Lời mở đầu
Cùng với sự phát triển của xã hội, nhu cầu của con người ngày càng được nâng
cao. Rất nhiều các loại hàng hóa mới ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Một sản phẩm mới được sản xuất và tung ra thị trường khi nó cần phải đáp ứng được
nhu cầu thường xuyên thay đổi của khách hàng và với những tiến bộ trong công nghệ
có sức canh tranh và đảm bảo mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp đã
và đang sản xuất những mặt hàng có chất lượng cao, được thị trường chấp nhận.Và
Doanh nghiệp muốn được cấp một “ căn cước” cho hàng hoá của mình dễ dàng vào
các siêu thị. Trong giao lưu thương mại quốc tế, doanh nghiệp muốn tránh được hiện
tượng gian lận thương mại, bảo vệ quyền lợi cho người tiêu dùng và sản phẩm hàng
hóa có thể lưu thông trôi nổi toàn cầu mà vẫn biết được lai lịch nguồn gốc của nó cũng
như đảm bảo độ chính xác về giá cả và thời gian giao dịch rất nhanh. Góp phần bảo vệ
nhãn hiệu, thương hiệu của mình. Câu trả lời chính là mã số và mã vạch hàng hóa.
1
MỤC LỤC
2
CHƯƠNG 1: TÌM HIỂU VỀ MÃ SỐ, MÃ VẠCH
1.1
Khái niệm.
1.1.1. Mã số.
Mã số hàng hóa là ký hiệu bằng một dãy số nguyên thể hiện như một thẻ để chứng
minh hàng hóa về xuất sứ sản xuẩt, lưu thông của nhà sản xuẩt trên một quốc gia này
tới các thị trường trong nước hay một vùng hoặc quốc gia khác. Bởi vậy, mỗi hàng
hóa sẽ được in vào một mã số duy nhất.
Đây là sự phân biệt sản phẩm hàng hóa trên từng quốc gia, vùng khác nhau, tương tự
như số điện thoại có mã vùng khác nhau để liên lạc nhanh chóng, không nhầm lẫn
1.1.2. Mã vạch.
Mã vạch là hình ảnh tập hợp các ký hiệu các vạch (đậm, nhạt, dài, ngắn) thành nhóm
vạch để mã hóa mã số hoặc thông tin liên quan khác về sản phẩm. Ngày nay mã vạch
còn được in theo các mẫu của các điểm, theo các vòng tròn đồng tâm hay chúng ẩn
trong các hình ảnh. Mã vạch thường khó có thể đọc được bằng mắt thường mà được
đọc bởi các thiết bị quét quang học gọi là máy đọc mã vạch hay được quét từ hình ảnh
bằng các phần mềm chuyên biệt.
1.1.3. Cấu tạo chung của mã số mã vạch.
Để tạo thuận lợi và nâng cao năng suất, hiệu quả trong bán hàng và quản lý kho người
ta thường in trên hàng hoá mã số mã vạch của sản phẩm. Mã số mã vạch bao gồm hai
phần: mã số và phần thể hiện mã số bằng mã vạch để máy có thể đọc được.
3
Mã số mã vạch của hàng hoá bao gồm hai phần: mã số của hàng hoá và mã vạch là
phần thể hiện mã số bằng vạch để cho máy đọc. Mã số của hàng hoá là một dãy con số
dùng để phân định hàng hoá, áp dụng trong quá trình luân chuyển hàng hoá từ người
sản xuất, qua bán buôn, lưu kho, phân phối, bán lẻ tới người tiêu dùng. Nếu thẻ căn
cước giúp ta phân biệt người này với người khác thì mã số hàng hoá là “thẻ căn cước”
của hàng hoá, giúp ta phân biệt được nhanh chóng và chính xác các loại hàng hoá
khác nhau.
1.1.4. Lịch sử phát triển của mã vạch.
Ý tưởng về mã vạch được phát triển bởi Norman Joseph Woodland và Bernard
Silver. Năm 1948 khi đang là sinh viên ở trường Đại học tổng hợp Drexel, họ đã
phát triển ý tưởng này sau khi được biết mong ước của một vị chủ tịch của một
công ty buôn bán đồ ăn là làm sao để có thể tự động kiểm tra toàn bộ quy trình.
Một trong những ý tưởng đầu tiên của họ là sử dụng mã Morse để in những
vạch rộng hay hẹp thẳng đứng. Sau đó, họ chuyển sang sử dụng dạng "đi ểm
đen" của mã vạch với các vòng tròn đồng tâm. Họ đã gửi đến cơ quan quản lý
sáng chế Mỹ 2,612,994 ngày 20 tháng 10 năm 1949 công trình Classifying
Apparatus and Method (Thiết bị và phương pháp phân loại) để lấy bằng sáng
chế. Bằng sáng chế đã được phát hành ngày 7 tháng 10 năm 1952.
Thiết bị đọc mã vạch đầu tiên được thiết kế và xây dựng bởi Woodland (khi đó
đang làm việc cho IBM) và Silver năm 1952. Nó bao gồm một đèn dây
tóc 500 W và một ống chân không nhân quang tử được sản xuất bởi RCA cho
các phim có âm thanh (nó để in theo phương pháp quang học lên trên phim).
Thiết bị này đã không được áp dụng trong thực tế: để có dòng điện đo được
bằng các nghiệm dao động (oscilloscope) thì đèn công suất 500 W gần như đã
làm cháy giấy có mẫu mã vạch đầu tiên của họ. Nó đã không được sản xu ất đại
trà. Năm 1962 họ bán sáng chế này cho công ty Philips, sau đó Philips lại bán nó
cho RCA. Phát minh ra tia laser năm 1960 đã làm cho các thiết bị đọc mã vạch trở
nên rẻ tiền hơn, và sự phát triển của mạch bán dẫn (IC) làm cho việc giải mã
các tín hiệu thu được từ mã vạch có ý nghĩa thực tiễn. Đáng ti ếc là Silver đã ch ết
năm 1963 ở 38 tuổi trước khi có bất kỳ những gì thực tiễn thu được từ sáng chế
này.
Năm 1972, cửa hàng Kroger ở Cincinnati thử nghiệm việc sử dụng đầu đọc mã
vạch điểm đen, với sự trợ giúp của RCA. Không may là các mã vạch đi ểm đen rất
dễ nhòe khi in, và thử nghiệm đã không thu được thành công nào đáng k ể. Cùng
thời gian đó, Woodland ở IBM đã phát triển mã vạch tuyến tính được chấp nhận
vào ngày 3 tháng 4 năm 1973 như là Mã sản phẩm chung(tiếng Anh: Universal
Product Code, hay UPC). Vào ngày 26 tháng 6 năm 1974, sản phẩm bán lẻ đầu
tiên (gói 10 thanh kẹo cao su Juicy Fruit của Wrigley) đã được bán bằng cách sử
4
dụng đầu đọc mã vạch tại siêu thị Marsh ở Troy, Ohio. (Gói kẹo cao su này hiện
nay nằm trong Viện bảo tàng quốc gia Hoa Kỳ ở Smithsonian.)
Năm 1992, Woodland đã được trao tặng giải thưởng Huy chương công nghệ
quốc gia bởi Tổng thống George H. W. Bush.
Năm 2004, Nanosys Inc. sản xuất mã vạch nano (nanobarcode) - sợi dây kích
thước nano (10−9 m) chứa các phần khác nhau của Si và GexSi1-x.
1.2.
Tìm hiểu các loại ma sô, ma vạch.
Trong thực tế, mã vạch có nhiều dạng khác nhau. Tùy theo dung lượng thông tin, dạng
thức thông tin được mã hóa cũng như mục đích sử dụng mà người ta chia ra làm rất
nhiều lọai, trong đó các dạng thông dụng trên thị trường mà ta thấy gồm UPC, EAN,
Code 39, Interleaved 2of 5, Codabar và Code 128. Ngoài ra, trong 1 số loại mã vạch
người ta còn phát triển làm nhiều Version khác nhau, có mục đích sử dụng khác nhau,
thí dụ UPC có các version là UPC-A, UPC-B, UPC-C, UPC-D và UPC-E; EAN có
các version EAN-8, EAN-13, EAN-14, Code 128 gồm Code 128 Auto, Code 128-A,
Code 128-B, Code 128-C,…
Dựa theo đặc điểm của các loại mã vạch, người ta chia mã vạch thành các dạng sau:
1.2.1. Mã vạch tuyến tính
Đây là những thế hệ đầu tiên của mã vạch và được xây dựng bằng các đường thẳng có
kích thước và khoảng cách khác nhau. Các loại mã vạch tuyến tính phổ biến như:
UPC ( bao gồm UPC-A, UPC-B, UPC-C, UPC-D và UPC-E,…) , EAN ( có các phiên
bản EAN-8, EAN-13, EAN-14, Code 128 gồm Code 128 Auto, Code 128-A, Code
128-B, Code 128-C,…), postnet, postbar, CPC Binary,…
Trong bài viết này chúng ta sẽ chỉ tìm hiểu về các loại mã vạch phổ biến là UPC, EAN
– 13, EAN – 8
2.1.1.1. UPC (Universal Product Code).
UPC là 1 lọai ký hiệu mã hóa số được ngành công nghiệp thực phẩm ứng dụng vào
năm 1973. Ngành công nghiệp thực phẩm đã phát triển hệ thống này nhằm gán mã số
không trùng lặp cho từng sản phẩm. Người ta sử dụng UPC như “giấy phép bằng số”
cho các sản phẩm riêng lẽ.
UPC gồm có 2 phần: phần mã vạch mà máy có thể đọc được và phần số mà con người
có thể đọc được.
Số của UPC gồm 12 ký số, không bao gồm ký tự. Đó là các mã số dùng để nhận diện
mỗi một sản phẩm tiêu dùng riêng biệt
5
Nhìn ký hiệu UPC như hình bên ta thấy tổng cộng gồm 12 ký số:
Ký số thứ 1: Ở đây là số 0, gọi là ký số hệ thống số (number system digit) hoặc còn
gọi là “Family code”. Nó nằm trong phạm vi của 7 con số định rõ ý nghĩa và chủng
lọai của sản phẩm như sau:
*5*4*3*2* 0, 6, 7 xuất.
Coupons: Phiếu lĩnh hàng hóa
Dành cho người bán lẽ sử dụng
Thuốc và các mặt hàng có liên quan đến y tế.
Các món hàng nặng tự nhiên như thịt và nông sản.
Gán cho tất cả các mặt hàng khác như là một phần nhận diện của nhà sản
Năm ký số thứ 2: Trong mẫu này, tượng trưng là 12345, ám chỉ mã người bán
(Vendor Code), mã doanh nghiệp hay mã của nhà sản xuất (Manufacturer code). Ở
Hoa kỳ, mã này được cấp bởi hiệp hội UCC (The Uniform Code Council) và mã được
cấp cho người bán hoặc nhà sản xuất là độc nhất. Như vậy khi hàng hóa lưu thông trên
thị trường bằng mã UPC thì chỉ cần biết được 5 ký số này là có thể biết được xuất xứ
của hàng hóa.
Năm ký số kế tiếp: Dành cho người bán gán cho sản phẩm của họ. Người bán tự tạo
ra 5 ký số này theo ý riêng của mình để mã hóa cho sản phẩm .
Ký số cuối cùng: Ở đây là số 5, là ký số kiểm tra, xác nhận tính chính xác của tòan bộ
số UPC
UPC được phát triển thành nhiều phiên bản (version) như UPC-A, UPC-B, UPC-C,
UPC-D và UPC-E trong đó UPC-A được coi như phiên bản chuẩn của UPC, các phiên
bản còn lại được phát triển theo những yêu cầu đặc biệt của ngành công nghiệp.
Mã UPC vẫn còn đang sử dụng ở Hoa Kỳ và Bắc Mỹ
2.1.1.2. EAN (European Article Number).
EAN là bước phát triển kế tiếp của UPC. Hai dạng mã vạch chính được sử dụng rộng
rãi trên thế giới là EAN-13 và EAN – 8.
EAN – 13 là một loại mã vạch thuộc quyền quản lý của hệ thống đánh số sản phẩm
châu Âu. Về cách mã hóa nó cũng giống hệt như UPC nhưng về dung lượng nó gồm
6
13 ký số trong đó 2 hoặc 3 ký số đầu tiên là ký số “mốc”, dùng để biểu thị cho nước
xuất xứ. Các ký số này chính là “mã quốc gia” của sản phẩm được cấp bởi Tổ chức
EAN quốc tế (EAN International Organization)
EAN này được gọi là EAN-13 để phân biệt với phiên bản EAN-8 sau này gồm 8 ký
số.
∗
Theo ký hiệu EAN-13 như hình vẽ phía trên, có thể phân chia như sau:
∗
Ba chữ số đầu tiên là mã quốc gia (vùng lãnh thổ): 893 - Mã quốc gia Việt Nam
∗
Chín số tiếp theo là mã số hàng hóa: 123456789 - 9 ký số này được phân
chia làm 2 cụm: cụm mã nhà sản xuất có thể 4, 5 hoặc 6 ký số tùy theo được
cấp, cụm còn lại là mã mặt hàng.
∗
Số đứng cuối cùng : 7 - Mã kiểm tra tính chính xác của tòan bộ số EAN.
EAN – 8
EAN – 8 hay EAN.UCC – 8 là phiên bản EAN tương đương của UPC-E với mục
đích là cung cấp mã vạch có chiều rộng ngắn để sử dụng trên các loại bao bì nhỏ như
vỏ bao thuốc lá chẳng hạn.
EAN – bao gồm 8 chữ số:
Trong đó:
7
∗
Mã số quốc gia: gồm 3 chữ số đầu tiên (bên trái).
∗
Mã số hàng hóa: gồm 4 chữ số tiếp theo.
∗
Mã số kiểm tra: gồm 1 chữ số cuối cùng.
EAN có một biến thể khác của nó là JAN (Japaneses Artical Numbering), thực chất là
EAN của người Nhật với mã quốc gia là 49.
Vì EAN phát triển với mã quốc gia nên nó được sử dụng trên những sản phẩm lưu
thông trên tòan cầu. Các tiêu chuẩn của EAN do Tổ chức EAN quốc tế quản lý. Ở Việt
Nam, các doanh nghiệp muốn sử dụng được mã EAN trên sản phẩm của mình, phải là
thành viên của Tổ chức Mã Số Mã Vạch Việt Nam, gọi tắt là EAN Việt Nam, để được
cấp mã số doanh nghiệp.
Mã vạch 2D (mã vạch hai chiều).
Mã vạch 2D, nó cũng có những phiên bản gần giống mã vạch 1 chiều (mã vạch tuyến
tính) nhưng lại thể hiện nhiều thông tin hơn. Người dùng mã vạch ngày càng quan
tâm đến mã vạch 2 chiều (2D Barcode) vì nhận ra những đặc tính độc đáo của nó
không có mặt trong các ký hiệu tuyến tính truyền thống. Ký hiệu 2 chiều nhằm vào ba
ứng dụng chính:
Sử dụng trên các món hàng nhỏ: Nếu in mã vạch tuyến tính, tức là các lọai
mã vạch 1D thông dụng, trên các món hàng nhỏ thì thường gặp trở ngại về
kích thước của mã vạch vẫn còn quá lớn so với các món hàng cực nhỏ. Với
sự phát triển của mã vạch 2 chiều người ta có thể in mã vạch nhỏ đến mức
có thể đặt ngay trên món hàng có kích thước rất nhỏ.
Nội dung thông tin: Công nghệ 2 chiều cho phép mã hóa 1 lượng lớn thông
tin trong một diện tích nhỏ hẹp. Cả lượng thông tin lưu trong cùng một ký
hiệu mã vạch 2D có thể coi như là 1 file dữ liệu nhỏ gọn (trong ngành gọi là
PDF - Portable Data File). Do đó khi sử dụng lọai mã 2D, có thể không cần
đến CSDL bên trong máy vi tính.
Quét tầm xa: Khi sử dụng các ký hiệu 2D, máy in không đòi hỏi in ở độ
phân giải cao mà có thể in ở độ phân giải thấp vì trong ký hiệu 2D, các
mảng điểm (pixel) hoặc các vạch (bar) rất lớn. Điều này dẫn đến việc cho
phép quét mã vạch 2D ở 1 khỏang cách xa lên đến 50 feet (khoảng 15m)
Các ký hiệu barcode 2D có thể được chia làm 2 loại:
Loại mã xếp chồng (Stacked Codes): như Code 16K, Code 49, PDF-417
8
Code 16K
PDF417
Code 49
(Với 2 “chồng” lưu trữ được 14 ký số) (18 digits cho 1 kích thước rất nhỏ) (2
“chồng lưu được 15 digits)
Loại mã ma trận (Matrix Codes): như Data Matrix, Maxicode,Softstrip,
Vericode, …..
Với Data Matrix như thế này đây, khi giải mã các bạn sẽ được một đoạn văn
như sau:
” Cac ban co tin la toi co the viet 1 quyen truyen bang ma vach khong? ”
Thật kinh khủng nếu ai đó viết 1 quyển truyện bằng mã vạch, lúc đó mỗi câu
văn hoặc mỗi đoạn văn sẽ là ….. 1 mã ma trận. Với sự phát triển của mã ma
trận, ta thấy rằng ngành mã vạch đã thực sự phát triển theo một hướng khác:
Cơ sở dữ liệu. Một ngày nào đó, bạn sẽ có trong tay một chiếc đĩa mềm, hoặc
Flashdisk trong đó chỉ toàn là các mã ma trận lưu trữ danh sách của các VIP mà
không sợ bị các Hacker bẻ khoá. Vì chỉ có máy quét mới có thể “bẻ khoá” được
mã vạch, hơn nữa không phải máy quét nào cũng đọc được mã ma trận.
1.3.
Tạo một mã vạch.
Mã vạch được in trên phần mềm và máy in trong các ứng dụng văn phòng như
MS Word hay Execl , mã vạch là một loại Font đặc biệt có thể chèn được văn
bản nếu bạn biết cách. Trong CorelDraw cũng có chức năng chèn mã vạch
nhưng nói chung các loại phần mềm thông dụng, việc chèn mã vạch chỉ là
công việc “ phụ thêm’’ chứ không chuyên nghiệp. Các loại mã vạch của sán
phẩm này rất hạn chế, không có các tiện ích để xử lý.
Mã vạch có thể in trực tiếp lên bao bì của sản phẩm hoặc in lên nhãn và dán
lên sản phẩm. Trường hợp in trực tiếp lên bai bì thì không có gì để nói vì lúc
đó mã vạch sẽ được in bằng công nghệ bao bì ( thường là Offset) . Nhưng
điểm quan trọng nhất cần phải nhấn mạnh là đa số các trường hợp mã vạch
được in lên nhãn và dán .
9
1.4
Mã vạch có thể được in trực tiếp lên bao bì của sản phẩm hoặc in lên nhãn và
dán lên sản phẩm. Trường hợp in trực tiếp lên bao bì thì không có gì để nói vì
lúc đó mã vạch sẽ là 1 phần trong kiểu dáng nói chung của bao bì sản phẩm
nó sẽ được in bằng công nghệ in bao bì (thường gọi là Offset). Nhưng điểm
quan trọng nhất phải nhấn mạnh là cần phải nhấn mạnh là các đa số trường
hợp mã vạch được in lên nhãn và dán lên sản phẩm, thường được in với số
lượng rất nhiều theo sản phẩm sản xuất, do đó cần phải có các máy in chuyên
dụng mới đảm trách nổi công việc này. Mà mỗi khi có máy in chuyên nghiệp
thì tất nhiên phải có phần mềm chuyên nghiệp “ nhúng tay vào” thì tất yếu
phải có phần mềm chuyên nghiệp kèm theo để có thể tận dụng được những
đặc tính của máy in chuyên nghiệp đó.
Trong chuyên ngành in mã vạch người ta sử dụng hai công cụ sau đây để tạo
ra mã vạch trên nhãn:
Máy in nhãn (Label Printer): là loại máy in chuyên dùng để tạo nhãn cho các
sản phẩm các loại máy in nfay đặc biệt hỗ trợ việc in mã vạch với quy mô
chuyên nghiệp. Các loại máy in không nhãn dùng công nghệ in Laser hay in
phun in kim mà không dùng công nghệ in tựa như máy Fax.
Các “đại gia” chuyên ngành về máy in gồm có các hang như : Zebra, Sato,
Avery, Argox, Intermec, Datamax … vốn còn dặt dè chưa thấy xuất hiện chính
thức tại Việt Nam trong khi thị trường mã vạch Việt Nam là một thị trường
còn bỡ ngỡ rất lớn vì chưa được quan tâm đúng mức.
Phần mềm in nhãn: thường các hãng sản xuất máy in đều có phần mềm in
nhãn và driver của máy in nhãn kèm theo trong một đĩa CD. Phần mềm in
nhãn do hang cung cấp kèm theo máy thường hỗ trợ tiện ích cho máy tuy
nhiên cũng có một số phần mềm in nhãn do các hang khác sản xuất có thể
dùng chung cho nhiều loại máy. Sự khác nhau giữa các phần mềm in nhãn là
mức độ hỗ trợ các tiện ích, các driver và các loại barcode.
Cách đọc mã vạch.
Để đọc được các ký hiệu mã vạch người ta dùng một loại thiết bị gọi là máy quét mã
vạch (barcode scanner), thực chất chính là một loại đầu đọc quang học dùng chùm tia
sáng hoặc tia laser. Nhiều người có ý tưởng là “viết một phần mềm để đọc mã vạch”
nhưng tôi khuyên bạn không cần phải làm thế vì ngay trong máy barcode scanner đã
có một phần mềm dưới dạng Firmware dùng để đọc đủ loại mã vạch. Nếu bạn thực sự
muốn viết một phần mềm để đọc mã vạch thì trước hết bạn phải mua cho được một
máy quét dùng cổng COM thường là loại máy quét không có bộ giải mã bên trong.
Khi nhìn vào một ký hiệu mã vạch trên 1 món hàng, có khi ta thấy 1 dãy số nằm ngay
bên dưới ký hiệu mã vạch đó nhưng cũng có khi không có gì cả. Dãy số này chính là
10
mã số mà ký hiệu mã vạch đã mã hoá. Vấn đề có mã số hay không có mã số là do
phần mềm in mã vạch tạo ra giúp cho con người có thể nhận dạng được bằng mắt
thường, nó chỉ quan trọng đối với con người chứ không quan trọng đối với máy vì
máy không hiểu được các con số này mà chỉ có thể đọc được chính bản thân các ký
hiệu mã vạch. Do đó, để máy quét có thể đọc được mã vạch tốt thì khi in ra, ký hiệu
mã vạch phải rõ ràng, không mất nét, các vạch phải thẳng đứng không biến dạng.
Mã vạch sau khi quét sẽ được giải mã bằng 1 phần mềm để cho ra mã s ố ban
đầu. Tùy theo công nghệ đang dùng và tùy theo loại máy quét, máy đ ọc mà ph ần
mềm giải mã có thể là 1 phần mềm dưới dạng Firmware nằm ngay trong máy
quét và có thể được hiển thị bằng các file văn bản thông thường như Notepad,
Wordpad, hay là 1 phần mềm chuyên dụng kèm theo thiết bị hoặc do người sử
dụng viết chương trình ứng dụng.
1.4. Lợi ích của việc ứng dụng mã số, mã vạch.
Công nghệ mã số mã vạch có ưu điểm là nhận dạng tự động, thay thế ghi chép
bằng tay nên giúp giảm nhân công, tiết kiệm thời gian, dẫn đến tăng hiệu suất
công việc. Với cấu trúc được tiêu chuẩn hoá, an toàn và đơn giản, công nghệ này
cho phép nhận dạng chính xác vật phẩm và dịch vụ, thay thế khâu “nhập” và
“truy cập” dữ liệu bằng tay, do đó cho “kết quả” chính xác, không nhầm l ẫn.
Mã số mã vạch giúp đơn giản hoạt động việc nhập dữ liệu: mã vạch sử dụng ở những
nơi mà các đồ vật cần phải đánh số với các thông tin liên quan để các máy tính có thể
xử lý. (chẳng hạn ở thư viện, …). Thay vì việc phải đánh. một chuỗi dữ liệu vào phần
nhập liệu của máy tính thì người thao tác chỉ cần quét mã vạch cho thiết bị đọc mã
vạch. Chúng cũng làm việc tốt trong điều kiện tự động hóa hoàn toàn, chẳng hạn như
trong luân chuyển hành lý ở các sân bay
Đặc biệt, trong hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung, việc sử dụng mã số mã vạch
có những lợi ích.
+ Góp phần bảo vệ thương hiệu thông qua nhãn mã vạch: thông qua mã
vạch, người sử dụng có thể biết được nguồn gốc, xuất xứ, thương hiệu của
sản phẩm. Ngày nay, những sản phẩm không có mã vạch bị người tiêu dùng
cho là những sản phẩm không ro nguồn gốc và thường bị loại bo đầu tiên
khi mua hàng
+ Kiểm soát tiến độ sản xuất một cách trực tuyến (ngay lập tức): nhà sản
xuất có thể biết được lượng sản xuất của doanh nghiệp thông qua thông
tin được mã hóa trên mã vạch.
+ Tăng năng suất : nhanh chóng nhập, xuất kho tính tiền, làm hóa đơn phục
vụ khách hàng.
11
+ Tiết kiệm : sử dụng ít nhân lực và tốn ít thời gian trong khâu ki ểm kê,
tính toán bằng máy quét mã vạch.
+ Chính xác : nhờ mã vạch, người ta phân biệt chính xác các loại hàng hóa
mà có khi bằng mắt thường ta thấy chúng rất giống nhau, tránh nhầm lẫn
khi tính giá, phục vụ khách hàng tốt hơn.
+ Thuận tiện trong việc thực hiện các dịch vụ sau bán hàng : Chăm sóc
khách hàng, giải quyết phàn nàn, bảo hành sản phẩm.
+ Việc sử dụng mã vạch cho sản phẩm còn góp phần nâng cao hình ảnh
sản phẩm trong nhận thức của khách hàng v.v.
Sử dụng Mã vạch trong sản xuất, kinh doanh là một xu hướng tất yếu trong
nền sản xuất công nghiệp, nhất là đối với các Doanh nghiệp Việt Nam hiện
nay đang trên con đường hội nhập quốc tế và xâm nhập thị trường Thế
giới. Do vậy, Mã vạch đặc biệt cần thiết cho các Doanh nghi ệp sản xu ất
hàng xuất khẩu.
12
CHƯƠNG 2: TÌNH HÌNH ỨNG DỤNG MÃ SỐ MÃ VẠCH TẠI
VIỆT NAM.
2.1. Đăng ký mã số mã vạch tại Việt Nam.
2.1.1. Trình tự thực hiện:
- Đăng ký sử dụng mã số mã vạch.
- Tiếp nhận hồ sơ đăng ký sử dụng mã số mã vạch.
- Thẩm định hồ sơ và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng mã số mã
vạch.
- Hướng dẫn sử dụng mã số mã vạch.
2.1.2. Cách thức thực hiện: Nộp hồ sơ trực tiếp tại trụ sở Tổng cục Tiêu chuẩn
Đo lường Chất lượng, Trung tâm Tiêu chuẩn Chất lượng Việt Nam, Trung tâm Kỹ
thuật Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng 3 hoặc qua đường bưu điện.
2.1.3. Thành phần, số lượng hồ sơ:
- Thành phần hồ sơ:
+ Bản đăng ký sử dụng mã số mã vạch.
+ Bản sao Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc quyết định thành
lập.
+ Bản đăng ký danh mục sản phẩm sử dụng mã GTIN.
+ Phiếu đăng ký thông tin cho cơ sở dữ liệu của GS1 Vi ệt Nam.
- Số lượng hồ sơ: 2 bộ.
2.1.4. Thời hạn giải quyết: 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.
2.1.5. Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính: Tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ
chức cá nhân nước ngoài hoạt động trên lãnh thổ Vi ệt Nam có nhu c ầu s ử d ụng
mã số mã vạch.
2.1.6. Cơ quan thực hiện thủ tục hành chính: Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường
Chất lượng.
2.1.7. Tên mẫu đơn, mẫu tờ khai:
- Bản đăng ký sử dụng mã số mã vạch
- Bản đăng ký Danh mục sản phẩm sử dụng mã GTIN
13
- Phiếu đăng ký thông tin cho cơ sở dữ liệu GS1 Việt Nam .
2.1.8. Căn cứ pháp lý của thủ tục hành chính:
- Quyết định số 45/2002/QĐ-TTg ngày 27/3/2002 của Thủ tướng Chính
phủ quy định nội dung quản lý nhà nước về mã số mã vạch.
- Quyết định số 15/2006/QĐ-BKHCN ngày 23/8/2006 của Bộ trưởng Bộ
Khoa học và Công nghệ quy định về việc cấp và quản lý mã số mã vạch.
- Thông tư 88/2002/TT-BTC ngày 02/10/2002 của Bộ Tài chính quy định
chế độ thu, nộp và quản lý sử dụng phí cấp mã số mã vạch.
- Thông tư số 36/2007/TT-BTC ngày 11/4/2007 của Bộ Tài chính sửa đổi,
bổ sung Thông tư 88/2002/TT-BTC ngày 02/10/2002 của Bộ Tài chính quy định
chế độ thu, nộp và quản lý sử dụng phí cấp mã số mã vạch
2.2. Hoạt động ứng dụng mã số, mã vạch.
Từ năm 1995, sau khi được cấp mã quốc gia 893, Tổng cục tiêu chuẩn đo lường chất
lượng (TCĐLCL) đã triển khai cấp mã số doanh nghiệp cho các cơ sở có nhu cầu sử
dụng MÃ SỐ, MÃ VẠCH. Hiện nay, Tổng cục TCĐLCL đã qui hoạch lại ngân hàng
mã số 893 và triển khai cấp và quản lý 03 loại mã số gồm: Mã doanh nghiệp
(Company Prefix), Mã rút gọn (EAN8) và mới triển khai cấp Mã địa điểm toàn cầu
(GLN- Global Location Number) cho các doanh nghiệp và cơ quan có nhu cầu sử
dụng mã GLN để trao đổi thông tin thương mại và dữ liệu điện tử EDI.
Tính đến 20/4/2007 Tổng cục TC ĐL CL đã cấp 6149 mã doanh nghiệp; cấp 201 mã
rút gọn (EAN 8); đăng ký sử dụng 2312 mã địa điểm vào mạng Mạng toàn cầu đăng
ký điện tử thông tin về các cơ sở sử dụng MÃ SỐ, MÃ VẠCH (viết tắt tiếng Anh là
GEPIR- Global Electronic Party Information Registry); cấp 111 giấy phép sử dụng mã
nước ngoài; làm thủ tục cho 18 doanh nghiệp xin cấp mã UPC để xuất khẩu.
Như vậy, trong hơn mười năm qua, tốc độ phát triển vượt bậc số doanh nghiệp sử
dụng MÃ SỐ, MÃ VẠCH ở Việt Nam đã làm cho các bạn quốc tế và khu vực ngạc
nhiên và đánh giá cao. Đặc biệt hai năm gần dây, trung bình mỗi năm số cơ sở đăng
14
ký mới tăng khoảng hơn 1000 cơ sở/năm. Thủ tục đăng ký cấp mã đơn giản, thuận
tiện và nhanh chóng, được các doanh nghiệp đăng ký thường xuyên tỏ ý hài lòng và
đánh giá tốt.
2.2.1. Ứng dụng mã vạch trong sản xuất.
Tại Việt Nam, thống kê cho thấy gần như 100% các đơn vị sản xuất trong các khu
công nghiệp trên cả nước đều in mã số mã vạch trên sản phẩm của mình. Đặc biệt là
các doanh nghiệp xuất khẩu. Trong lĩnh vực bán lẻ, mã số mã vạch được sử dụng bài
bản linh hoạt giúp quá trình thanh toán diễn ra nhanh chóng, chính xác hơn. Loại mã
số mã vạch được các doanh nghiệp sử dụng là mã đã được đăng ký với cơ quan chức
năng và được in trực tiếp lên bao nhãn mác của sản phẩm. Nếu là doanh nghiệp lắp
ráp có thể trên mỗi linh kiện của một nhà sản xuất khác nhau sẽ có một mã vạch. Mã
vạch được in trên nhãn mác của sản phẩm là cơ sở để công ty điều hành sản xuất,
quản lý kho bãi, vận tải, phân phối,…
2.2.2. Ứng dụng mã vạch trong hệ thống phân phối hàng hoá tại các kênh siêu
thị.
- Mô hình này mô tả toàn cảnh quá trình phân phối sản phẩm từ nhà máy s ản
xuất đến một kênh siêu thị, cách thức siêu thị quản lý hàng hoá và bán lẻ cho
người tiêu dùng. Đây là mô hình phổ biến được áp dụng tại các siêu thị Vi ệt
Nam.
Một quá trình phân phối như vậy gồm 2 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Đầu ra của sản phẩm
Sản phẩm từ nhà máy sản xuất sẽ được dán nhãn mã vạch hoặc in trực tiếp mã
vạch lên bao bì trước khi được tung ra thị trường lưu hành hợp pháp. Loại mã
vạch được sử dụng cho sản phẩm tại đầu ra thường là EAN hoặc UPC trong đó
EAN là điều kiện bắt buộc nếu muốn sản phẩm được xuất khẩu sang các nước
khác trên thế giới. Nhãn mã vạch được tạo ra trong giai đoạn này thường có số
lượng rất lớn và do đó được in bằng các loại máy in công nghiệp (như loại máy
Flexo) hoặc các loại máy in nhãn mã vạch có công suất in vài nghìn nhãn/ngày.
Giai đoạn 2: Đầu vào của sản phẩm
Trong mô hình này, sản phẩm tại đầu ra sau khi dán nhãn hoặc in mã vạch sẽ
được phân phối cho các kênh siêu thị và các cửa hàng. Các chủ siêu th ị ho ặc c ửa
15
hàng nắm được xuất xứ của từng món hàng thông qua mã vạch được in trên
món hàng đó. Đến lượt của mình, siêu thị và các cửa hàng l ại dùng mã vạch để
phân loại hàng hoá, định giá cả nhằm mục đích để quản lý và tính ti ền chính xác,
mau lẹ. Loại mã vạch được sử dụng trong trường hợp này gọi là mã vạch cục bộ.
EAN không có qui định gì bắt buộc về mã vạch cục bộ nên các nhà buôn bán lẻ,
các cửa hàng hoặc siêu thị có thể dùng 1 loại mã vạch nào đó thích hợp cho sản
phẩm của mình để mã hoá thông tin của mặt hàng. Thường người ta dùng
Interleaved 2 of 5 hay EAN-8 để làm mã vạch cục bộ cho các sản phẩm tiêu
dùng.
Sau khi hàng hoá được các siêu thị và các cửa hàng dán nhãn mã vạch cục bộ,
một "công nghệ tính tiền" dành cho siêu thị và các cửa hàng được phát tri ển.
Hệ thống tính tiền cho khách hàng tại các siêu thị bao gồm các bước:
Quét mã vạch tại
quầy tính tiền
Phần mềm tự động
tính tiền và quản lý
hàng hóa
Thanh toán và in
hóa đơn
2.2.3. Ứng dụng mã vạch trong giao thông vận tải.
Ngành công nghiệp giao thông vận tải cần tốc độ nhanh, nhiệm vụ phức tạp đòi
hoi độ chính xác 100% với chi phí thấp. Vì vậy, viêc chọn và ứng dụng công ngh ệ
mới hiệu quả là rất quan trọng. Công nghệ mã số mã vạch được sử dụng rộng
rãi trong lĩnh vực này bởi khả năng của mình để loại bo lỗi của con người và đẩy
nhanh quá trình hoàn thành công việc.
Theo dõi và an toàn
Trong lĩnh vực giao thông vận tải / hậu cần, theo doi và an toàn của sản ph ẩm
cũng quan trọng như thành công cung cấp đúng thời hạn. Quản lý tài sản hoàn
hảo là rất quan trọng trong ngành công nghiệp giao thông vận tải và hậu
16
cần. Mã vạch được sử dụng tại các điểm khác nhau của dòng chảy của hàng hóa
phải từ điểm xuất xứ đến điểm tiêu thụ - và ngay cả nếu nó trở lại để hỗ trợ.
Trong quá trình cận chuyển các thông tin quan tr ọng như tên người gửi, thông
tin người nhận, thông tin chi tiết sản phẩm… qua nhiều địa điểm và các thông
tin chi tiết này phải được ghi lại. Nhưng khi chưa áp dụng công nghệ mã s ố mã
vạch thì những thông tin đó được ghi lại bằng tay mang lại hiệu quả thấp và rất
dễ gặp lỗi con người. Sử dụng công nghệ mã vạch là rất hữu ích vì nó ghi lại tất
cả các chi tiết tại mỗi điểm kiểm tra một cách nhanh chóng và chính xác.
Thu thập dữ liệu nâng cao
Đầu đọc mã vạch giúp quá trình giao nhận thông tin tại các địa điểm giao nhận
hàng hóa diễn ra nhanh hơn, không phải sao chép bằng tay là gi ảm tối đa l ỗi
giao nhận và lỗi sao chép của con người, Các thông tin về mã vạch trên pallet hay
thùng carton trong quá trình vận chuyển được đầu đọc mã vạch thu th ập một
các dễ dàng và nhanh.
Lên kế hoạch
Tất cả các thông tin quan trọng như số thứ tự, các sản phẩm đóng gói, đi ểm đến
cuối cùng, v..v.. có thể được mã hóa trong mã vạch, mà làm cho nó dễ dàng cho
việc quản lý vận chuyển. Công nghệ này giúp xác minh quá trình và xử lý trình
tự tải liền mạch. Nó cũng giúp để lập kế hoạch và chọn những tải.
Xác định tuyến và lập trình tuyến đi
Một thủ tục vận chuyển điển hình bắt đầu từ các nhà cung cấp (hoặc nhà s ản
xuất), công ty vận chuyển, nhà phân phối, nhà bán lẻ, và kết thúc tới tay khách
hàng. Kế hoạch tuyến đường và lịch trình các hoạt động là rất quan tr ọng để
đảm bảo rằng quá trình giao nhận chính xác về thời gian. Sử dụng các hóa đơn
truyền thống tiêu tốn rất nhiều thời gian, nỗ lực, chi phí, và tất nhiên, thường
hay bị lỗi
Công nghệ mã số mã vạch được sử dụng trong mọi ứng dụng ngành công nghi ệp
giao thông vận tải và hậu cần, chẳng hạn như quản lý, quy hoạch tuyến đường
và các hoạt động thiết lập kế hoạch. Các doanh nghiệp hoặc các công ty trong
lĩnh vực này không nên bo qua một ứng dụng tuyệt vời như thế.
2.2.4. Ứng dụng ma vạch trong cải cách thủ tục hành chính.
Nhằm giải quyết thủ tục hành chính thuế thuận lợi cho cả người quản lý và
người nộp thuế, cục thuế đã tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào quản
lý thuế, quản lý nội bộ; Công khai Bộ thủ tục hành chính g ồm 152 th ủ t ục nh ư:
thủ tục đăng ký thuế; hoàn thuế; miễn giảm thuế; mua hoá đ ơn; tự in, đ ặt in
hoá đơn; thủ tục nộp thuế, thủ tục hành chính thuế khác….Chi cục cũng cung
cấp cho các doanh nghiệp phần mềm hỗ trợ tờ mã vạch 2 chi ều đ ể cho các
17
doanh nghiệp ứng dụng thực hiện, đến nay đã có 96,7% doanh nghiệp do chi
cục quản lý đã ứng dụng phần mềm này.
Công nghệ mã số mã vạch là công nghệ mang tính đột phá có tác dụng r ất nhi ều
trong việc cải cách thủ tục hành chính. Tăng cường công tác ki ểm soát th ủ tục
hành chính; Nghiên cứu đưa việc tiếp nhận và gi ải quy ết tại th ủ tục thu ế tr ước
bạ ra bộ phận một cửa. Nghiên cứu cách thực niêm yết th ủ tục hành chính m ột
cách khoa học để người dân dễ dàng tìm hiểu, tra cứu. Tiếp tục duy trì, tăng
cường ứng dụng công nghệ thông tin, hệ thống quản lý chất lượng ISO
9001:2008 trong quản lý nhất là trong giải quyết thủ tục hành chính. Đồng th ời
Khắc phục không để có hồ sơ giải quyết trễ hạn.
2.2.5. Ứng dụng ma vạch trong quản ly thư viên trương Đại hoc Thương
mại.
Với những lợi ích mà mã số mã vạch mang lại thư viện trường Đại học Thương
mại đã nhanh chóng áp dụng công nghệ này vào hoạt động cho mượn của mình.
Quy trình ứng dụng được thể hiện qua mô hình sau.
Đầu tiên, một cơ sở dữ liệu về sinh viên, tài liệu được thi ết l ập. Dữ li ệu
về sinh viên sẽ được thư viện cập nhật từ phòng đào tạo. Đồng thời, mỗi
tài liệu sẽ được thiết lập một mã số được thiết lập theo quy tắc phân loại
của thư viện vã mã số này sẽ được mã hóa dưới dạng mã vạch tuyến tính
và được dán trên tài liệu, mỗi một tài liệu có một mã số, mã vạch riêng .
Về phía sinh viên, thông tin của sinh viên sẽ được thư viện cập nhật từ
phòng đào tạo từ đó lập nên cơ sở dữ liệu về tài liệu mượn, trả; đồng
thời trên thẻ sinh viên cũng được phòng công tác và chính trị sinh viên in
lên một mã vạch mã hóa mã sinh viên.
Mượn sách: sinh viên tra cứu mã tài liệu của thư viện sau đó xuất trình
phiếu yêu cầu cho nhân viên thư viện. Sau đó, nhân viên thư vi ện tiến
hành quét mã vạch trên thẻ sinh viên và mã vạch trên sách. Và cơ s ở dữ
liệu mượn sách mới của sinh viên đó được thiết lập.
18
Tương tự với việc trả sách của sinh viên: Sinh viên sẽ trả sách đồng th ời
xuất trình thẻ sinh viên. Nhân viên thư viện sẽ quét mã vạch trên sách và
thẻ sinh viên để thiết lập mới cơ sở dữ liệu trả sách.
2.3 Các hạn chế và biên pháp khi sử dụng ma sô ma vạch tại Viêt
Nam
2.3.1 Các hạn chế:
Việc ứng dụng công nghệ mã số mã vạch mới chỉ dừng ở vi ệc cấp mã s ố
doanh nghiệp, hướng dẫn doanh nghiệp in ấn số mã vạch trên sản phẩm, hàng
hóa để phục vụ bán hàng, chưa triển khai ứng dụng các loại mã s ố mã v ạch trên
các đơn vị giao nhận, vận chuyển, trong trao đổi dữ liệu điện tử (EDI- Electronic
Data Interchange) và phân định các bên đối tác trong giao dịch sản xuất, kinh
doanh (chuỗi cung cấp). Số lượng các doanh nghiệp ứng dụng công nghệ mã s ố
mã vạch chiếm tỷ lệ thấp, số lượng hàng hoá của Việt Nam sử dụng mã s ố mã
vạch chưa nhiều.
Chưa có biện pháp hữu hiệu để đẩy mạnh việc nghiên cứu và tri ển khai ứng
dụng rộng rãi mã số mã vạch trong lĩnh vực khác của nền kinh tế qu ốc dân cũng
như các ngành dịch vụ và văn hoá xã hội. Việc ứng dụng công nghệ mã số mã
vạch chậm, chưa có nhiều hiệu quả, việc ứng dụng đôi khi tự phát, tản mạn,
chưa có sự hướng dẫn về công nghệ và kỹ thuật của cơ quan quản lý nhà nước
nên đôi khi các doanh nghiệp đã nhập phải các thiết bị in đọc và phần mềm mã
số mã vạch lạc hậu so với các tiêu chuẩn quốc tế hiện hành.
Có thể nói, việc quản lý và ứng dụng công nghệ mã số mã vạch thời gian qua tuy
có bước tiến bộ ban đầu, nhưng về cơ bản vẫn chưa đáp ứng được những đòi
hoi của quá trình phát triển kinh tế- xã hội và hội nhập về kinh tế v ới khu v ực
và thế giới.
- Hoạt động mã số mã vạch chưa được quản lý thống nhất. Như đã trình bày ở
trên, từ năm 1995 đến nay Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng được EAN
quốc tế cấp mã số quốc gia, tiến hành việc quản lý ngân hàng mã s ố quốc gia
cho các doanh nghiệp. Từ sau khi được thành lập (cuối năm 1999) đến nay, hội
Khoa học- kỹ thuật mã số mã vạch Việt Nam cũng thực hi ện cấp mã s ố cho
khoảng 500 doanh nghiệp một cách biệt lập nên gây ra nguy cơ cấp trùng, làm
cho các doanh nghiệp và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền lúng túng, còn tổ
chức EAN quốc tế phải lo ngại do không bảo đảm được tính đơn nhất của hệ
thống mã EAN.
Mặc dù có Quyết định số 45/2002/QĐ- TTg nêu trên, cho đến nay tình trạng hai
tổ chức cùng tiến hành cấp mã số mã vạch cho các doanh nghiệp vẫn chưa được
chấm dứt, gây khó khăn cho việc thống nhất quản lý nhà nước và áp dụng các
biện pháp đẩy mạnh hoạt động ứng dụng công nghệ mã số mã vạch vào các lĩnh
vực kinh tế- xã hộị.
2.3.2 Các biện pháp khắc phục hạn chế.
19
Để tăng cường hiệu lực quản lý và đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ mã số mã vạch
ở Việt Nam phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế xã hội và hội nhập với nền kinh tế xã
hội và hội nhập với nền kinh tế khu vực và thế giới, G quy định nội dung quản lý nhà
nước về mã số mã vạch, trong đó có việc quản lý nngày 27/03/2002 Thủ tướng Chính
phủ đã ban hành Quyết định số 45/2002/QĐ- TTgân hàng mã số quốc gia, cấp mã số
cho các doanh nghiệp, thực hiện hợp tác quốc tế về Mã số mã vạch, và giao Bộ Khoa
học, Công nghệ và Môi trường (nay là Bộ Khoa học và Công nghệ) chịu trách nhiệm
trước Chính phủ thực hiện việc thống nhất quản lý nhà nước về hoạt động mã số mã
vạch trên phạm vi cả nước.
-
Một số biện pháp chủ quan
+ yêu cầu các doanh nghiệp phải in mã số mã vạch trên sản phẩm, hàng hóa.
+ Nhà nước cần quản lý thống nhất hệ thống mã số mã vạch để việc quản lý hàng hóa
được dễ dàng hơn.
+ Sau khi đã có được các nhãn mã vạch, một vấn đề cũng rất quan trọng là bạn cần
phải kiểm tra lại xem tính chính xác của các ký hiệu mã vạch mà mã hóa. Tức là các
kí hiệu mã vạch khi in ra có mã hóa đúng với các mã số ban đầu hay không.
20
KẾT LUẬN
Mã số, mã vạch ra đời đã tạo ra một bước ngoặt trong việc giải quyết những công việc
vốn được cho là nhàm chán và dễ sai sót cao như quản lý hành chính, thanh toán và
quản lý trong doanh nghiệp bán lẻ. Việc ứng dụng mã số mã vạch giúp tiết kiệm thời
gian và chi phí bằng một phần nhỏ trước đây, đồng thời giúp đơn giản bộ máy doanh
nghiệp.
Về phía Việt Nam việc ứng dụng và phổ biến mã số, mã vạch là một trong những
thành công lớn. Bởi việc nắm bắt công nghệ này được cho là một trong những hành
động “đi tắt đón đầu” trong sự nghiệp phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước.
21
22
23