Tải bản đầy đủ (.doc) (48 trang)

BẢNG PHÂN TÍCH mô HÌNH SWOT của NGÀNH DU LỊCH VIỆT NAM

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.35 MB, 48 trang )

1

BẢNG PHÂN TÍCH MÔ HÌNH SWOT CỦA NGÀNH DU LỊCH VIỆT NAM

MỤC LỤC
Mục lục.............................................................................................................................. 2
Giới thiệu
chung…………………………………………………………………………………4
I, Điểm mạnh của du lịch việt nam……………………………………………………….
…….5
1, Vị trí địa lý thuận lợi…………………………………………………………..
……5
2. An ninh chính trị ổn
định……………………………………………………...…..7
3. Tiềm năng tài nguyên du lịch đa
dạng………………………………………….….8
4.Tiềm năng con người ,cơ sở vật chât ,đường
lối……………………………………9
II) Điểm yếu ,khó khăn ,tồn tại …………………………………………………………..
……9
1, cơ sở hạ tầng vật chất
………………………………………………………………9
2, Hoạt động Marketing, quảng cáo và xúc tiến du lịch thiếu tính chuyên
nghiệp và đầu tư chưa
cao………………………………………………………………………10
3, Chưa khai thác, bảo tồn đúng
mức………………………………………………11
4, Thiếu nhân lực lành
nghề……………………………………………………….13
III/Cơ hội:( Oportunities)…………………………………………………………….
…….14.


1, Nền kinh tế quốc gia hội nhập toàn
cầu………………………………………...14


2

2. Nhu cầu du lịch giải trí sinh thái ngay càng cao…………………………….…
16
3. Tình hình an ninh xã hội của các nước có hoạt động du lịch mạnh diễn biến
phức tạp và bất ổn……………………………………………………………………….
……….27
4.Việt Nam được các tổ chức về du lịch có uy tín đánh giá là một trong những
điểm đến lý tưởng
nhất……………………………………………………………………… …29
5. Quan điểm phát triển về ngành du lịch ………………………………………
35
IV/Thách thức(Threats )
………………………………………………………………...37
1,Ảnh hưởng khủng hoảng suy thoái kinh tế toàn
cầu……………………………37
2, Ý thức ,văn hoá ,ứng xử của người dân việt
nam…………………………………………..39
3, Du khách sẽ một đi không trở
lại……………………………………………….42
4, Ảnh hưởng của các thị trường du lịch trong khu
vực………………………..46
5,Thủ tục còn rườm rà……………………………………………………………
48
V/Một số giải pháp phát triển du lịch…………………………………………………..49
Kết:

………………………………………………………………………………………………
…………………………………… 51
BẢNG PHÂN TÍCH MÔ HÌNH SWOT CỦA NGÀNH DU LỊCH


3

Giới thiệu chung
Nghành du lịch việt nam

( Vũng Tàu)
Bạn hãy thử tưởng tượng vào một ngày bạn chợt nhận ra mình đang bị bao gánh nặng,
bao điều phiền toái vây quanh bạn thực sự rất căng thẳng. bạn thấy mình tự nhiên cáu gắt
với những thứ chẳng đáng để làm điều đó thế là bạn đang bị coi là strees rồi đó. Trong
cuộc sống hiện đại việc bị các áp lực công việc, áp lực xã hội, từ phía gia đình và bản
thân chúng ta. Làm cho chúng ta những lúc cảm thấy căng thẳng và mệt mỏi. Lúc này
một liều thuốc khá hữu hiệu để có được tâm trạng cân bằng trở lại là bạn hãy bỏ xa khỏi
môi trường gây strees cho chúng ta một thời gian. Và khi đó cách bạn có thể dùng đến là
đi du lịch. Trên đây là một tác dụng của việc đi du lịch đối với chúng ta và chúng ta còn


4

có thể kể ra rất nhiều điều có ích nữa cua du lịch đối với một cá nhân đó là trong chuyến
đi mình đã thu lượm được bao kiến thức mới, được thấy tận mắt một phong cảnh đẹp mà
mình đã ao ước một lần được đi đến đó khi nhìn thấy nó trên tivi.Còn đối với một quốc
gia, đó là được coi là nghành công nghiệp không ống khói.Hàng năm tổng doanh thu của
ngành du lịch lên tới 944 tỷ USD và tạo ra khoảng 6-7% việc làm trên toàn cầu.
Tại nhiều quốc gia ngành du lịch đang đóng góp khoảng 5% GDP của cả nước. Con số
này thực tế còn cao hơn nhiều ở các nước châu Á như: Thái Lan, Singapore… Số liệu

được ông Tim Bartlert nêu ra tại hội thảo còn cho thấy cứ 2,4 giây, ngành du lịch lại tạo
ra một việc làm mới
(ông Tim Bartlert cố vấn của UNWTO tổ chức Du lịch Thế giới )
Và ở nước ta theo Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch Hoàng Tuấn Anh cũng
cho biết: Năm 2009, ngành du lịch đã mang về cho đất nước khoảng 4 tỷ USD. Đây đang
là một trong 5 ngành có nguồn thu ngoại tệ lớn nhất của nước ta. Hàng năm ngành này
đóng góp khoảng 6,5% vào GDP của cả nước và đã phần không nhỏ vào công cuộc xóa
đói giảm nghèo, tạo công ăn việc làm cho các đối tượng lao động khác nhau ở khắp các
vùng .
Như vậy với vai trò to lớn không phải bàn cãi của mình, nghành du lịch trong nhiều
năm qua đã được Đàng và Nhà nước coi trọng đươcj thẻ hiện băngd các chính sách và
văn bản pháp luật khuyến khích và chỉ dẫn nghành du lịch đi đúng đường theo còn đường
đi phát triển của đất nước đang hướng đến. Đó là luật du lịch 2005,CHƯƠNG TRÌNH
HÀNH ĐỘNG của ngành Du lịch Thực hiện chương trình hành động của chính phủ
sau khi
Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)
giai đoạn 2007 - 2012
(Ban hành kèm theo Quyết định số 564/QĐ-BVHTTDL ngày 21/9/2007)...
Do nước ta là nước xuất phát chậm hơn rất nhiều các nền du lịch phát triển trong khu
vực và trên thế giới và do nghành du lịch liên quan đến nhiều nghành như giao thông vận
tải, thương mại, cơ sở hạ tầng... Nên nghành nước ta đã đạt được các thành tưu và cũng
bộ lộ mhững hạn chế. Nên bài sau đây sẽ cố gắng làm rõ mặt mạnh để có thể phát huy và
mặt yếu để tìm giải pháp khắc phục. trong mối tương quan với cơ hội và thách thức từ
môi trường bên ngoài để làm sao nghành du lịch đạt được những mục tiêu đề ra.
I, Điểm mạnh của du lịch việt nam
1, Vị trí địa lý thuận lợi.
Như mọi người đã biết Việt Nam là một quốc gia nằm trên bán đảo Đông Dương, ven
biển Thái Bình Dương. Việt Nam có đường biên giới trên đất liền dài 4.550 km tiếp giáp
với Trung Quốc ở phía Bắc, với Lào và Căm-pu-chia ở phía Tây; phía Đông giáp biển



5

Đông với 3260 km bờ biển. . Khí hậu nhiệt đới gió mùa, cây cối quanh năm xanh tươi
Một đặc điểm nổi bật nữa của Việt Nam là nhiều đồi núi, chiếm ¾ diện tích, cũng là quốc
gia có nhiều đảo nhỏ và phân bố rải rác, có hai khu vực đảo tập trung nhất là Vịnh Bắc
Bộ và Vịnh Thái Lan. Có hai quần đảo rộng lớn là Hoàng Sa và Trường Sa. Do đó
nghành du lịch trong nhiều năm qua tập chung khai thác vào tiềm năng rừng biển và vị trí
địa lý mà thiên nhiên ban tặng cho việt nam. Như du lịch biển, du lịch sinh thái có những
bước phát triển.
Điều này được minh chứng bằng Việt Nam đứng thứ 27 trong số 156 quốc gia có biển
trên thế giới với 125 bãi tắm biển, hầu hết là các bãi tắm đẹp. Việt Nam là 1/12 quốc gia
có vịnh đẹp nhất thế giới là vịnh Hạ Long và vịnh Nha Trang.
Tính đến hết năm 2007 Việt Nam được UNESCO công nhận 6 khu dự trữ sinh quyển
thế giới đó là Châu thổ sông Hồng, Cát Bà, Tây Nghệ An, Cát Tiên, Biển Kiên Giang,
Cần Giờ.
-Hiện nay Việt Nam có 30 vườn quốc gia gồm Ba Bể, Bái Tử Long, Hoàng Liên, Tam
Đảo, Xuân Sơn, Ba Vì, Cát Bà, Cúc Phương, Xuân Thủy, Bạch Mã, Bến En, Phong NhaKẻ Bàng, Pù Mát, Vũ Quang, Bidoup Núi Bà, Chư Mom Ray, Chư Yang Sin, Kon Ka
Kinh, Yok Đôn, Côn Đảo, Lò Gò-Xa Mát, Mũi Cà Mau, Núi Chúa, Phú Quốc, Phước
Bình, Tràm Chim, U Minh Hạ, U Minh Thượng.
Việt Nam có 400 nguồn nước nóng từ 40-150 độ. Nhiều suối có hạ tầng xây dựng khá
tốt như: Suối nước nóng thiên nhiên Đam Rông, Lâm Đồng; suối nước nóng Kim Bôi
Hòa Bình, suối nước nóng Tháp Bà Nha Trang, suối nước nóng Bình Châu Bà Rịa-Vũng
Tàu, suối nước nóng Kênh Gà, Ninh Bình, suối nước nóng Quang Hanh Quảng Ninh.
Cũng vì vị trí địa lý Việt Nam có đường biên giới khá lớn, tiếp giáp với nhiều nước, cả
trên đất liền lẫn biển. Trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc có tới 1400 km đường
biên giới, giữa Việt Nam và Lào 2067 km, giữa Việt Nam và Campuchia là 1080 km. Việt
Nam có vị trí chiến lược rất quan trọng trên bản đồ thế giới nói chung và khu vực Đông
Nam Á nói riêng. Việt Nam như một bao lơn trông ra Thái Bình Dương, là cửa ngõ giao
thương trong khu vực. điều này được biểu hiện qua việc di chuyển rất thuận lợi về đường

bộ, đường biển, và đường hàng không.
Trên bộ với vị trí chiến lược từ việt nam có thể dẽ dàng đi lên trung quốc, hay đi về
hướng tây qua lào thái lan, myanmar là đến được đất nước đông dân ấn độ. Đạc biệt là đà
nẵng là điểm cực đông củ hành lang kinh tế đông tây đi qua bốn nước xuất phát từ
myanmar qua lào, thái lan rồi đến việt nam. Trên hành lang này với mục đích chung là
phát triển kinh tế giữa bốn nước mà hành lang chạy qua, nó là điều kiện rất tốt để việt
nam có thể kết nối các trung tâm du lich trong khu vực. từ tuyến đương này có thể xây
dựng các tour đi xuyên 4 nước góp phần thu hút các khách quốc tế ở các trung tâm như
bankoc, pataya đến việt nam.
Trên biển Đông, biển Việt Nam cũng tiếp giáp với biển Trung Quốc, Đài Loan,
Philipin, Inđônêxia, Brunây, Malaixia, Thái Lan và Campuchia.Việt Nam và chín nước
(và lãnh thổ) khác bao quanh biển Đông, nơi có nhiều hàng qua lại nhất thế giới. Đài
Loan, với cảng Cao Hùng, và Trung Quốc, với những cảng Hồng Kông và Thượng Hải,


6

là những điểm đến và đi của những tuyến tàu biển nối liền với cảng Singapore. Con
đường hàng hải đi qua biển Ðông là một trong những hải lộ bận rộn nhất thế giới. Theo
một tính toán, một phần ba vận chuyển thương mại thế giới đi qua vùng biển này. nhờ vị
trí chiến lược của việt nam có một vị trí chiến lược trên tuyến hàng hải nối các cảng biển
nhộn nhịp nhất thế giới singapore, honkong, đài loan. Nên việt nam trở thành điểm dưng
chân lý tưởng để các con tàu du lịch, hàng hoá có thể cập bến để có thể bốc thêm hàng ở
việt nam. Dưng lại cho du khách nghỉ ngơi tham quan sau một chuyến hành trình dài để
tiếp tục đi tiếp đến các điểm du lịch nổi tiếng như honkong, singapore.
Đây là một lợi thế của Việt Nam vì Malaysia quá gần Singapore còn Philippines và
Indonesia là những quần đảo không có hậu phương. Như vậy ta đã thấy vị trí của việt
nam là một điểm mạnh của nghành du lịch nó giúp việt nam có thê thu hút thêm luợng
khach từ các tour du lịch kết nối giữa các địa điểm nổi tiếng trong khu vực.


Về đường hàng không Nhìn bản đồ Đông Nam Á thì thấy rằng, trừ Jakarta, thủ đô
Indonesia, tất cả thủ đô các nước ASEAN đều cách Tp.HCM non hai giờ máy bay. Đài
Bắc và Dakka, thủ đô Bangladesh, cũng chỉ cách Hà Nội có hơn hai giờ bay. Miền Nam
Trung Quốc, vùng có kinh tế phát triển mạnh nhất của nước này, ở trọn trong tầm hai giờ
bay từ Hà Nội. Ba cảng trong số những cảng lớn nhất thế giới, Singapore, Hồng Kông và
Cao Hùng, cách Hà Nội hay Tp.HCM non hai giờ bay.
Nói một cách khác, Việt Nam nằm ngay giữa vùng kinh tế sôi động nhất thế giới. Vị trí
trung tâm này đã là một trong số những nguyên nhân của bốn chục năm chiến tranh mà
Việt Nam đã phải chịu đựng. Bây giờ, với hòa bình được lập lại, vị trí đó có thể được
dùng vào mục đích phát triển kinh tế. Trong đó có du lịch.
2. An ninh chính trị ổn định
Có một điều người dân việt nam luôn tự hào với bạn bè thế giới là đất nước việt nam
thanh bình con người việt nam thân thiện. và điều này cũng được thế giới công nhận qua
chỉ số hoà bình toàn cầu do tổ chức International Monetary Fund. Bình chọn việt nam
đứng thứ 39 trên 144 được bình chọn . đây đúng là một điều đáng tự hào với việt nam.
Trong khi các chỉ số khác của việt nam không mấy sáng sủa
Tổ chức

Nghiên cứu

Xếp hạng

Viện Kinh tế và Hoà bình

Chỉ số Hoà bình Toàn cầu

39 trên 144

Heritage Foundation/The Wall Street
Journal


Chỉ số Tự do Kinh tế

142 trên
157

The Economist

Chỉ số Chất lượng cuộc sống toàn
cầu, 2005

61 trên 111


7

Phóng viên không biên giới

Chỉ số tự do báo chí toàn cầu

155 trên
167

Minh bạch quốc tế

Chỉ số nhận thức tham nhũng

111 trên
163


Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc Chỉ số Phát triển Con người

109 trên
177

Diễn đàn Kinh tế Thế giới

77 trên 125

Báo cáo Cạnh tranh Toàn cầu

3. Tiềm năng tài nguyên du lịch đa dạng
Nhờ được thiên nhiên ưu đãi vào cảnh quan nên việt nam sở hữu nhiều phong cản đẹp.
cộng với nền văn hiến 4000 năm việt nam là một đất nước có bề dày lịch sử với 54 dân
tộc anh em mnag nhiều bản sắc văn hoá khác nhau. Do đó việt nam được đánh giá với
tiềm năng du lịc rất lớn dựa trên cở sở về thiên nhiên văn hoá có thể thu hút được rất
nhiều du khách quốc tế, trong nước đi khám phá và tìm hiểu. tiềm năng du lịch của việt
nam có thể được thống kê bằng các số liệu dưới đây.
Tính đến năm 2006, Việt Nam có 2888 di tích, thắng cảnh được xếp hạng di tích quốc
gia. Trong đó gồm:
-¬¬¬ 1367 di tích lịch sử.
-1355 di tích kiến trúc nghệ thuật.
-62 di tích khảo cổ.
-104 di tích thắng cảnh.
Trong đó có 110 di tích được xếp hạng đặc biệt.
- Đặc biệt tới năm 2007,có 5 di sản được UNESCO công nhận là Di sản thế giới tại Việt
Nam bao gồm Quần thể di tích Cố đô Huế, Vịnh Hạ Long, Phố Cổ Hội An, Thánh địa Mỹ
Sơn, và Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng.
- Di tích lịch sử:khu di tích Đền Hùng,đền Cổ loa ,khu di tích Hoa Lư,phố cổ Hội An
,tháp chàm khơ me,thành cổ Quảng Trị,khu di tích làng Sen, khu di tích Điện Biên

Phủ,Khu di tích ATK,địa đạo Vĩnh Mốc ,địa đạo Củ Chi…
- Việt nam con được biết tới là quốc gia đa văn hóa ,đất nước của những lễ hội .Hằng
năm trên cả nước có tới hàng nghìn lễ hội lớn nhỏ .Một số lễ hội lớn như:lễ hội đền Hùng
,LH Chùa Hương,hội Lim,hội Gióng ,lễ hội Đua Voi…
- Hiện nay cả nước có 1450 làng nghề ,các làng nghề có sức thu hút khách du lịch .Một
số làng nghề nổi tiếng :Gốm Bát Tràng ,tranh Đô Hồ ,chiếu Cói Nga Sơn,đúc đồng Ngũ
Xá,đồ gỗ Đồng Kị,gốm Đông Triều ,lụa Vạn Phúc….
- Không chỉ có các di sản vật thể ma VN còn có những di sản phi vật thể như :quan họ
Bắc Ninh,nhã nhạc cung đình Huế,ca trù ,cồng chiêng Tây Nguyên…
- Việt nam còn thu hút khách du lịch bởi những món ăn truyền thống độc đáo như phở
,bánh đậu xanh Hải Dương,rượu sán Lùng ,thắng cố (sapa _lào cai)…..


8

- Cả nước có 117 bảo tàng trong đó các bộ, ngành quản lý 38, các địa phương quản lý
79. Hai bảo tàng lịch sử mang tính quốc gia là Bảo tàng Cách mạng Việt Nam và Bảo
tàng lịch sử Việt Nam hiện đang đề xuất thêm Bảo tàng Lịch sử quốc gia.
- Cả nước hiện có 21 khu du lịch quốc gia tính đến năm 2008, là những trọng điểm để
đầu tư thúc đẩy phát triển du lịch.

4)Tiềm năng con người ,cơ sở vật chât ,đường lối.
- Trong thời gian qua nguồn lao động du lịch của nước ta đã tăng lên về số lượng và
từng bước được cải thiện về chất lượng,bước đầu đáp ứng được nhu cầu phát triển của
ngành du lịch. Tính đến năm 2005 số lao động trong ngành du lịch là 704.000 người
chiếm 1,5% lao động cả nước.
- Cơ sở hạ tầng được nhà nước quan tâm đầu tư ,cải thiện hệ thống cơ sở vật chất
phục vụ du lịch. Tới năm 2005 nhà nước đã đầu tư 2146 tỉ đồng để nâng cấp ,xây dựng
cơ sơ hạ tầng phát triển du lịch. Do đó CSHTDL đã và đang từng bước được cải thiện.
- Đánh giá được vai trò quan trọng của ngành du lịch ,Đảng và nhà nước đã có những

chính sách cụ thể nhằm khuyến khích đầu tư phát triển du lịch,coi du lịch là một ngành
kinh tế mũi nhọn của đất nước. Đặc biệt trong thời buổi kinh tế khủng hoảng như hiện
nay thì những khuyến khích ưu đãi của nhà nước sẽ thúc đẩy du lịch phát triển.
Với tiềm năng lớn, Du lịch Việt Nam đã được chính phủ quy hoạch, định hướng để trở
thành ngành kinh tế mũi nhọn.
II) Điểm yếu ,khó khăn ,tồn tại
1, cơ sở hạ tầng vật chất
- Cơ sở hạ tầng tuy được đầu tư nâng cấp cải thiện nhưng còn thiếu đồng bộ giữa các
vùng miền, giữa các khu, điểm du lịch .
Việc này dễ dàng được nhận thấy ở khắp mọi địa điểm du lịch của việt nam hiện nay.
Từ không có chỗ cho khách du lịch đến lưu trú hoặc quá yếu với quy mô nhỏ, thiếu từ
khách sạn cao cấp để đón khách cao cấp đến chỗ được coi là bình dân thì quá xuyềnh
xoàng thiếu thốn tiện nghi. Đi du lịch mà phải chịu tiếng ồn của động cơ do chạy máy nổ
phát điện. Đó là tình trạng mất nước, mất điện thường xuyên.
Hay trong các chuyến du lịch đương dài bằng đường bộ du khách không thể ngồi trên
xe suốt cuộc hành trình từ điểm xuất phát đén điểm cuối. Du khách cần một chỗ nghỉ
ngơi, vệ sinh, ăn uống lại vừa có thể tìm hiểu thêm các địa diểm trong chuyến hành trình.
nắm được điều này nghành du lịch đã đầu tư các địa điẻm dừng xe nhưng thật đáng buồn
là những điểm này không hoạt động hiệu quả không những thiếu ( trên cả nước mới có 5
điểm dừng chân trên quốc lộ 1A) mà còn yếu trong việc khảo sát gây lãng phí vì đặt sai
địa điểm không đáp ứng được nhu cầu khách du lịch vì thiếu dịch vụ nghỉ dưỡng, không
đảm bảo vệ sinh. ....


9

2, Hoạt động Marketing, quảng cáo và xúc tiến du lịch thiếu tính chuyên nghiệp
và đầu tư chưa cao.
Hoạt động xúc tiến, quảng bá, xây dựng hình ảnh Việt Nam như một điểm đến hấp dẫn
của khu vực còn bộc lộ nhiều hạn chế. Dù từ năm 2000 tới nay, Nhà nước đầu tư khoảng

20 tỷ đồng mỗi năm cho hoạt động xúc tiến, quảng bá, nhưng xem ra, cái cách tiếp cận
thị trường của ngành du lịch vẫn còn lửng lơ, thiếu thông tin và thiếu cả trách nhiệm.
Thiếu chuyên nghiệp suốt 10 năm
Gần 10 năm qua, ngân sách trung ương chi cho hoạt động xúc tiến du lịch vào khoảng
150 tỷ đồng nhưng ông Nguyễn Quý Phương, Vụ phó Vụ Lữ hành (Tổng cục Du lịch)
vẫn cho rằng khoản kinh phí đó là quá eo hẹp. Điều đó lý giải vì sao hoạt động xúc tiến
du lịch của Việt Nam ở nước ngoài thiếu tính chuyên nghiệp và luôn gặp khó khăn.
Theo ông Phương, thay vì tổ chức các hoạt động xúc tiến liên tục tại một số thị trường
trọng điểm, ngành du lịch mới thực hiện được 1 sự kiện/năm (hoặc tại hội chợ, hoặc tại
road show - quảng bá điểm đến). Với hình thức xúc tiến như vậy, du lịch Việt Nam không
tạo được tiếng vang với giới truyền thông và các hãng lữ hành ở nước ngoài. Trong khi
đó, các nước trong khu vực thường dành cho xúc tiến du lịch khoảng vài chục triệu
USD/năm. Một số nước như Thái Lan, Malaixia, Inđônêxia đã chi ít nhất 1 triệu USD
cho một lần tham gia hội chợ ITB Berlin (Đức).
Ông Lã Quốc Khánh, Phó Giám đốc Sở VH-TT&DL TP Hồ Chí Minh cũng thừa
nhận, trong khi ở nhiều nước trên thế giới có quỹ dự phòng du lịch thì Việt Nam lại
không có. Do đó, khi chương trình khuyến mãi kích cầu du lịch "Ấn tượng Việt Nam"
trong năm 2009 được triển khai, ngành du lịch chỉ đủ sức quảng bá ở trong nước chứ
không thể khuếch trương ra nước ngoài. Nếu được quảng bá rầm rộ, chắc chắn lượng
khách quốc tế đến Việt Nam trong năm 2009 sẽ không dừng lại ở con số 3,8 triệu lượt
người.
"Hơn 10 năm nay, việc đề nghị mở văn phòng xúc tiến du lịch tại nước ngoài đã
được đưa ra bàn luận. Thậm chí Tổng cục Du lịch (TCDL) đã tuyên bố sẽ thí điểm tại 5
thị trường trọng điểm trong năm 2010 nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả", ông Lã Quốc
Khánh, Phó Giám đốc Sở VH,TT&DL TP Hồ Chí Minh bức xúc.
Trong khi đó, việc quảng bá, xúc tiến du lịch tại nước ngoài hiện đang theo kiểu
"mạnh ai nấy làm". Đại diện Công ty Lữ hành Hanoitourist cho biết, tại tất cả hội chợ,
triển lãm ở nước ngoài, mỗi quốc gia tham dự đều có một gian hàng với các sản phẩm
tương đồng. Chẳng hạn như Trung Quốc, khi tham dự một hội chợ họ chỉ tổ chức duy
nhất gian hàng giới thiệu với du khách tất cả điểm đến, khách sạn và công ty lữ hành của

đất nước mình. Còn gian hàng của Việt Nam lại trong tình trạng "cát cứ", mỗi DN được
chia một sạp để tự phát card, các ấn phẩm và giới thiệu sản phẩm của riêng mình. Điều
này cho thấy, công tác xúc tiến du lịch của Việt Nam tại nước ngoài thiếu tính chuyên
nghiệp.


10

Theo ông Trần Chiến Thắng, nguyên Thứ trưởng Bộ VH,TT&DL, hằng năm, ngành
du lịch đã phải bỏ ra khoản chi phí không nhỏ để tổ chức các hội chợ, roadshow (chương
trình xúc tiến điểm đến) ở nước ngoài. Tuy nhiên, khi sự kiện kết thúc cũng là lúc ban tổ
chức "thở phào" vì coi như đã hoàn thành nhiệm vụ, còn không có đơn vị nào đứng ra
đảm nhận vai trò tiếp tục là cầu nối để giữ mối quan hệ với các đối tác. Điều đó khiến
cho mọi thông tin về tiềm năng du lịch Việt Nam không được cập nhật thường xuyên đến
bạn bè quốc tế.
"Trông người" để "ngẫm đến ta"
Vì chưa có văn phòng đại diện nên khi diễn ra các sự kiện ở nước ngoài, ngành du lịch
nước ta mới vội vàng thành lập các đoàn xúc tiến trong nước tham gia. Trong khi đó, lẽ
ra, khi quảng bá, xúc tiến du lịch, các DN bán sản phẩm của mình hay Nhà nước quảng
bá hình ảnh quốc gia thì đều cần phải có tầm nhìn dài hạn. Chẳng hạn, hoạt động xúc tiến
của năm nay đã phải quảng bá cho du lịch năm tới, thậm chí cho nhiều năm tiếp theo, để
khách du lịch nước ngoài lên kế hoạch.
Nhìn sang "láng giềng" Thái Lan để thấy hoạt động xúc tiến du lịch của họ được triển
khai bài bản và chuyên nghiệp thế nào. Theo thống kê của Tổng cục Du lịch Thái Lan
(TAT), hiện Thái Lan có 22 văn phòng đại diện du lịch trên thế giới. Những văn phòng
này được đặt tại các thị trường trọng điểm. Tùy vào đặc điểm từng thị trường mà TAT xây
dựng chiến lược xúc tiến, quảng bá dài hơi phù hợp. Nhờ vậy, mỗi năm, Thái Lan đón
hơn 15 triệu lượt khách quốc tế, trong khi Việt Nam chỉ đón hơn 4 triệu lượt. Từ năm
2007, TAT đã thành lập văn phòng đại diện tại Việt Nam. Trung bình mỗi năm, có gần
400 nghìn du khách Việt Nam sang Thái Lan, trong khi Việt Nam chỉ thu hút được 200

nghìn khách du lịch Thái Lan.
Đến bao giờ tiềm năng du lịch Việt Nam mới thực sự tạo được ấn tượng đối với du
khách nước ngoài thông qua những văn phòng đại diện? Ông Trần Chiến Thắng cho rằng,
việc thành lập văn phòng đại diện du lịch tại nước ngoài vốn khó thực hiện vì đòi hỏi
kinh phí rất cao. Nhưng ông Lã Quốc Khánh lại có lời giải ngay cho bài toàn này, đó là
hợp tác với Vietnam Airlines vì hàng không quốc gia Việt Nam có văn phòng đại diện ở
hầu hết thị trường trọng điểm. Còn về con người, TCDL có thể cử cán bộ sang Thái Lan,
Singapore... để học tập kinh nghiệm làm thế nào để văn phòng đại diện hoạt động hiệu
quả.
Theo TCDL, việc lập văn phòng đại diện tại các thị trường trọng điểm sẽ khiến lượng
khách du lịch quốc tế tăng thêm khoảng 100 nghìn lượt mỗi năm. Đã thấy rõ hiệu quả,
sao không làm?


11

3, Chưa khai thác, bảo tồn đúng mức.
- Nhiều nơi khai thác TNDL còn bừa bãi ,thiếu sự quản lí của nhà nước ,làm cho các
TNDL ngày càng suy kiệt.
- Đảm bảo an toàn cho khách du lịch còn thiếu triệt để, chưa đồng bộ, một số giải
pháp có tính tình thế. An toàn của du khách ở nhiều khu, điểm và tuyến du lịch vẫn là vấn
đề lớn cần giải quyết. Vẫn còn không ít hiện tượng cướp giật, đeo bám, chèo kéo khách,
vi phạm các quy định về vận chuyển khách, vi phạm các quy định vệ sinh an toàn thực
phẩm…
- Khai thác TNDL chưa gắn liền với việc bảo vệ và phục hồi .ý thức của khách du lịch
,của người kinh doanh du lịch còn chưa cao.Việc phá hoại TNDL như vứt rác bừa bãi làm
mất vệ sinh, ảnh hưởng tới cảnh quan của các TNDL còn khá phổ biến tại các khu du
lịch.
Nguyên Phó Thủ tướng Vũ Khoan tâm sự rằng, khi nghĩ về du lịch ông thấy buồn, các
sản phẩm du lịch của ta - những thứ mà thiên nhiên đã phải mất hàng triệu năm kiến tạo

đang xuống cấp nghiêm trọng. Hang Pác Bó đẹp là thế, bỗng một ngày, một bãi bê tông
hiện lên rộng mênh mông, tan nát hết cả cảnh quan. Điểm mặt các bãi biển từ Trà Cổ tới
Đồ Sơn, môi trường cảnh quan, bị các loại công trình kiến trúc lấn át. Nguyên Phó Thủ
tướng Vũ Khoan có thói quen đến thăm chùa Trấn Quốc những lúc rảnh rỗi, nhưng giờ
ông bảo, không muốn đến nữa vì sợ cái màu vàng mới tinh của chùa và lạ lẫm trước cái
cổng mới được xây dựng.
Nhiều năm trước đây, Nhà nước đã từng quyết định giữ lại khu di tích danh thắng
Yên Tử, không cho triển khai dự án khai thác than trong khu vực di sản quan trọng này,
nhưng lại cũng phải chấp nhận điều chỉnh thu nhỏ lại khu vực đệm và khu vực bảo vệ các
di tích Tràng Kênh - Bạch Đằng (Hải Phòng), phòng tuyến Tam Điệp - Biện Sơn (Ninh
Bình) để nhường bớt một số núi đá cho các dự án xây dựng nhà máy sản xuất xi măng
khai thác đá nguyên liệu... Nhiều đại biểu tham dự hội thảo phải kêu trời khi tình trạng
xâm hại tài nguyên môi trường du lịch ở một số nơi đã ở mức báo động. Tình trạng phá
rừng, ngăn suối, chặt cây làm thủy điện ở một số vùng du lịch đã phá vỡ nghiêm trọng
cảnh quan, môi trường tài nguyên du lịch quý giá của đất nước.
Để xảy ra tình trạng này nguyên nhân chính là tư duy “tiểu nông” vẫn tồn tại trong
ngành du lịch. Ngành du lịch mới chỉ quan tâm đầu tư vào hạ tầng dịch vụ, những cái thu
được tiền ngay mà chưa quy hoạch được vào việc khai thác những tiềm năng to lớn của
những giá trị lịch sử. Nhiều giá trị lịch sử đã bị bỏ qua, ví như nơi từng diễn ra trận Bạch
Đằng giang nổi tiếng trong lịch sử nhà Trần đã không được nghiên cứu đến nơi đến chốn
để đưa vào phục vụ du lịch là một sự lãng phí lớn.
Cảnh quan thiên nhiên của khu vực này, đặc biệt là rặng núi án ngữ cửa biển nay đã bị
các nhà máy xi măng “ngốn” sạch. Nhiều khách du lịch đến Việt Nam không khỏi xót xa,
lo cho “núi xác máy bay B52” ở Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam, Bảo tàng Không
quân, hay ở giữa hồ Hữu Tiệp, bởi những xác máy bay kia dù làm bằng những chất liệu


12

bền vững nhất, mà cứ phơi sương phơi nắng thế kia thì rồi cũng có ngày... tan biến. Mà

trên hành tinh này, chỉ có duy nhất Việt Nam bắn hạ được B52.
Khi mỗi di sản thiên nhiên hay di tích xuống cấp, người ta vẫn đổ tội cho ngành văn
hóa, nhưng còn du lịch thì sao? Du lịch cũng không phải vô can khi chỉ biết đầu tư để
khai thác cái ngắn hạn, còn lâu dài thì bỏ qua. Và nói theo nhà sử học Dương Trung
Quốc: “thì chúng ta đang lãng phí những giá trị lịch sử mà tổ tiên để lại.”
4, Thiếu nhân lực lành nghề
Điểm yếu nhất là ngoại ngữ , thiếu nụ cười thân thiện.
Bản báo cáo mới đây củ Tổng cục du lịch cho biết, hơn một nửa số nhân viên du lịch
trong nước không biết ngoại ngữ, ngay cả các thứ tiếng 'phổ thông' như tiếng Anh, tiếng
Pháp.
Khỏi nói tới các thứ tiếng mới thịnh hành như tiếng Hàn, tiếng Nhật, hay 'quý hiếm'
hơn là tiếng Tây Ban Nha, tiếng Ả rập. Trình độ ngoại ngữ bị cho là điểm yếu nhất của
nhân lực ngành du lịch Việt Nam.
Con số đưa ra đã gặp phải phản đối dữ dội từ các chuyên gia đào tạo ngành du lịch.
Tiến sỹ, Phó giáo sư Đinh Trung Kiên, Chủ nhiệm khoa Du lịch thuộc Đại học Quốc
gia Hà Nội nói thống kê như vậy là không chính xác.
"Nếu tính lao động thời vụ tại các khu du lịch thì có thể, nhưng còn nói tới nhân viên
du lịch chuyên nghiệp thì phải đạt trình độ A mới được tuyển".
Nhiều người trực tiếp hoạt động trong ngành du lịch cũng cho rằng, nhận xét của Tổng
cục Du lịch có vẻ như quá bi quan.
Anh Nguyễn Đức Quỳnh, phụ trách marketing khách sạn Melia Hà Nội nói khách sạn
của anh luôn lấy ngoại ngữ làm tiêu chí tuyển chọn nhân viênTuy nhiên anh thừa nhận,
tại một số cơ sở của nhà nước với đội ngũ nhân viên đã có tuổi thì mặt bằng trình độ có
thể còn hạn chế.
Báo chí Việt Nam trích lời nhóm chuyên gia xây dựng chương trình nhân lực du lịch
nói rằng nếu không giải được bài toán nhân lực thì du lịch Việt Nam sẽ khó mà phát triển.
Trình độ chuyên môn, cung cách phục vụ chưa tốt
Nguồn lao đông tuy đông đảo nhưng còn yếu kém về trình độ chuyên môn ,số lao động
có trình độ chuyên môn chiếm 58,3% số lao động.Chưa đáp ứng kịp thời về phát triển du
lịch .Đặc biệt ,phẩm chất người lao động du lịch còn thiếu tác phong công nghiệp ,tính kỉ

luật ,tính hợp tác còn thấp …
Việc quy hoạch khai thác tài nguyên du lịch ở nước ta còn chưa tương xứng với tiềm
năng
“ Người ta nói VN có rừng vàng biển bạc mà không biết khai thác hết. Đó là điểm
yếu của mình”


13

Đó là do Sự quản lí của nhà nước còn chưa đúng mức ,tình trạng chồng chéo quyền hạn
,trách nhiệm trong quản lí du lịch.
III/Cơ hội:( Oportunities)
1, Nền kinh tế quốc gia hội nhập toàn cầu.
1.1.Du lịch với sự phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam

Trong những năm qua, du lịch Việt Nam tăng trưởng tương đối ổn định với tốc độ trung
bình ở mức tương đối cao (khoảng 20%), thị phần du lịch của Việt Nam trong khu vực đã
tăng từ 5% năm 1995 lên trên 8% năm 2005, thu nhập từ ngành du lịch tăng lên nhiều
lần. Đây là một thành công lớn góp phần giúp du lịch trở thành một trong những ngành
có đóng góp lớn vào GDP.
Giai đoạn 1990-2000 có thể khẳng định là giai đoạn bứt phá trong tăng trưởng khách và
thu nhập. Khách quốc tế tăng trên 9 lần, từ 250 nghìn lượt (năm 1990) lên 2,05 triệu lượt
(năm 2000); khách nội địa tăng 11 lần, từ 1 triệu lượt lên 11 triệu lượt; thu nhập du lịch
tăng gần 13 lần từ 1.350 tỷ đồng lên 17.400 tỷ đồng. 5 năm gần đây (2001-2005), tuy
phải đối mặt với rất nhiều khó khăn như chiến tranh, khủng bố, dịch SARS và cúm gia
cầm, nhưng do áp dụng các biện pháp táo bạo tháo gỡ kịp thời, nên lượng khách và thu
nhập du lịch hàng năm vẫn tiếp tục tăng trưởng 2 con số. Khách quốc tế năm 2001 đạt
2,33 triệu lượt, năm 2005 đạt gần 3,47 triệu lượt; khách nội địa năm 2001 đạt 11,7 triệu
lượt; năm 2005 đạt 16,1 triệu lượt; người Việt Nam đi du lịch nước ngoài năm 2005 ước
khoảng 900 nghìn lượt. Du lịch phát triển đã góp phần tăng tỷ trọng GDP của ngành dịch

vụ (riêng GDP du lịch hiện chiếm khoảng 4% GDP cả nước, theo cách tính của UNWTO
thì con số này khoảng 10%). Du lịch là một trong ít ngành kinh tế ở nước ta mang lại
nguồn thu trên 2 tỷ USD/năm. Hơn 10 năm trước, Du lịch Việt Nam đứng vào hàng thấp
nhất khu vực, nhưng đến nay khoảng cách này đã được rút ngắn, đã đuổi kịp và vượt
Philíppin, chỉ còn đứng sau Malaysia, Singapore, Thái Lan và Indonesia. Theo UNWTO,
hiện nay Việt Nam là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng du lịch cao nhất khu


14

vực và thế giới. Năm 2004, Du lịch Việt Nam được Hội đồng Du lịch và Lữ hành thế giới
xếp thứ 7 thế giới về tăng trưởng lượng khách trong số 174 nước; Việt Nam được xếp vào
nhóm 10 điểm đến hàng đầu thế giới.
(?)Có được bước tiến nhanh như vậy là do đâu?
Nền kinh tế quốc gia hội nhập toàn cầu,du lịch Việt Nam đã vươn lên, tham gia
chủ động dần trong hội nhập du lịch quốc tế; thiết lập và mở rộng quan hệ hợp tác du lịch
nhiều mặt với các nước láng giềng, các nước trong khu vực và thế giới; ký 29 Hiệp định
hợp tác du lịch song phương với những nước là thị trường du lịch trọng điểm và đầu mối
giao lưu quốc tế và Hợp tác du lịch đa phương 10 nước ASEAN; đã có quan hệ bạn hàng
với trên 1.000 hãng, trong đó có nhiều hãng lớn, của hơn 60 nước và vùng lãnh thổ. Du
lịch nước ta là thành viên của Tổ chức Du lịch thế giới, của Hiệp hội Du lịch Châu á-Thái
Bình Dương, của Hiệp hội Du lịch Đông Nam á và phát huy được vai trò, khai thác tốt
quyền lợi hội viên. Tham gia chủ động hơn trong hợp tác du lịch tiểu vùng, khu vực, liên
khu vực và thế giới. Nhờ thế đã tranh thủ được vốn, kinh nghiệm, công nghệ, nguồn
khách để phát triển, chủ động gắn kết với du lịch khu vực và thế giới. Tính chủ động hội
nhập cũng được thể hiện rõ trong việc thực hiện chủ trương dựa vào lợi thế so sánh (như
văn hoá, ẩm thực, nguyên liệu, lao động rẻ...) đầu tư ra nước ngoài, chủ yếu là kinh
doanh ăn uống ở các nước láng giềng, Nhật Bản, Đức và Hoa Kỳ.
Theo “Quyết định của thủ tướng chính phủ phê duyệt chiến lược phát triển du lịch
Việt Nam 2001-2010”:Hội nhập, hợp tác quốc tế về du lịch là:

Tăng cường củng cố và mở rộng hợp tác song phương và hợp tác đa phương với các tổ
chức quốc tế, các nước có khả năng và kinh nghiệm phát triển du lịch. Thực hiện tốt hợp
tác du lịch với các nước đã thiết lập quan hệ hợp tác, nhất là hợp tác du lịch Việt Nam Lào - Campuchia, Việt Nam - Lào - Thái Lan, Việt Nam - Lào - Campuchia- Thái Lan Myanmar; tiểu vùng Mêkông mở rộng, hợp tác du lịch sông Mêkông - sông Hằng. Thực
hiện các cam kết và khai thác quyền lợi trong hợp tác du lịch với Tổ chức Du lịch thế giới
(WTO), Diễn đàn hợp tác kinh tế châu á - Thái Bình Dương (APEC), Hiệp hội du lịch
Châu Á - Thái Bình Dương (PATA) và Hiệp hội du lịch Đông Nam á (ASEANTA), Liên
minh châu Âu (EU). Chuẩn bị điều kiện để hội nhập ở mức cao với du lịch thế giới khi
Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO).
Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào
các khu du lịch, các dự án tạo sản phẩm du lịch đặc thù, chất lượng cao. Thu hút và sử
dụng có hiệu quả nguồn vốn ODA cho phát triển nguồn nhân lực, công nghệ và bảo vệ
môi trường du lịch.
(nguồn: />1.2.Thành tựu đạt được của ngành du lịch về quan hệ hợp tác quốc tế hiện nay:


15

Với nỗ lực mở rộng hợp tác quốc tế, du lịch Việt Nam đã ký 42 hiệp định hợp tác du lịch
song phương với các nước là thị trường du lịch trọng điểm và trung tâm giao lưu quốc tế,
tăng cường hợp tác du lịch với các nước khác; ký hiệp định hợp tác du lịch đa phương 10
nước ASEAN; thiết lập và tăng cường hợp tác du lịch với các nước khác; tham gia chủ
động hơn trong hợp tác du lịch Tiểu vùng Mêkông mở rộng, hợp tác Hành lang Đông Tây, hợp tác sông Mêkông - sông Hằng, hợp tác ASEAN, APEC, ASEM, hợp tác trong
Hiệp hội du lịch Châu Á - Thái Bình Dương (PATA), trong Tổ chức Du lịch thế giới
(WTO)…; có quan hệ bạn hàng với 1.000 hãng của 60 nước và vùng lãnh thổ. Nhờ thế đã
tranh thủ được vốn, kinh nghiệm, công nghệ, nguồn khách, đẩy mạnh xúc tiến du lịch và
hội nhập kinh tế quốc tế, chủ động gắn kết hoạt động du lịch Việt Nam với du lịch khu
vực và thế giới. Một số chính phủ và tổ chức quốc tế như Luxembourg, Nhật Bản, Tây
Ban Nha, Hà Lan, Cu Ba, cộng đồng người Bỉ nói tiếng Pháp, EU, WTO… viện trợ
không hoàn lại gần 40 triệu USD về đào tạo nhân lực và hỗ trợ kỹ thuật cho du lịch Việt
Nam; thu hút 9,126 tỷ USD vốn đăng ký đầu tư trực tiếp của nước ngoài (chiếm 7% tổng

số vốn FDI cả nước, không tính số dự án đầu tư vào văn phòng và căn hộ cho thuê).
Ngành Du lịch đã thực hiện chủ trương dựa vào lợi thế so sánh (như văn hóa, ẩm thực,
nguyên liệu, lao động…) đầu tư ra nước ngoài dưới hình thức liên doanh hoặc đầu tư
100% vốn, chủ yếu là kinh doanh ăn uống, và gần đây là kinh doanh lưu trú ở các nước
láng giềng, Pháp, Đức và Hoa Kỳ.
Việc đón tiếp trên 4 triệu khách du lịch quốc tế mỗi năm trong những năm gần đây
và đẩy mạnh tuyên truyền quảng bá du lịch ở nước ngoài đã đóng góp tích cực vào việc
tuyên truyền về đất nước, con người và du lịch Việt Nam, tranh thủ được sự đồng tình
ủng hộ của cộng đồng quốc tế đối với sự nghiệp đổi mới đất nước, tăng cường ngoại giao
nhân dân, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa, đa
phương hóa của Đảng và Nhà nước và góp phần đẩy mạnh Ngoại giao Chính trị - Kinh tế
- Văn hóa.
2.– Nhu cầu du lịch giải trí sinh thái ngay càng cao:
2.1:Những yêu cầu cơ bản để phát triển du lịch sinh thái
Yêu cầu đầu tiên để có thể tổ chức được du lịch sinh thái là sự tồn tại của các hệ
sinh thái tự nhiên điển hình với tính đa dạng sinh thái cao. Sinh thái tự nhiên được hiểu là
sự cộng sinh của các điều kiện địa lý, khí hậu và động thực vật, bao gồm: sinh thái tự
nhiên (natural ecology), sinh thái động vật (animal ecology), sinh thái thực vật (plant
ecology), sinh thái nông nghiệp ( agri-cultural ecology), sinh thái khí hậu ( ecoclimate) và
sinh thái nhân văn (human ecology).
Đa dạng sinh thái là một bộ phận và là một dạng thứ cấp của đa dạng sinh học,
ngoài thứ cấp của đa dạng di truyền và đa dạng loài. Đa dạng sinh thái thể hiện ở sự khác
nhau của các kiểu cộng sinh tạo nên các cơ thể sống, mối liên hệ giữa chúng với nhau và
với các yếu tố vô sinh có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp lên sự sống như : đất, nước,
địa hình, khí hậu... đó là các hệ sinh thái (ecosystems)và các nơi trú ngụ, sinh sống của
một hoặc nhiều loài sinh vật (habitats) (Theo công ước đa dạng sinh học được thông qua
tại Hộ nghị thượng đỉnh Rio de Jannero về môi trường).


16


Như vậy có thể nói du lịch sinh thái là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên (natural based tourism) (gọi tắt là du lịch thiên nhiên), chỉ có thể tồn tại
và phát triển ở những nơi có các hệ sinh thái điển hình với tính đa dạng sinh thái
cao nói riêng và tính đa dạng sinh học cao nói chung. Điều này giải thích tại sao
hoạt động du lịch sinh thái thường chỉ phát triển ở các khu bảo tồn thiên nhiên (
natural reserve), đặc biệt ở các vườn quốc gia (national park), nơi còn tồn tại
những khu rừng với tính đa dạng sinh học cao và cuộc sống hoang dã. tuy nhiên
điều này không phủ nhận sự tồn tại của một số loại hinh du lịch sinh thái phát
triển ở những vùng nông thôn ( rural tourism ) hoặc các trang trại ( farm
tuorism) điển hình.
2.2 Một số điểm du lịch sinh thái đáng chú ý ở Việt Nam
Trong vùng du lịch phía Bắc và Bắc Trung Bộ có điều kiện hình thành tuyến du
lịch sinh thái phía Đông Bắc từ thành phố Hà Nôi-Bắc Ninh-Bắc Cạn- Lạng Sơn-Cao
Bằng phong phú và đa dạng về yếu tố sinh thái vốn có của đất nước. Chiều dài của tuyến
du lịch khá thuận tiện về đường bộ, những năm gần đây nhiều đường xá đã được nâng
cấp hoàn chỉnh như đường quốc lộ mới, đường 32 v.v... Về mặt lưu trú của du khách cũng
có các khách sạn với tiện nghi hiện đại. Nhiều tổ chức lữ hành , phục vụ thông tin liên
lạc, quảng bá v.v... các Sở Du lịch, các công ty kinh doanh du lịch về các làng bản, nhân
dân địa phương trên tuyến điểm du lịch đã có kinh nghiệm tốt đảm bảo niềm tin gây cảm
tình đối với du khách. Tuyến du lịch có thể tổ chức dài từ 4-5 ngày đối với toàn tuyến,
tuy nhiên có thể tuỳ theo yêu cầu của du khách mà có thể phân thành mộttuyến nhất định.
Điều đáng mừng là những năm gần đây nhiều tỉnh, thành trong cả nước đã hưởng ứng
tích cực loại hình du lịch sinh thái. Loại hình du lịch này bước đầu đã được chú ý đầu tư
để thu hút nhiều khách tham quan, đồng thời hình thành và phát huy chất lượng phục vụ
của các tuor du lịch làm cho du khách thấy thoải mái, chủ động.
Sở Du lịch tỉnh Hà Tây đã mở thêm các tour du lịch sinh thái vườn lồng ghép các
tour du lịch làng nghề như vuờn sinh thái ở Chương Mỹ, ở Thường Tín, khu du lịch sinh
thái Song Phương, trang trại sinh thái Vân Canh ở Hoài Đức, vườn có Ngọc Nhị ở Ba Vì
v.v... Ở Khánh Hoà củng mở các tour du lịch mới đưa du khách đến khu vực Đầm Môn ,
bãi tắm Xuân Đừng ở vịnh Văn Phong v.v... các du khách boi thuyền trên vịnh, thăm một

số bãi biển trên vịnh, thăm làng nghề Hà Đằng từ nhiều năm còn cách biệt với đất liền,
thưởng ngoạn Dốc Lết, tắm suối nước nóng Tháp Bà v.v...Huyện Sa Pa nằm sâu trong rìa
Tây Nam , là huyện từ khi ra đời được coi là vùng khí hậu ôn đới đặc biệt của Việt Nam.
đây là điểm du lịch sinh thái rất hấp dẫn đối với khách du lịch trong và ngoài nước.
Trong vùng du lịch Nam Trung Bộ và Nam Bộ cần phải kể đến tiểu vùng(hoặc khu
vực) du lịch Cần Thơ có các yếu tố sinh thái đặc trưng mà các tỉnhtrong vùng này khó hội
đủ. Tình này là vùng đất màu mỡ của đồng bằng sôngCửu Long, nên ngày từ thời còn
thuộc Pháp người dân Nam Bộ đã mệnh danh Cần Thơ là Tây Đô. Ở đây chính quyền


17

thực dân đã bố trí đầy đủ quyền lực để củng cố địa vị độc tôn của họ về mặt chính trịhành chính; còn về kinh tế xã hội cũng sớm phát triển. Là tâm điểm thu hút nhà buôn, nhà
đầu tư, nhà khoa học, nhà văn hoá do các yếu tố sinh thái đa dạng của Cần Thơ vốn sẵn
ưu thế về địa lý, giao thông, về thương mại, cả về du lịch nữa. Riêng về địa lý tự nhiên ở
đây là hàng trăm dòng kênh, dòng rạch trên hàng ngàn km chằng chịt bồi đắp phù sa màu
mỡ của sông Hậu cho các cánh động, đảm bảo năng suất cây lúa của miền Nam. Các khu
vườn cây trái theo mùa vụ trĩu quả, đậm đà hương vị riêng biệt như bưởi, ổi, chôm chôm,
quýt đường, cam sành, sầu riêng, xoài cát, đu đủ, măng cụt, mận, nhẵn v.v... Cùng các
khu vườn nhà của các hộ dân cư nông trường Sông Hậu trên diẹn tích 7000 ha vừa gieo
trồng các giống lúa mới đạt năng suất cao, có chất lượng, các dòn rạch với hai bờ xanh
cây bạch đàn và các loại cây ăn quả về mô hình kinh tế sinh thái độcđáo “ Ruộng , vườn,
ao, chuồng” tiêu biểu v.v... Sự hấp dẫn về du lịch sinh thái của vung Cần Thơ làm cho du
khách trong các tuor du lịch cùng với việc tham quan cac yếu tố kinh tế xã hội đa dạng
phong phú đã tăng liên tục từ năm 2000 góp phần vào số doanh thu của ngành du lịch của
Việt Nam.
Từ năm 2002 ở Củ Chi thuộc thành phố HCM đã bắt đầu đón khách đến nghỉ mát
ở khu du lịch thuộc xã Nhân Đức trên diện tích rộ đến 180 ha gồm 3 khu vực : một khu
du lịch 25 ha gồm nhà lưu niệm, vườn hoa, khu vui chơi trên nước, khu các bộ tộc Bana,
Chơ Ro, Mường, khu nhà hàng v.v... khu thứ 2có các trại gia cầm, trại cá gồm 19 ao với

diện tích khoảng 20.000 m2 nuôi trên 1.000.000 vịt anh đào, có diện tích riêng nuôi cá rô
phi, cá chép... Khu thứ 3 rộng trên 100ha trồng thuần cây giống nhập từ Đài Loan là cây
Ma-li-ba-lu có gốc từ Nam Mỹ được mệnh danh là cây phát tài để xuất khẩu.
Sở Du lịch thành phố Hồ Chí Minh quan tâm đầu tư loại hình du lịch sinh thái
trong kế hoạch 5 năm 2001-2005, trong đó có quy hoạch tổng thể phát triểndu lịch sinh
thái Cần Giờ, ghuẩn bị xây dựng một cầu cảng du lịch tại Bình Thung ở quận 7 để phát
triển du lịch bằng đường biển và đường sông, tiếp tục triển khai kế hoạch phát triển du
lịch sinh thái ở khu vực Tây-Bắc thành phố cùng với dự án hình thành khu phố văn hoádịch vụ-du lịch người Hoa ở quận 5.
Đồng thời trong kế hoạch 2001-2010 nhằm phát triển loại hinh du lịch sinh thái mô hình rất cần thiết, các nhà quản lý du lịch ở thành phố Hồ Chí Minh còn lien kết mật
thiết với một số tỉnh như Quảng Nam, Bình Thuận, Tây Nguyên v.v... để thu hút du khách
thực hiện các tour du lịch sinh thái. Cách trung tâm thành phố Hồ Chí Minh khoảng 19
km về phía Bắc thuộc phường Tân Phú ở quận 9, Khu du lịch Suối Tiên có diện tích
khoảng 100 ha từ năm 1999 đã trở thành một điểm hẹn du lịch mới ở các tỉnh miền Đông
Nam Bộ. Vốn là một nơi hoang dã có một dòng suối nhỏ chảy qua từ nhiều năm trước
cho đến mãi cuối năm 1995 các nhà quản lý của Công ty xuất nhập khẩu lâm sản, mỹ
nghệ, thương mại và du lịch Suối Tiên về phát triển du lịch nên đã thống nhất nhạnh dạn
hợp tác đầu tư thành điểm du lịch sinh thái.
Ở điểm này có các công trình như Đền Vua Hùng, cổng Thần Tiên, Cầu Kiệu,
cung Kỳ Lân, Giếng Mỵ nương v.v... là những cảnh quan nghệ thuật gọi cho du khách về
truyền thống hào hùng của dân tộc Việt Nam. Gần đấy có khu vui chơi giải trí cùng với


18

hệ thống cáp treo từ trên cao nhìn xuống công trình Long - Lân - Quy - Phụng nên khu
Suối Tiên được người đương thời gọi là vùng đất tứ linh.
Trong năm 2002 công trình biển Tiên Đồng bao bọc cả dãy núi gọi là Giả Sơn
cùng những di tích văn hoá sinh thái là nui Lạc Long Quân đối diện với nuiÂu Lạc v.v...
Phía bên trong các dãy Giả Sơn có những hang động mô phỏng các hang động như Phong
Nha, Nam thiên đệ nhất Động v.v... Khi du khách leo đến bậc đá cuối cùng ở núi Lạc

Long Quân là nhìn thấy cảnh quan bát ngát của thành phố Hồ Chí Minh.
Ở làng du lịch sinh Xi-Va tại Mũi Né, Phan Thiết do công ty du lịch Than Niên
thành phố Hồ Chí Minh và công ty lương thực tỉnh Bình Thuận đã đầu tưtrên diện tích ở
bãi Mũi Né sát biển dưới các hàng phi lao thoáng mát cùng gió biển gồm các nhà nghỉ
bằng bê tông kết hợp các loại vật liệu dân tộc như gỗ, mây, tre, dừa, trang trí phù điêu
bằng thạch cao, bằng gạch men theo phong cách cổ truyền bộ tộc Chăm-Pa. Trong các
tháng đầu năm 2003 này các nhà quản lý làng nghỉ mát Xi-Va lần lượt tổ chức các chuyến
đi cho du khách dạo chơi bằng ca-nô, đánh bắt hải sản, tham quan tìm hiểu các hòn đảo
gần kề. Thăm quan tìm hiểu các hòn đảo gần kề, thăm làng thổ cẩm, làng gốm Chăm. Các
tiết mục múa Chăm có trình diễn các nhạc cụ Chăm làm cho du khách có dịp thuận tiện
tìm hiểu thưởng thức các nét văn hoá đặc sắc của bộ tộc Chăm v.v...
Huyện Cam Ranh thuộc tỉnh Khánh Hoà cũng đang triển khai các dự án phát triển
loại hình du lịch sinh thái như dự án khu du lịch sinh thái Bãi Dài, dự án khu du lịch sinh
thái thuộc công ty trách nhiệm hữu hạn du lịch- địa ốc Hồng Hà, khu du lịch Cam Ranh
thế kỷ XXI. Tại vịnh Văn Phong du khách thường bơi thuyền thăm các bãi biển gần như
nguyên sơ, thăm làng Hà Đằng từ nhiều năm vẫn còn cách biệt với đất liền, thưởng ngoạn
dốc Lết, tắm suối nước nóng Tháp Bà...
Cùng với các hang động như đã liệt kê điển hình ở một số nơi trong hệ sinh thái
rừng-núi-hang động của Việt Nam có trên 400 suối nước nóng Kim Bôi ở tỉnh Hoà Bình,
suối nước nóng Hội Vân ở tỉnh Bình Định v.v... Đồng thời không ít vùng còn có nhiều
thác nước mát nổi tiếng như thác Mơ nằm giữa khu bảo tồn thiên nhiên Nà Hang cách thị
xã Tuyên Quang 100 km tạo nên một cảnh quan hấp dẫn; thác Bản Giốc ở huyện Trùng
Khánh tỉnh Cao Bằng trên dòng sôngQuầy Sơn chảy vòng quanh lãnh thổ Việt Nam đến
xã Đàm Thuỷ và từ độ cao trên 30m dòng nước trắng xoá đổ xuống qua các bậc đá vôi.
Tại tỉnh Bắc Kạn có thác Đầu Đẳng cách hồ Ba Bể khoảng 3km. Tỉnh Nghệ An có thác
Khe Kẻm trong khu bảo tồn thiên nhiên Pù Mạt thuộc huyện Côn Cường. Tỉnh Gia Lai có
thác Xung Khoeng thuộc huyện Chư Pờ Rông. Tỉnh Đắc Lắc có thác Drây Sáp. Tỉnh Lâm
Đồng có thác Prenn, thác Pong Gua, thác Đam-bờ Ri, thác Cam Ly, thác Đan Ta La, thác
Gou Gah v.v... cũng cách thành phố Đà Lạt chừng 7 km về phía Đông-Bắc từ thời Pháp
có thung lũng khá đẹp do một số du khách nước này đặt tên là Thung Lũng Tình Yêu

(Valléc d’amour) có một cảnh hồ rộng chừng 6 ha với cai tên là hồ Đa Thiện được du
khách, đặc biệt là giới trẻ thường đến vãn cảnh đẹp.
Cùng với các loại tài nguyên du lịch tự nhiên, Việt Nam còn có nhiều di sản văn
hoá lịch sử cổ đại, hiệ đại quý mà các loại hình du lịch cần khai thác đểphát triển du lịch
sinh thái. Lịch sử lâu đời của đất nước cho thấy trước khi cónhà nước khoảng 2000-4000


19

năm những người tiền sử đã sống, hái lượm, lao động sản xuất, phát triển tập quán, phong
tục và để lại những di chỉ có giá trị.
Tiếp theo các thế hệ liên tục vừa xây dựng nền kinh tế, phát triển đời sống vật chất
và tinh thần, không ngừng đấu tranh bảo vệ nền độc lập của đất nước làm cho các di sản
văn hoá phát triển vừa đa dạng, vừa độc đáo. kho tàng tài nguyên du lịch về di sản văn
hoá phi vật thể và những tài nguyên văn hoá đương đại nói chung quả là lớn góp phần tạo
thêm cơ sở vật chất ổn định để ngành du lịch có điều kiện khai thác, bảo tồn nhằm góp
phần tích cực, có hiệu quả vào sự tăng trưởng của nền kinh tế đất nước.
Tính ra trong cả nước từ miền xuôi đến miền ngược đến hàng ngàn tục lễ đậm đà
tính chất truyền thông xã hội - nhân văn biểu hiện rõ tình cảm quý giá đối với các nhân
vật anh hùng, liệt sỹ có công. Nhưng nói chung đều ghi nhớ những đóng góp vô giá của
các tiền nhân lịch sử và là những di sản văn hoá phi vật thể mà 54 dân tộc anh em VIệt
Nam rất tự hào.
Các lễ hội đều thường diễn ra vào các tháng đầu năm âm lịch; có lễ hội kéo dài
qua nhiều ngày. Nếu đúng dịp diễn ra lễ hội mà có các đoàn khách trong các tuor du lịch
thì quả là cơ hội hiếm có đối với họ. Các du khách có thể hoà nhịp cùng lễ hội, những
giọng hát chân thành, êm dịu, cùng tham gia các diệu múav.v... là chắc chắn khi về họ
mãi nhớ những buổi hội ngộ lắng đọng đối với họ.
2.3:Những cô hội cho ngành du lịch:
2.3.1: Cơ hội cho du lịch sinh thái của các khu bảo tồn thiên nhiên
Việt Nam nằm trong vùng châu Á, nơi mà tổ chức du lịch thế giới và nhiều

nhà chuyên môn du lịch có tên tuổi đã khẳng dịnh và dự báo rằng sẽ là nơi thu
hút nhiều khách du lịch quốc tế nhất cà cũng có nhiều người đủ điều kiện đi du
lịch nhất (500 triệu người) ở thế kỷ 21.
Từ những, phân tích, đánh giá dự báo đó cho ta một kết luận nguồn khách
du lịch sinh thái quốc tế gắn với thị trường du lịch Việt nam là khách quan và là
một tiềm năng.
Hiện nay, số khách du lịch trong nước đã tăng lên tới 8,5 triệu lượt khách. Trong
đó có bao nhiêu khách thuộc đối tượng du lịch sinh thái? Chưa có số liệu tin cậy bởi khái
niệm du lịch sinh thái chưa được quan tâm dẫn đến trong thống kê du lịch chưa được thể
hiện. Căn cứ vào số khách đến với các vùng thiên nhiên với động cơ hưởng thụ vào sản
phẩm thiên nhiên như: các vườn quốc gia và bảo tồn thiên nhiên , vãn cảnh sông nước ,
hành trình xuyên Việt, thám không vùng vịnh hay đến các khu tự nhiên Hạ Long,
TamCốc – Bích Động … thì tỷ lệ cũng không nhỏ có thể chiếm tới 30 – 40% tổng số
khách hàng năm.
Tuy nhiên với khái niệm đầy đủ về du lịch sinh thái vế thứ hai là ý thức , trách
nhiệm với việc bảo tồn phát triển du lịch sinh thái thì chưa có những tư duy, giáo dục tốt


20

về vấn dề này. Với tốc độ đô thị hoá như hiện nay chất lượng cuộc sống ngày càng được
nâng cao và cải thiện…Chắc chắn nhu cầu đi du lịch sinh thái sẽ tăng lên đáng kể, không
còn giới hạn ở con số 4 – 5 triệu người/năm mà có thể lên đến hàng chục triệu người mỗi
năm trong các năm tới đây.
Xét về tiềm năng du lịch sinh thái của nước ta với vị trí nằm tiếp giáp với biển
Đông với chiều dài trên 3200km bờ biển có nhiều, vịnh đảo và những quần thể núi đá
vôi, sông, hồ, thác nước, hang động, suối nước nóng, và 3/4 diện tích núi rừng với độ dốc
cao …đã tạo cho Việt nam rất phong phú và đa dạng về khí hậu và địa hình địa mạo nên
rất giàu về tiềm năng sinh thái cũng như sự đa dạng sinh thái .
Theo đánh giá của quốc tế, nước ta đứng thứ 16 về sự phong phú, tính đa dạng sinh

học, đại diện cho vùng Đông nam Á về sự độc đáo và giàu có về thành phần loài. Mặc dù
bị tổn thất về diện tích do nhiều nguyên nhân trong hai thập kỷ qua, nhưng hệ thực vật
vẫn còn khá phong phú về chủng loại. Tiềm năng và thế mạnh về sự đa dạng sinh thái của
Việt nam hấp dẫn du lịch ở các đạc trưng sinh thái dưới đây:
- Các vùng núi đá vôi với nhiều dạng hang động như là một kho tàng cảnh quan thiên
nhiên huyền bí mà trong đó Vịnh Hạ long – di sản thiên nhiên thế giới , động Phong Nha
– Kẻ Bàng làm ví dụ .

- Nhiều đảo, vịnh và bãi tắm biển đẹp với các sinh thái dộng vật, thực vật biển phong
phú và đa dạng.
- Hệ thống vườn bảo tồn thiên nhiên đa dạng và phong phú về hệ động thực vật rừng
xen kẽ với nhiều dân tộc có người sinh sống có những bản sắc văn hoá hết sức đa dạng.
- Các vùng sinh thái nông nghiệp đặc trưng nền văn minh lúa nước nhiều sông lạch,
miệt vườn.


21

Ở Việt nam hệ thống rừng đặc dụng được hiểu là hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên có
diện tích 2.119.509 ha, bao gồm 11 vườn quốc gia , 64 khu dự trữ thiên nhiên , 32 khu di
tích lịch sử, văn hoá, môi trường. Sau khi rà soát lại Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn đã lập một danh mục 101 khu rừng đặc dụng đề nghị chính phủ phê duyệt và phân
thành 4 loại : Vườn quốc gia (11 vườn), Khu dự trữ thiên nhiên (53 khu), Khu bảo tồn
loài và sinh cảnh (16 khu) và Khu bảo vệ cảnh quan (21 khu). Theo danh sách này thì còn
thiếu nhiều khu bảo tồn thiên nhiên vùng biển và vùng đất ngập nước. Tuy nhiên cho đến
nay Chính Phủ vẫn chưa phê duyệt.
Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, các khu bảo tồn thiên nhiên Việt nam có
nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng rất thuân lợi cho việc phát triển du
lịch sinh thái.
Các nhà sinh thái học thường nhắc đến sự phong phú về các kiểu hệ sinh thái và thực

bì ở Việt nam. Theo thống kê, Việt nam có tới 26 kiểu thực bì tập trung thành 6 nhóm,
trải từ rừng kín thường xanh, rừng rụng lá và bán rụng lá, rừng thường xanh hở, rừng
thường xanh cây bụi đến các thảm cỏ. Ngoài ra Việt nam còn có 5 nhóm hệ sinh thái thuỷ
vực, trải từ nước ngọt đứng, nước ngọt chảy, nước ngọt ngầm, nước lợ và nước mặn. Hệ
sinh thái đất ngập nước cũng dang được các nhà khoa học Việt nam nghiên cứu. Khu bảo
tồn thiên nhiên đất ngập nước Xuân thuỷ, Vườn Quốc gia Tràm chim ở đồng bằng sông
Cửu Long là những địa điểm ngắm chim nước lí tưởng.

(Vườn Quốc gia Tràm chim)


22

Không chỉ phong phú trên phương diện hệ sinh thái, thiên nhiên còn ban cho Việt nam
sự đa dạng sinh học cao về các loài đặc hữu, có khoảng 1200 loài là loài đặc hữu trong
tổng số 12000 loài thực vật ở Việt nam(theo ước tính).
Trong số 15.575 loài động vật có 172 loài đặc hữu trong số đó có 14 loài là thú. Đặc
biệt sự kiện gây chú ý nhất trong giới bảo tồn thế giới là phát hiện 3 loài thú lớn ở Việt
nam: Sao la(1992), Mang lớn(1994), Mang Trường Sơn(1997). Khoảng 58% số loài thực
vật và 73% số loài động vật quý hiếm, đặc hữu của Việt nam tập trung trong các khu bảo
tồn thiên nhiên. Tuy nhiên các loài thú lớn của Việt nam khó tiếp cận hơn các loài của
Châu phi, và đôi khi sự tiếp cận là không thể chấp nhận được vì các loài vật này bản thân
chúng đang có nguy cơ tuyệt chủng cần được bảo vệ và chúng sống trong các hệ sinh thái
tương đối mong manh. Tình trạng này có thể được khắc phục nếu có quy hoạch thích
hợp. Chẳng hạn như khoanh vùng bảo vệ, xây dựng chòi quan sát từ xa có thể xem được
một số con tê giác còn sống sót tại vườn quốc gia Cát Tiên mà đầu tháng5/1999 các nhà
nghiên cứu đã chụp được những bức ảnh đầu tiên bằng máy ảnhtự động. Khi có các
nguồn tài chính có thể xây dựng các khu nuôi thú bán hoang dã. Hiện tại ở Vườn quốc
gia Cúc phương đã xây dựng được một khu nuôi các loài linh trưởng rộng khoảng 2 ha.
Du khách có thể tham quan và ngắm nhìn một số loài khỉ vượn vào lúc cho ăn. Vườn

quốc gia Ba vì cũng đang xây dựng khu nuôi thú và chim bán hoang dã ở khu vực có độ
cao 400 mét so với mực nước biển.
Sự đặc hữu về động thực vật là một hấp dẫn đối với du lịch sinh thái mang tính chất
nghiên cứu khoa học. Những nhà khoa học có thể đến đây để tìm hiểu những loài động
thực vật chỉ có ở Việt nam. Sự phong phú về hệ sinh thái ở Việt nam sở dĩ có được là nhờ
sự đa dạng về địa hình của đất nước. Sự đa dạng về địa hình kết hợp với sự phong phú về
hệ sinh thái đã cho ra đời những sản phẩm, địa điểm du lịch sinh thái hấp dẫn. Hấp dẫn
nhất phải kể đến rừng mưa nhiệt đới Vườn quốc gia Cúc phương, Cát bà, Ba bể, Bạch mã
và khu bảo tồn thiên nhiên Phong nha – Kẻ bàng, Hoàng liên sơn .


23

Phong nha-Kẻ bang.
Nhiều vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên phân bố dọc theo 3260 km bờ biển
với hệ động thực vật còn khá phong phú và nhiều bãi tắm lý tưởng như Trà Cổ, Bãi Cháy,
Đồ Sơn, Xuân Thuỷ, Sầm Sơn, Lăng Sô, Bình Châu, Phước Bửu. Các vườn quốc gia và
khu bảo tồn thiên nhiên vùng đảo và quần đảo cũng là địa điểm du lịch sinh thái nổi
tiếng. Nơi đây ngoài hệ sinh thái trên cạn còn có hệ sinh thái trên biển với các rạn san hô
có thành phần loài phong phú. Chúng ta có thể tổ chức du lịch lặn, xem hệ động thực vật
biển phong phú trong các rạn san hô ở khu vực đảo Cát Bà, Côn Đảo, Phú Quốc và các
đảo thuộc khu vực Nha Trang, Khánh Hoà.

Phú Quốc.


24

Ba phần tư diện tích lãnh thổ của Việt nam là đồi núi với nhiều đỉnh núi cao có khí
hậu mát mẻ rất thuận lợi cho du lịch nghỉ dưỡng mùa hè. Những địa điểm nổi tiếng như

Sa Pa, Tam Đảo, BaVì, Bạch Mã, Bà Nà - Núi Chúa đã được người pháp khai thác cách
đây nửa thế kỷ và hiện còn lưu giữ nhiều tàn tích của các biệt thự cũ. Từ các trung tâm
ngỉ dưỡng nay ta có thể thiết kế các đường mòn thiên nhiên với cự ly từ 2 –3 km để kết
hợp du lịch sinh thái với các loại hình du lịch khác. Sông, suối, thác, ghềnh, hồ tự nhiên
và nhân tạo trong các khu bảo tồn thiên nhiên ở các vùng núi rất thuận lợi cho việc phát
triển loại hình du lịch mạo hiểm và du lịch thể thao dưới nước .
Cũng một nỗ lực nghiên cứu tiềm năng du lịch sinh thái của Việt nam, Nguyễn Quang
Mỹ và nhiều nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rất nhiều hang động ở các vườn quuốc gia và
các khu bảo tồn thiên nhiên vùng núi đá vôi trên phạm vi cả nước. Động Phong nha,
Chùa hương,Tam cốc, Bích động, các hang động trong khu vực di sản thiên nhiên Hạ
long là những điểm tham quan nổi tiếng trong và ngoài nước.
Theo sự phân tích của Ngô Đức Thịnh, từ đa dạng về tự nhiên dẫn đến sự đa dạng về
văn hoá. Chính vì vậy mà mà người Việt nam không thuần nhất mà gồm 54 dân tộc khác
nhau. đáng chú ý hơn là các dân tộc thiểu số thường sống kề gần hoặc trong các khu bảo
tồn thiên nhiên. Họ hiện vẫn đang lưu giữ được phong cách sống, bản sắc văn hoá riêng
và tập tục độc đáo. Điều này khiến Việt nam càng trở nên hấp dẫn trên phương diện du
lịch sinh thái. Hiện tại đời sống của những người dân ở đây có nhiều khó khăn thiếu thốn.
Đây cũng là cơ hội để du lịch sinh thái thể hiện mình, đóng góp vào phát triển cộng đồng
tại các điểmdu lịch .
2.3.2 Cô hội cho du lịch sinh thái biển.
Việt Nam là quốc gia ven biển, có vị trí địa lý - chính trị quan trọng trong giao lưu
quốc tế. Biển và thềm lục địa có vai trò quan trọng phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm chủ
quyền, an ninh quốc gia. Vì vậy, phát huy lợi thế một quốc gia có biển, kết hợp vói phát
triển kinh tế với an ninh - quốc phòng đã trở thành chiến lược lâu dài của đất nước ta.


25

Phát triển du lịch biển góp phần thúc đẩy sự phát triển của nhiều ngànhkinh tế khác:
Du lịch biển là ngành kinh tế có tính liên ngành, vì vậy, sự phát triển của du lịch biển sẽ

kéo theo sự phát triển của nhiều ngành trong mối quan hệ tương hỗ. Đồng thời, tạo cơ hội
phát triển mới, làm tăng nguồn thu cho quốc gia và cải thiện cán cân thanh toán, góp
phần đẩy mạnh phát triển nền kinh tế biển, đa dạng hóa nền kinh tế cho suốt dọcvùng
duyên hải và hải đảo của 29 tỉnh, thành phố, là cửa mở có sức lôi kéo và thúc đẩy các
vùng khác phát triển. Thu hút đầu tư cả trong và ngoài nước. Phát triển du lịch biển tăng
cơ hội tạo việc làm, hiện nay trên thế giới có157 quốc gia có biển và ở các mức đọ khác
nhau, vấn đề việc làm cho người dân vùng ven biển là một khó khăn không nhỏ ở nước ta
hiện nay. Bởi nếu số người chưa có việc làm quá lớn ở khu vực địa lý chính trị có tính
nhạy cảm cao này sẽ dẫm đến những vấn đề xã hội, hình htành nhân tố không ổn định đối
với sự phát triển kinh tế nói chung và an ninh quốc phòng. Vì thế, giải quyết việc làm cho
người dân vùng ven biển là một việc rất quan trọng đối với chính phủ. Du lịch nói chung
và du lịch biển nói riêng là ngành kinh tế tổng hợp có tính xã hội hoá cao, có khả năng
tạo nhiều công ăn việc làm cho xã hội trong quá trình phát triển. Vì vậy, việc phát triển du
lịch biển có ý nghia khá quan trọng trong việc giải quyết vấn đề nói trên, đặc biệt trong
bối cảnh hiện nay khi số lao động cần bố trí việc làm ở vùng ven biển nước ta đã lên đến
khoảng 10 triẹu người (chiếm khoảng 84% dân số trong đọ tuổi lao động ở 29 tỉnh, thành
ven biển).


×