BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
VŨ THỊ DUNG
NÔNG THÔN NAM BỘ
TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN NGỌC TƢ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ
VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
HÀ NỘI - 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
VŨ THỊ DUNG
NÔNG THÔN NAM BỘ
TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN NGỌC TƢ
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 8 22 01 21
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Tuyết Minh
HÀ NỘI - 2018
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ sự kính trọng và biết ơn sâu sắc tới TS.
Nguyễn Thị Tuyết Minh – Cô giáo đã trực tiếp hướng dẫn, tận tâm dìu dắt,
chỉ bảo, tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình thực hiện luận văn này.
Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Khoa Ngữ
văn, Phòng Sau đại học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo ở Viện Văn học, trường
Đại học Sư phạm Hà Nội 2 đã trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ tôi trong suốt quá
trình học tập, nghiên cứu.
Xin trân trọng cảm ơn những góp ý, nhận xét quý báu của thầy cô phản
biện và các thầy cô trong hội đồng bảo vệ.
Từ đáy lòng mình, tôi xin được cảm ơn, chia sẻ sự trân trọng này với
gia đình, bạn bè, đồng nghiệp - những người luôn ở bên tôi, giúp đỡ và động
viên kịp thời để tôi vững tâm nghiên cứu, hoàn thành luận văn.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song do khả năng của bản thân và điều
kiện nghiên cứu còn hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót.
Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô và đồng nghiệp
để chúng tôi rút kinh nghiệm và nâng cao hơn nữa trong quá trình học tập và
nghiên cứu.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 7 năm 2018
Tác giả luận văn
Vũ Thị Dung
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn
trực tiếp của TS. Nguyễn Thị Tuyết Minh.
Những tư liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực. Kết quả
nghiên cứu này không trùng khít với bất kì công trình nghiên cứu nào từng
công bố.
Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, ngày 20 tháng 7 năm 2018
Tác giả luận văn
Vũ Thị Dung
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài ............................................................................................ 1
2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................... 2
2.1. Những nghiên cứu chung về truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tƣ .............. 2
2.2. Những nghiên cứu về vấn đề nông thôn Nam Bộ trong truyện ngắn
Nguyễn Ngọc Tƣ ............................................................................................... 9
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .............................................................. 11
3.1. Mục đích nghiên cứu ................................................................................ 11
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................................... 11
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ............................................................... 11
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu............................................................................... 11
4.2. Phạm vi nghiên cứu .................................................................................. 11
5. Phƣơng pháp nghiên cứu............................................................................. 12
6. Đóng góp luận văn ...................................................................................... 13
7. Cấu trúc luận văn ........................................................................................ 13
NỘI DUNG ..................................................................................................... 14
CHƢƠNG 1. ĐỀ TÀI NÔNG THÔN TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM
ĐƢƠNG ĐẠI VÀ SÁNG TÁC VỀ NÔNG THÔN CỦA NGUYỄN
NGỌC TƢ ....................................................................................................... 14
1.1. Khái niệm đề tài và các đặc điểm của đề tài ............................................ 14
1.1.1. Khái niệm đề tài .................................................................................... 14
1.1.2. Các đặc điểm của đề tài......................................................................... 14
1.2. Đề tài nông thôn trong văn xuôi trƣớc và sau 1986 ................................. 16
1.2.1. Đề tài nông thôn trong văn xuôi trƣớc năm 1986 ................................. 17
1.2.2. Đề tài nông thôn trong văn xuôi từ 1986 đến nay................................. 22
1.3. Nguyễn Ngọc Tƣ và những sáng tác về đề tài nông thôn Nam Bộ ......... 26
1.3.1. Vài nét về tiểu sử và hành trình sáng tác của Nguyễn Ngọc Tƣ ........... 26
1.3.2. Đề tài nông thôn Nam Bộ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tƣ ........... 33
Tiểu kết chƣơng 1............................................................................................ 36
CHƢƠNG 2. BỨC TRANH HIỆN THỰC ĐỜI SỐNG VÀ CON
NGƢỜI THÔN QUÊ NAM BỘ TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN
NGỌC TƢ ....................................................................................................... 38
2.1. Bức tranh hiện thực đời sống nông thôn Nam Bộ ................................... 39
2.1.1. Thiên nhiên tiêu điều, tàn lụi và đời sống nghèo đói ............................ 39
2.1.2. Đời sống nông thôn xáo trộn trong quá trình đô thị hóa ....................... 46
2.1.3. Những sinh hoạt văn hóa bình dị của đời sống thôn quê ...................... 51
2.2. Con ngƣời thôn quê Nam Bộ ................................................................... 55
2.2.1. Con ngƣời bi kịch .................................................................................. 55
2.2.2. Con ngƣời bản năng .............................................................................. 61
2.2.3. Con ngƣời nhân hậu, vƣợt lên số phận ................................................. 67
Tiểu kết chƣơng 2: .......................................................................................... 74
CHƢƠNG 3. NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN ĐỜI SỐNG VÀ CON
NGƢỜI THÔN QUÊ NAM BỘ TRONG TRUYỆN NGẮN NGUYỄN
NGỌC TƢ ....................................................................................................... 75
3.1. Không gian nghệ thuật ............................................................................. 75
3.1.1. Không gian hiện thực ............................................................................ 75
3.1.2. Không gian biểu tƣợng.......................................................................... 78
3.2. Thời gian nghệ thuật ................................................................................ 83
3.2.1. Thời gian hiện thực ............................................................................... 83
3.2.2. Thời gian tâm lí ..................................................................................... 86
3.3. Ngôn ngữ .................................................................................................. 91
3.3.1. Ngôn ngữ đậm chất Nam Bộ ................................................................. 91
3.3.2. Ngôn ngữ đa thanh ................................................................................ 93
3.4. Giọng điệu ................................................................................................ 96
3.4.1. Giọng trữ tình ........................................................................................ 96
3.4.2. Giọng mộc mạc, dân dã......................................................................... 98
Tiểu kết chƣơng 3: ........................................................................................ 101
KẾT LUẬN ................................................................................................... 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................. 104
1
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Đề tài nông thôn là nguồn cảm hứng bất tận cho bao nhiêu trang thơ,
áng văn mộc mạc mà sâu sắc. Lịch sử văn học đã ghi nhận không ít kiệt tác
viết về đề tài này: từ những câu ca dao, mẩu truyện trong văn học dân gian
đến những tác phẩm văn xuôi trong văn học hiện đại. Đề tài ấy cũng đã làm
rạng danh cho nhiều cây bút. Trƣớc năm 1975, đã có nhiều truyện ngắn xuất
sắc về đề tài nông thôn nhƣ: Chí Phèo, Lão Hạc (Nam Cao), Nằm vạ (Bùi
Hiển), Làng (Kim Lân), Thư nhà (Hồ Phƣơng), Cái hom giỏ, Vợ chồng ông
lão chăn vịt (Vũ Thị Thƣờng), Vụ mùa chưa gặt (Nguyễn Kiên)... Sau Đổi
mới, đề tài nông thôn tiếp tục là một vùng đề tài hấp dẫn bên cạnh đề tài chiến
tranh hay đề tài đô thị. Cùng với các tiểu thuyết nổi tiếng nhƣ: Mưa mùa hạ
(Ma Văn Kháng), Mảnh đất lắm người nhiều ma (Nguyễn Khắc Trƣờng), Cù
lao Tràm (Nguyễn Mạnh Tuấn), Bến không chồng (Dƣơng Hƣớng), Lão Khổ
(Tạ Duy Anh), Thời xa vắng (Lê Lựu) thì nhiều truyện ngắn viết về nông thôn
cũng tiếp tục tạo đƣợc ấn tƣợng với bạn đọc. Trong đó có những truyện đánh
dấu sự trƣởng thành về chất lƣợng nghệ thuật nhƣ Khách ở quê ra, Phiên chợ
Giát (Nguyễn Minh Châu), Những bài học nông thôn, Thương nhớ đồng quê
(Nguyễn Huy Thiệp), Bước qua lời nguyền (Tạ Duy Anh), Bến trần gian
(Lƣu Sơn Minh), Nỗi đau dòng họ (Sƣơng Nguyệt Minh)…Đặc biệt, những
sáng tác về nông thôn Nam Bộ của cây bút trẻ Nguyễn Ngọc Tƣ đã để lại ấn
tƣợng sâu sắc trong lòng độc giả.
1.2. Mảnh đất và con ngƣời Nam Bộ đã từng hiện diện trong nhiều trang
văn của các cây bút tài năng nhƣ Hồ Biểu Chánh, Bình Nguyên Lộc, Đoàn
Giỏi, Sơn Nam... Các tác phẩm của họ đã tái hiện vùng đất Nam Bộ với thiên
nhiên hoang sơ, hùng vĩ và giàu có cùng những con ngƣời chân chất, trí dũng,
trung hậu. Kế thừa và tiếp nối thế hệ cầm bút đi trƣớc, truyện ngắn của
2
Nguyễn Ngọc Tƣ mở ra một góc nhìn khác về nông thôn Nam Bộ. Những
trang viết của chị không chỉ khai thác sự đổi thay tích cực của đời sống khi
chiến tranh đã kết thúc mà còn đi sâu phản ánh hiện thực nông thôn đói nghèo
nghiệt ngã mà văn học thời trƣớc chƣa có dịp phản ánh. Những mặt trái còn
khuất lấp đã đƣợc nhà văn phát hiện nhƣ: hiện tƣợng thiên nhiên tiêu cực, hệ
lụy từ các hủ tục lạc hậu, bi kịch của những phận ngƣời vì đói nghèo… Tuy
nhiên, trong bức tranh nông thôn ấy vẫn còn lƣu giữ bao nét đẹp của văn hóa
Nam Bộ; vẫn còn những con ngƣời đôn hậu, giàu nghị lực vƣợt lên hoàn cảnh
số phận của mình. Họ vẫn hy vọng vào cuộc sống, vào một tƣơng lai tƣơi
sáng hơn đang chờ đợi ở phía trƣớc. Viết về nông thôn Nam Bộ, truyện ngắn
Nguyễn Ngọc Tƣ nhƣ muốn nói với bạn đọc rằng: hiện thực còn là điều tôi tin
chứ không chỉ là hiện thực nhƣ tôi biết.
Lựa chọn đề tài Nông thôn Nam Bộ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc
Tư, trƣớc hết chúng tôi nhận diện và chỉ ra những vấn đề về nông thôn Việt
Nam ở vùng Nam Bộ một cách bao quát. Đồng thời, kết quả nghiên cứu góp
phần khẳng định những đóng góp mới mẻ của Nguyễn Ngọc Tƣ trong văn
xuôi Việt Nam đƣơng đại.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Những nghiên cứu chung về truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư
Khởi viết từ năm 1996, Nguyễn Ngọc Tƣ là một cây bút trẻ tài năng với
bút lực dồi dào. Sau hơn hai mƣơi năm sáng tác, nhà văn đất Mũi đã sở hữu
một gia tài văn chƣơng phong phú cùng nhiều giải thƣởng văn học uy tín. Vậy
nên, tác phẩm của chị đã thu hút đƣợc sự chú ý đặc biệt của giới nghiên cứu
và sự quan tâm của đông đảo độc giả. Chỉ riêng truyện ngắn – thể loại sở
trƣờng của tác giả đã nhận đƣợc hàng trăm bài báo, ý kiến nhận định, bình giá
khác nhau. Nhìn chung, các bài báo, tiểu luận đều tập trung vào việc cảm
nhận, đánh giá những đặc điểm nổi bật của truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tƣ.
3
Trong đó, có thể lấy tập truyện Cánh đồng bất tận làm dấu mốc cho cả bƣớc
ngoặt về hành trình sáng tác và nghiên cứu về tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tƣ.
Trƣớc tiên, các bài viết nhận định về các tập truyện ngắn trƣớc đó của
Nguyễn Ngọc Tƣ nhƣ: Ngọn đèn không tắt (2000) Giao thừa (2003) còn tản
mạn và khá ít ỏi. Nhà văn Nguyễn Quang Sáng (giám khảo cuộc thi Văn học
tuổi 20) đánh giá Ngọn đèn không tắt là một truyện nổi bật: bằng giọng văn
mộc mạc mà tác giả đã làm bừng sáng không gian của đất và con ngƣời Nam
Bộ. Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên cho rằng: qua truyện Ngọn đèn không
tắt, Nguyễn Ngọc Tƣ biết “kể những chuyện nhân tình bằng một giọng chân
tình khiến người đọc dễ nghe và dễ chịu” [32]. Huỳnh Công Tín trong bài
Nguyễn Ngọc Tư – nhà văn trẻ Nam Bộ đăng trên báo Văn nghệ sông Cửu
Long đã đƣa ra nhận định bao quát về truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tƣ thời
điểm đó cả về ƣu điểm và hạn chế “Nguyễn Ngọc Tư mới bước vào làng văn,
lại chỉ mới dừng lại ở địa hạt truyện ngắn, và những vấn đề đặt ra trong tác
phẩm của chị thường là những vấn đề gia đình, xã hội đương thời, gắn với
không gian của một vài làng xã, huyện, nên chúng ta chưa thể đòi hỏi điều gì
hơn một tầm vóc bao quát những vấn đề văn hóa, lịch sử, xã hội trong những
sáng tác của chị” [46]. Tác giả đã tổng kết sự thành công của truyện Nguyễn
Ngọc Tƣ trên các phƣơng diện: từ xây dựng không gian nghệ thuật, sử dụng
ngôn ngữ đến phản ánh hiện thực và miêu tả tâm lý nhân vật khá sắc sảo.
Nếu các tập truyện đầu tay là những bƣớc chập chững vào làng văn thì
đến tập Cánh đồng bất tận, tên tuổi của Nguyễn Ngọc Tƣ đã ghi đƣợc dấu ấn
trên văn đàn. Đƣợc xem là “hiện tƣợng văn học” của năm 2005, truyện Cánh
đồng bất tận đã thu hút đƣợc sự quan tâm đặc biệt của giới học thuật cũng
nhƣ độc giả trong và ngoài nƣớc. Có hai luồng ý kiến trái chiều: khen - chê và
không ít các ý kiến thiên về cảm tính. Một số ngƣời không đồng tình với lối
viết của Nguyễn Ngọc Tƣ, thậm chí còn xem nhẹ tài năng và bình phẩm về
4
học vấn của chị. Đại diện cho ý kiến trái chiều, Bùi Việt Thắng trong Bài học
văn chương từ Cánh đồng bất tận [44, tr.132] nhận xét: “Nguyễn Ngọc Tư
còn quá non nớt, chưa đủ bản lĩnh nghệ thuật… thiếu một sự tự chuẩn bị
toàn diện về mặt kinh nghiệm sống, kinh nghiệm nghề nghiệp, và quan trọng
nhất là một nền văn hoá cần thiết”. Bàn về ngôn ngữ truyện, tác giả cho rằng:
“văn viết Nguyễn Ngọc Tư rất gần với văn nói” và so sánh với lối viết của các
cây đại thụ trong văn học miền Nam nhƣ Bình Nguyên Lộc, Nguyễn Quang
Sáng. Từ đó, Bùi Việt Thắng chỉ ra rằng văn sử dụng nhiều “phƣơng ngữ” là
“thiếu sự lao động nghiêm túc, kĩ lưỡng” và yêu cầu ngôn ngữ phải đƣợc
“quốc gia hóa”. Có thể thấy những nhận định của Bùi Việt Thắng có phần
phiến diện và mang định kiến.
Ngƣợc lại, đa số các bài viết đều dành lời khen cho Cánh đồng bất tận từ
cốt truyện, văn phong đến giá trị nhân văn của tác phẩm. Tiêu biểu có các ý
kiến:
Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên, trong bài Truyện ngắn và cuộc sống
hôm nay nhận định: “Cánh đồng bất tận là một truyện ngắn hay, nó chứng tỏ
bút lực của Nguyễn Ngọc Tư trong việc đào sâu vào thể hiện cuộc sống và
khơi sâu vào thân phận con người”. Theo ông, chiều sâu của truyện ngắn ấy
đƣợc kết tinh bởi tài năng và tấm lòng của ngƣời viết. Nguyễn Ngọc Tƣ đã:
“thương người bằng những nỗi đau của con người, bằng cái cách nhìn thẳng
vào những vùng sáng tối chồng chéo trên những khuôn mặt người và những
cõi lòng người” [32].
Trong Đọc Nguyễn Ngọc Tư qua Cánh đồng bất tận, Hoàng Thiên Nga
nhận xét về lối viết giản dị nhƣng sâu sắc của Nguyễn Ngọc Tƣ qua truyện
Cánh đồng bất tận: “Vẫn bút pháp giản dị gọn ghẽ đầy ắp âm sắc Nam bộ,
cách chọn lọc ngôn ngữ cử chỉ sống động như đẽo như tạc, trên bối cảnh tiêu
sơ ruộng đồng sông nước Cửu Long vẫn là những mảnh đời nghèo khó xiêu
5
dạt bơ phờ vì áo cơm. Nhưng không cũ mòn, không nhàm chán, mạch văn liên
kết chặt chẽ bởi vô số chi tiết hình ảnh thú vị…” [27].
Nhà văn Nguyên Ngọc trong bài Không gian của Nguyễn Ngọc Tư, kể
kỉ niệm một lần về thăm Cà Mau, gặp Nguyễn Ngọc Tƣ. Ông cho rằng Cánh
đồng bất tận là một trong số tác phẩm hiếm hoi có thể đƣa văn học nƣớc nhà
ra hội nhập với thế giới. Trƣớc đó, ở bài báo Còn nhiều người cầm bút rất có
tư cách, Nguyên Ngọc nhận định sự xuất hiện của Nguyễn Ngọc Tƣ trên văn
đàn với lối viết mộc mạc mà tƣơi mới: “Cô ấy như một cái cây tự nhiên mọc
lên giữa rừng tràm hay rừng nước Nam Bộ vậy, tươi tắn lạ thường, đem đến
cho văn học một luồng gió mát rợi, tinh tế mà chân chất, chân chất mà tinh
tế, đặc biệt Nam Bộ một cách như không…” [31].
Bên cạnh đó, có rất nhiều ý kiến, bài viết bình giá xung quanh nội dung
và bút pháp nghệ thuật của truyện Cánh đồng bất tận. Trong đó, có những
nhận định, phát hiện tinh tế và mới lạ. Trong Dấu ấn hậu hiện đại trong
Cánh đồng bất tận, Hoàng Đăng Khoa đã khảo sát tỉ mỉ và chỉ ra những yếu
tố mang dấu ấn hậu hiện đại trong Cánh đồng bất tận. Đồng thời, tác giả
khẳng định điều làm nên sức cuốn hút của Cánh đồng bất tận chính là: “có
một dòng chảy của chủ nghĩa nhân văn thao thiết trong đó, tác phẩm miêu tả
cái cô đơn, đau đớn, bi đát, vật vã của kiếp người bằng tất cả tình yêu thương
con người, bằng niềm tin không tắt vào bản năng hướng thiện của con người”
[18]. Cùng quan điểm với Hoàng Đăng Khoa, Trần Thiện Khanh trong bài
Bàn lại với tác giả Bùi Việt Thắng nhận định về tầm vóc và nội dung phản
ánh của Cánh đồng bất tận: “có dáng vóc một tiểu thuyết hiện thực, pha lẫn
yếu tố kì ảo viết về thân phận con người bị bỏ rơi, héo hắt trên một cánh đồng
hoang liêu nhất...” [19].
Tiếp sau loạt bài nhận định riêng lẻ về truyện Cánh đồng bất tận, có các
bài viết nghiên cứu chuyên sâu về truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tƣ trên nhiều
6
phƣơng diện. Trong bài Thị hiếu thẩm mỹ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc
Tư, Trần Phỏng Diều đã chỉ ra những hình tƣợng nghệ thuật trong các truyện
ngắn của nhà văn đất Mũi. Tác giả đã khảo sát tính thị hiếu thẩm mỹ trong
truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tƣ thể hiện qua ba hình tƣợng: hình tƣợng ngƣời
nghệ sĩ, hình tƣợng ngƣời nông dân và hình tƣợng dòng sông. Phạm Thái Lê
với bài viết Hình tượng con người cô đơn trong truyện ngắn của Nguyễn
Ngọc Tư trên Tạp chí Văn nghệ quân đội khảo sát “môtíp người nghệ sĩ cô
đơn” thƣờng thấy trong truyện ngắn của nữ nhà văn. Tác giả đã phân tích căn
nguyên nỗi cô đơn và chỉ ra cái nhìn tích cực, đầy nhân văn của Nguyễn Ngọc
Tƣ khi khắc họa kiểu nhân vật cô đơn: “Nhân vật của chị tự ý thức về sự cô
đơn. Họ chấp nhận bởi họ tìm thấy trong nỗi đau ấy một lẽ sống. Và, từ trong
nỗi đau ấy, họ vươn lên, làm người. Cô đơn trong quan niệm của Nguyễn
Ngọc Tư là động lực của cái Đẹp, cái Thiện” [21]. Bài Lời đề từ trong truyện
ngắn Nguyễn Ngọc Tư của Phạm Phú Phong tìm hiểu ẩn dụ nghệ thuật trong
những lời đề từ đƣợc Nguyễn Ngọc Tƣ sử dụng trong các truyện ngắn. Tiểu
luận Thiên nhiên trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn phê
bình sinh thái của Trần Thị Ánh Nguyệt đã nêu ra một hƣớng tiếp cận mới về
giá trị truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tƣ. Theo tác giả thì Nguyễn Ngọc Tƣ
đã sáng tác bằng một cảm quan sinh thái rõ nét. Qua tiểu luận, tác giả đã khảo
sát và chỉ ra một số bình diện sinh thái chính trong một số truyện ngắn của
Nguyễn Ngọc Tƣ.
Sau hào quang của Cánh đồng bất tận, ngòi bút Nguyễn Ngọc Tƣ vẫn
tiếp tục bền bỉ tỏa sáng trên con đƣờng văn chƣơng. Chị không ngừng cho ra
mắt độc giả nhiều tập truyện ngắn đặc sắc: Khói trời lộng lẫy (2010), Đảo
(2014), Không ai qua sông (2016). Đó là những truyện ngắn với lối viết tự
nhiên kể về những mảnh đời khác nhau nhƣng đã đƣợc đan cài vào đó nhiều
chủ đề mang tính thời sự và đầy ắp tính nhân văn. Mỗi tập truyện đƣợc xuất
7
bản đều thu hút đƣợc sự quan tâm của dƣ luận qua các bài báo, ý kiến nhận
định. Bài Khói trời lộng lẫy – dấu lặng buồn tênh của Tiểu Quyên nhận xét:
“Với tập truyện Khói trời lộng lẫy, nhà văn Nguyễn Ngọc Tư như đang cúi
xuống những nỗi buồn mênh mông để khắc vào chữ những phận người đất
Mũi” [37]. Tiếp tục giới thiệu về tập truyện Đảo, trong bài Nguyễn Ngọc Tư
phiêu dạt với Đảo, Tiểu Quyên bình luận khá tinh tế: “Đảo đúng nghĩa là một
cuộc trôi dạt thân phận và tâm can. Nguyễn Ngọc Tư nói lần này chị thử viết
ngắn. 16 câu chuyện của chị: ngắn nhưng lại quá nhiều sức nặng. Con chữ
tưởng chừng cứ như buông lơi, nhẹ tênh nhưng lại là những cuộc đấu tranh
trong “hỗn mang tâm trí con người”, trong những khao khát tự do nhưng rồi
lại bị trói buộc trong tư tưởng và tuyệt vọng có khi là tận cùng. Con người
lặng lẽ và chịu đựng gánh thời gian đi qua cuộc đời mình khi mất mát là thứ
luôn dễ dàng đến mà không bao giờ dễ phôi pha” [39]. Bài giới thiệu tập
truyện Không ai qua sông trên báo Thể thao và văn hóa với nhan đề Nguyễn
Ngọc Tư và những chuyện đàn bà, tác giả Thanh Kiều nhận định:
“Đọc Không ai qua sông, có thể nhận thấy cả thế giới đàn bà của làng quê
Việt đều hiện lên trong tập truyện ngắn này. Mỗi người mỗi vẻ, từ đáo để, đến
dại khờ và là nạn nhân. Một tập truyện đáng đọc để thông cảm hơn về những
số phận” [20].
Từ những tiểu luận nghiên cứu ở quy mô nhỏ và rời rạc, truyện ngắn
Nguyễn Ngọc Tƣ đã trở thành đối tƣợng nghiên cứu của nhiều luận văn trong
các trƣờng Đại học. Nhìn chung, các luận văn đều hƣớng vào tìm hiểu nghiên
cứu những vấn đề độc đáo về nội dung tƣ tƣởng thẩm mĩ và bút pháp nghệ
thuật trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tƣ. Tuy góc độ tiếp cận nghiên cứu
khác nhau nhƣng các luận văn đều chỉ ra những đóng góp mới mẻ trong sáng
tác của Nguyễn Ngọc Tƣ đối với văn xuôi Việt Nam đƣơng đại.
8
Luận văn Đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (Nguyễn Thành
Ngọc Bảo, ĐH Sƣ phạm TP Hồ Chí Minh, 2008) có thể xem là công trình đầu
tiên nghiên cứu về mảng truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tƣ một cách bao quát
và quy mô. Tác giả đã khảo sát: cảm hứng nghệ thuật về đời sống và con
ngƣời, thế giới nhân vật và những điểm nổi bật về bút pháp nghệ thuật.
Luận văn Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn thi pháp học
(Phạm Thị Minh Hiếu, ĐH Vinh, 2009) là một hƣớng nghiên cứu tiêu biểu và
hiệu quả. Từ việc tìm hiểu quan niệm nghệ thuật về con ngƣời, luận văn đã
khảo sát đặc điểm thế giới nhân vật và nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn
của Nguyễn Ngọc Tƣ.
Luận văn Đặc điểm lời thoại nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc
Tư (Nguyễn Thị Hồng Chuyên, ĐH Sƣ phạm Thái Nguyên 2010) khảo sát và
nghiên cứu đặc điểm, cách thể hiện và giá trị của lời thoại trong truyện của
Nguyễn Ngọc Tƣ.
Luận văn Phong cách truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (Lƣơng Thị Hải,
ĐH Sƣ phạm Thái Nguyên 2012) tìm hiểu những yếu tố nghệ thuật tạo nên
phong cách văn chƣơng riêng của cây bút Nguyễn Ngọc Tƣ.
Luận văn Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
(Vũ Thị Hải Yến, ĐH Khoa học xã hội và Nhân văn, 2012) khảo cứu toàn bộ
những yếu tố trần thuật nổi bật trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tƣ, bao gồm:
ngƣời kể chuyện, cốt truyện và kết cấu, ngôn ngữ và giọng điệu.
Luận văn Tính triết lý – trữ tình trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư
(Phạm Thị Bé, ĐH Vinh, 2015) khai thác một phƣơng diện nội dung - tƣ
tƣởng quan trọng của truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tƣ. Tác giả đã khảo sát hai
biểu hiện cụ thể của tính triết lý – trữ tình là: ngƣời kể chuyện và hệ thống
biểu tƣợng nghệ thuật.
9
Có thể thấy, song hành cùng với hành trình sáng tác của Nguyễn Ngọc
Tƣ, tình hình nghiên cứu phê bình về các tác phẩm của chị cũng rất sôi nổi.
Số lƣợng các bài báo, luận văn khoa học khá nhiều và đƣợc đăng tải trên các
tạp chí chuyên ngành, các website văn học. Đó là minh chứng cho thấy
Nguyễn Ngọc Tƣ là cây bút tài năng có nhiều đóng góp cho văn học Việt
Nam đƣơng đại.
2.2. Những nghiên cứu về vấn đề nông thôn Nam Bộ trong truyện ngắn
Nguyễn Ngọc Tư
Có thể thấy hình ảnh nông thôn Nam Bộ thƣờng xuyên hiện diện trong
các trang văn của Nguyễn Ngọc Tƣ. Riêng truyện ngắn, hầu hết đều đƣợc nhà
văn khắc họa trên nền không gian của sông nƣớc, kênh rạch, xóm ấp, cù lao.
Các truyện gắn với bối cảnh đô thị xuất hiện rất ít. Điều đó cho thấy Nguyễn
Ngọc Tƣ dành tình cảm mến yêu đặc biệt cho mảnh đất, cho xứ sở mà chị
sinh ra. Khảo sát các bài báo, tiểu luận nghiên cứu về sáng tác của Nguyễn
Ngọc Tƣ, chúng tôi nhận thấy chƣa có một công trình nào tìm hiểu một cách
hệ thống về vấn đề nông thôn Nam Bộ trong sáng tác của chị. Các bài viết,
công trình đã có thƣờng chỉ điểm qua, nhắc đến hoặc chỉ dành một mục nhỏ
đề cập đến một khía cạnh của nông thôn trong tác phẩm của Nguyễn Ngọc
Tƣ.
Trong bài Thị hiếu thẩm mĩ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư, Trần
Phỏng Diều đã khảo sát ba kiểu hình tƣợng nghệ thuật trong truyện của
Nguyễn Ngọc Tƣ. Một trong số đó là hình tƣợng ngƣời nông dân. Tác giả đã
khái quát đặc điểm của ngƣời nông dân Nam Bộ đƣợc Nguyễn Ngọc Tƣ khắc
họa: nghèo khó, số phận long đong vất vả nhƣng hiền lành giàu tình nghĩa.
Với bài viết Nguyễn Ngọc Tư – nhà văn trẻ Nam Bộ, Huỳnh Công Tín
nêu cảm nhận về không gian nông thôn và con ngƣời Nam Bộ trong truyện
ngắn Nguyễn Ngọc Tƣ: “Trong tác phẩm của chị có một không gian Nam Bộ
10
với những loại cây, tên gọi nghe quen, dân dã (…); với những vàm, kinh,
rạch, xẻo, tắt chằng chịt (…); hay những tên ấp, tên làng, tên chợ nhiều chất
Nam Bộ (…). Nhân vật trong tác phẩm của chị là những con người Nam Bộ
với những cái tên cũng hết sức bình dị, chân chất, đặt tên theo thứ, và cách
xưng gọi thứ kết hợp với tên... mang những tâm tư, nguyện vọng cũng hết sức
nhỏ bé, đời thường. Đó là những con người sinh sống bằng những ngành
nghề cũng gắn liền với quê hương sông nước Nam Bộ (…); ngoài những
ngành nghề truyền thống làm ruộng, làm rẫy, đan lát... Đặc biệt, vùng đất và
con người Nam Bộ trong các sáng tác của chị được dựng lại bằng chính chất
liệu của nó là ngôn từ và văn phong nhiều chất Nam Bộ của chị” [46].
Trong bài Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư từ góc nhìn văn hóa, Nguyễn
Trọng Bình tìm hiểu những nét đẹp văn hóa vùng đồng bằng sông Cửu Long
trong các truyện của Nguyễn Ngọc Tƣ. Tác giả nhận định: “Sáng tác của
Nguyễn Ngọc Tư bao giờ cũng được triển khai trên cái nền của “bức tranh”
sinh hoạt văn hóa ở làng quê Nam Bộ độc đáo (…). Đọc truyện Nguyễn Ngọc
Tư vì thế người đọc không những được thưởng thức những câu chuyện thắm
đượm tình người mà còn được cung cấp thêm nhiều cứ liệu văn hóa rất bổ ích
về vùng đất cực Nam của Tổ quốc” [4].
Không nghiên cứu rộng và trực tiếp về vấn đề nông thôn, tiểu luận Biểu
tượng cánh đồng trong Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư [58, tr.931939] của Lê Thị Thùy Vinh tìm hiểu một biểu tƣợng của không gian nông
thôn Nam Bộ mà Nguyễn Ngọc Tƣ đã khai thác. Đó là biểu tƣợng cánh đồng
- một biểu tƣợng xuất hiện đậm đặc và có tính đa nghĩa.
Trong bài nghiên cứu Một số giọng điệu trong truyện ngắn Nguyễn
Ngọc Tư, Phạm Thị Hồng Nhung khảo sát một số giọng điệu chính tạo nên
nét riêng trong phong cách truyện của Nguyễn Ngọc Tƣ. Một trong số đó là
giọng văn dân dã mộc mạc đƣợc dùng để tả cảnh thiên nhiên và sinh hoạt của
11
con ngƣời Nam Bộ. Theo tác giả: “giọng mộc mạc, dân dã ấy xuất phát từ
cảm hứng của nhà văn về cuộc sống và số phận của những “nhân vật nhỏ
bé”- những người nông dân nhếch nhác bùn đất và những người nghệ sỹ
nghèo khổ, bất hạnh nhưng giàu lòng yêu nghề” [34].
Từ những nghiên cứu khá ít ỏi về vấn đề nông thôn Nam Bộ trong truyện
ngắn Nguyễn Ngọc Tƣ, chúng tôi thấy rằng đây là một khoảng trống. Có thể
vì lý do cả khách quan lẫn chủ quan mà vấn đề này chƣa đƣợc nghiên cứu
một cách sâu rộng. Đây là cơ sở để chúng tôi triển khai luận văn dựa trên
những nghiên cứu gợi mở đã có.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu: Luận văn của chúng tôi hƣớng tới mục đích sau:
- Tìm hiểu, phân tích các truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tƣ, qua đó làm rõ
đề tài nông thôn Nam Bộ đƣợc phản ánh trong tác phẩm.
- Tìm hiểu một số vấn đề thuộc nghệ thuật biểu hiện đề tài nông thôn Nam
Bộ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tƣ.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: Luận văn tìm hiểu về nông thôn Nam Bộ trong
truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tƣ, từ đó chỉ ra những nét mới trong cách nhìn nhận,
khám phá về nông thôn Nam Bộ trong tác phẩm của chị.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vấn đề Nông thôn Nam Bộ trong
truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư.
4.2. Phạm vi nghiên cứu: Chúng tôi tập trung khảo sát các tập truyện sau:
1. Ngọn đèn không tắt (Tập truyện, Nxb Trẻ, 2000)
2. Giao thừa (Tập truyện, Nxb Trẻ, 2003)
3. Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư (Tập truyện, Nxb Văn hóa Sài Gòn,
2005)
4. Cánh đồng bất tận (Tập truyện, Nxb Trẻ, 2005)
12
5. Gió lẻ và 9 câu chuyện khác (Tập truyện, Nxb Trẻ, 2008)
6. Khói trời lộng lẫy (Tập truyện, Nxb Trẻ, 2009)
7. Đảo (Tập truyện, Nxb Trẻ, 2014)
8. Xa xóm Mũi (Tập truyện, Nxb Kim Đồng, 2015)
9. Không ai qua sông (Tập truyện, Nxb Trẻ, 2016)
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng những phƣơng pháp nghiên cứu sau đây:
- Phƣơng pháp khảo sát, thống kê: sử dụng để phân loại các truyện ngắn
về đề tài nông thôn, các kiểu nhân vật, chi tiết nghệ thuật…Từ đó tìm ra
những nét đặc sắc của Nguyễn Ngọc Tƣ khi viết về đề tài nông thôn. Phƣơng
pháp thống kê phân loại còn cung cấp những cứ liệu quan trọng để đƣa ra kết
luận chung và việc so sánh đối chiếu.
- Phƣơng pháp tiếp cận thi pháp học: sử dụng để tìm hiểu những đặc sắc
về bút pháp nghệ thuật dƣới góc độ tiếp cận của thi pháp học bao gồm: không
gian thời gian nghệ thuật, yếu tố trần thuật, ngôn ngữ tác phẩm…
- Phƣơng pháp so sánh: sử dụng kết hợp với phƣơng pháp phân tích để
làm rõ hơn điểm tƣơng đồng và khác biệt trong cách tiếp cận và khai thác vấn
đề nông thôn giữa Nguyễn Ngọc Tƣ và nhà văn đƣơng thời khác. Từ đó, nêu
ra nhận định chung và hạn chế của Nguyễn Ngọc Tƣ khi khai thác đề tài nông
thôn trong các truyện ngắn.
- Phƣơng pháp phân tích, tổng hợp: sử dụng để phân tích, lý giải những
đặc điểm về đời sống và con ngƣời Nam Bộ thể hiện nhất quán trong các
truyện ngắn. Từ đó, đƣa ra đánh giá chung về hiện thực nông thôn Nam Bộ
đƣợc phản ánh trong các tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tƣ.
- Phƣơng pháp hệ thống: coi toàn bộ tác phẩm là một chỉnh thể gồm
nhiều yếu tố phƣơng diện nhỏ cần đƣợc xem xét. Từ đó làm cơ sở đƣa ra nhận
định chung về những vấn đề nổi bật đƣợc nhà văn đặt ra trong tác phẩm.
13
Ngoài ra, chúng tôi còn vận dụng phƣơng pháp nghiên cứu liên ngành để
lí giải một số vấn đề văn học - văn hóa trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tƣ.
6. Đóng góp luận văn
Luận văn là công trình khoa học đầu tiên tìm hiểu một cách hệ thống đề tài
Nông thôn Nam Bộ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư qua hai phƣơng
diện chính: nội dung và nghệ thuật. Từ đó, khẳng định cái nhìn mới mẻ của
Nguyễn Ngọc Tƣ trong việc phản ánh hiện thực nông thôn sau Đổi mới.
Thông qua truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tƣ, thấy đƣợc những cách tân
nghệ thuật của văn xuôi đƣơng đại Việt Nam. Hy vọng, luận văn sẽ đƣợc
dùng nhƣ một tài liệu hữu ích cho những ai yêu thích tác giả Nguyễn Ngọc Tƣ
và mong muốn tìm hiểu về tác phẩm của chị.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm
3 chƣơng:
Chƣơng 1: Đề tài nông thôn trong văn xuôi Việt Nam đƣơng đại và sáng
tác về nông thôn của Nguyễn Ngọc Tƣ
Chƣơng 2: Bức tranh hiện thực đời sống và con ngƣời thôn quê Nam Bộ
trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tƣ
Chƣơng 3: Nghệ thuật thể hiện đời sống và con ngƣời thôn quê Nam Bộ
trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tƣ
14
NỘI DUNG
CHƢƠNG 1
ĐỀ TÀI NÔNG THÔN TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM ĐƢƠNG ĐẠI
VÀ SÁNG TÁC VỀ NÔNG THÔN CỦA NGUYỄN NGỌC TƢ
1.1. Khái niệm đề tài và các đặc điểm của đề tài
1.1.1. Khái niệm đề tài
Mỗi tác phẩm văn học đều phản ánh một phạm vi hiện thực nhất định
của đời sống. Phạm vi hiện thực ấy đƣợc gọi là đề tài của tác phẩm văn học.
Trong lao động sáng tạo, việc xác định đề tài là khâu quan trọng đầu tiên để
từ đó nhà văn triển khai tác phẩm thành một chỉnh thể thẩm mĩ. Ở cuốn Lí
luận văn học, Phƣơng Lựu đã nhận định: “Đề tài là khái niệm chủ yếu thể
hiện phương diện khách quan của nội dung tác phẩm văn học (…) tác phẩm
văn học bao giờ cũng xuyên qua một phạm vi miêu tả trực tiếp trong tác
phẩm để khái quát lên một phạm vi hiện thực đời sống nhất định có ý nghĩa
sâu rộng hơn” [23, tr.259].
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, đề tài là “khái niệm chỉ loại các hiện
tượng đời sống được miêu tả, phản ánh trực tiếp trong sáng tác văn học. Đề
tài là phương diện khách quan của nội dung tác phẩm” [13, tr.110]. Cùng với
chủ đề, đề tài là một trong những khái niệm chủ yếu thể hiện phƣơng diện nội
dung của tác phẩm văn học. Nó đƣợc xem là khái niệm trung gian giữa thế
giới hiện thực đƣợc thẩm mĩ hóa trong tác phẩm và bản thân đời sống. Đề tài
chính là “vùng hiện thực” đƣợc nhà văn yêu thích và lựa chọn; cho thấy tài
năng, vốn sống và tâm huyết của ngƣời cầm bút.
1.1.2. Các đặc điểm của đề tài
Thông thƣờng, một tác phẩm văn học không chỉ thể hiện một mà bao
hàm nhiều đề tài cùng bổ sung cho nhau tạo nên một hệ thống đề tài. Trong
15
Truyện Kiều của Nguyễn Du, ngoài đề tài tình yêu và hạnh phúc lứa đôi còn
có các đề tài khác nhƣ: đời sống quý tộc, cuộc nổi loạn chống lại triều đình…
Các đề tài đó gắn kết với nhau xoay quanh đề tài bao trùm: số phận của ngƣời
phụ nữ tài sắc Thúy Kiều. Trong tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma
của Nguyễn Khắc Trƣờng, ngoài đề tài bao trùm là đời sống ở nông thôn
miền Bắc sau giải phóng còn có các đề tài phụ nhƣ: miếng ăn và cái đói, mối
thù dòng họ… Điều đó cho thấy đề tài tồn tại ở các cấp độ khác nhau: “là một
khái niệm về loại hình của hiện tượng đời sống được miêu tả. Có bao nhiêu
loại hiện tượng đời sống, có bấy nhiêu đề tài” [41, tr.194]. Cùng một đề tài
nhƣng bằng cảm quan nghệ thuật khác nhau, mỗi nhà văn lại có hƣớng xử lý
để đem đến nội dung không trùng lặp cho các tác phẩm. Ví dụ: cùng viết về
đề tài ngƣời nông dân nhƣng Lầm than (Lan Khai) phản ánh hiện trạng ngƣời
nông dân bị bần cùng hóa còn Chí Phèo (Nam Cao) phản ánh ngƣời nông dân
bị lƣu manh hóa, tha hóa.
Tùy vào biên độ phản ánh, giới hạn phạm vi của đề tài có thể rộng hay
hẹp, gồm: giới hạn bề ngoài và phƣơng diện bên trong. Từ giới hạn bề ngoài,
khi tiếp nhận tác phẩm có thể xác định các đề tài nhƣ: đề tài mùa thu (Đây
mùa thu tới - Xuân Diệu), đề tài loài vật (Dế Mèn phiêu lưu kí - Tô Hoài), đề
tài trƣờng học (Ngôi trường mọi khi - Nguyễn Nhật Ánh)… Từ phƣơng diện
bên trong, với sự chi phối của các yếu tố lịch sử - xã hội, có thể xác định đề
tài ở cấp độ sâu rộng hơn. Tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh
khai thác mặt trái của cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ. Tiểu thuyết Sông
của Nguyễn Ngọc Tƣ phản ánh những cuộc ra đi để kiếm tìm ý nghĩa cuộc
sống của những ngƣời trẻ trong xã hội hiện đại. Ở giới hạn bên trong của đề
tài thì bản chất xã hội của đời sống và số phận của con ngƣời giữ vai trò quan
trọng. Những nhà văn tài năng đều biết khai thác đề tài cả ở giới hạn bề ngoài
và chiều sâu bên trong để tạo nên thế giới nghệ thuật độc đáo.
16
Sự phát triển của văn học luôn gắn liền với tiến trình lịch sử của một
đất nƣớc, một dân tộc. Vì vậy, đề tài trong tác phẩm văn học gắn bó chặt chẽ
với hiện thực đời sống của thời đại mà nhà văn sống. Đó là tính lịch sử - cụ
thể của đề tài. Trong mỗi thời kì lịch sử khác nhau, thƣờng nổi lên một số đề
tài trung tâm. Văn học giai đoạn 1945 - 1975 có nhiều tác phẩm viết về đề tài
ngƣời lính và chiến tranh; từ thập niên 1990 đến nay có nhiều tác phẩm về đề
tài đô thị hóa. Thực tế, có những đề tài xuất hiện trở đi trở lại trong nền văn
học của nhiều quốc gia và mọi thời đại nhƣ: tình yêu lứa đôi, chiến tranh và
hòa bình, vẻ đẹp của thiên nhiên, nỗi cô đơn của con ngƣời… Ngƣời ta gọi đó
là những đề tài truyền thống hay đề tài vĩnh cửu của văn học nhân loại. Tuy
vậy, sự thành công của một tác phẩm văn học không hoàn toàn phụ thuộc ở
việc khai thác đề tài cũ hay mới mà ở cách nhà văn xử lý đề tài đó nhƣ thế
nào. Mỗi tác giả có một vùng đề tài yêu thích và chỉ phát huy đƣợc hết sự tài
hoa của ngòi bút mình trong vùng đề tài đó: “Khi vì một lý do nào đó, ông ta
hướng ngòi bút ra ngoài khu vực đề tài ấy thì ông ta không còn sắc sảo nữa,
tác phẩm trở nên nhạt nhẽo, hình tượng thiếu sức sống, thiếu linh hồn, tài
năng dường như rời bỏ ông ta..” [24, tr.13].
Tóm lại, đề tài là một phƣơng diện quan trọng của nội dung tác phẩm
văn học. Nó là cơ sở để nhà văn khái quát thành những chủ đề và xây dựng
những hình tƣợng, những tính cách điển hình. Còn độc giả, khi tiếp nhận tác
phẩm có thể tìm hiểu từ đề tài bên ngoài vào chủ đề, tƣ tƣởng của tác phẩm.
1.2. Đề tài nông thôn trong văn xuôi trƣớc và sau 1986
Đất nƣớc ta với nền văn minh lúa nƣớc đã trải qua bao thăng trầm của
lịch sử. Trong ký ức của nhiều thế hệ ngƣời Việt, hình ảnh của làng quê với
cảnh sắc, con ngƣời và phong tục đã để lại dấu ấn không thể phai mờ. Văn
học đã góp phần không nhỏ trong việc lƣu giữ lại những ký ức ấy một cách
17
chân thực. Bởi vậy, nông thôn và ngƣời nông dân luôn là nguồn đề tài lớn,
xuyên suốt trong tiến trình văn học dân tộc.
1.2.1. Đề tài nông thôn trong văn xuôi trước năm 1986
Văn học dân gian có một kho tàng truyện cổ khá phong phú về đời
sống và sinh hoạt ở nông thôn. Độc giả có thể tìm thấy trong các câu chuyện
những kinh nghiệm sản xuất, phong tục văn hóa và mối xung đột giai cấp ở
làng quê xƣa. Tuy khả năng lƣu truyền còn hạn chế nhƣng văn học dân gian
đã phản ánh đƣợc bao quát bức tranh nông thôn Việt Nam truyền thống với vẻ
đẹp êm đềm, thanh bình.
Đến văn học trung đại, đề tài nông thôn vẫn tiếp tục đƣợc một số tác
giả đề cập. Tuy nhiên, do đặc điểm của hoàn cảnh lịch sử xã hội mà đề tài này
đôi lúc bị mờ nhạt trƣớc một số đề tài khác. Trong giai đoạn này, thơ viết về
cảnh sắc và sinh hoạt ở nông thôn chiếm số lƣợng lớn. Còn văn xuôi viết về
nông thôn và ngƣời nông dân rất ít ỏi. Phải đến gần cuối thế kỉ XIX, Văn tế
nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu xuất hiện thì hình ảnh ngƣời
nông dân mới đƣợc miêu tả một cách chân thực, sâu sắc. Lần đầu tiên trong
lịch sử văn học, ngƣời nông dân đã trở thành trung tâm của sự phản ánh, trở
thành “tượng đài nghệ thuật bất hủ”.
Với tƣ cách là cầu nối của hai thời kì văn học, giai đoạn giao thời (1900
- 1930) đã ghi nhận sự phát triển thêm một bƣớc của văn xuôi về đề tài nông
thôn. Các tác giả tiêu biểu ở giai đoạn này gồm: Hồ Biểu Chánh, Phạm Duy
Tốn… Nếu tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh phản ánh hiện thực đời sống ở
nông thôn Nam Bộ thì truyện ngắn của Phạm Duy Tốn lột tả sự cơ cực lầm
than của ngƣời nông dân Bắc Bộ dƣới chế độ xã hội nửa thực dân nửa phong
kiến. Các nhà văn đã tiếp cận và phản ánh đời sống ở nông thôn bằng bút
pháp tả thực dù còn khá thô sơ. Hình ảnh ngƣời nông dân đƣợc khắc họa với
sự khốn cùng, khốn khổ bởi sự bóc lột của giai cấp thống trị ở một số tác
18
phẩm nhƣ: Con nhà nghèo, Khóc thầm (Hồ Biểu Chánh), Sống chết mặc bay
(Phạm Duy Tốn)… Từ quan điểm đạo lý, các tác giả khẳng định phẩm chất
tốt đẹp của ngƣời nông dân, lên án bọn cƣờng hào địa chủ tham lam và ác
độc. Tuy còn nhiều hạn chế nhƣng văn học giao thời đã tiếp tục nguồn mạch
đề tài nông thôn để chuẩn bị cho những tác phẩm văn học xuất sắc ở giai đoạn
sau.
Trong giai đoạn 1930 - 1945, văn xuôi viết về nông thôn và ngƣời nông
dân đạt đƣợc nhiều thành tựu nổi bật. Trƣớc hết, ở trào lƣu văn học hiện thực
phê phán, có hàng loạt tác phẩm trực tiếp viết về đề tài này gắn với tên tuổi
của nhiều nhà văn nổi tiếng. Đó là: Tắt đèn (Ngô Tất Tố), Bước đường cùng
(Nguyễn Công Hoan), Vỡ đê, Giông tố (Vũ Trọng Phụng), Chí Phèo, Lão Hạc
(Nam Cao)… Tác phẩm của Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố phản ánh nỗi
khổ của ngƣời nông dân vì sƣu cao thuế nặng; lột tả bản chất tham tàn, bất
nhân của cƣờng hào địa chủ. Tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng phản ánh nỗi
cơ cực của những ngƣời dân chân lấm tay bùn và chỉ ra bộ mặt đểu giả của
giai cấp thống trị. Riêng Nam Cao với cái nhìn nhân đạo sâu sắc đã không chỉ
nêu lên nỗi khổ vật chất mà còn phát hiện tình trạng ngƣời nông dân bị tha
hóa, bị “hủy hoại cả nhân hình lẫn nhân tính”. Truyện ngắn Chí Phèo là kiệt
tác thể hiện bi kịch trên. Với một loạt truyện ngắn viết về đề tài nông thôn,
Nam Cao xứng đáng “là nhà văn của những người nông dân nghèo khổ và
bất hạnh, nhà văn của những người khốn khổ, tủi nhục nhất trong xã hội thực
dân nửa phong kiến (…) nhà nhân đạo lớn nhất trong nền văn học hiện đại
Việt Nam ” [40, tr.161-162].
Khác với những nhà văn hiện thực phê phán thƣờng khai thác những
xung đột xã hội, các nhà văn nhƣ Tô Hoài, Kim Lân, Bùi Hiển thƣờng
nghiêng về phản ánh phong tục tập quán ở nông thôn. Bằng cái nhìn tinh tế và
“nhãn quan phong tục”, tác phẩm của Tô Hoài đề cập một số tập tục, hủ tục