹ. Nhưng Tòa án chưa thực sự hiểu rõ bản chất
của việc hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên nên trong bản án còn
có thể chưa chính xác. Ví dụ: vụ án vào tháng 9 năm 2008 của bé Nguyễn Thị Hảo ở
huyện Phước Long tỉnh Bình Phước đã bị mẹ ruột là bà Nguyễn Thị Mỳ có hành vi
bạo hành dã man khi bà dung dao cắt vào chân con để bi thương nặng mà không
mang con đi bệnh viện. Không chỉ vậy mà trên người bé Hảo còn có nhiều vết thương
cũ khác. Theo kết quả giám định cho thấy,bé Hảo bị thương tật tổng cộng 40% trong
đó hai vết thương mà bà Mỳ gây ra là 24%. Tuy nhiên, ngày 6/5/2009 Tòa án chỉ xử
bà Mỳ 2 năm tù và tuyên phạt hạn chế quyền nuôi dưỡng bé Nguyễn Thị Hảo trong
vòng năm năm sau khi ra tù. (phapluattp.vn)
Đây là một trong những vụ án hiếm hoi mà Tòa án xử hahn chế quyền của cha,
mẹ đối với con chưa thành niên với hình phạt là hạn chế nuôi dưỡng trong vòng năm
năm sau khi ra tù. Tuy nhiên, theo Điều 43 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì bà
Mỳ vẫn có nghĩa vụ phải nuôi dưỡng bé Hảo, chỉ hạn chế quyền đối với bà Mỳ trong
phạm vi không được chăm sóc, trông nom, giáo dục, quản lý tài sản riêng và đại diện
theo pháp luật.
9
Như vậy, Tòa án áp dụng quy định hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa
thành niên chưa có hiệu quả, số lượng trường hợp Tòa án tự ra quyết định khi cha, mẹ
có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ đối với con chưa thành niên mà được Tòa
án xét xử khi có đủ dấu hiệu khi cấu thành tội phạm, cũng như số lượng việc hạn chế
quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên mà Tòa án giair quyết theo yêu cầu
cung không nhiều, thậm chí có những Tòa án chưa bao giờ giải quyết.
4. Nhận thức của cá nhân, cơ quan, tổ chức về hạn chế quyền của cha, mẹ đối
với con chưa thành niên
- Cha, mẹ hoặc người thân thích của con chưa thành niên chưa thực hiện quyền
yêu cầu Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ
- Các cơ quan chức năng, tổ chức xã hội như Hội liên hiệp phụ nữ, cơ quan bảo
vệ, chăm sóc trẻ em chưa nhận thức đúng quy định hạn chế quyền của cha, mẹ đối với
con chưa thành niên.
2. Cơ chế đảm bảo thực hiện quy định hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con
chưa thành niên
Những quy định của pháp luật được thực thi có hiệu quả trong tực tiễn khi có
những cơ chế thực hiện tốt. Tuy nhiên ở Việt nam hiện nay còn thiếu những điều kiện
để áp dụng quy định hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên
Thứ nhất, thiếu điều kiện về vật chất để áp dụng quy định này
Thứ hai, ở Việt Nam còn thiếu và yếu về tổ chức, tuyên truyền cho người
trong độ tuổi chưa thành niên biết về những hành vi vi phạm pháp luật của cha,
mẹ và các em được bảo vệ trước những hành vi đó.
IV. Một số giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật về hạn chế quyền của
cha, mẹ đối với con chưa thành niên
Quy định về hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên trong Luật
hôn nhân và gia đình năm 2000 tạo cơ sơ pháp lý để giải quyết yêu cầu hạn chế quyền
của cha, mẹ đối với con chưa thành niên . Qua đó, bảo vệ một cách tốt nhát quyền lợi
của con chưa thành niên trong mối quan hệ với cha, mẹ. Trong điều kiện kinh tế, xã
hội hiện nay thì yêu cầu đặt ra là cần có những quy định về hạn chế quyền của cha, mẹ
10
đối với con chưa thành niên hoàn thiện hơn. Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy
định về hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên còn thiếu cụ thể, có
những khiếm khuyết hoặc chưa thống nhất với một số quy định trong những văn bản
luật khác. Do vậy, đã gây khó khăn cho quá trình áp dụng trong thực tiễn, ảnh hưởng
tới hiệu quả điều chỉnh của những quy định này. Để khắc phục vấn đề này, cần có
những sửa đổi, bổ sung, hướng dẫn cụ thể một số quy định hạn chế quyền của cha, mẹ
đối với con chưa thành niên. Trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật liên
quan tới việc hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên của cha, mẹ đối
con chưa thành niên, sau đây xi đưa ra một số giải pháp:
Thứ nhất, cần tuyên truyền cho người dân thêm hiểu biết về hạn chế
quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.
Thứ hai, tăng mức chế tài, xử phạt đối với các hành vi về hạn chế quyền
của cha, mẹ đối với con chưa thành niên
Thứ ba, bổ sung thêm các điều khoản và xác định rõ sự vi phạm của cha,
mẹ trong hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên trong Luật
hôn nhân và gia đình năm 2000. Ví dụ:
Điều 41 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 nên quy định hạn chế quyền của
bố dượng, mẹ kế sống chung với con riêng chưa thành niên mà có hành vi xâm phạm
quyền lợi của con chưa thành niên hoặc có lối sống đồi trụy.
Ngoài ra, cũng cần phải quy định thêm trường hợp cha, mẹ thường xuyên say
rượu hoặc sử dụng các chất kích thích khác thì cũng bị hạn chế quyền của cha, mẹ đối
với con chưa thành niên. Bổ sung về việc Tòa án xem xét, rút ngắn thời hạn hạn chế
quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.
Thứ tư, Cần hướng dẫn cụ thể hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa
thành niên.
Thứ năm, bổ sung quy định về thủ tục giải quyết dân sự trong Bộ luật tố tụng
dân sự.
11
V. KẾT LUẬN
Hạn chế quyền của cha, mẹ với con chưa thành niên tuy đã được quy định trong
pháp luật nước ta từ lâu nhưng việc thực hiện nó còn có nhiều bất cập, đòi hỏi các nhà
chức trách có thẩm quyền cần phải có những biện pháp hợp lý.
Trên đây là những trình bày cơ bản của em về đề tài: “Hạn chế quyền của cha,
mẹ đối với con chưa thành niên – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”. Bài làm còn
có nhiều sai sót mong thầy cô góp ý để bài của em hoàn thiện hơn.
12
Danh mục tài liệu tham khảo
1.
2.
3.
4.
Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, Đại học Luật Hà Nội.
Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.
Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, Đại học Huế.
Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về Luật hôn nhân và gia đình năm 2000,
Luật sự - Thạc sĩ Nguyễn Văn Cừ - Thạc sĩ Ngô Thi Hường, NXB. Chính trị
5.
6.
Quốc gia.
/> />
13