Tải bản đầy đủ (.doc) (77 trang)

BCTK đề tài cháy rừng tỉnh Hà Giang

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (3.25 MB, 77 trang )

[HẠT KIỂM LÂM HUYỆN VỊ XUYÊN]

[BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI TỈNH]
[NGHIÊN

CỨU ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU
QUẢ HOẠT ĐỘNG MÔ HÌNH PCCCR TRONG CỘNG
ĐỒNG DÂN CƯ TỈNH HÀ GIANG]

Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Hà Giang
Cơ quan chủ trì: Hạt kiểm lâm huyện Vị Xuyên
Chủ nhiệm đề tài: TS. Vũ Đức Quỳnh
Thời gian thực hiện: 2014 - 2016

[2016]

[Thị trấn Vị Xuyên, huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang]


MỤC LỤC
Phần 1..........................................................................................................................................................1
ĐẶT VẤN ĐỀ.................................................................................................................................................1
Phần 2..........................................................................................................................................................3
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU............................................................................................................3
2.1.Tình hình nghiên cứu ngoài nước.........................................................................................................3
2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước........................................................................................................7
Cho đến thời điểm hiện tại, các ban chỉ huy, các tổ xung kích và các tổ đội vẫn đang duy trì công tác
này, tuy nhiên hiệu quả hoạt động của các mô hình này như thế nào, họ gặp khó khăn gì trong quá
trình tổ chức và thực hiện, cần phải có những thay đổi gì, những giải pháp gì để nâng cao hiệu quả
trong vấn đề này thì đến nay vẫn chưa có nghiên cứu đánh giá nào được thực hiện. Do đó nghiên cứu
thực trạng mô hình PCCCR trong cộng đồng dân cư tỉnh Hà Giang, qua đó đề xuất giải pháp nhằm


nâng cao hiệu quả PCCCR là cần thiết và thực sự cấp bách....................................................................10
Phần 3........................................................................................................................................................11
MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU........................................................................11
3.1 Mục tiêu của đề tài.............................................................................................................................11
3.1.1. Mục tiêu tổng quát:................................................................................................................11
3.1.2. Mục tiêu cụ thể:......................................................................................................................11
(2). Đề xuất được các giải pháp nâng cao hiệu quả mô hình PCCCR trong cộng đồng dân cư..............11
3.2. Nội dung nghiên cứu..........................................................................................................................11
3.3. Phương pháp nghiên cứu..................................................................................................................11
3.3.1. Phương pháp tiếp cận chung.................................................................................................11
3.3.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể............................................................................................12
Phần 4........................................................................................................................................................16
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU..............................................................................................................................16
4.1. Đặc điểm chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của Hà Giang...............................................16
4.1.1. Điều kiện tự nhiên..................................................................................................................16
4.1.2. Điều kiện dân sinh, kinh tế, xã hội.........................................................................................18
4.1.3. Rừng và đất rừng quy hoạch cho lâm nghiệp........................................................................19
4.1.4. Thực trạng hoạt động sản xuất lâm nghiệp...........................................................................20
4.2. Khả năng quản lý và sử dụng vật liệu cháy trong cộng đồng dân cư ở Hà Giang............................23
4.2.1. Đặc điểm vật liệu cháy ở các địa điểm nghiên cứu...............................................................23
4.2.2. Khả năng quản lý sử dụng vật liệu cháy trong cộng đồng dân cư tỉnh Hà Giang.................25
4.2.3. Đề xuất một số biện pháp sử dụng vật liệu cháy an toàn cho cộng đồng dân cư tỉnh Hà
Giang..................................................................................................................................................26
4.3. Tác động của các chính sách của nhà nước, của tỉnh đối với công tác PCCCR ở tỉnh Hà Giang......27
4.4. Thực trạng và nguyên nhân dẫn đến cháy rừng ở Hà Giang............................................................28
4.4.1. Thực trạng tình hình cháy rừng, công tác PCCCR trên địa bàn tỉnh Hà Giang......................28

1



4.4.2. Nguyên nhân chính dẫn đến cháy rừng ở Hà Giang..............................................................31
4.5. Thực trạng thực hiện mô hình PCCCR trong cộng đồng dân cư trong những năm vừa qua...........37
4.5.1. Mô hình PCCCR cấp xã............................................................................................................37
4.5.2. Mô hình PCCCR cấp thôn........................................................................................................42
4.6. Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả mô hình PCCCR trong cộng đồng dân cư.......................47
4.6.1. Đề xuất mô hình PCCCR trong cộng đồng thôn bản..............................................................47
4.6.2. Đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả mô hình...........................................................53
KẾT LUẬN...................................................................................................................................................60
TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ..............................................................................................................................61
TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................................................................................62
PHỤ LỤC.....................................................................................................................................................64

2


Phần 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Cháy rừng là một trong những hiện tượng thiên tai gây tổn thất to lớn về kinh tế
và môi trường sinh thái. Nó tiêu diệt gần như toàn bộ động, thực vật trong vùng bị
cháy, cung cấp vào khí quyển khối lượng lớn khói bụi cùng với những khí gây hiệu
ứng nhà kính như CO, CO2, NO v.v… Cháy rừng là một trong những nguyên nhân
quan trọng làm gia tăng quá trình biến đổi khí hậu trái đất và các thiên tai hiện nay. Mặc
dù với những phương tiện và phương pháp PCCCR ngày càng hiện đại, nhưng cháy rừng
vẫn không ngừng xảy ra, thậm chí ngay cả ở những nước phát triển nhất. Đấu tranh với
cháy rừng đang được xem là một trong những nhiệm vụ cấp bách của thế giới để bảo vệ
các nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường sống nói chung.
Hà Giang là một tỉnh biên giới phía Bắc của Việt Nam, có vị trí chiến lược đặc
biệt quan trọng. Phía Bắc giáp 2 tỉnh Vân Nam và Quảng Tây, nước Cộng hoà nhân
dân Trung Hoa. Phía Đông giáp tỉnh Cao Bằng, phía Nam giáp tỉnh Tuyên Quang, phía
Tây giáp tỉnh Lào Cai và Yên Bái. Hà Giang có tổng diện tích tự nhiên là 792.948,3

ha, trong đó đất quy hoạch cho lâm nghiệp 566.722,43 ha chiếm 71,47 % tổng diện
tích tự nhiên. Qua đó cho thấy ngành lâm nghiệp có vị trí, vai trò quan trọng trong việc
phát triển kinh tế xã hội và an ninh quốc phòng của tỉnh.
Rừng Hà Giang có vai trò quan trọng trong bảo vệ môi trường, điều tiết nước cho
một số thủy điện lớn của quốc gia và sản xuất nông nghiệp, trồng trọt, sinh hoạt của
người dân trong vùng, đồng thời còn là nơi cư trú rất nhiều loài động vật quý hiếm. Vì
vậy rừng tỉnh Hà Giang có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn nguồn gen động, thực
vật quý hiếm và phòng hộ đầu nguồn, cân bằng hệ sinh thái. Tuy nhiên, trong những
năm gần đây nguồn tài nguyên này liên tục suy giảm do nhiều nguyên nhân khác nhau,
một trong những nguyên nhân quan trọng đó là tình hình cháy rừng vẫn đang diễn ra
hết sức phức tạp.
Trên địa bàn tỉnh hiện có nhiều trạng thái rừng dễ cháy như: rừng trên núi đá
vôi, rừng thông, rừng bạch đàn, rừng keo, rừng tre trúc. Dưới rừng thường có lớp cành
lá rụng và thảm tươi dày đặc, đôi khi cao hàng mét. Mùa đông chúng khô đi và trở
thành vật liệu cháy nguy hiểm. Ngoài ra, ngay cả một số rừng tự nhiên đang phục hồi
với nhiều cây nhỏ, cây bụi, cỏ rác trên các vùng đồi trọc và núi đá cũng rất dễ bén lửa
và trở thành đám cháy. Nguy cơ cháy rừng sẽ không thể giảm đi chừng nào khối lượng
vật liệu cháy tích tụ ngày càng nhiều dưới các trạng thái rừng không được giảm bớt.
Kiến thức về PCCCR của các chủ rừng và người dân còn rất hạn chế. Mặc dù
cháy rừng thường xảy ra nhưng có rất ít chủ rừng thành thạo về chiến thuật và kỹ thuật
1


chữa cháy rừng hiểu biết về những phương tiện chữa cháy rừng, những cách thức sử
dụng chúng một cách hiệu quả để chữa cháy. Mỗi khi có đám cháy xảy ra, người ta
thường rất lúng túng trong triển khai chữa cháy. Điều này làm cho chữa cháy rừng
không hiệu quả và làm mất an toàn cho những người tham gia chữa cháy.
Thiếu những tổ chức và quy định thích hợp cho PCCCR. Nhiều địa phương
trong tỉnh còn chưa xây dựng được tổ chức và quy định thích hợp cho PCCCR . Chưa
gắn kết được các thành viên trong cộng đồng vào PCCCR, chưa phát huy được nội lực

của các cộng đồng cho PCCCR, chưa thực hiện tốt được phương châm 4 tại chỗ cho
PCCCR. Những phương án PCCCR hiện tại vẫn chưa đảm bảo phát huy được sức
mạnh của quần chúng nhân dân, chưa phối hợp được các nguồn lực cho PCCCR, chưa
xã hội hoá được hoạt động PCCCR.
Rừng là nguồn sống của người dân và là yếu tố bảo vệ môi trường sinh thái
quan trọng của Hà Giang. Vì vậy, cháy rừng trong những năm qua đã trở thành mối
quan tâm không chỉ của những người làm lâm nghiệp hay những người sống gần rừng,
có cuộc sống gắn với rừng mà của cả những nhà khoa học, những nhà quản lý của
nhiều ngành nhiều cấp và nhân dân địa phương. Những phân tích trên cho thấy, để
giảm thiểu nguy cơ cháy rừng, thì việc xây dựng những mô hình cộng đồng tích cực
chủ động PCCCR tại các địa phương là điều hết sức cần thiết trong thời điểm này. Bởi
trên thực tế mặc dù đã có những mô hình PCCCR trong cộng đồng tuy nhiên những
mô hình này hoạt động như thế nào, đã có những khó khăn gì trong quá trình triển khai
làm hạn chế đến kết quả mong đợi, chúng ta phải đưa ra những giải pháp nào để
khuyến khích sự tham gia, sự chủ động và tích cực của mỗi cá nhân trong cộng đồng
tham gia vào việc PCCCR, tất cả những vấn đề này cần được nghiên cứu và giải quyết.
Xuất phát từ thực tế trên, Sở Khoa học Công nghệ tỉnh Hà Giang phê duyệt và
cấp kinh phí thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt
động mô hình PCCCR trong cộng đồng dân cư tỉnh Hà Giang”.
Nội dung chủ yếu của đề tài gồm: (1) - Nghiên cứu đánh giá thực trạng thực
hiện mô hình PCCCR trong cộng đồng dân cư, (2) - Đề xuất các giải pháp nâng cao
hiệu quả mô hình PCCCR trong cộng đồng dân cư.
Đề tài được thực hiện từ tháng 12 năm 2014 đến tháng 02 năm 2016. Báo cáo
này trình bày những kết quả chính theo nội dung được phê duyệt của đề tài.

2


Phần 2
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1.Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Phòng cháy chữa cháy rừng trên thế giới được bắt đầu được nghiên cứu vào thế
kỷ 20. Thời kỳ đầu chủ yếu tập trung ở các nước có nền kinh tế phát triển như Mỹ,
Nga, Đức, Thụy Điển, Canada, Pháp, Úc v.v.... Sau đó là ở hầu hết các nước có hoạt
động lâm nghiệp. Người ta phân chia 5 lĩnh vực chính của nghiên cứu phòng cháy
chữa cháy rừng: bản chất của cháy rừng, phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng, các
công trình phòng cháy chữa cháy rừng, phương pháp chữa cháy rừng và phương tiện
chữa cháy rừng.
Theo FAO (2005), trên toàn thế giới có hơn 350 triệu ha diện tích rừng và đồng
cỏ bị đốt cháy mà trong đó có đến 95% nguyên nhân xuất phát từ các hoạt động của
con người, đó là các hoạt động như mở rộng sản xuất nông nghiệp, chuyển đổi mục
đích sử dụng đất ở các nước đang phát triển; tăng cường sử dụng rừng cho các mục
đích giải trí và du lịch ở các nước phát triển và đang phát triển.
Để hạn chế tình trạng mất rừng do cháy rừng và việc dùng lửa thực sự đem lại
hiệu quả tích cực thì cần phải nâng cao nhận thức cho cộng đồng về công tác PCCCR,
trong đó cộng đồng chính là người trực tiếp tham gia vào công tác quản lý, tổ chức và
thực hiện việc PCCCR. Mô hình PCCCR trong cộng đồng dân cư hay mô hình quản lý
lửa rừng dựa vào cộng đồng đã được nhiều nước trên thế giới thực hiện.
Thuật ngữ quản lý lửa rừng dựa vào cộng đồng (CBFiM) được đặt ra bởi Sameer
Karki tại Trung tâm đào tạo Lâm nghiệp cộng đồng (RECOFTC) tại Bangkok, Thái
Lan năm 2000. Kể từ khi thuật ngữ này được công nhận đã có nhiều bài báo, phân
tích, nghiên cứu, các chương trình đào tạo về vấn đề này được triển khai tại nước này.
Zhang và các cộng sự (2003) định nghĩa quản lý lửa rừng dựa vào cộng đồng như
một cách tiếp cận trong đó người dân có sự hiểu biết sâu sắc về phòng cháy chữa cháy
và tự nguyện tham gia trong việc quản lý lửa.
Mô hình quản lý lửa rừng dựa vào cộng đồng cũng đã được thực hiện ở một số
nước trên thế giới trong đó có các nước Châu Phi, Mỹ la tinh, Bắc Mỹ, Úc, Ấn độ,
Philipin…
- Tại Namiba
Năm 1996, Cục Lâm nghiệp thuộc Bộ môi trường và Du lịch chọn khu vực

Caprivi (đông bắc Namibia) là khu vực thí điểm để phát triển một mô hình kiểm soát
cháy rừng dựa vào cộng đồng (Jurvelius, 1999; Kamminga, 2001). Khu vực thí điểm
3


bao gồm 1,2 triệu ha tài nguyên rừng tốt nhất của Namibia và thuộc khu vực cận nhiệt
đới. Hầu hết các khu vực này là đất của địa phương, nhưng một phần quan trọng là
rừng của nhà nước, công viên quốc gia và khu bảo tồn động vật hoang dã. Trước khi
bắt đầu dự án, 70-80% rừng trong khu vực thí điểm bị cháy mỗi năm và hầu hết các vụ
cháy là do con người.
Chương trình đã thu hút sự tham gia của rất nhiều người dân địa phương, họ
tham gia ở các hoạt động khác nhau như: tham dự chương trình phim truyền hình, học
hỏi làm thế nào để chống cháy... Những nỗ lực này đã làm giảm 54 % những diện tích
bị cháy hàng năm trong khu vực. Cuộc khảo sát cũng kết luận rằng chính phủ nên
chuyển giao trách nhiệm và thẩm quyền PCCCR cho người dân..
-

Tại Ấn độ

Ở Ấn Độ, ủy ban quản lý rừng đã được thành lập ở cấp thôn bản liên quan đến
người dân trong bảo vệ và bảo tồn rừng. Hiện nay có 36.165 ủy ban trong cả nước, bao
phủ một diện tích hơn 10.240.000 ha ( Bahuguna và Singh , 2001; Kumar , 2001). Các
ủy ban cũng đã được trao trách nhiệm bảo vệ và phòng chống cháy rừng. Với mục
đích này, kế hoạch kiểm soát cháy rừng hiện đại đang được sửa đổi và các ủy ban này
là một phần không thể thiếu trong chiến lược phòng chống cháy rừng hiện nay ở Ấn độ
bởi việc PCCCR bằng máy bay đã thực sự chưa hiệu quả và khá tốn kém.
- Tại Philipin
Để thúc đẩy và khuyến khích sự tham gia của cộng đồng trong việc thực hiện các
biện pháp PCCCR , mục tiêu của chương trình là:
- Tổ chức và tăng cường thành viên cộng đồng để họ có thể làm việc hướng tới

một nỗ lực chung;
- Tăng cường ý chí chính trị của cộng đồng và các đơn vị chính quyền địa
phương đối với việc bảo tồn/ bảo vệ tài nguyên rừng;
- Kết hợp các sáng kiến bảo tồn/ bảo vệ rừng vào nỗ lực phát triển ở cấp cộng đồng.
Để đạt được những mục tiêu này, các mục tiêu cụ thể được quy định như sau:
- Giới hạn/ ngăn chặn, nếu không hoàn toàn loại trừ, sự xuất hiện của cháy rừng
rừng ở các cộng đồng của tỉnh;
- Điều chỉnh việc sử dụng lửa của nông dân thông qua việc cấp giấy phép để theo dõi;
- Theo dõi và ghi lại các lần xuất hiện của lửa tại các khu vực rừng của mỗi cộng
đồng một cách thường xuyên;

4


- Tiếp tục điều tra nguyên nhân vụ cháy và đề xuất chính sách cho các cơ quan có
liên quan để xử lý.
Một cách thức khác của chiến lược này đó là huy động tất cả các cộng đồng tham
gia vào kế hoạch khen thưởng. Đó là cộng đồng nào không để xảy ra cháy rừng, không
khai thác gỗ bất hợp pháp hoặc ít bị cháy rừng sẽ được khen thưởng trị giá 200.000
peso (khoảng 4.000 USD ( Pogeyed, 1998).
- Nghiên cứu về giải pháp cộng đồng cho phòng cháy chữa cháy rừng ở khu vực
Đông Nam Á nói chung
Những vụ cháy rừng với quy mô lớn ở Đông Nam Á, đặc biệt là ở Inđônêsia đã
thu hút sự quan tâm của toàn thế giới (Rowell and Moore, 2000). Các tác động tiêu
cực của nó đã được nhận biết ở mọi cấp từ địa phương, quốc gia đến toàn cầu. Để có
thể hiểu rõ hơn những vụ cháy rừng ở Đông Nam Á, trong khuôn khổ của Dự án
phòng cháy chữa cháy rừng Đông Nam Á, Sameer Karki (2002) đã nghiên cứu vai trò
của cộng đồng đối với các vụ cháy rừng và sự tham gia của họ trong việc ngăn chặn
các vụ cháy rừng. Báo cáo, được thực hiện nhằm phục vụ mục tiêu của Dự án Phòng
cháy Chữa cháy rừng Đông Nam á (PCCCR ĐNA), trình bày những kinh nghiệm

thành công về sự tham gia của cộng đồng trong công tác phòng cháy chữa cháy rừng
và phân tích những yếu tố chính trị, thể chế, kinh tế văn hoá tạo điều kiện cho các
cộng đồng địa phương tham gia tích cực vào việc ngăn chặn các vụ cháy ngoài ý
muốn.
Tác giả cho thấy sự đoàn kết cộng động và gắn bó với tài nguyên của địa phương
là rất quan trọng trong việc sử dụng lửa có kiểm soát. Ở nhiều nước, có khi người dân
dùng lửa phá huỷ rừng tự nhiên hoặc rừng trồng để trả thù hay vì các lý do chính trị.
Bởi vậy, nâng cao hiệu quả quản lý lửa có thể phải bắt đầu từ việc giải quyết tốt hơn
các xung đột và loại bỏ những nguyên nhân sâu xa của cháy rừng như phân chia đất
đai không công bằng.
Để hệ thống quản lý cháy rừng dựa vào cộng đồng được bền vững, các biện pháp
khuyến khích quản lý cháy rừng phải phù hợp với nhu cầu của cộng đồng. Cần hiểu rõ
mục đích của người dân khi họ tham gia vào công tác quản lý cháy rừng. Việc phối
hợp các cộng đồng trong chương trình phòng cháy chữa cháy rừng cũng quan trọng, nhất
là trong trường hợp có nhiều bên liên quan muốn hưởng lợi từ tài nguyên rừng. Đảm bảo
sở hữu đất đai là một nhân tố quan trọng trong quản lý cháy rừng ở cộng đồng.
Bên cạnh các biện pháp khuyến khích, hình phạt đối với việc quản lý không hiệu
quả cũng quan trọng. Nói chung, hình phạt do cộng đồng thực thi thường có hiệu quả
hơn là luật pháp của chính phủ.
5


Việc cộng đồng tham gia thành công vào hoạt động phòng cháy chữa cháy rừng
phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Trong đó có sự gắn kết hay sở hữu của cộng đồng và sự
phụ thuộc của họ đối với tài nguyên rừng; kiến thức truyền thống về môi trường vật lý
– sinh học của địa phương và phương thức sử dụng lửa; và không có các xung đột về
quyền sở hữu. Việc cộng đồng quản lý tài nguyên của mình cũng đảm bảo rằng quyền
lợi và các mối quan tâm của họ sẽ được giải quyết và bảo vệ. Sự thành công thường
phụ thuộc vào việc tuân thủ các luật lệ của cộng đồng về sử dụng lửa.
Trong Dự án phòng cháy chữa cháy rừng Đông Nam Á còn nhiều tác giả tham

gia nghiên cứu về giải pháp phòng cháy chữa cháy rừng dựa vào cộng đồng. Trong đó
họ nhấn mạnh tầm quan trọng những giải pháp kỹ thuật và tổ chức thích hợp cho
khuyến khích sự tham gia của cộng đồng vào phòng cháy chữa cháy rừng (Peter
Moore, 2003).
Biến đổi khí hậu trong những thập kỷ gần đây đã làm tăng nguy cơ cháy rừng của
hầu hết các khu vực trên thế giới. Theo số liệu của Trung tâm giám sát cháy toàn cầu,
số vụ cháy rừng từ những năm 1990 trở lại đây đã tăng lên xấp xỉ gấp 3 lần so với các
thời kỳ trước đó (Johann G. Goldammer and Nikola Nikolov, 2009).
Có thể thấy rằng mặc dù các phương pháp và phương tiện phòng chống cháy
rừng đã được phát triển ở mức cao, song những thiệt hại do cháy rừng vẫn rất khủng
khiếp ngay cả ở những nước phát triển có hệ thống phòng chống cháy rừng hiện đại
như Mỹ, Úc, Nga v.v… Trong nhiều trường hợp việc khống chế các đám cháy vẫn
không hiệu quả. Người ta cho rằng, ngăn chặn nguồn lửa để không xảy ra cháy vẫn là
quan trọng nhất. Vì vậy, đã có những nghiên cứu về đặc điểm xã hội của cháy rừng và
những giải pháp xã hội cho phòng chống cháy rừng (Cooper, 1991). Hiện nay, các giải
pháp xã hội phòng chống cháy rừng chủ yếu được tập trung vào tuyên truyền, giáo dục
tác hại của cháy rừng, nghĩa vụ của công dân trong việc phòng chống cháy rừng,
những hình phạt đối với người gây cháy rừng. Trong thực tế còn ít những nghiên cứu
về ảnh hưởng của thể chế và chính sách quản lý sử dụng tài nguyên, chính sách chia sẻ
lợi ích, những quy định của cộng đồng, những phong tục, tập quán, những nhận thức
và kiến thức của người dân đến cháy rừng. Cũng còn rất ít những mô hình PCCCR do
chính cộng đồng bản địa tổ chức và thực hiện, hoặc có nhưng nó vẫn thuộc các chương
trình và có sự tác động của bên ngoài cũng như từ các chính sách của nhà nước mà
chưa phải là các mô hình do chính cộng đồng tự khởi xướng và thực hiện vì chính bản
thân họ. Rất ít những nghiên cứu, đánh giá hay các mô hình cho thấy được cộng đồng
địa phương là những người quan trọng nhất, có vai trò lớn nhất trong việc PCCCR .
Đây sẽ là những căn cứ quan trọng để xây dựng giải pháp kinh tế - xã hội cho phòng
chống cháy rừng.
6



2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
- Về công tác PCCCR nói chung
Những năm qua Nhà nước ngày càng quan tâm chỉ đạo và đầu tư cho công
tác PCCCR, Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về phòng cháy và chữa
cháy rừng từng bước được hoàn thiện. Cụ thể đã ban hành các văn bản như:
- Chỉ thị số 12/2003/CT-TTg ngày 16/5/2003 vê việc tăng cường các biện pháp
cấp bách để bảo vệ và phát triển rừng;
- Chỉ thị số 08/2006/CT-TTg ngày 08/3/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc
tăng cường các biện pháp cấp bách ngăn chặn tình trạng chặt phá, đốt rừng, khai thác
rừng trái phép;
- Chỉ thị số 3318/CT-BNN-KL, ngày 06/11/2008, của Bộ trưởng Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn, về việc tăng cường các biện pháp cấp bách trong công
tác bảo vệ rừng, PCCCR và chống người thi hành công vụ;
- Chỉ thị số 3767/CT-BNN-KL ngày 18/11/2009 Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn về việc tăng cường các biện pháp cấp bách trong công tác bảo vệ
rừng và PCCCR mùa khô 2009 - 2010;
- Chỉ thị số 270/2010/CT-TTg ngày 12/02/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc
triển khai các biện pháp cấp bách phòng cháy, chữa cháy rừng;
- Chỉ thị số 25/CT-BNN-TCLN ngày 06/01/2011 Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn về việc triển khai các biện pháp bảo vệ rừng và PCCCR;
- Chỉ thị số 1685/CT-TTg ngày 27/9/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng
cường chỉ đạo thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng và chống
người thi hành công vụ;
- Quyết định số 07/2012/QĐ-TTg ngày 08/02/2012 của Thủ tướng Chính phủ
Ban hành một số chính sách tăng cường công tác bảo vệ rừng;
- Công điện số 300/CĐ-TTg ngày 06/3/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc
phòng cháy, chữa cháy rừng.
- Ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, hướng dẫn các Chi cục Kiểm lâm ở địa
phương tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng hoặc

trình cấp có thẩm quyền tổ chức chức các hội nghị, cuộc họp toàn quốc triển khai các
Chỉ thị, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
Có thể thấy rằng hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về phòng cháy và
chữa cháy rừng từng bước được hoàn thiện; chủ trương xã hội hóa công tác bảo vệ và
7


phát triển rừng được thể chế hoá. Ban chỉ đạo Trung ương về các vấn đề cấp bách
trong bảo vệ rừng và PCCCR (nay là Ban chỉ đạo Nhà nước về Kế hoạch bảo vệ và
phát triển rừng); Ban Chỉ huy PCCCR cấp tỉnh, huyện, xã ở những nơi có nhiều rừng
được thành lập và đi vào hoạt động có hiệu quả. Vai trò của chủ rừng bước đầu được
tăng cường. Ý thức của cộng đồng và toàn xã hội về PCCCR có chuyển biến tích
cực. Kinh nghiệm chỉ đạo, điều hành và kiểm tra, kiểm soát cháy rừng của chính
quyền các cấp và lực lượng chữa cháy rừng từng bước được cải thiện. Phương châm
4 tại chỗ trong chữa cháy rừng đã được quán triệt và phát huy hiệu quả. Những tiến
bộ trong công tác PCCCR nói trên đã góp phần giảm thiểu nguy cơ cháy rừng trong
thời gian qua. Ở hầu hết các địa phương đều đã được thành lập các ban chỉ huy
PCCCR các cấp, tổ đội PCCCR cấp thôn bản và từng bước đi vào hoạt động có quy
củ, sẵn sàng tham gia PCCCR.
Mặc dù đạt được những kết quả nhất định. Tình hình cháy rừng ở nước ta vẫn
diễn biến rất phức tạp. Trong giai đoạn 10 năm qua (2002-2011), cả nước đã xảy ra
7.380 vụ cháy rừng; diện tích thiệt hại: 49.837ha. Bình quân 715 vụ/năm; với
diện tích 4.984ha rừng bị thiệt hại/năm. Đặc biệt là vào những năm nắng hạn bất
thường và vào thời kỳ cao điểm của hiện tượng El Nino thì tình hình cháy rừng xảy ra
rất nguy hiểm, năm 2002 xảy ra 1.198 vụ cháy rừng, thiệt hại 15.548 ha rừng, trong đó
hai vụ cháy rừng U Minh Thượng và U Minh Hạ thiệt hại 5.415 ha, giá trị lâm sản
thiệt hại ước tính khoảng 290 tỷ đồng chưa kể hàng chục tỷ đồng chi phí cho chữa
cháy và chi phí để phục hồi rừng của Nhà nước, và đầu năm 2010 xảy ra vụ cháy rừng
tại Vườn quốc gia Hoàng Liên làm cháy hơn 800 ha rừng, năm 2012 đã xảy ra cháy
rừng tại Khu rừng phòng hộ Nam Hải Vân, Thành phố Đà Nẵng làm thiệt hại hơn 100

ha rừng; chi phí huy động lực lượng để chữa cháy rừng là rất lớn, đời sống người dân
tại địa phương xảy ra cháy rừng bị đảo lộn, ảnh hưởng của cháy rừng lên hệ sinh thái
kéo dài và cần thời gian mới khôi phục được.
- Về nghiên cứu biện pháp phòng cháy chữa cháy rừng
Các nghiên cứu về biện pháp phòng cháy chữa cháy rừng ở Việt Nam chủ yếu
hướng vào thử nghiệm và phân tích hiệu quả của giải pháp đốt trước nhằm giảm khối
lượng vật liệu cháy. Phó Đức Đỉnh (1993) đã thử nghiệm đốt trước vật liệu cháy dưới
rừng Thông non 2 tuổi tại Đà Lạt. Theo tác giả ở rừng Thông non nhất thiết phải gom
vật liệu cháy vào giữa các hàng cây hoặc nơi trống để đốt, chọn thời tiết đốt để ngọn
lửa âm ỉ, không cao quá 0.5m có thể gây cháy tán cây. Phan Thanh Ngọ thử nghiệm
đốt trước vật liệu cháy dưới rừng Thông 8 tuổi ở Đà lạt (Phan Thanh Ngọ, 1995). Tác
giả cho rằng với rừng Thông lớn tuổi không cần phải gom vật liệu trước khi đốt mà chỉ
cần tuân thủ những nguyên tắc về chọn thời điểm và thời tiết thích hợp để đốt. Tác giả
8


cho rằng có thể áp dụng đốt trước vật liệu cháy cho một số loại rừng ở địa phương
khác, trong đó có rừng khộp ở Đắc Lắc và Gia Lai.
Ngoài ra, đã có một số tác giả đề cập đến giải pháp xã hội cho phòng cháy chữa
cháy rừng (Lê Đăng Giảng, 1974; Đặng Vũ Cẩn, 1992; Phạm Ngọc Hưng, 1994). Các
tác giả đã khẳng định rằng việc tuyên truyền về tác hại của cháy rừng, quy hoạch vùng
sản xuất nương rẫy, hướng dẫn về phương pháp dự báo, cảnh báo, xây dựng các công
trình phòng cháy chữa cháy rừng, tổ chức lực lượng phòng cháy chữa cháy rừng, quy
định về dùng lửa trong dọn đất canh tác, săn bắn, du lịch, quy định về nghĩa vụ và
quyền lợi của công dân v.v... là những giải pháp xã hội quan trọng trong phòng cháy
chữa cháy rừng. Tuy nhiên, phần lớn những kết luận đều dựa vào nhận thức của các
tác giả là chính. Còn rất ít những nghiên cứu mang tính hệ thống về ảnh hưởng của các
yếu tố kinh tế xã hội đến cháy rừng.
- Về các mô hình cộng đồng tham gia PCCCR ở Việt Nam
Việc phát động cộng đồng tham gia PCCCR đã được triển khai ở hầu khắp các địa

phương, tuy nhiên ở phần lớn các địa phương đều chưa có mô hình PCCCR trong cộng
đồng một cách bài bản, đặc biệt là mô hình cộng đồng tự nguyện PCCCR mà trên thực
tế cộng đồng địa phương chỉ tham gia khi được huy động chữa cháy rừng khi có đám
cháy xảy ra tại địa phương. Đây chính là lý do dẫn đến việc phát hiện đám cháy cũng
như công tác chữa cháy rừng thời gian qua tại các địa phương thực sự chưa hiệu quả,
thường thì chúng ta mới thực hiện việc chữa cháy chứ chưa phòng được cháy tại chính
cộng đồng. Trên thực tế có thể thấy rằng, công việc chữa cháy rừng phải đòi hỏi nhiều
nhân lực do địa hình đồi núi phức tạp, việc tiếp cận đám cháy thường khó khăn và
nguy hiểm... Do đó nếu chỉ dựa vào lực lượng PCCCR là các tổ đội thì hiệu quả
PCCCR sẽ không đạt kết quả như mong đợi.
Nghiên cứu về vấn đề này đã có một số tác giả đề cập đến giải pháp xã hội cho phòng
chống cháy rừng (Lê Đăng Giảng,1974; Đặng Vũ Cẩn,1992; Phạm Ngọc Hưng, 1994). Các
tác giả đã khẳng định rằng việc tuyên truyền về tác hại của cháy rừng, quy hoạch vùng sản
xuất nương rẫy, hướng dẫn về phương pháp dự báo, cảnh báo, xây dựng các công trình
phòng chống cháy rừng, tổ chức lực lượng phòng chống cháy rừng, quy định về dùng lửa
trong dọn đất canh tác, săn bắn, du lịch, quy định về nghĩa vụ và quyền lợi của công dân
v.v... sẽ là những giải pháp xã hội quan trọng trong phòng chống cháy rừng. Tuy nhiên,
phần lớn những kết luận đều dựa vào nhận thức của các tác giả là chính. Còn rất ít những
nghiên cứu mang tính hệ thống về ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế xã hội đến cháy rừng.
Mặc dù hiện nay tại nhiều địa phương đã thành lập các tổ đội PCCCR cấp thôn bản
nhưng hiệu quả hoạt động của các tổ đội này thực sự chưa hiệu quả bởi trên thực tế thành
9


phần tham gia tổ đội đều là cán bộ kiêm nhiệm, số lượng các thành viên trong tổ đội cũng
hạn chế vì vậy họ gần như không hoặc rất ít thực hiện việc tuần tra phát hiện cháy rừng mà
chỉ thực hiện công tác tổ chức chữa cháy rừng khi nhận được thông tin có đám cháy hoặc tổ
chức chữa cháy khi được huy động từ cấp trên.
- Về mô hình PCCCR trong cộng đồng ở Hà Giang
Mặc dù địa phương rất chủ động trong công tác PCCCR nhưng phương châm 4 tại

chỗ đang áp dụng thực sự không có hiệu quả do chính quyền địa phương ở nhiều xã,
huyện nơi xảy ra cháy rừng không huy động được lực lượng tại chỗ. Xuất phát từ vấn
đề này, để nâng cao hiệu quả trong công tác PCCCR ở các cộng đồng địa phương,
hàng năm Hà Giang đều triển khai đồng loạt việc thành lập, kiện toàn các ban chỉ huy
PCCCR cấp xã, các tổ đội xung kích PCCCR gắn với PCLB và TKCN, các tổ đội quần
chúng bảo vệ rừng và PCCCR ở các thôn bản để thuận lợi hơn trong quá trình tổ chức
và triển khai công tác PCCCR, nâng cao trách nhiệm và ý thức của người dân trong
công tác PCCCR.
Cho đến thời điểm hiện tại, các ban chỉ huy, các tổ xung kích và các tổ đội vẫn đang
duy trì công tác này, tuy nhiên hiệu quả hoạt động của các mô hình này như thế nào, họ gặp
khó khăn gì trong quá trình tổ chức và thực hiện, cần phải có những thay đổi gì, những giải
pháp gì để nâng cao hiệu quả trong vấn đề này thì đến nay vẫn chưa có nghiên cứu đánh giá
nào được thực hiện. Do đó nghiên cứu thực trạng mô hình PCCCR trong cộng đồng dân cư
tỉnh Hà Giang, qua đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả PCCCR là cần thiết và
thực sự cấp bách.

10


Phần 3
MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Mục tiêu của đề tài
3.1.1. Mục tiêu tổng quát:
- Góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác PCCCR cho tỉnh Hà Giang.
3.1.2. Mục tiêu cụ thể:
(1). Đánh giá được thực trạng thực hiện mô hình PCCCR trong cộng đồng dân cư.
(2). Đề xuất được các giải pháp nâng cao hiệu quả mô hình PCCCR trong cộng
đồng dân cư.
3.2. Nội dung nghiên cứu
Nội dung 1. Nghiên cứu đánh giá thực trạng thực hiện mô hình PCCCR

trong cộng đồng dân cư
- Nghiên cứu, đánh giá khả năng quản lý và sử dụng vật liệu cháy trong cộng
đồng dân cư ở Hà Giang;
- Nghiên cứu tác động của các chính sách của nhà nước, của tỉnh đối với công
tác PCCCR ở tỉnh Hà Giang;
- Nghiên cứu thực trạng và nguyên nhân dẫn đến cháy rừng ở các cộng đồng;
- Nghiên cứu thực trạng thực hiện mô hình PCCCR trong cộng đồng dân cư
trong những năm vừa qua;
- Đánh giá hiệu quả của các mô hình PCCCR trong cộng đồng đã triển khai;
- Đánh giá những khó khăn trong việc triển khai mô hình PCCCR trong cộng đồng.
Nội dung 2. Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả mô hình PCCCR
trong cộng đồng dân cư
- Xây dựng phương án quản lý lửa rừng có sự tham gia ở cấp xã, thôn;
- Xây dựng quy ước quản lý lửa rừng ở cấp thôn có sự tham gia;
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả mô hình PCCCR trong cộng đồng
dân cư.
3.3. Phương pháp nghiên cứu
3.3.1. Phương pháp tiếp cận chung
(1)- Cách tiếp cận hệ thống:
Theo quan điểm hệ thống, cháy rừng vừa là hiện tượng của hệ thống tự nhiên vừa
là hiện tượng của hệ thống kinh tế xã hội, hay nói cách khác, nó là hiện tượng của hệ
thống kinh tế - sinh thái. Vì vậy, để xây dựng những giải pháp thích hợp cho PCCCR
cần nghiên cứu ảnh hưởng đồng thời của các yếu tố tự nhiên, kinh tế và xã hội. Mặt

11


khác, những giải pháp PCCCR cũng phải bao gồm cả những giải pháp kỹ thuật và giải
pháp kinh tế xã hội.
(2)- Cách tiếp cận đa ngành

Cháy rừng là hiện tượng phức tạp liên quan đến nhiều ngành và nó đòi hỏi những
kiến thức của nhiều lĩnh vực khác nhau. Vì vậy, phòng chống và khắc phục hậu quả
của cháy rừng cần được nghiên cứu và giải quyết trên quan điểm đa ngành.
(3)- Cách tiếp cận nghiên cứu phát triển
Các giải pháp phòng chống và khắc phục hậu quả của cháy rừng luôn hướng vào
mục tiêu phát triển kinh tế xã hội và được lồng ghép với những hoạt động phát triển
kinh tế xã hội khác. Vì vậy, việc nghiên cứu chúng mang tính chất của những nghiên
cứu phát triển với trình tự logic chung là: phân tích thực trạng, xác định nguyên nhân
và xây dựng giải pháp phù hợp với hoàn cảnh địa phương. Đây là lý do vì sao trong đề
tài này coi phương pháp nghiên cứu tham dự với cách tiếp cận từ dưới lên là một trong
những phương pháp chủ đạo.
3.3.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
a, Lựa chọn điểm nghiên cứu
Tại mỗi huyện (Đồng Văn, Hoàng Su phì và Vị Xuyên) nghiên cứu lựa chọn 03
xã, mỗi xã chọn 02 thôn, các xã và thôn này đại diện cho khu vực nghiên cứu như: Có
diện tích rừng đủ lớn, rừng của các xã, thôn này có nhiều trạng thái khác nhau, đã từng
bị xảy ra cháy rừng hoặc có nguy cơ bị cháy rừng, có mô hình PCCCR trong cộng
đồng. Tại mỗi thôn chọn 25 hộ để phỏng vấn. Ngoài ra nhóm nghiên cứu cũng đã
phỏng vấn một số lãnh đạo xã, thôn, những người phụ trách các hoạt động liên quan
đến sản xuất nông lâm nghiệp tại địa phương và một số cán bộ kiểm lâm phụ trách địa
bàn, đại diện lãnh đạo hạt kiểm lâm của huyện nghiên cứu, số người được phỏng vấn
là 48 người.
b, Phương pháp chuyên gia
Phương pháp này được thực hiện trong suốt quá trình thực hiện đề tài, thông qua
các hình thức: hội thảo, họp nhóm chuyên gia, bài nhận xét góp ý, phỏng vấn trực tiếp.
Các ý kiến của các chuyên gia được ghi nhận và tổng hợp. Các nội dung xin ý kiến
chuyên gia đó là: phương pháp tiếp cận, phương pháp đánh giá, xây dựng đề cương,
chuyên đề,...
Phương pháp chuyên gia được thực hiện ngay từ khi xây dựng thuyết minh đề tài,
các đề cương chuyên đề, trong quá trình thực hiện và hoàn thiện các nội dung của đề tài.

c, Phương pháp và công cụ thu thập số liệu
- Nghiên cứu tài liệu thứ cấp
Các số liệu, tài liệu, thông tin... sau đây đã được nhóm nghiên cứu thu thập và kế thừa:
12


- Số liệu về diện tích rừng của tỉnh, của 03 huyện điều tra (cấp huyện, xã, thôn).
- Số liệu về diện tích rừng, loại rừng bị cháy hàng năm của tỉnh và của các huyện,
xã, thôn bản điều tra.
- Nguyên nhân gây cháy rừng.
- Các biện pháp PCCCR hiện đang được tỉnh cũng như các huyện, xã, thôn bản
thực hiện.
- Các báo cáo, các dự án đang triển khai thực hiện có liên quan đến nghiên cứu.
- Các loại bản đồ: Bản đồ giao đất giao rừng, bản đồ quy hoạch ba loại rừng.
- Quyết định, nghị định, thông tư hướng dẫn thực hiện PCCCR tại địa phương.
- Phương pháp điều tra, thu thập số liệu hiện trường:
Đề tài sử dụng các công cụ đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA) sau
đây để thu thập các thông tin và số liệu ngoài hiện trường:
Điều tra theo tuyến và xây dựng sơ đồ mặt cắt: Được thực hiện nhằm đánh giá
nhanh hiện trạng rừng ngoài thực địa, qua đó đánh giá sơ bộ được công tác quản lý bảo
vệ rừng cũng như công tác PCCCR của thôn bản. Tiến hành đi mặt cắt từ vùng thấp
đến vùng cao, tại mỗi vùng đặc trưng cho cả khu vực hoặc đặc trưng cho đối tượng
rừng chiếm số lượng lớn của thôn bản thì dừng lại thảo luận về vấn đề quản lý bảo vệ
rừng, tình hình PCCCR của thôn bản trong những năm gần đây. Đại diện nhóm nghiên
cứu đã phác họa nhanh địa hình và đặc điểm của vùng đó lên giấy để phục vụ cho việc
phỏng vấn sau này.
Phỏng vấn hộ gia đình: Được thực hiện thông qua bảng phỏng vấn bán định
hướng được chuẩn bị và kiểm tra trước. Các HGĐ phỏng vấn được lựa chọn theo
phương pháp ngẫu nhiên có hệ thống. Chủ đề phỏng vấn gồm: Tác hại của cháy rừng,
nguyên nhân của cháy rừng, thực trạng công tác PCCCR, giải pháp cho PCCCR,

nhiệm vụ của mỗi đối tượng trong PCCCR, những khuyến nghị về chính sách cho
PCCCR…Trong hoạt động này, nhóm nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấn 450 hộ, với
25 hộ/1 thôn.
Phỏng vấn cá nhân: Phỏng vấn cán bộ kiểm lâm huyện, cán bộ kiểm lâm phụ
trách địa bàn, cán bộ xã, thôn phụ trách lâm nghiệp… của các huyện, xã, thôn bản
nghiên cứu. Công cụ này sẽ được thực hiện trước khi đến thôn bản nhằm tìm hiểu tình
hình chung về công tác quản lý bảo vệ rừng, công tác PCCCR của các thôn bản, các
mô hình PCCCR tại địa phương, tình hình cháy rừng và các hoạt động của người dân
liên quan đến rừng và đất rừng (chủ yếu là các hoạt động sinh kế như: canh tác nương
rẫy, săn bắn, thu hái lâm sản, đốt than…).
Trong nội dung này nhóm nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấn 21 cán bộ cấp
huyện ở 3 huyện, các đối tượng được phỏng vấn là: 01 lãnh đạo hạt kiểm lâm, 01 cán
13


bộ kỹ thuật Hạt Kiểm lâm, 03 kiểm lâm phụ trách địa bàn xã, 01 lãnh đạo Phòng Nông
nghiệp và PTNT và 01 lãnh đạo Ban quản lý rừng phòng hộ/Ban Quản lý dự án
BV&PTR. Tại cấp xã, thôn nhóm nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấn 108 người, trong
đó mỗi xã phỏng vấn 12 người, đối tượng được phỏng vấn ở cấp xã/ thôn cụ thể là: 01
lãnh đạo Đảng ủy xã, 01 lãnh đạo UBND xã, 01cán bộ phụ trách lâm nghiệp xã, 01 xã
đội trưởng, 01 bí thư Đoàn thanh niên, 01 chủ tịch Hội phụ nữ, 02 Bí thư Chi bộ thôn,
02 trưởng thôn, 02 thôn đội trưởng.
Ngoài ra nhóm nghiên cứu cũng đã tiến hành điều tra các cơ sở sản xuất và tiêu
thụ gỗ cũng như lâm sản ngoài gỗ, các nhà hàng trên địa bàn huyện, xã... để khảo sát
tình hình buôn bán, tiêu thụ lâm sản, khảo sát thu thập thông tin, chụp ảnh tư liệu.
Nhóm cũng đã tiến hành khảo sát nhanh hiện trạng rừng của các xã, thôn nghiên cứu
kết hợp phỏng vấn thảo luận hiện trường để xác định các trạng thái rừng dễ cháy,
những địa điểm đã xảy ra cháy rừng, các hoạt động sản xuất của người dân ở khu vực
có rừng, nguyên nhân gây cháy rừng...
d, Xây dựng phương án quản lý lửa rừng ở cấp xã, thôn, bản có sự tham gia

của người dân
Phương án quản lý lửa rừng cấp xã, thôn, bản bao gồm các phương án phân bổ
nhân lực và phương tiện PCCCR, phương án phòng cháy rừng, phương án tuần tra và
phát hiện sớm cháy rừng, phương án tổ chức và chỉ huy chữa cháy rừng, phương án
khắc phục hậu quả của cháy rừng. Phương án quản lý lửa rừng cấp xã được xây dựng
theo phương pháp cùng tham gia có sự hỗ trợ của cán bộ tư vấn, kiểm lâm cấp huyện
và chính quyền xã. Quá trình xây dựng phương án quản lý lửa rừng cấp xã được thực
hiện theo những bước sau:
+ Họp cán bộ xã, thôn phổ biến chủ trương và nội dung xây dựng phương án quản
lý lửa rừng cấp xã, phân công cán bộ biên soạn phương án quản lý lửa rừng cấp xã.
+ Biên soạn phương án quản lý lửa rừng cấp xã.
+ Phản biện cho bản phương án quản lý lửa rừng cấp xã (xin ý kiến chuyên gia,
cán bộ kiểm lâm). Trong bước này, phương án quản lý lửa rừng cấp xã đã được gửi
đến các chuyên gia đầu ngành có nhiều nghiên cứu về vấn đề PCCCR, đại diện cán bộ
kiểm lâm của tỉnh Hà Giang, qua đó xin ý kiến nhận xét, góp ý để hoàn thiện bản
phương án một cách khoa học nhưng vẫn đáp ứng yêu cầu thực tế của địa phương.
+ Thông báo lấy ý kiến đóng góp của các trưởng thôn bản về phương án quản lý
lửa rừng cấp xã,thôn. Trong bước này, bản phương án cũng đã được gửi đến các

14


trưởng thôn (chủ yếu là ở các thôn nghiên cứu) để lấy ý kiến, bởi vì họ nắm được tình
hình thực tiễn tại mỗi thôn và sẽ có những góp ý mang tính khách quan và thực tế.
+ Họp cán bộ xã thông qua phương án quản lý lửa rừng cấp xã, thôn: Ở bước
này, sau khi nhóm nghiên cứu đã nhận được ý kiến góp ý của các chuyên gia, cán bộ
kiểm lâm, các trưởng thôn...thì tiến hành hoàn thiện bản phương, sau đó họp xã, thôn
để thông qua bản phương án quản lý lửa rừng cấp xã, thôn.
e, Xây dựng bản quy ước quản lý lửa rừng cấp thôn
- Biên soạn quy ước

Quy ước thôn bản về quản lý lửa rừng được xây dựng theo phương pháp cùng
tham gia. Quá trình tham gia sẽ được thực hiện bắt đầu bằng thảo luận trong nhóm nhỏ
5 cán bộ quản lý và chủ rừng (người dân) để xác định nội dung của quy ước. Sau đó
giao cho những cán bộ đã có kinh nghiệm trong lĩnh vực quản lý lửa rừng ở địa
phương biên soạn quy ước.
- Hoàn thiện quy ước
Hoàn thiện quy ước thôn bản về cộng đồng tham gia quản lý lửa rừng được thực
hiện bằng phương pháp chuyên gia. Trước hết quy ước được phản biện bởi các chuyên
gia có kinh nghiệm trong quản lý lửa rừng và xây dựng quy ước thôn bản. Sau đó nó
được hoàn thiện nhờ đóng góp ý kiến của người dân trong cuộc họp thôn bản. Cuối
cùng Chính quyền phê duyệt và chính thức đưa vào áp dụng trong cộng đồng.

15


Phần 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Đặc điểm chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của Hà Giang
4.1.1. Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1. Vị trí địa lý, phạm vi ranh giới
Hà Giang là tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam, có 277,5 km đường biên giới với
Trung Quốc.
Tọa độ địa lý của tỉnh: Từ 22 010’ đến 23023’ vĩ độ Bắc; Từ 104020’ đến 105034’
độ kinh Đông.
Địa giới hành chính của tỉnh tiếp giáp:
- Phía Bắc giáp tỉnh Vân Nam (Trung Quốc);
- Phía Nam giáp tỉnh Tuyên Quang;
- Phía Đông giáp tỉnh Cao Bằng;
- Phía Tây tỉnh Yên Bái và Lào Cai.
Hà Giang có vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng, an ninh, môi trường

sinh thái đối với các tỉnh hạ lưu sông Lô, sông Gâm, các tỉnh Đồng bằng sông Hồng và
Thủ đô Hà Nội; về hợp tác, giao lưu kinh tế - văn hoá giữa Việt Nam với Trung Quốc
qua cửa khẩu quốc tế Thanh Thủy.
4.1.1.2. Đặc điểm địa hình
Hà Giang nằm ở cực Bắc của Việt Nam có Công viên địa chất toàn cầu cao
nguyên đá Đồng Văn, với nhiều dãy núi cao như đỉnh Tây Côn Lĩnh với độ cao
2.419m. Địa hình chia cắt phức tạp, nhiều sông suối và nhiều thác ghềnh đã tạo nên 3
tiểu vùng khác nhau, gồm:
Tiểu vùng I: Vùng cao nguyên núi đá phía Bắc gồm 4 huyện (Đồng Văn, Mèo
Vạc, Quản Bạ, Yên Minh) nằm trong vùng Công viên địa chất toàn cầu cao nguyên đá
Đồng Văn, chủ yếu là địa hình Caster cao dốc xen lẫn núi đất. Địa hình thấp dần từ
phía Bắc xuống phía Nam và từ Đông Bắc xuống Tây Nam. Địa hình chia cắt phức tạp
tạo nên nhiều dãy núi có độ dốc lớn trên 350, độ cao trung bình từ 700 - 1.000 m.
Tiểu vùng II: Vùng cao núi đất phía Tây gồm có 2 huyện phía Tây (Hoàng Su
Phì, Xín Mần). Địa hình núi trung bình chủ yếu là núi đất xen lẫn và những vách đá,
địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam với độ cao trung bình > 700m. Có tiềm năng phát
triển nông lâm nghiệp tập trung.
Tiểu vùng III: Vùng núi đất thấp gồm 4 huyện và 1 thành phố (Vị Xuyên, Bắc
Mê, Bắc Quang, Quang Bình và thành phố Hà Giang). Địa hình chủ yếu là núi thấp và
đồi bát úp, địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, độ cao trung bình từ 300 16


500m, đất rừng còn khá tốt, khả năng tái sinh phục hồi rừng có nhiều triển vọng. Đây
là vùng phát triển kinh tế xã hội trọng điểm của tỉnh.
4.1.1.3. Đặc điểm khí hậu, thuỷ văn
* Đặc điểm khí hậu
Khí hậu của Hà Giang mang nét đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa kết hợp
với khí hậu á nhiệt đới vùng núi cao, có mùa đông lạnh kéo dài, lạnh nhất từ tháng 12
đến tháng 1 năm sau. Mùa hè nóng, mưa nhiều, nóng nhất vào tháng 7 và tháng 8.
Nhiệt độ trung bình năm khoảng 23,220C, nhiệt độ tối cao từ 27,5l - 400C; nhiệt

độ tối thấp từ 1 - 2,20C. Biên độ dao động nhiệt độ trong trong ngày từ 6 - 7 0C. Tổng
lượng nhiệt trong năm từ 8.300 - 8.5000C.
Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến
tháng 4 năm sau. Tổng lượng mưa hàng năm từ 2.400 - 2.700 mm, trong đó lượng mưa
nhiều nhất vào tháng 6 và tháng 7. Địa phương có lượng mưa lớn nhất là huyện Bắc
Quang và Quang Bình có tháng tới 1429,2 mm; và mưa ít nhất là huyện Hoàng Su Phì,
có tháng chỉ 24,2 mm. Ngoài ra, Hà Giang còn có hiện tượng mưa Phùn (32
ngày/năm) nhưng ít có bão. Tuy nhiên, vào mùa mưa hay có hiện tượng lụt lội, lũ quét,
sạt lở đất ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống và sinh hoạt của người dân địa phương.
Do cấu tạo phức tạp của địa hình nên ranh giới giữa mùa mưa và mùa khô ở Hà
Giang có sự khác nhau, hai huyện Xí Mần và Hoàng Su Phì thường nắng nóng hơn các
huyện khác trong tỉnh; bốn huyện phía Bắc gồm Quản Bạ, Yên Minh, Mèo Vạc và
Đồng Văn có 2 mùa mưa và khô rõ rệt, lượng mây ở đây khá nhiều và tương đối ít
nắng. Số giờ nắng bình quân cả tỉnh khoảng 1.454,9 giờ/năm, trong đó tháng nhiều
nhất là 181 giờ/tháng và tháng ít nhất là 74 giờ/tháng.
Các hướng gió chính ở Hà Giang phụ thuộc vào địa hình thung lũng, gió trong
các thung lũng thường yếu với tốc độ trung bình khoảng 1 - 1,5 m/s. Ngoài ra còn xuất
hiện một số hiện tượng thời tiết, khí hậu cực đoan đó là số ngày có dông trong năm
cao nhất trong vùng (103 ngày), sương mù trong năm khá nhiều (khoảng 40 ngày).
Mặc dù vậy, Hà Giang lại là tỉnh ít bị sương muối hơn các tỉnh khác trong vùng.
Hà Giang là một trong những vùng có độ ẩm cao ở hầu hết các mùa trong năm,
độ ẩm bình quân là 85%, trong đó tháng cao nhất là 87% (tháng 7 và 8) và thấp nhất là
81% (tháng 3). Độ ẩm cao không diễn ra vào các tháng cuối mùa đông mà diễn ra vào
các tháng cuối mùa hè (tháng 7 và 8).
Nhìn chung thời tiết khí hậu và yếu tố địa hình đa dạng với độ cao khác nhau đã
tạo nên sự đa dạng sinh học của thực vật nơi đây, bao gồm cả thực vật nhiệt đới và á
nhiệt đới. Sự đa dạng này tạo điều kiện cho việc phát triển các cây trồng nông lâm
nghiệp đa dạng và phong phú. Tuy nhiên, khí hậu, thời tiết của tỉnh cũng khắc nghiệt
17



với những đợt lũ lụt, hạn hán, rét đậm - rét hại kéo dài gây ra nhiều khó khăn cho sản
xuất và đời sống của nhân dân.
* Thủy văn
Hà Giang là vùng đầu nguồn các sông suối chính và hàng trăm khe suối lớn nhỏ,
phân bố đều khắp trên phạm vi toàn tỉnh cung cấp nguồn nước tưới tiêu cho đồng
ruộng và xây dựng các công trình thủy điện nhỏ phục vụ cho sinh hoạt, sản xuất hàng
ngày của nhân dân trong vùng, có các hệ sông chính của tỉnh gồm:
- Sông Lô: Bắt nguồn từ Vân Nam (Trung Quốc) ở độ cao trên 1.000 m vào địa phận
Hà Giang tại Thanh Thuỷ chảy qua thành phố Hà Giang về Tuyên Quang tới Việt Trì (Phú
Thọ) đổ ra sông Hồng. Sông Lô chảy qua địa phận Hà Giang với chiều dài 97km.
- Sông Gâm: Bắt nguồn từ Vân Nam (Trung Quốc) chảy qua Đồng Văn, Mèo
Vạc sang tỉnh Cao Bằng rồi lại về địa phận của huyện Bắc Mê, chảy sang Tuyên
Quang và hợp với sông Lô tại Hàm Yên.
- Sông Chảy: Bắt nguồn từ Hoàng Su Phì chảy qua Xín Mần, Quang Bình (Hà
Giang) đến Bảo Yên, Lục Yên, Yên Bình (tỉnh Yên Bái).
Ngoài ra còn có các con sông nhỏ không các khả năng vận chuyển thủy như:
Sông Nho Quế, sông Con, sông Chừng, sông Bạc...
Nguồn nước ngầm của Hà Giang tồn tại trong các khe nứt và lỗ hổng của các
tầng trầm tích, chất lượng tốt. Tuy nhiên, các tầng chứa nước mới được thăm dò sơ bộ,
chưa thể khai thác với khối lượng lớn.
Địa hình phức tạp, 2 bên sông suối thường là những mái núi dốc, thực bì che phủ
đầu nguồn các khe suối bị suy giảm chưa có thời gian phục hồi rừng, về mùa mưa
thường gây lũ lụt, ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất và đời sống của đồng bào các dân
tộc trong vùng. Lòng sông hẹp, nhiều đá nổi, thác ghềnh nên khả năng vận chuyển
bằng đường thuỷ trong vùng bị hạn chế.
4.1.2. Điều kiện dân sinh, kinh tế, xã hội
4.1.2.1. Dân tộc, dân số và lao động
Về dân tộc, trên địa bàn tỉnh có 22 dân tộc chung sống, đông nhất là dân tộc
H’Mông chiếm 31,91%, dân tộc Tày 23,18%, dân tộc Dao 15,13%, dân tộc Kinh 13,37%,

18 dân tộc còn lại chỉ chiếm tỷ lệ 16,41% (Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hà Giang
năm 2014; Báo cáo KTXH tỉnh Hà Giang 2014-Số 391/BC-UBND ngày 22/12/2014).
- Về dân số, theo thống kê của tỉnh, dân số năm 2014 là 755.637 người. Tỷ lệ
tăng dân số tự nhiên có xu hướng giảm dần từ 19,4% năm 2009 xuống 18,2% năm
2014. Mật độ dân số trung bình là 95 người/km2 nhưng dân cư phân bố không đồng
đều giữa các huyện, thành thị; đông dân nhất là thành phố Hà Giang (374 người/km 2)
và thưa dân nhất là huyện Bắc Mê (59 người/km2).
18


- Về lao động, dân số trong độ tuổi lao động của tỉnh năm 2014 là 365.052 người,
số lao động làm việc trong khu vực nhà nước là 36.702 người. Cơ cấu sử dụng lao động
có sự chuyển dịch theo hướng giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao
động trong công nghiệp và dịch vụ.
Chất lượng lao động còn thấp, tỷ lệ lao động chưa học hết tiểu học còn cao
22% (cả nước 13%, vùng Đông Bắc 9,4%), tỷ lệ lao động qua đào tạo của toàn tỉnh
năm 2014 là 22%, trong đó lao động có trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp chiếm
khoảng 10,5%. Hầu hết lao động qua đào tạo đều là các cán bộ, công chức làm việc
trong các lĩnh vực quản lý nhà nước, sự nghiệp và các tổ chức đoàn thể ở thành phố Hà
Giang và các huyện lỵ. Năm 2014, tỷ lệ lao động trong độ tuổi chưa có việc làm ở
thành thị 3,9%, tỷ lệ thời gian sử dụng dụng lao động của lực lượng lao động trong độ
tuổi ở nông thôn là 82%.
4.1.2.2. Thực trạng phát triển kinh tế
Tổng sản phẩm 2014 trong tỉnh (GRDP theo giá so sánh 2010) ước đạt 9.257,2 tỷ
đồng, tăng 6,32% so với năm 2013; cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích
cực: Nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 37,43% (giảm 0,35% so với năm
2013); Công nghiệp và xây dựng chiếm 26,17% (tăng 0,22% so với năm 2013); Dịch vụ
chiếm 36,4%, tăng 0,13%. Tổng sản phẩm bình quân đầu người 16,2 triệu
đồng/người/năm (tăng 11,3% tương đương 1,65 triệu đồng). Tổng vốn đầu tư phát triển
trên địa bàn ước 5.245,5 tỷ đồng, tăng 5,9% so với năm 2013 (Nguồn: Báo cáo KTXH

tỉnh Hà Giang năm 2014 – Số 391/BC-UBND ngày 22/12/2014 của UBND tỉnh Hà
Giang).
Nhìn chung, nền kinh tế của tỉnh đã có sự chuyển dịch đáng kể về cơ cấu; giảm
tỷ trọng nông lâm nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và dịch vụ. Tuy nhiên,
mức độ chuyển dịch còn chậm, các ngành dịch vụ phát triển chậm so với tiềm năng
hiện có của tỉnh.
Nếu so với mặt bằng chung của khu vực và toàn quốc thì thu nhập và mức sống
dân cư của tỉnh còn ở ngưỡng thấp. Sự chênh lệch về thu nhập của người lao động
ngày càng tăng giữa các khu vực nông thôn, thành thị và trong các thành phần kinh tế.
Số hộ có kinh tế khá, hộ giàu tập trung ở thành phố, thị trấn và vùng dọc tuyến quốc lộ
2 là chủ yếu.
4.1.3. Rừng và đất rừng quy hoạch cho lâm nghiệp
Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh Hà Giang về công bố kết quả diễn biến tài nguyên
rừng đến ngày 30/12/2014 là:
1) Tổng diện tích tự nhiên toàn tỉnh: 791.488,9 ha
- Đất có rừng: 437.032,0 ha (trong lâm nghiệp: 436.600,5 ha, ngoài lâm nghiệp:
431,5 ha).
19


- Đất chưa có rừng 354.456,9 ha (trong lâm nghiệp: 129.944,7 ha, ngoài lâm
nghiệp: 224.512,2 ha).
Trong đó:
* Đất quy hoạch cho lâm nghiệp: 566.545,2 ha
- Đất có rừng: 436.600,5 ha. Trong đó:
+ Rừng tự nhiên: 356.301,1 ha
+ Rừng trồng: 80.299,4 ha
- Đất trống chưa có rừng: 129.944,7 ha. Trong đó:
+ Không có gỗ tái sinh (Ia, Ib): 62.134,0 ha
+ Có gỗ tái sinh (Ic): 59.452,4 ha

+ Nương rẫy (LN): 8.358,3 ha
* Đất khác: 224.943,7 ha
- Đất nông nghiệp, thổ cư...: 224.512,2 ha
- Đất có rừng trồng: 431,5 ha
2) Độ che phủ rừng của tỉnh năm 2014: 54,3 %
Diện tích rừng mới trồng chưa được tính độ che phủ: 7.040,0 ha.
Hiện trên địa bàn Hà Giang có trên 40 nghìn ha rừng tự nhiên với trữ lượng lâm
sản lớn và đa dạng về chủng loại đang được triển khai bảo vệ nghiêm ngặt; trên 21
nghìn ha rừng tái sinh được khoanh nuôi, phục hồi và phát triển; trên 1.600ha các loại
cây bản địa như thông nhựa, bồ đề, xa mộc; thông, keo và khoảng 2.100ha cây công
nghiệp và các loại cây dược liệu quý như đỗ trọng, thảo quả, xuyên khung..., đặc biệt
các cánh rừng của Hà Giang còn có nhiều loại cây nguyên liệu phục vụ cho sản xuất
giấy như mỡ, tre, nứa và các loại song mây phục vụ cho xuất khẩu thông qua đẩy
mạnh phát triển các cơ sở chế biến lâm sản.
Nhìn chung, ngoài diện tích rừng tự nhiên, rừng Hà Giang chủ yếu là rừng
trồng đồng tuổi một tầng, tổ thành loài đơn giản, chủ yếu các loại rừng trồng dễ cháy
như Thông, Keo, Xa Mộc v.v... Thực bì dưới tán rừng phát triển rất mạnh, dày đặc với
các loài thực vật dễ cháy như: Ràng ràng, Guột, cây bụi,… về mùa khô hoặc mùa đốt
nương làm rẫy, cùng với thói quen mang lửa vào rừng của người dân khi đi thu hái lâm
sản, lấy mật ong... là nguyên nhân tiềm ẩn gây nguy cơ cháy rừng cao.
4.1.4. Thực trạng hoạt động sản xuất lâm nghiệp
a) Bảo vệ, bảo tồn rừng
Nhìn chung, công tác bảo vệ rừng đã được quan tâm. Điều này được thể hiện
trên các phương diện: (i) bố trí lực lượng cán bộ kiểm lâm và các tổ đội bảo vệ rừng ở
cơ sở, bám sát địa bàn và thực hiện phương châm 4 tại chỗ; (ii) có sự chỉ đạo của
UBND các cấp và Ban nội chính tỉnh; (iii) tăng cường năng lực cho cán bộ kiểm lâm
và người dân trong bảo vệ rừng kết hợp với đẩy mạnh công tác tuyên truyền; (iv) ngăn
20



chặn khai thác và vận chuyển lâm sản trái phép; (vi) theo dõi, dự tính, dự báo sâu bệnh
hại rừng; (vii) theo dõi diễn biến tài nguyên rừng; (viii) dự báo và phòng cháy, chữa
cháy rừng; (ix) thực hiện quy hoạch và nâng cấp, đầu tư cho các khu rừng đặc dụng;
(x) kinh phí hàng năm cho công tác bảo vệ rừng là 16,9 tỷ đồng; (xi) có nhiều dự án,
phương án đang được quan tâm đầu tư thực hiện, như: Dự án ứng dụng công nghệ
thông tin trong công tác theo dõi diễn biến rừng giai đoạn 2009-2015; Dự án Nâng cao
năng lực PCCCR cho lực lượng Kiểm lâm Hà Giang giai đoạn 2011-2015; Phương án
PCCCR giai đoạn 2014-2020; Dự án điều tra, kiểm kê rừng giai đoạn 2014 - 2015. Dự
án quy hoạch chi tiết rừng đặc dụng đến năm 2020.
Mặc dù vậy, tồn tại trong công tác bảo vệ rừng được thể hiện như sau:
- Diện tích rừng bị mất khá lớn. Chất lượng rừng tự nhiên bị suy giảm nghiêm
trọng (tương đương với bị mất nhiều diện tích rừng). Các khu rừng đặc dụng chưa
được quan tâm đầu tư, hoạt động của các Ban quản lý rừng đặc dụng còn cầm chừng.
Chưa thành lập được Ban quản lý rừng đối với VQG Du Già và KBTTN Chí Sán. Các
khu rừng đặc dụng còn lại chưa hoàn thành quy hoạch chi tiết, nên chưa thể khai thông
các dự án đầu tư. Tình trạng vi phạm Luật BV&PTR còn khá nghiêm trọng và diễn
biến phức tạp. Nguyên nhân chính của tình trạng bảo vệ rừng chưa đạt hiệu quả cao,
còn để xảy ra tình trạng mất rừng, suy thoái rừng là do rừng chưa có chủ thực sự, là ở
cách thức tổ chức bảo vệ rừng, điều kiện làm việc của lực lượng kiểm lâm còn khó
khăn, thiếu thốn; đặc biệt là do người dân chặt trộm gỗ vì lý do sinh kế và sức thu hút
về lợi nhuận do bán gỗ quý (Ngọc Am, Đinh, Nghiến, v.v...). Hiệu quả của công tác
bảo vệ, bảo tồn rừng hiện nay còn thấp. Rừng đã bị mất khá nhiều trong giai đoạn vừa
qua. Nguy cơ mất rừng, suy thoái rừng còn tiềm ẩn. Điều này cho thấy rằng, đã đến lúc
cần thay đổi giải pháp bảo vệ rừng, từ bảo vệ ở vòng ngoài, do người ngoài sang bảo
vệ ở vòng trong, do chính chủ rừng thực hiện (Nguồn: Báo cáo của Sở NN & PTNT
tỉnh Hà Giang).
b) Phát triển rừng
Theo Sở NN & PTNT tỉnh Hà Giang, công tác phát triển rừng được thực hiện
chủ yếu dựa vào nguồn ngân sách nhà nước thông qua việc đầu tư cho trồng rừng mới,
khoanh nuôi và bảo vệ rừng với tổng kinh phí hàng năm là 72,9 tỷ đồng.

Hiện nay, tổng diện tích rừng trồng là 80.730,9 ha, nhiều nhất là rừng Keo tai
tượng (49,6%) và rừng Thông Hoàng Su Phì (24,3%), các loài khác chiếm dưới 10%.
Trên 60% diện tích rừng trồng là rừng sản xuất (trên 50.000 ha). Như vậy, so với nhu
cầu của thị trường gỗ, diện tích rừng trồng là rừng sản xuất hiện có chỉ đạt 37,6% so với
diện tích rừng sản xuất cần có (chưa tính diện tích rừng cần có cho sản xuất gỗ lớn).
Vấn đề xảy ra đối với rừng trồng hiện nay là: (i) tỷ lệ sống rất thấp, với rừng
phòng hộ là dưới 70%, với rừng sản xuất chỉ đạt xấp xỉ 75%; (ii) tỷ lệ diện tích nghiệm
thu thành rừng còn thấp hơn, với rừng phòng hộ là 54,4% (giai đoạn 2011 - 2015), với
21


rừng sản xuất là 62 - 80%. Tích hợp yếu tố tỷ lệ sống và tỷ lệ diện tích thành rừng,
hiệu quả thành rừng chỉ đạt trên dưới 35%; (iii) năng suất của rừng trồng rất thấp, rừng
Keo tai tượng chỉ đạt 40 - 50 m3/chu kỳ 7 năm, bình quân là 6 - 7 m3/ha/năm; Mỡ và
Quế cũng có năng suất thấp, chu kỳ kinh doanh lại dài (20 năm); Sa mộc cũng sinh
trưởng chậm, năng suất thấp và chu kỳ kinh doanh khá dài (15 năm trở lên). Nguyên
nhân chính của tình trạng nêu trên là do đầu tư thấp (trồng rừng phòng hộ, đặc dụng:
15 triệu đồng/ha/4 năm; trồng rừng sản xuất hỗ trợ 2,595 - 4,845 triệu đồng/ha; trồng
cây phân tán hỗ trợ 1,5 - 2,25 triệu đồng/ha quy đổi), chạy theo số lượng, một phần do
chưa tuân thủ quy trình kỹ thuật và làm ẩu, chưa áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong trồng
rừng thâm canh. Với diện tích do người dân thực hiện, nguyên nhân chính là đầu tư
thấp, bỏ qua khâu chăm sóc và nuôi dưỡng rừng, nguồn giống không đảm bảo, điều
kiện lập địa xấu. Một vấn đề khác là do hạn chế về đường vận xuất, nên khai thác rừng
phải chịu giá cao, lợi nhuận tiếp tục bị giảm xuống.
Diện tích rừng được khoanh nuôi cũng khá lớn (33.000 ha/năm), nhưng chiếm
tỷ lệ thấp so với tổng diện tích của đối tượng khoanh nuôi (khoảng trên 120.000 ha).
Điểm hạn chế của khoanh nuôi là: (i) không áp dụng phương thức trồng bổ sung, chỉ
xúc tiến tái sinh tự nhiên với thời hạn 4 năm (khác với quy trình hướng dẫn của Nhà
nước); (ii) tỷ lệ nghiệm thu thành rừng đạt dưới 70%; (iii) chưa có giải pháp hữu hiệu
để khoanh nuôi có tác động đối với rừng núi đá (có diện tích 62.129,6 ha, chiếm

14,2% tổng diện tích rừng).
Diện tích đất lâm nghiệp được xác định là 566.545,2 ha (chiếm 71,5% tổng diện
tích đất tự nhiên của toàn tỉnh). Về mặt quy hoạch, xếp theo thứ tự từ nhiều đến ít là:
rừng sản xuất (260.675,5 ha, chiếm 46%), rừng phòng hộ (255.053,9 ha, chiếm 45%),
rừng đặc dụng (50.994 ha, chiếm 9%). Về thực trạng, diện tích từng loại rừng xếp theo
thứ tự từ cao đến thấp là: rừng sản xuất - rừng phòng hộ - rừng đặc dụng.
Bất cập về mặt quy hoạch được thể hiện ở chỗ, diện tích rừng sản xuất là rừng
tự nhiên chiếm khá lớn, nhưng không được khai thác do chính sách đóng cửa rừng tự
nhiên của Chính phủ. Hơn nữa, do chi phí khai thác và vận xuất lớn, nên giá thành
thường lớn hơn giá bán. Đầu ra của sản phẩm lâm nghiệp hầu như không có, thị trường
kém đa dạng. Điều này đã biến rừng sản xuất thành rừng phòng hộ hoặc đặc dụng
trong khi không được Nhà nước cấp kinh phí cho bảo vệ rừng.
Quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp cũng chưa gắn chặt và thiếu hỗ trợ cho sản
xuất nông nghiệp trên đất dốc.
Nhìn ở một khía cạnh khác, yếu tố truyền thống trong quản lý sử dụng rừng và
đất lâm nghiệp đã bộc lộ nhiều hạn chế: (i) rừng đặc dụng là mô hình quản lý hầu như
có một chủ thể duy nhất là nhà nước (đại diện là BQL rừng đặc dụng); (ii) rừng phòng
hộ cũng được quản lý bởi nhà nước là chính, mới có một phần nhỏ diện tích rừng được
khoán cho người dân bảo vệ (bảo vệ thuê); (iii) rừng sản xuất cũng chưa được giao cho
22


×