Tải bản đầy đủ (.doc) (18 trang)

Xử lý hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông nguyễn văn h, trong đó có phần diện tích tăng thêm so với giấy chứng nhận đã cấp tại xóm 1, TT2, huyện a, tỉnh e năm 2016

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (201.08 KB, 18 trang )

MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU

1

I. MÔ TẢ TÌNH HUỐNG

2

II. XÁC ĐỊNH MỤC TIÊU XỬ LÝ TÌNH HUỐNG

5

III. PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN, HẬU QUẢ CỦA TÌNH

5

HUỐNG
1. Nguyên nhân

6

2. Hậu qua

7

IV. XÂY DỰNG PHƯƠNG ÁN VÀ LỰA CHỌN PHƯƠNG ÁN

8

GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG


1. Cơ sở pháp lý để xây dựng phương án

8

2. Xây dựng các phương án giai quyết tình huống

8

3. Lựa chọn phương án giai quyết tình huống

10

V. LẬP KẾ HOẠCH TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHƯƠNG ÁN LỰA

10

CHỌN
VI. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

14

1. Kết luận

14

2. Kiến nghị

15

TÀI LIỆU THAM KHẢO


17

LỜI NÓI ĐẦU

0


Đất đai là san phẩm tự nhiên, có trước lao động, là tài san chung của toàn
xã hội. Đất đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá của mỗi quốc
gia, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống.
Đất đai là nguồn tài nguyên có hạn về số lượng, có vị trí cố định trong
không gian, có tính không thay thế, tính vĩnh viễn. Đất đai không thể thay đổi
theo ý muốn chủ quan của con người, là vấn đề sống còn của mỗi quốc gia.
Quan lý và sử dụng đất đai một cách có hiệu qua là nhiệm vụ cấp thiết của Đang
và Nhà nước ta. Bởi đất đai là vốn Tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc
gia, là tư liệu san xuất đặc biệt, đất đai chiếm một vị trí quan trọng trong môi
trường sống, các cơ sở kinh tế - văn hoá - xã hội - an ninh và quốc phòng đồng
thời mọi người dân đều nhờ đất mà sinh sống và phát triển.
Trong quá trình chuyển đổi cơ chế và thực hiện luật đất đai của Nhà nước,
hoạt động quan lý Nhà nước về đất đai là vấn đề hết sức quan trọng đang được
sự quan tâm của Đang uỷ, UBND tỉnh và các cấp, ban, ngành có liên quan và
một trong những công cụ để Nhà nước quan lý đất đai hiệu qua chính là việc cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các thửa đất.
Là một cán bộ công tác tại Văn phòng Đăng ký đất đai chi nhánh Hòa An,
sau một thời gian tham gia học tập lớp Bồi dưỡng Kiến thức Quan lý Nhà nước
ngạch chuyên viên khoá 71 tại trường Chính trị Hoàng Đình Giong, được trang
bị những kiến thức cơ ban về Quan lý Nhà nước, tôi chọn đề tài xử lý tình huống
sau: “Xử lý hồ sơ cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn
Văn H, trong đó có phần diện tích tăng thêm so với Giấy chứng nhận đã cấp

tại xóm 1, TT2, Huyện A, tỉnh E năm 2016” làm tiểu luận cuối khoá học. Đây
là một cơ hội tốt để ban thân tôi vận dụng những kiến thức đã học, liên hệ với
thực tế, trên cơ sở đó đưa ra những giai pháp thiết thực phù hợp giúp cho quá
trình công tác của ban thân ngày càng tốt và hoàn thiện hơn.
Trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài, với sự hiểu biết còn hạn chế,
thời gian đầu tư cho nghiên cứu có hạn, tôi mạnh dạn nêu lên những suy nghĩ,
1


quan điểm của mình về xử lý tình huống. Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song
không thể tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót. Rất mong nhận được những ý
kiến đóng góp của các Thầy giáo, Cô giáo để bài viết được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cam ơn!
I. MÔ TẢ TÌNH HUỐNG
Ngày 10/6/2016 Văn phòng Đăng ký đất đai Chi nhánh Huyện Hòa An
nhận được hồ sơ đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông
Nguyễn Văn H, Xóm 1, huyện A, tỉnh E cụ thể như sau: ông Nguyễn Văn H
được UBND huyện A cấp đất lần đầu năm 2004 với diện tích 280.5 m2, được cấp
đất bổ sung lần 2 năm 2010 với diện tích giao bổ sung là 100.0 m 2, như vậy tổng
diện tích sau hai lần giao đất của Nguyễn Văn H là 380.5 m2.
Hồ sơ mà Nguyễn Văn H cung cấp cho Văn phòng Đăng ký đất đai Chi
nhánh Huyện A gồm:
- Đơn đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (theo mẫu).
- Báo cáo kết qua rà soát hiện trạng sử dụng đất của Hộ ông Nguyễn Văn
H.
- Quyết định giao đất của UBND huyện A cho Nguyễn Văn H ngày
03/8/2004.
- Quyết định giao đất của UBND huyện A cho Nguyễn Văn H ngày
03/8/2010.
- Mặt bằng địa giới giao đất năm 2004 do Sở Tài nguyên và Môi trường

tỉnh E phê duyệt.
Qua xem xét, nhận thấy hồ sơ đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất của ông Nguyễn Văn H đã đầy đủ. Văn phòng Đăng ký đất đai tiến
hành thẩm định nội nghiệp hồ sơ của ông Nguyễn Văn H. Kết qua thẩm định nội
nghiệp như sau:

2


Lần giao đất thứ nhất, ông Nguyễn Văn H được giao khu đất 180.5 m 2 có
các phía tiếp giáp như sau:
+ Phía Bắc giáp: Phần đất cón lại của khu vực
+ Phía Đông giáp: Đất Trồng màu và chân núi đá
+ Phía Tây Giáp: Đường nhánh theo quy hoạch
+ Phía Nam giáp: Trường Mầm Non của huyện
Lần giao đất thứ hai, ông Nguyễn Văn H được giao thêm 100.0 m 2, phần
đất giao bổ sung có các phía tiếp giáp như sau:
+ Phía Bắc giáp: Đất trồng cây lâu năm
+ Phía Đông giáp: Đất ruộng
+ Phía Tây Giáp: Phần đất của tông Nguyễn Văn H được giao năm
2004
+ Phía Nam giáp: Núi đá
Qua hai lần giao đất, hiện trạng ranh giới, diện tích sử dụng đất của ông
Nguyễn Văn H là 280.5 m2 và tiếp giáp như sau:
+ Phía Bắc giáp: Đất trồng cây lâu năm
+ Phía Đông giáp: Đất ruộng
+ Phía Tây Giáp: Đường
+ Phía Nam giáp: Núi đá và Trường Mầm Non của huyện
Căn cứ vào ban đồ địa chính tỷ lệ 1/500 đo vẽ năm 2013 tại thị trấn của
huyện A thì diện tích trên ban đồ địa chính mà ông nguyễn Văn H đang sử dụng

là 342.5 m2. Như vậy, diện tích đất mà ông nguyễn Văn H đang sử dụng trên ban
đồ địa chính nhiều hơn diện tích mà UBND huyện đã giao cho ông nguyễn Văn
H là 60.2 m2.

3


Căn cứ vào kết qua thẩm định hồ sơ nội nghiệp thấy, hiện trạng ranh giới,
diện tích mà ông nguyễn Văn H đang quan lý, sử dụng không đúng với quyết
định của hai lần giao đất, hơn nữa căn cứ vào mặt bằng hai lần giao đất và ban
đồ địa chính thì ranh giới sử dụng đất được giao so với hiện trạng cũng có sự
thay đổi. Do vậy, bộ phận cấp Giấy chứng nhận của Văn phòng Đăng ký đất chi
nhánh huyện A tiến hành thẩm định ngoài thực địa vào ngày 15/6/2016. Kết qua
thẩm định ngoài thưc địa như sau:
Trên thực địa, toàn bộ khu đất nhà trường đang quan lý sử dụng đã được
xây tường bao xung quanh. Các mốc giao đất lần đầu năm 2004 đã không còn,
chỉ còn các mốc bê tông của lần giao đất lần hai, các mốc này đều nằm bên
ngoài tường bao của gia đình. Căn cứ vào ranh giới giao đất lần một và lần hai
của gia đình và hiện trạng tường xây bao để kiểm tra phần diện tích đất nhà
trường được giao thấy:
+ Cạnh phía Tây tăng về phía Bắc 1.5 m
+ Cạnh phía Nam tăng về phía Đông 2.3 m
Sau khi thu thập thông tin, điều tra cụ thể thấy rằng: Sau khi được giao đất
lần đầu, gia đình ông H tiến hành xây dựng tường rào, do hiện trạng khu đất lúc
đó chỉ có phía Nam giáp trường Mầm non đã được xây dựng, phía Tây là đường
quy hoạch (đường chưa được hình thành), phía Bắc là đất bằng chưa sử dụng,
phía Đông giáp chân núi đá nên khi xây dựng đã xin phép UBND TT2 xây mở
rộng ra phía Bắc và phía Đông. Đến năm 2013 do có dự án đo lại ban đồ địa
chính và cấp đổi Giấy chứng nhận tại xóm 1, TT2, các cơ quan chức năng giao
đất cho cho gia đình ông H, tổng diện tích lúc này của gia đình ông H là 342.5

m2. Diện tích này đúng với diện tích trên ban đồ địa chính của thị trấn 2 huyện A
tỷ lệ 1/500.
Kết luận sau khi thẩm định ngoài thực địa là hiện trạng, ranh giới sử dụng
đất mà Gia đình ông H đang quan lý sử dụng là 342.5 m 2 tăng 60.2 m2 so với hai

4


lần Nhà nước giao đất cho gia đình ông H, nguyên nhân tăng diện tích là do khi
xây dựng gia đình ông H đã tự ý mở rộng khuôn viên về phía Bắc và Phía Đông.
II. XÁC ĐỊNH MỤC TIÊU XỬ LÝ TÌNH HUỐNG
Qua tình huống trên, mục tiêu xử lý tình huống được xác định là:
Thứ nhất: Giai quyết vướng mắc về phần diện tích chênh lệch để cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông Nguyễn Văn H.
Thứ hai: Cần làm rõ sai phạm của gia đình ông Nguyễn Văn H liên quan
đến việc quan lý xây dựng, quan lý sử dụng đất sau khi giao đất từ đó có biện
pháp xử lý thích hợp.
Thứ Ba: Rút ra những bài học kinh nghiệm trong hoạt động quan lý nhà
nước về đất đai, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đam bao sự nghiêm
minh của pháp luật.
III. PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN, HẬU QUẢ CỦA TÌNH HUỐNG
1. Nguyên nhân
a. Nguyên nhân khách quan
Công tác quan lý nhà nước trên lĩnh vực đất đai, xây dựng của cơ quan
chuyên môn còn hạn chế, chưa kịp thời theo dõi, kiểm tra việc xây dựng đối với
các trường hợp đã được cấp phép cũng như chưa được cấp phép.
Các chính sách, pháp luật về đất đai chưa thực sự chặt chẽ, còn có những
kẽ hở nhất định tạo điều kiện cho các đối tượng thực hiện hành vi trái pháp luật.
Các chế tài pháp luật xử lý vi phạm chưa đủ sức răn đe.
Công tác phối hợp tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung

và pháp luật về đất đai, xây dựng nói riêng cho nhân dân còn hạn chế. Do vậy
mức độ hiểu biết pháp luật của một bộ phận nhân dân còn hạn chế dẫn đến họ
thiếu ý thức tôn trọng pháp luật, họ chỉ biết quan tâm đến lợi ích của cá nhân
mình cũng như gia đình mình, họ không ý thức được những anh hưởng, hậu qua
của hành vi trái pháp luật do họ gây ra.

5


Do giá đất tăng cao, tốc độ xây dựng tăng nhanh, nhiều trường hợp xây
dựng nhà lấn chiếm đất công vi phạm quy định của nhà nước anh hưởng đến
công tác quan lý nhà nước và đoàn kết trong cộng đồng dân cư.
Ý thức tự giác cũng như tôn trọng Pháp chế xã hội chủ nghĩa của một bộ
phận người dân chưa cao. Chưa tự giác tuân thủ pháp luật, cũng như phát giác
những hành vi vi phạm nhưng không tố giác, vì cho rằng những hành vi sai
phạm đó của những người xung quanh không anh hưởng đến lợi ích của mình,
hoặc cho rằng có tố giác thì các cơ quan có thẩm quyền cũng chẳng xử lý đến
nơi đến chốn.
b. Nguyên nhân chủ quan
- Từ phía gia đình ông Nguyễn Văn H: không tuân theo chính sách
pháp luật Đất đai hiện hành, tự ý xây dựng không theo ranh giới, diện tích đất đã
được giao mà không xin phép hay làn thủ tục với các cơ quan chức năng có liên
quan đến việc giao, quan lý, sử dụng đất.
- Từ UBND huyện A và UBND thị trấn 2 của huyện A, cơ quan xây
dựng: chưa thực hiện hết chức năng của mình trong vệc quan lý đất đai sau khi
được Nhà nước (đại diện là UBND huyện giao đất). Cụ thể là tự ý cho gia đình
ông Nguyễn Văn H mở rộng diện tích xây dựng tường rào trong khi thẩm quyền
của UBND thị trấn không được phép giao đất chưa sử dụng cho hộ gia đình sử
dụng đất trên địa bàn.
- Từ Phòng Kinh tế Hạ tầng: Phòng Kinh tế Hạ tầng có trách nhiệm

kiểm tra, quan lý xây dựng theo quy hoạch được phê duyệt nhưng lại không phát
hiện ra sai phạm của gia đình ông Nguyễn Văn H, Chưa chặt chẽ trong việc
quan lý xây dựng trên địa bàn huyện do đó để xay ra tình trạng trên.
- Từ phía Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện A: Không kiểm tra,
giám sát việc quan lý sử dụng đất của các họ gia đình được giao đất. Quan lý đất
đai còn lỏng lẻo.

6


- Từ phía Văn phòng đăng ký đất đai Huyện A: Chưa chủ động rà soát
hồ sơ giao đất để kịp thời phát hiện những trường hợp sai phạm từ đó kiến nghị
cấp trên đưa ra biện pháp xử lý.
- Từ phía UBND Huyện A: Việc chỉ đạo công tác kiểm tra giám sát cũng
như xử lý sai phạm chưa cao dẫn đến việc thiếu trách nhiệm của các cơ quan cấp
dưới.
2. Hậu quả
- Đối với Nhà nước: Gây thất thoát, lãng phí trong việc quan lý Nhà
nước về Tài nguyên đất, cũng như mất thời gian, kinh phí trong việc xử lý các
sai phạm.
- Đối với gia đình ông Nguyễn Văn H: Gây mất uy tín của cơ quan.
- Đối với Văn phòng đăng ký đất đai Huyện A: Mất thời gian xử lý
phát sinh trong việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Đối với Phòng Tài nguyên và Môi trường Huyện A: Gây lãng phí Tài
nguyên đất trong một thời gian dài, anh hưởng đến quy hoạch cũng như kế
hoạch sử dụng đất của địa phương.
- Đối với Ủy ban nhân dân huyện E: Mất uy tín, giam lòng tin của nhân
dân vào chế độ, chính sách cũng như bộ máy quan lý nhà nước của tỉnh. Gây
anh hưởng xấu về mặt xã hội.
IV. XÂY DỰNG PHƯƠNG ÁN, PHÂN TÍCH VÀ LỰA CHỌN

PHƯƠNG ÁN GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG
1. Cơ sở pháp lý để xây dựng phương án
Việc xây dựng và phân tích cũng như lựa chọn các phương án xử lý tình
huống được dựa trên các văn ban pháp luật sau đây:
- Điều 59, điều 95, điều 98, điều 99, điều 101 tại Luật Đất đai năm 2013
ngày 29 tháng 11 năm 2013;

7


- Điều 23; điều 37 tại Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm
2014 của Chính phủ về quy định chi tiết thi hành một số điều Luật Đất đai;
- Điều 10, điều 11, điều 12 tại Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19
tháng 5 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về hồ sơ địa
chính;
- Điều 3, điều 4, điều 5 tại Quyết định số 43/2014/QĐ-UBND ngày 19
tháng 12 năm 2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng ban hành quy định về
trình tự thủ tục đăng ký đất đai, tài san gắn liền với đất, cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài san khác gắn liền với đất trên địa
bàn tỉnh Cao Bằng;
- Khoan 2 điều 9 tại Nghị định 102/2014/NĐ-CP ngày 10 tháng 11 năm
2014 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.
2. Xây dựng các phương án giải quyết tình huống
a. Phương án 1:
Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn H theo
đúng ranh giới, diện tích hiện trạng.
- Ưu điểm:
+ Đẩy nhanh tiến độ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông
Nguyễn Văn H.
+ Ông Nguyễn Văn H được sử dụng đúng với hiện trạng ranh giới, diện

tích đất hiện có.
+ Việc cấp Giấy chứng nhân quyền sử dụng đất đúng với hiện trạng đang quan
lý sử dụng sẽ không gây anh hưởng đến việc sử dụng đất của các thửa đất liền
kề, không gây anh hưởng đến sinh hoạt của gia đình ông Nguyễn văn H cũng
như các gia đình liền kề.

8


+ Các cơ quan chức năng liên quan đến việc giao đất, quan lý đất đai, xây
dựng, quy hoạch của tỉnh E cũng như của huyện A không bị mất thời gian làm
lại các thủ tục giao đất hay thu hồi đất.
- Nhược điểm:
+ Các cơ quan chức năng liên quan đến việc quan lý sử dụng đất lơi là
trách nhiệm trong công tác của mình.
+ Các tổ chức sử quan lý sử dụng đất khác trên địa bàn huyện đang sử
dụng đất vượt diện tích được giao như gia đình ông Nguyễn Văn H sẽ lấy ví dụ
về ông H để hợp thức hóa diện tích đất lấn chiếm.
+ Không thể hiện được tính răn đe đối với những người để xay ra sai
phạm
+ Gây thất thoát đất công của Nhà nước.
b. Phương án 2:
Thu hồi phần diện tích mà gia đình ông Nguyễn Văn H đã lấn chiếm sau
đó Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông H với đúng diện tích đất
được Nhà nước giao.
- Ưu điểm:
+ Tạo được lòng tin ở nhân dân, gây ấn tượng tốt về mặt xã hội.
+ Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Gia đình ông Nguyễn Văn
H
+ Thể hiện được sự nghiêm minh của Luật pháp.

- Nhược điểm:
+ Gây anh hưởng đến sinh hoạt của gia đình ông H cũng như các hộ gia
đình liền kề.

9


+ Gây lãng phí khi gia đình ông Nguyễn Văn H phai dỡ bỏ các công trình
đã xây trên phần đất lấn chiếm và phai xây dựng lại tường bao.
3. Lựa chọn phương án giải quyết tình huống
Rõ ràng trong hai phương án trên phương án nào cũng có những ưu điểm
và những hạn chế nhất định. Tuy nhiên, phương án thứ nhất theo tôi là tối ưu
hơn ca. Theo phương án này thì việc gia đình ông Nguyễn Văn H được Nhà
nước công nhận quyền sử dụng phần diện tích đang quan lý, sử dụng vượt so với
hai lần giao đất. sinh hoạt của gia đình ông H cũng như các hộ gia đình liền kề
không bị anh hưởng bởi các quyết định của Nhà nước, không gây lãng phí tiền
của, công sức và thời gian để thu hồi đất của gia đình ông Nguyễn Văn H.
V. LẬP KẾ HOẠCH TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHƯƠNG ÁN LỰA
CHỌN
Bước 1: Lập hồ sơ cấp Giấy chứng nhận cho gia đình ông H
Từ ngày 16 đến ngày 18 tháng 6 năm 2016
Tổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tiến hành hoàn tất thủ tục
đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông Nguyễn Văn
H sau khi đã có biên ban thẩm định ngoài thực địa. Biên ban thẩm định thực địa
nêu rõ việc nhân chênh lệch diện tích giữa hai lần giao đất và diện tích mà gia
đình ông Nguyễn Văn H đang quan lý, nguyên nhân dẫn đến sự chênh lệch diện
tích đó. Sau đó kết luận hiện trạng ranh giới sử dụng đất của đình ông Nguyễn
Văn H hiện nay có ổn định không, có tranh chấp không, có phù hợp với quy
hoạch chi tiết của thị trấn hay không.
Ngoài biên ban thẩm định thực địa, tổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử

dụng đất làm báo cáo kết qua thẩm định hồ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất của gia đình ông Nguyễn Văn H. Trong báo cáo nêu rõ các căn cứ tiến hành
thẩm định thực địa. Báo cáo cũng nêu rõ việc sai phạm của UBND thị trấn của
huyện A về việc đồng ý cho gia đình ông Nguyễn Văn H mở rộng diện tích
10


không đúng thẩm quyền, cũng không có giấy tờ làm căn cứ UBND thị trấn của
huyện A đồng ý cho gia đình ông Nguyễn Văn H mở rộng diện tích xây dựng.
Trong báo cáo nêu rõ sai phạm của gia đình ông Nguyễn Văn H khi xây dựng
tường rào của mình không đúng ranh giới, diện tích đất được giao.
Bước 2: Trình lãnh đạo Văn phòng Đăng ký Đất đai chi nhánh huyện
A hồ sơ cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất của gia đình ông H
Từ ngày 19 đến ngày 20 tháng 6 năm 2016
Trình lãnh đạo Văn phòng Đăng ký đất đai hồ sơ cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất của gia đình ông Nguyễn Văn H. Hồ sơ bao gồm:
1. Quyết định giao đất của UBND huyện A cho Nguyễn Văn H ngày
03/8/2004.
2. Quyết định giao đất của UBND huyện A cho Nguyễn Văn H ngày
03/8/2010.
3. Mặt bằng địa giới giao đất năm 2004 do Sở Tài nguyên và Môi trường
tỉnh E phê duyệt.
4. Báo cáo kết qua rà soát hiện trạng sử dụng đất của Hộ ông Nguyễn Văn
H.
5. Đơn đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và tài san khác gắn liền với đất (theo mẫu)
6. Báo cáo rà soát ranh giới hiện trạng diện tích đang quan lý sử dụng của
gia đình ông Nguyễn Văn H (theo mẫu).
7. Biên ban thẩm định thực địa hiện trạng ranh giới, diện tích sử dụng đất
của gia đình ông Nguyễn Văn H.

8. Báo cáo kết qua thẩm định hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất của gia đình ông Nguyễn Văn H của Văn phòng Đăng ký đất đai.

11


Căn cứ vào hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình
ông Nguyễn Văn H. Lãnh đạo Văn phòng Đăng ký đất đai chi nhánh huyện A
xem xét và làm báo cáo gửi UBND huyện A về việc sai phạm trong quá trình
quan lý, sử dụng đất của các cơ quan liên quan đồng thời kiến nghị các biện
pháp xử lý sai phạm đối với các cơ quan liên quan.
Bước 3: Xử lý vi phạm của gia đình ông H
Từ ngày 23 đến ngày 27 tháng 6 năm 2016
Căn cứ vào báo cáo của Văn phòng Đăng ký đất đai huyện A, UNND
huyện A giao cho phòng Thanh tra UBND huyện A thụ lý hồ sơ và tiến hành
xem xét các sai phạm trong quá trình quan lý, sử dụng đất của các cơ quan liên
quan. Kết qua làm việc của phòng Thanh tra UBND huyện A như sau:
Sau khi được giao đất lần đầu, gia đình ông Nguyễn Văn H tiến hành xây
dựng công trình. Trong quá trình xây dựng gia đình ông H đã báo với Phòng
Kinh tế Hạ Tầng việc xây dựng tường bao quanh khu vực gia đình tại phía Bắc
và phía Đông gặp khó khăn. Do tại ranh giới giao đất ở hai phía trên có nhiều đá
lộ đầu với kích thước khá lớn, nếu xây tường bao thì phai loại bỏ hết đá lộ đầu
trên ranh giới đất được giao, việc loại bỏ đá lộ đầu gây vượt trội lớn về kinh phí
xây dựng, công sức và anh hưởng đến tiến độ thi công công trình. Trước tình
hình đó, phòng Kinh tế Hạ Tầng đã chỉ đạo đơn vị trực tiếp sử dụng đất (gia
đình ông Nguyễn Văn H) đến UBND thị trấn xin phép mở rộng diện tích.
UBND thị trấn của huyện A đã được Nhà nước giao quan lý đất chưa sử dụng,
một số đất nông nghiệp có diện tích nhỏ lẻ trên địa bàn thị trấn, trong đó có phần
đất mà gia đình ông Nguyễn Văn H tiếp giáp ở phía Bắc và phía Đông. Do nhận
thức chưa đầy đủ về thẩm quyền và trách nhiệm của mình, UBND thị trấn của

huyện A đã đồng ý cho gia đình ông Nguyễn Văn H mở rộng về phía Bắc và
phía Đông để tránh đá lộ đầu kích thước lớn. Tuy nhiên, UBND thị trấn của
huyện A lại không làm bất cứ giấy tờ gì liên quan đến việc đồng ý cho gia đình

12


ông Nguyễn Văn H mở rộng ra phần diện tích đất công mà UBND đang quan lý
vì cho rằng việc xây dựng không anh hưởng đến lợi ích chung.
Căn cứ và kết qua trên, Thanh tra huyện A làm báo cáo kết qua thanh tra,
kiến nghị với UBND huyện A về việc xử phạt đối với các cơ quan liên quan sau:
Đối với gia đình ông Nguyễn Văn H mặc dù được sự đồng ý mở rộng
ranh giới xây dựng tường rào của UBND thị trấn tuy nhiên lại không có giấy tờ
chứng minh cho việc này nên coi như là lấn chiếm đất công. Theo khoan 1 điều
10 Nghị định 102/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính phủ về xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực đất đai, phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000
đồng đối với hành vi lấn, chiếm đất nông nghiệp không phai là đất trồng lúa, đất
rừng đặc dụng, đất rừng phòng hộ, đất rừng san xuất. Gia đình ông Nguyễn Văn
H sau khi mở rộng đã biến phần đất mở rộng từ đất nông nghiệp thành đất ở (tức
là đất phi nông nghiệp) nên gia đình ông Nguyễn Văn H đã tự ý chuyển mục
đích sử dụng đất từ nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp. Theo điểm a, khoan
2, điều 8 Nghị định 102/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính phủ về xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai khi khuyển mục đích sử dụng đất nông
nghiệp không phai là đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng sang
đất phi nông nghiệp thì hình thức và mức xử phạt là phạt tiền từ 1.000.000 đồng
đến 2.000.000 đồng nếu diện tích đất chuyển mục đích trái phép dưới 0,5 héc ta;
gia đình ông Nguyễn Văn H sau khi mở rộng diện tích đã không đăng ký sử
dụng đất với cơ quan quan lý đất đai nên theo khoan 1 điều 12 Nghị định
102/NĐ-CP ngày 10/11/2014 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực đất đai phạt canh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến

1.000.000 đồng đối với hành vi không đăng ký đất đai lần đầu.
Đối với UBND thị trấn của huyện A: Đã tự ý cho gia đình ông Nguyễn
Văn H mở rộng ra phần đất công mà ủy ban đang quan lý. UBND thị trấn của
huyện A đã lơi là trách nhiệm, quan lý quỹ đất công không chặt chẽ nên chỉ kiến
nghị hình thức canh cáo.
13


Sau khi có quyết định xử phạt đối với gia đình ông Nguyễn Văn H, Văn
phòng Đăng ký đất đai tiếp tục tiến hành làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho gia đình ông Nguyễn Văn H .
Bước 4: Trình Ký Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất của gia đình
ông H
Từ ngày 30/6/2016 đến ngày 09/7/2016
Sau khi gia đình ông Nguyễn Văn H thực hiện nộp phạt theo quyết định
của UBND huyện A. Văn phòng Đăng ký đất đai huyện thu thập thêm báo cáo
kết qua thanh tra của phòng Thanh tra tỉnh A, quyết định xử gia đình ông
Nguyễn Văn H của UBND huyện A, chứng từ chứng minh gia đình ông Nguyễn
Văn H đã tiến hành nộp phạt theo quy định, bổ sung các giấy tờ trên vào hồ sơ
đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình ông Nguyễn Văn
H. Sau đó trình Văn phòng Đăng ký Đất đai tỉnh thuộc Chi cục Quan lý đất đai
trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh E kiểm tra. Chi cục Quan lý đất đai
trình giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh E ký Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cho gia đình ông Nguyễn Văn H.
Bước 5: Giao Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất cho gia đình ông H
Từ ngày 13/7/2016 đến ngày 15/7/2016
Văn phòng Đăng ký đất đai tiếp nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
đã ký của gia đình ông Nguyễn Văn H từ Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh E.
Văn phòng Đăng ký đất đai sẽ tiến hành thông báo và trao Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cho gia đình ông Nguyễn Văn H và đóng hồ sơ cấp Giấy

chứng nhận cho gia đình ông Nguyễn Văn H.
VI. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
Với phương án giai quyết tình huống như trên, đã đam bao được quyền,
lợi ích của đơn vị sử dụng đất cũng như thể hiện sự nghiêm minh của phát luật
14


đất đai, đồng thời hoàn thành cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo nhu
cầu của gia đình ông Nguyễn Văn H . Bên cạnh tính nghiêm minh thì Nhà nước
còn thể hiện tính mềm dẻo trong công tác quan lý đất đai thể hiện ở việc gia
đình ông Nguyễn Văn H không bị hoàn tra nguyên trạng đất đã lấn chiếm cho
Nhà nước mà được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất.
Từ việc giai quyết hài hòa các lợi ích xã hội đam bao đúng pháp luật đã
tạo được lòng tin ở nhân dân, tạo được anh hưởng tốt về mặt xã hội.
Từ sự việc trên thấy rằng, vấn đề quan lý Nhà nước về đất đai hết sức
quan trọng bởi lẽ đất đai là cố định, không tự mở rộng.
Cai cách bộ máy Nhà nước, cai cách nền hành chính quốc gia là một trong
những yêu cầu cấp bách trong công cuộc đổi mới, đặc biệt là trong quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế của đất nước ta hiện nay. Xét đến cùng, hiệu lực của bộ
máy Nhà nước nói chung và hệ thống hành chính Nhà nước nói riêng được
quyết định bởi phẩm chất, năng lực và hiệu suất công tác của đội ngũ cán bộ
công chức, chính là con người.
2. Kiến nghị
- Kiến nghị với UBND TT2: Cần nâng cao trách nhiệm trong việc quan
lý đất đai, tài san được nhà nước giao, cần có hình thức kiểm điểm với những cá
nhân để xay ra tình trạng trên.
- Kiến nghị với các phòng, ban huyện A: Cần nâng cao trách nhiệm của
các tổ chức, cơ quan trong việc quan lý đất đai, tài san được nhà nước giao.
- Kiến nghị với Ủy ban nhân dân huyện A: Quan lý chặt chẽ việc xây

dựng trên địa bàn huyện, kiểm tra thường xuyên các trường hợp xây dựng để kịp
thời ngăn chặn cũng như có biện pháp xử lý với những trường hợp xây dựng trái
phép hay xây dựng không theo nội dung giấy phép được cấp.
- Kiến nghị với Văn phòng đăng ký đất đai Chi nhánh huyện A: Rà
soát lại những đơn vị đã được Ủy ban nhân dân huyện giao đất, lên kế hoạch
15


kiểm tra tình hình quan lý và sử dụng đất của các hộ gia đình đó để kịp thời phát
hiện và xử lý những sai phạm.
- Kiến nghị với phòng tài nguyên và Môi trường huyện A: Cần tăng
cường công tác thanh tra, kiểm tra việc sử dụng đất được nhà nước giao của các
cơ quan, tổ chức nhằm kịp thời phát hiện và ngăn chặn, xử lý sai phạm.
- Kiến nghị với Ủy ban nhân dân tỉnh E: Chỉ đạo các cơ quan chuyên
môn rà soát, kiểm tra tình hình sử dụng đất của các đơn vị được giao đất, nếu sử
dụng không có hiệu qua thì cần có biện pháp điều chỉnh hoặc thu hồi lại để có kế
hoạch sử dụng đạt hiệu qua hơn.
- Kiến nghị với các bộ, ngành ở Trung ương: Thường xuyên đào tạo,
bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cũng như kỹ năng xử lý tình huống cho cán bộ
quan lý. Có chế độ, chính sách thu hút đội ngũ cán bộ có trình độ năng lực.
- Kiến nghị với Nhà nước: Cần có những chế tài pháp luật nghiêm minh
với những cơ quan, tổ chức quan lý không tốt đất đai được Nhà nước giao dẫn
đến bị lấn chiếm, gây thất thoát đất đai tài san của nhà nước./.

16


TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1]. Luật Đất đai năm 2013, Quốc hội ban hành ngày 29 tháng 11 năm

2013.
[2]. Nghị định số 43/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều
Luật Đất đai, Chính phủ ban hành ngày 15 tháng 5 năm 2014.
[3]. Nghị định 102/2014/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực đất đai, Chính phủ ban hành ngày 10 tháng 11 năm 2014.
[4]. Quyết định số 43/2014/QĐ-UBND quy định về trình tự thủ tục đăng
ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,
quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trên địa bàn tỉnh Cao Bằng,
Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng ban hành ngày 19 tháng 12 năm 2014.
[5]. Thông tư số: 23/2014/TT-BTNMT hướng dẫn về giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất, Bộ Tài nguyên
và Môi trường ban hành ngày 19 tháng 5 năm 2014.
[6]. Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT hướng dẫn về hồ sơ địa chính, Bộ
Tài nguyên và Môi trường ban hành ngày 19 tháng 5 năm 2014.

17



×