Tải bản đầy đủ (.doc) (25 trang)

BÀI THU HOẠCH CUỐI KHÓA GV THCS HẠNG 2 của hiền.2018

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (218.98 KB, 25 trang )

BÀI THU HOẠCH CUỐI KHÓA
LỚP BỒI DƯỠNG TIÊU CHUẨN CHỨC DANH NGHỀ NGHIỆP
GIÁO VIÊN THCS HẠNG 2, NĂM 2018
Đề bài
Trình bày các kiến thức mà thầy /cô tiếp thu được qua 10 chuyên đề , rút ra bài
học cho bản thân và liên hệ với thực tiễn ở trường THCS nơi thầy/ cô đang công tác.
Bài làm
Qua thời gian học tập, được bồi dưỡng kiến thức thuộc lớp bồi dưỡng tiêu
chuẩn chức danh nghề nghiệp giáo viên THCS hạng II được Quý thầy, cô của
trường Đại học sư phạm Thái Nguyên truyền đạt những kiến thức và kỹ năng gồm
những nội dung sau đây:
Chuyên đề 1. Lý luận về nhà nước và hành chính nhà nước.
Chuyên đề 2. Chiến lược và chính sách phát triển giáo dục và đào tạo.
Chuyên đề 3. Quản lý giáo dục và chính sách phát triển giáo dục trong cơ
chế thị trường định hướng XHCN.
Chuyên đề 4. Giáo viên với công tác tư vấn học sinh trong trường THCS.
Chuyên đề 5. Tổ chức hoạt động dạy học, xây dựng và phát triển kế hoạch
giáo dục ở trường THCS.
Chuyên đề 6. Phát triển năng lực nghề nghiệp giáo viên THCS hạng II.
Chuyên đề 7. Dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở trường
THCS.
Chuyên đề 8. Thanh tra kiểm tra và một số hoạt động đảm bảo chất lượng
trường THCS.
Chuyên đề 9. Sinh hoạt tổ chuyên môn và công tác bồi dưỡng giáo viên
trong trường THCS.
Chuyên đề 10 . Xây dựng mối quan hệ trong và ngoài nhà trường để nâng
cao chất lượng giáo dục và phát triển trường THCS.
1


Đây là những nội dung hết sức bổ ích và cần thiết cho người quản lí, giáo


viên giảng dạy trong việc thực thi nhiệm vụ tại đơn vị đang công tác. Với 10
chuyên đề đã giúp cho học viên nhận thức được nhiều vấn đề về lý luận và thực
tiễn mới trong công tác dạy và học. Qua một thời gian học tập bản thân tôi đã tiếp
thu được nhiều kiến thức bổ ích qua đó mạnh dạn đưa ra một số bài học nhằm
phục vụ cho quá trình công tác sau này tuy nhiên do thời gian hoàn thiện ngắn,
việc nghiên cứu chưa được sâu và kinh nghiệm bản thân có hạn do đó dù đã cố
gắng rất nhiều nhưng bài viết này chắc chắn còn những hạn chế, rất mong được sự
đóng góp ý kiến của quý thầy cô và các bạn để bài viết được hoàn chỉnh hơn.
CHUYÊN ĐỀ 1
LÝ LUẬN VỀ NHÀ NƯỚC VÀ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

Qua chuyên đề 1 tôi nhận thức được các vấn đề cơ bản sau:
1. Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, xuất hiện và tồn tại cùng
với sự xuất hiện và tồn tại của nhà nước. .
2. Hành chính nhà nước là “sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng
quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của công
dân, do các cơ quan trong hệ thống hành pháp từ trung ương đến cơ sở tiến
hành để thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của nhà nước, phát triển các
mối quan hệ xã hội, duy trì trật tự, an ninh, thoả mãn các nhu cầu hợp pháp của
các công dân”.
3. Chính sách công là chính sách của nhà nước đối với khu vực công cộng,
phản ánh bản chất, tính chất của nhà nước và chế độ chính trị trong đó nhà nước
tồn tại; đồng thời phản ánh ý chí, quan điểm, thái độ, cách xử sự của đảng chính trị
phục vụ cho mục đích của đảng, lợi ích và nhu cầu của nhân dân. Nhà nước dựa
trên nền tảng nhân dân, là chủ thể đại diện cho quyền lực của nhân dân ban hành
chính sách công.
4. Ở nước ta việc quản lí nhà nước thực hiện theo các nguyên tắc sau:
+ Nguyên tắc Đảng cầm quyền lãnh đạo hành chính nhà nước:
+ Nguyên tắc pháp trị
+ Nguyên tắc phục vụ

2


+ Nguyên tắc hiệu lực, hiệu quả
* Các chức năng cơ bản của hành chính nhà nước:
+Chức năng bên trong (chức năng nội bộ):. Các chức năng nội bộ chủ yếu bao
gồm:
- Chức năng lập kế hoạch: Là quá trình xác định các mục tiêu và đưa ra giải
pháp để thực hiện mục tiêu đó. Đây là chức năng quan trọng, làm cơ sở cho các
chức năng còn lại.
- Chức năng tổ chức bộ máy hành chính: Là hoạt động xây dựng một cơ cấu
tổ chức hợp lý cho bộ máy hành chính.
- Chức năng nhân sự: cung cấp, duy trì và phát triển con người (tuyển dụng,
sử dụng, đánh giá, đào tạo, bồi dưỡng,...)
- Chức năng lãnh đạo, điều hành: Là hoạt động hướng dẫn và thúc đẩy mọi
người làm việc cho tổ chức.
- Chức năng phối hợp: Điều hoà và thiết lập mối liên hệ trong thực hiện
công việc giữa các cá nhân, bộ phận trong tổ chức.
- Chức năng quản lý ngân sách: Hình thành và sử dụng nguồn tài chính
công để phục vụ cho hoạt động của nhà nước và các tổ chức công khác.
- Chức năng kiểm soát: Bảo đảm cho hoạt động của bộ máy hành chính
được tiến hành đúng dự kiến.
+ Chức năng bên ngoài:
- Chức năng điều tiết xã hội
- Chức năng cung cấp dịch vụ công
CHUYÊN ĐỀ 2
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
1. Xu thế phát triển giáo dục đào tạo trong bối cảnh toàn cầu hóa.
a. Bối cảnh quốc tế
Nước ta bước vào thời kỳ chiến lược mới trong bối cảnh thế giới đang thay đổi

rất nhanh, phức tạp và khó lường. Trong thập niên tới, hòa bình, hợp tác và phát triển
tiếp tục là xu thế lớn, nhưng xung đột sắc tộc và tôn giáo, tranh giành tài nguyên và
3


lãnh thổ, nạn khủng bố và tội phạm xuyên quốc gia có thể gia tăng cùng với những
vấn đề toàn cầu khác như đói nghèo, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, các thảm họa thiên
nhiên... buộc các quốc gia phải có chính sách đối phó và phối hợp hành động.
Giáo dục nước ta trong thập kỷ tới phát triển trong bối cảnh thế giới có nhiều
thay đổi nhanh và phức tạp. Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế về giáo dục đã trở
thành xu thế tất yếu. Cách mạng khoa học công nghệ, công nghệ thông tin và truyền
thông, kinh tế tri thức ngày càng phát triển mạnh mẽ, tác động trực tiếp đến sự phát
triển của các nền giáo dục trên thế giới.
b. Tình hình đất nước
Trong những năm gần đây, chúng ta đã tranh thủ thời cơ, thuận lợi, vượt qua
nhiều khó khăn, thách thức, nhất là những tác động tiêu cực của hai cuộc khủng
hoảng tài chính - kinh tế khu vực và toàn cầu, đạt được những thành tựu to lớn và rất
quan trọng, đất nước đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, bước vào nhóm nước đang
phát triển có thu nhập trung bình.
Đạt được những thành tựu nêu trên là nhờ phát huy được sức mạnh của toàn
dân tộc, sự nỗ lực phấn đấu vượt bậc, năng động, sáng tạo của toàn dân, toàn quân,
cộng đồng doanh nghiệp và của cả hệ thống chính trị, sự quản lý điều hành có hiệu
quả của Nhà nước dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng.
Tuy nhiên, những thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng. Kinh tế
phát triển chưa bền vững. Nền tảng để Việt Nam trở thành nước công nghiệp theo
hướng hiện đại chưa được hình thành đầy đủ. Vẫn đang tiềm ẩn những yếu tố gây
mất ổn định chính trị - xã hội và đe dọa chủ quyền quốc gia.
2. Thời cơ và thách thức
a. Thời cơ
Đảng và Nhà nước luôn khẳng định phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu,

đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển; giáo dục vừa là mục tiêu vừa là động
4


lực để phát triển kinh tế - xã hội. Những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội trong
10 năm vừa qua và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 với yêu cầu
tái cơ cấu nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng, cùng với Chiến lược và Quy
hoạch phát triển nhân lực trong thời kỳ dân số vàng là tiền đề cơ bản để ngành giáo
dục cùng các bộ, ngành, địa phương phát triển giáo dục.
b. Thách thức
Ở trong nước, sự phân hóa trong xã hội có chiều hướng gia tăng. Khoảng cách
giàu nghèo giữa các nhóm dân cư, khoảng cách phát triển giữa các vùng miền ngày
càng rõ rệt, gây nguy cơ dẫn đến sự thiếu bình đẳng trong tiếp cận giáo dục, gia
tăng khoảng cách về chất lượng giáo dục giữa các vùng miền và cho các đối tượng
người học.
Nguy cơ tụt hậu có thể làm cho khoảng cách kinh tế, tri thức, giáo dục giữa
Việt Nam và các nước ngày càng gia tăng. Hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế
thị trường làm nảy sinh những vấn đề mới, như nguy cơ xâm nhập của văn hóa và
lối sống không lành mạnh làm xói mòn bản sắc dân tộc, dịch vụ giáo dục kém chất
lượng có thể gây nhiều rủi ro lớn đối với giáo dục đặt ra yêu cầu phải đổi mới cả về
lý luận cũng như những giải pháp thực tiễn phù hợp để phát triển giáo dục.
3. Các quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục đào tạo trong thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa.
1. Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà
nước và của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi
trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.
2. Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề
lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung,
phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh
đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo

5


dục - đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người
học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học. Trong quá trình đổi mới, cần kế thừa,
phát huy những thành tựu, phát triển những nhân tố mới, tiếp thu có chọn lọc
những kinh nghiệm của thế giới; kiên quyết chấn chỉnh những nhận thức, việc làm
lệch lạc. Đổi mới phải bảo đảm tính hệ thống, tầm nhìn dài hạn, phù hợp với từng
loại đối tượng và cấp học; các giải pháp phải đồng bộ, khả thi, có trọng tâm, trọng
điểm, lộ trình, bước đi phù hợp.
3. Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi
dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức
sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý
luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo
dục xã hội.
4. Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã
hội và bảo vệ Tổ quốc; với tiến bộ khoa học và công nghệ; phù hợp quy luật khách
quan. Chuyển phát triển giáo dục và đào tạo từ chủ yếu theo số lượng sang chú
trọng chất lượng và hiệu quả, đồng thời đáp ứng yêu cầu số lượng.
5. Đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng mở, linh hoạt, liên thông giữa các
bậc học, trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo. Chuẩn hoá, hiện đại
hoá giáo dục và đào tạo.
6. Chủ động phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị
trường, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển giáo dục và đào tạo.
Phát triển hài hòa, hỗ trợ giữa giáo dục công lập và ngoài công lập, giữa các vùng,
miền. Ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo đối với các vùng đặc biệt khó
khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa và các đối tượng
chính sách. Thực hiện dân chủ hóa, xã hội hóa giáo dục và đào tạo.

6



7. Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế để phát triển giáo dục và đào tạo, đồng
thời giáo dục và đào tạo phải đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế để phát triển đất
nước.
4. Các giải pháp phát triển giáo dục phổ thông trong giai đoạn hiện nay.
+ Đổi mới nhận thức tư duy phát triển giáo dục
+ Đổi mới mục tiêu, nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục
+ Đổi mới quản lý giáo dục
+ Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục
+ Đổi mới nội dung, phương pháp dạy học, thi, kiểm tra và đánh giá chất
lượng giáo dục
+ Tăng nguồn lực đầu tư và đổi mới cơ chế tài chính giáo dục
+ Tăng cường gắn đào tạo với sử dụng, nghiên cứu khoa học và chuyển giao
công nghệ đáp ứng nhu cầu xã hội
+ Tăng cường hỗ trợ phát triển giáo dục đối với các vùng khó khăn, dân tộc
thiểu số và đối tượng chính sách xã hội
+ Phát triển khoa học giáo dục
+ Mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về giáo dục.
CHUYÊN ĐỀ 3
QUẢN LÍ GIÁO DỤC VÀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC
TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
1. Những vấn đề cơ bản của quản lí nhà nước về giáo dục - đào tạo, đặc
biệt là trong bối cảnh kinh tế thị trường:
a. Quản lí nhà nước về Giáo dục - Đào tạo
Quản lí nhà nước về giáo dục và đào tạo là sự tác động có tổ chức và điều
chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các hoạt động giáo dục và đào tạo, do các
7



cơ quan quản lí giáo dục của nhà nước từ trung ương đến cơ sở tiến hành để thực
hiện chức năng, nhiệm vụ do nhà nước ủy quyền nhằm phát triển sự nghiệp giáo
dục và đào tạo, duy trì trật tự, kỉ cương, thoả mãn nhu cầu giáo dục và đào tạo
của nhân dân, thực hiện mục tiêu giáo dục và đào tạo của nhà nước.
b. Tính chất, đặc điểm và nguyên tắc quản lí nhà nước về GD&ĐT:
* Tính chất của quản lí nhà nước về giáo dục và đào tạo
Quản lí nhà nước về giáo dục và đào tạo là quản lí nhà nước về một lĩnh vực
cụ thể, cho nên nó có những tính chất chung của quản lí nhà nước và quản lí hành
chính nhà nước, cụ thể như sau:
– Tính lệ thuộc vào chính trị: quản lí nhà nước về giáo dục phục tùng và phục
vụ nhiệm vụ chính trị; tuân thủ chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước.
– Tính xã hội: giáo dục là sự nghiệp của nhà nước và của toàn xã hội. Trong
quản lí nhà nước về giáo dục cần phải coi trọng tính xã hội và dân chủ hoá giáo
dục. Giáo dục và đào tạo luôn phát triển trong mối quan hệ với sự phát triển của
kinh tế xã hội.
– Tính pháp quyền: quản lí nhà nước là quản lí bằng pháp luật. Quản lí nhà
nước về giáo dục và đào tạo cũng phải tuân thủ hành lang pháp lí mà nhà nước đã
quy định cho một hoạt động quản lí các hoạt động giáo dục và đào tạo, tăng cường
pháp chế xã hội chủ nghĩa.
– Tính chuyên môn nghiệp vụ: cán bộ – công chức hoạt động trong lĩnh vực
giáo dục và đào tạo cần được đào tạo có trình độ tương ứng với yêu cầu về tiêu
chuẩn các ngạch, chức danh đã được quy định. Việc tuyển dụng cán bộ – công
chức tuân theo các tiêu chuẩn nghiệp vụ, chức danh mà nhà nước đã ban hành.
– Tính hiệu lực, hiệu quả: lấy hiệu quả của hoạt động chuyên môn nghiệp vụ
để đánh giá cán bộ – công chức ngành giáo dục và đào tạo; chất lượng, hiệu quả và
sự bảo đảm trật tự kỷ cương trong giáo dục và đào tạo là thước đo trình độ, năng
8


lực, uy tín của các cơ sở giáo dục và đào tạo và của các cơ quan quản lí nhà nước

về giáo dục và đào tạo.
* Đặc điểm của quản lí nhà nước về giáo dục và đào tạo
Quản lí nhà nước là việc thực thi ba quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp để
điều chỉnh mọi quan hệ xã hội và hành vi của công dân.
Quản lí hành chính nhà nước là thực thi quyền hành pháp để tổ chức, điều
chỉnh mọi quan hệ xã hội, hành vi công dân.
2. các mô hình quản lí công mới và vấn đề vận dụng trong quản lí giáo dục đào tạo:
+ giáo dục nước ta đang trong quá trình hình thành và xây dựng mô hình quản lí
nhà nước về giáo dục theo cơ chế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa.
+ Vận dụng mô hình quản lí công mới, giáo dục - đào tạo đã có bước chuyển rõ rệt
so với mô hình quản lí truyền thống. Cụ thể như sau:
Thứ nhất, đẩy mạnh phân cấp quản lý, trao quyền chủ động nhiều hơn cho các
nhà quản lý trong điều hành các cơ sở giáo dục, cơ quan quản lí giáo dục để họ có
quyền điều khiển đơn vị một cách chủ động và có kế hoạch hơn.
Thứ hai, tăng cường trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức ngành giáo
dục trong thực thi công vụ
Thứ ba, nâng cao năng lực thực thi công vụ của cán bộ, công chức, viên chức
trong toàn ngành.
3. những vấn đề cơ bản về cải cách hành chính nhà nước trong giáo dục.
- Tạo cơ sở pháp lí phù hợp hơn cho hoạt động giáo dục
- Đổi mới công tác quản lí nhân sự theo hướng tập trung "một đầu mối", cơ quan
nào quản lí chuyên môn thì cơ quan đó có vai trò chủ chốt trong quản lí các điều
kiện như quản lí đội ngũ cùng với các điều kiện khác như cơ sở vật chất và ngân
sách
- Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ công chức, viên chức trong ngành
giáo dục - đào tạo đủ về số lượng, cân đối về cơ cấu, đồng thời đảm bảo động bộ
các điều kiện cơ sở vật chất - thiết bị dạy học theo hướng chuẩn hóa và hiện đại
hóa
9



- Cần tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong quản lí nhà trường và cơ
quan quản lí giáo dục các cấp.
- Thực hiện phân cấp trong quản lí giáo dục, đổi mới tư duy quản lí, tiếp cận xu
hướng hiện đại trong quản lí giáo dục.
4. một số chính sách giáo dục đối với giáo dục phổ thông hiện nay :
+ Chính sách chất lượng; chính sách phổ cập giáo dục;
+ Chính sách tạo bình đẳng về cơ hội cho các đối tượng hưởng thụ giáo dục và các
vùng miền;
+ Chính sách xã hội hóa và huy động các lực lượng xã hội tham gia vào quá trình
giáo dục;
+ Chính sách đầu tư cho phát triển giáo dục..
CHUYÊN ĐỀ 4
GIÁO VIÊN THCS
VỚI CÔNG TÁC TƯ VẤN HS TRONG TRƯỜNG THCS
1. Các khái niệm cơ bản:
a. tư vấn:
Tư vấn giáo dục là quá trình nhà tư vấn sử dụng các phương pháp giáo dục
nhằm can thiệp, phòng ngừa, hỗ trợ HS trong quá trình phát triển. Quá trình tư vấn
diễn ra từ khi nhà tư vấn bắt đầu làm việc với người cần tư vấn đến khi đạt được
một kết quả nhất định mà cả hai chấp nhận. Kết quả tư vấn là sự thay đổi về chất ở
một mức độ nhất định ở người cần tư vấn.
b. tư vấn học đường;
tư vấn học đường cho HS THCS được hiểu là một tiến trình trợ giúp HS THCS tự
tìm hiểu mình, biết được tiềm năng của bản thân, nâng cao năng lực tự giải quyết
những khó khăn trong cuộc sống
c. Các đặc điểm tâm lý và những khó khăn tâm lý cơ bản của HS THCS:
+ Các đặc điểm tâm lí cơ bản của HS THCS:
Ở lứa tuổi HS THCS, sự phát triển về tất cả các mặt (thể chất, tâm lý) đều
diễn ra nhanh, mạnh nhưng thiếu cân đối, thiếu hài hòa, chứa đựng nhiều mâu

10


thuẫn và phức tạp. Đặc biệt, với hiện tượng dậy thì - một hiện tượng sinh lý trong
quá trình phát triển, nhưng do liên quan đến biến đổi nội tiết nên cũng dễ dẫn đến
các rối loạn, biến đổi “giao thời” trong đời sống tâm, sinh lý của các em. Ở lứa tuổi
này chưa có sự cân đối, hài hòa giữa phát dục, bản năng tương ứng với mức độ
trưởng thành về mặt xã hội và tâm lý. Trong nhiều trường hợp, các em chưa biết
chưa biết kìm hãm và hướng dẫn bản năng, ham muốn của mình một cách đúng
đắn, chưa biết kiểm tra tình cảm và hành vi, chưa biết cách xây dựng mối quan hệ
đúng đắn giữa bản thân mình với người bạn khác giới.
+ Những khó khăn tâm lý của HS trung học cơ sở:
* Những khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của HS THCS:
Ở trường THCS HS được học nhiều môn do nhiều thầy, cô giáo đảm nhiệm.
Những thay đổi về nội dung chương trình, phương pháp dạy học, yêu cầu đối với
từng môn học có thể là nguyên nhân dẫn đến những khó khăn tâm lý nhất định ở
HS trong quá trình học tập. Do đó, đối với nhiều em, hoạt động học tập chưa đạt
hiệu quả cao do chưa có phương pháp học tập phù hợp hoặc chưa xác định được
động cơ học tập đúng đắn. Nếu không được trợ giúp kịp thời, các em có thể chán
học, ngại học.
Mặt khác, do ảnh hưởng của sự phát triển thiếu cân đối, hài hòa về mặt thể
chất, ở các em có thể xuất hiện những rối loạn tạm thời về mặt tâm, sinh lý như
lóng ngóng, vụng về, không khéo léo khi làm việc; hệ tuần hoàn có rối loạn tạm
thời, tăng huyết áp, tim đập nhanh, nhức đầu, chóng mặt, mệt mỏi; có phản ứng
gay gắt, mạnh mẽ và những cơn xúc động mạnh; dễ bị ức chế, uể oải, thờ ơ, lơ
đễnh hoặc có hành vi xấu, không đúng với bản chất của các em. Những điều này
cũng gây nên khó khăn nhất định cho HS trong học tập, ảnh hưởng tới kết quả học
tập của các em.
Ngoài ra, việc học tập của HS có thể bị ảnh hưởng xấu từ môi trường xung
quanh như tệ nạn xã hội, bạo lực học đường,… nếu các em không được giáo dục,

hỗ trợ phòng ngừa những tác động tiêu cực ấy.
* Những khó khăn tâm lý trong giao tiếp của HS THCS:
- Khó khăn tâm lý trong giao tiếp của HS THCS với người lớn: Những biến
đổi cơ bản về thể chất và tâm lý tạo nên nét đặc trưng trong giao tiếp của HS
THCS với người lớn là mong muốn cải tổ lại kiểu quan hệ người lớn - trẻ con đã
11


có ở tuổi HS Tiểu học, hình thành kiểu quan hệ bình đẳng giữa các em với người
lớn. Các em mong muốn được người lớn tôn trọng, hợp tác, mong muốn được mở
rộng quyền độc lập của bản thân. Nếu người lớn không thay đổi mối quan hệ với
HS THCS, vẫn duy trì kiểu quan hệ cũ, các em sẽ có những phản ứng tiêu cực, dẫn
tới mâu thuẫn, xung đột với người lớn (cãi lại, chống đối người lớn, bỏ nhà ra
đi…).
- Khó khăn tâm lý trong giao tiếp của HS THCS với bạn:
Giao tiếp với bạn trở thành hoạt động chủ đạo và chiếm vị trí quan trọng
trong đời sống của HS THCS. Nhu cầu giao tiếp tâm tình với bạn ở các em phát
triển mạnh. Tuy nhiên, do thiếu kĩ năng giao tiếp, trong một số trường hợp, chẳng
hạn, sự thiếu vắng bạn thân hoặc tình bạn bị phá vỡ sẽ là nguyên nhân gây ra ở HS
THCS những xúc cảm tiêu cực.
Mặt khác, do sự phát dục, ở HS THCS xuất hiện rung cảm giới tính. Điều
này có thể gây ra những khó khăn tâm lý nhất định ở các em trong mối quan hệ
giao tiếp với bạn bè và nhất là với bạn khác giới.
*. Nội dung cơ bản của tư vấn học đường ở trường THCS:
- Giúp HS biết cách điều chỉnh thói quen, hành vi trong cuộc sống; phát
triển thái độ và các giá trị tích cực; biết tự đánh giá, tự định hướng, có khả năng
đưa ra các quyết định phù hợp với những mục tiêu trước mắt cũng như lâu dài; biết
cách lập kế hoạch học tập và sử dụng tốt quỹ thời gian cho các hoạt động.
- Giúp HS định hướng vào loại hình trường lớp tiếp theo sau trung học cơ
sở hay định hướng nghề nghiệp liên quan đến các tiêu chí yêu cầu đầu vào của

trường nghề, đến khả năng tài chính, kể cả thông tin tìm việc, thông tin về các
chương trình học việc tại các công ty, xí nghiệp, cơ quan có nhu cầu.
- Giúp HS có hiểu biết về các vấn đề kinh tế xã hội, những vấn đề liên quan
đến hành vi và nhân cách cá nhân ; đẩy mạnh sự trưởng thành của HS về mặt nhân
cách, quan hệ xã hội và tinh thần, khả năng học tập, thực hành tốt kỹ năng sống,
vượt qua những khó khăn trở ngại để không bị rơi vào tệ nạn (uống rượu, hút thuốc
lá, ma túy, bị lạm dụng…),
- Tạo cho HS niềm tin, hứng thú, yêu thích môn học; hỗ trợ HS đối mặt, ứng
phó, phát hiện và phòng tránh các rào cản tâm lý trong hoạt động học tập, giảm bớt
căng thẳng trong học tập; giúp HS hiểu được những điểm mạnh, điểm yếu, sở
12


thích, các giá trị, tiềm năng và những hạn chế của bản thân; khích lệ HS tham gia
vào các hoạt động chung nhằm phát huy năng lực của các em trong các hoạt động
cá nhân và cộng đồng...
c. Phương pháp tư vấn, các hình thức tư vấn:
+ Phương pháp đàm thoại (trò chuyện)
+ Phương pháp quan sát
+ Phương pháp kể chuyện
+ Phương pháp đóng vai và xử lý tình huống
+ Phương pháp trực quan
+ Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
* Hình thức tư vấn:
+ Tư vấn trực tiếp: Tư vấn trực tiếp tại trung tâm tư vấn; Tư vấn trực tiếp trước
lớp; Tư vấn trước toàn trường
+ Tư vấn cá nhân
+ Tư vấn nhóm
+ Tư vấn gia đình
d. Các kỹ năng tư vấn cơ bản:

+ Kỹ năng lắng nghe
+ Kỹ năng hỏi
+ Kỹ năng thấu cảm
+ Kỹ năng phản hồi
+ Kỹ năng hóa giải im lặng
+ Kỹ năng cung cấp thông tin
+ Kỹ năng đối đầu (Kỹ năng thách thức)
CHUYÊN ĐỀ 5
TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC, XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN KẾ
HOẠCH GIÁO DỤC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
13


1. Các hoạt động dạy học và giáo dục trong trường THCS:
Hoạt động 1: Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch dạy học và giáo dục trong
trường THCS
Hoạt động 2: Xây dựng và quản lý hồ sơ dạy học, giáo dục trong trường THCS
Hoạt động 3: Triển khai thực hiện đổi mới phương pháp dạy học;
Hoạt động 4: Sử dụng thiết bị dạy học và ứng dụng CNTT trong dạy học ở cấp
THCS
Hoạt động 5: Hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh
Hoạt động 6: Hoạt động của tổ chuyên môn trong trường
Hoạt động 7: Quản lý hoạt động học của học sinh
2. Tầm quan trọng và ý nghĩa của việc tổ chức các hoạt động dạy học và
giáo dục trong trường THCS:
* Hình thức tổ chức dạy học
Tổ chức giờ học lý thuyết: Phương pháp thuyết trình, thảo luận nhóm
Tổ chức giờ học thực hành:
(i). Hoạt động theo nhóm:
- Khảo sát thực trạng xây dựng và phát triển chương trình giáo dục tại một

số trường THCS.
- Nghiên cứu, tìm hiểu chương trình giáo dục ở trường THCS theo quy định
chung của Ngành.
- Thiết kế, xây dựng chương trình giáo dục nhà trường tại nơi công tác.
- Thực hiện thí điểm mô hình đã thiết kế tại các trường thực hành sư phạm.
(ii). Hoạt động nhóm: Chia sẻ kinh nghiệm cá nhân về quan điểm giáo dục,
về thực trạng xây dựng và phát triển chương trình giáo dục học sinh với đồng
nghiệp

14


(iii). Tự NC: Đọc tài liệu, nghiên cứu tài liệu, xem phim, tham quan, sảo sát,
thực tế phổ thông.
CHUYÊN ĐỀ 6
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGHỀ NGHỆP GIÁO VIÊN THCS
1.Các yêu cầu cơ bản đối trong đạo đức nghề nghiệp và tiêu chuẩn chức
danh nghề nghiệp trước yêu cầu đổi mới chương trình GDPT;
a. Những năng lực cần có của giáo viên THCS ở thế kỉ XXI bao gồm:
1/ Nhóm năng lực chuyên môn;
2/ Nhóm năng lực tổ chức hoạt động dạy học, giáo dục;
3/ Nhóm năng lực phát triển phẩm chất cá nhân và giá trị nghề nghiệp.
b.Đạo đức nghề nghiệp giáo viên THCS hạng II

+ Có ý thức trau dồi đạo đức, nêu cao tinh thần trách nhiệm, giữ gìn phẩm
chất, danh dự, uy tín của nhà giáo; gương mẫu trước học sinh.
+ Thương yêu, đối xử công bằng và tôn trọng nhân cách của học sinh; bảo
vệ các quyền và lợi ích chính đáng của học sinh; đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp.
+ Các tiêu chuẩn đạo đức khác của giáo viên quy định tại Luật Giáo dục và
Luật Viên chức.

2.Đội ngũ giáo viên cốt cán cấp THCS với nhiệm vụ đổi mới chương trình
GDPT:
4.Vai trò của giáo viên cốt cán ở trường THCS;
Giáo viên cốt cán ở trường THCS có vai trò quan trọng trong việc xác định
nhu cầu giáo dục và cải thiện chất lượng giáo dục của trường THCS. Giáo viên cốt
cán còn là người truyền cảm hứng cho đồng nghiệp của mình trước những thay đổi
hoặc những đổi mới giáo dục nhất là trong bối cảnh xã hội hội nhập và phát triển
như hiện nay.
15


Giáo viên cốt cán là những người góp phần to lớn trong việc cải tiến trường
học, thay đổi chính sách trong trường học.
5. Một số năng lực cần thiết của giáo viên cốt cán ở trường THCS
trước yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông hiện nay:
+ Năng lực xây dựng kế hoạch dạy học, giáo dục hỗ trợ đồng nghiệp về xây
dựng kế hoạch dạy học, giáo dục trong trường THCS;
+ Năng lực giao tiếp, hợp tác, hỗ trợ đồng nghiệp về phương pháp và chiến
lược dạy học và giáo dục trong trường THCS;
+ Năng lực đánh giá và hợp tác hỗ trợ đồng nghiệp đánh giá kết quả việc dạy
học và giáo dục học sinh trong trường THCS;
+ Năng lực phát triển chương trình giáo dục nhà trường.
CHUYÊN ĐỀ 8
THANH TRA KIỂM TRA VÀ MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG ĐẢM BẢO CHẤT
LƯỢNG TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
1. Thanh tra giáo dục:
- Thanh tra giáo dục là thanh tra chuyên ngành, thực hiện quyền thanh tra
Nhà nước về giáo dục và đào tạo vừa bộc lộ quyền lực Nhà nước, vừa đảm bảo dân
chủ, kỉ cương trong hoạt động giáo dục và đào tạo.
1.1. Đối tượng của thanh tra giáo dục

- Cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục đại học, giáo dục
thường xuyên, trường Trung cấp chuyên nghiệp, cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc
quyền quản lí trực tiếp của cơ quan quản lí nhà nước về giáo dục.
- Cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam và tổ chức, cá nhân nước ngoài tham
gia hoạt động giáo dục tại Việt Nam.
- Cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực dạy nghề không thuộc
đối tượng thanh tra.
16


1.2. Nội dung của thanh tra giáo dục
- Thanh tra các mặt hoạt động giáo dục và đào tạo của nhà trường, thanh tra
công tác giảng dạy và giáo dục của giáo viên, việc học tập của học sinh...
- Thanh tra công tác quản lí giáo dục của các tổ chức quản lí giáo dục ở các
bậc học, cấp học trong hệ thống giáo dục quốc dân.
- Thanh tra các khiếu nại, tố cáo về các vụ, việc sai phạm trong hoạt động
giáo dục và quản lí giáo dục.
1.3. Hình thức thanh tra giáo dục:
Có nhiều cơ sở để phân loại các hình thức thanh tra như:
* Phân loại theo tính kế hoạch: Theo cách phân loại này, có hai hình thức
thanh tra như sau:
- Thanh tra định kì
- Thanh tra đột xuất
* Phân loại theo nội dung thanh tra, có các hình thức phổ biến sau:
- Thanh tra toàn diện
- Thanh tra theo chuyên đề
- Thanh tra từng mặt
Ngoài ra còn có các hình thức khác: Thanh tra việc thực hiện các kiến nghị
của lần thanh tra trước; thanh tra việc giải quyết khiếu nại, tố cáo.
1.4. Trình tự tiến hành cuộc thanh tra


6.1. Ban hành quyết định thanh tra
6.2. Trình tự tiến hành thanh tra của Đoàn thanh tra
Quá trình tiến hành một cuộc thanh tra gồm 3 bước sau:
- Chuẩn bị thanh tra.
- Trực tiếp thanh tra.
- Kết thúc thanh tra.

17


1.5. Thanh tra giáo dục các nội dung liên quan đến hoạt động dạy học và
giáo dục ở trường THCS
+ Thanh tra toàn diện một trường trung học
+ Thanh tra hoạt động sư phạm của nhà giáo
2. Kiểm tra
Kiểm tra (quản lí giáo dục nói chung và quản lí trường học nói riêng) là
quá trình xem xét thực tế, đánh giá thực trạng so với mục tiêu, kế hoạch giáo dục
của nhà trường, nhằm phát hiện các mặt: tích cực, sai lệch, vi phạm để đưa ra quyết
định điều chỉnh kịp thời.
2.2. Vai trò:
Kiểm tra có vai trò quan trọng giúp cho chủ thể quản lí (hiệu trưởng) biết
được mọi người thực hiện các nhiệm vụ ở mức độ như thế nào, đồng thời cũng biết
được những quyết định quản lí được ban hành có phù hợp với thực tế hay không,
trên cơ sở đó mà điều chỉnh các hoạt động.
2.3. Chức năng của kiểm tra nội bộ trường học

Kiểm tra tuy là một hoạt động mang tính chất nội bộ nhà trường, song kiểm
tra có các chức năng cơ bản giống như thanh tra (sẽ trình bày cụ thể ở phần sau)
sau đây:

- Chức năng tạo lập kênh thông tin phản hồi vững chắc, cung cấp những
thông tin đã được xử lí chính xác để hiệu trưởng nhà thường tiến hành các hoạt
động quản lí có hiệu quả.
- Chức năng kiểm soát, phát hiện và phòng ngừa.
- Chức năng, động viên, phê phán, uốn nắn, điều chỉnh, giúp đỡ.
- Chức năng đánh giá và xử lí khi cần thiết.
2.4 Nội dung kiểm tra nội bộ việc thực hiện nhiệm vụ dạy học và giáo dục
trường THCS
+ Kiểm tra toàn diện một giáo viên
+ Kiểm tra giờ dạy của giáo viên
18


+ Kiểm tra hoạt động sư phạm của tổ, nhóm chuyên môn giáo viên
+ Kiểm tra cơ sở vật chất, tài chính
3. HOẠT ĐỘNG ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC:
+ Nâng nhận thức đầy đủ về vị trí, tầm quan trọng của công tác đảm bảo và kiểm
định chất lượng giáo dục của lãnh đạo và tập thể cán bộ, giáo viên
+ Tăng cường phối hợp công tác thanh tra, kiểm tra với công tác đảm bảo chất
lượng giáo dục.
+ Phân công nhiệm vụ cụ thể cho các thành viên trong đơn vị để thực hiện công tác
đảm bảo chất lượng giáo dục trong nhà trường.
CHUYÊN ĐỀ 9
CHUYÊN ĐỀ ĐỔI MỚI SINH HOẠT TỔ CHUYÊN MÔN

1. Nhiệm vụ của tổ chuyên môn:
- Xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch hoạt động chung của tổ
- Hướng dẫn xây dựng và quản lý kế hoạch cá nhân của tổ viên theo KHDH,
PPCT và các hoạt động giáo dục khác.
- Tham gia đánh giá các thành viên trong tổ theo chuẩn nghề nghiệp GV

trung học và các quy định khác hiện hành.
- Giới thiệu TT, TP
- Đề xuất khen thưởng, kỉ luật đối với giáo viên.
- Tổ chuyên môn sinh hoạt 2 tuần /1 lần và có thể đột xuất khi Hiệu trưởng
yêu cầu.
2. Đổi mới sinh hoạt tổ chuyên môn
2.1. Nội dung sinh hoạt chuyên môn trong nhà trường
Nội dung sinh hoạt TCM tại các nhà trường bao gồm: SHCM thường xuyên
và sinh hoạt chuyên môn theo chủ đề.
19


2.2.1. Sinh hoạt chuyên môn thường xuyên:
2.2.2. Sinh hoạt chuyên môn theo chủ đề
2.2.3 Tổ chức sinh hoạt chuyên môn dựa trên phân tích hoạt động của học
sinh
CHUYÊN ĐỀ 10
XÂY DỰNG MỐI QUAN HỆ TRONG VÀ NGOÀI NHÀ TRƯỜNG ĐỂ NÂNG
CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC VÀ PHÁT TRIỂN TRƯỜNG THCS

1. Vai trò, nhiệm vụ của trường THCS trong xã hội hóa giáo dục, xây
dựng xã hội học tập và xây dựng môi trường giáo dục.
Giáo dục và kinh tế có mối quan hệ qua lại với nhau. Chúng vừa là phương
tiện vừa là kết quả của quá trình tác động lẫn nhau. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng
nhấn mạnh: “kinh tế tiến bộ thì giáo dục mới tiến bộ được”. Nền kinh tế không
phát triển thì giáo dục cũng không phát triển được. Giáo dục không phát triển thì
không đủ cán bộ giúp cho kinh tế phát triển. Hai việc đó quan hệ mật thiết với
nhau.” (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 8. NXB Chính trị Quốc gia. H.1996, Trang
337-338).
2. Tầm quan trọng của việc phát triển mối quan hệ giữa trường THCS

với các bên liên quan để phát triển nhà trường.
Mỗi cán bộ, giáo viên đều cần biết rõ công việc mình phải làm, hiểu rõ trách
nhiệm, có thái độ thân thiện, cởi mở, chân thành, luôn có ý thức chia sẻ trách
nhiệm với đồng nghiệp, yêu thương, bao dung với học sinh; Cần ý thức được về
những biểu hiện tiêu cực, không lành mạnh (phi văn hóa) trong nhà trường như: Sự
buộc tội đổ lỗi cho nhau; Sự kiểm soát quá chặt chẽ đánh mất quyền tự do và tự
chủ của cá nhân; Quan liêu, nguyên tắc một cách máy móc, độc đoán, định kiến,
chủ quan trong ứng xử và giải quyết công việc; Thiếu sự cởi mở, thiếu sự tin cậy;
Thiếu sự hợp tác, thiếu sự chia sẻ học hỏi lẫn nhau; Mâu thuẫn nội bộ không được
giải quyết kịp thời; Thiếu sự cảm thông, chia sẻ với những hoàn cảnh, tình huống
éo le; Thiếu sự công bằng trong đánh giá, Trách mắng học sinh vì các em không có
sự tiến bộ; Thiếu sự động viên khuyến khích; Không lợi dụng người học vì lợi ích
kinh tế.
3. Các mối quan hệ trong và ngoài nhà trường:
20


- Nhà trường, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh huy động nhân lực
và hệ thống cơ sở vật chất của mình để phối hợp thực hiện và huy động sự tham gia,
đóng góp của toàn xã hội, triển khai phong trào thi đua "Xây dựng trưởng học thân
thiện, học sinh tích cực" trong các nhà trường, qua đó Ngành Giáo dục và Đào tạo
và Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh có điều kiện hoàn thành toàn diện và
hiệu quả hơn nhiệm vụ của ngành mình, tổ chức mình.
Dựa trên chức năng, nhiệm vụ và thế mạnh của mình, nhà trường và Đoàn
Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh có kế hoạch chỉ đạo, đảm bảo sự phối hợp thống
nhất, chặt chẽ và hiệu quả với các bên có liên quan trong việc triển khai ở địa phương.
Trong các chuyên đề trên đều là những kiến thức bổ ích phục vụ cho công
tác chuyên môn nghiệp vụ của bản thân mỗi giáo viên. Một trong các chuyên đề
của khóa học đã giúp tôi hiểu sâu hơn và để áp dụng có hiệu quả trong hoạt động
dạy học của bản thân đó là chuyên đề 7 “ Dạy học theo định hướng phát triển

năng lực học sinh” , đây cũng là chuyên đề mà các đơn vị trường học trong huyện
Phú Lương đã triển khai và đang thực hiện trong năm học 2017- 2018.
Hiện nay giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương
trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học – từ chỗ
quan tâm tới việc học sinh học được gì đến chỗ quan tâm tới việc học sinh học
được cái gì qua việc học. Để thực hiện được điều đó, nhất định phải thực hiện
thành công việc chuyển từ phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ một chiều”
sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng
lực và phẩm chất, đồng thời phải chuyển cách đánh giá kết quả giáo dục từ nặng về
kiểm tra trí nhớ sang kiểm tra, đánh giá năng lực vận dụng kiến thức giải quyết vấn
đề, coi trọng kiểm tra đánh giá kết quả học tập với kiểm tra, đánh giá trong quá
trình học tập để có tác động kịp thời nhắm nâng cao chất lượng của hoạt động dạy
học và giáo dục.
Trong những năm qua, toàn thể giáo viên cả nước đã thực hiện nhiều công
việc trong đổi mới phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá và đã đạt được những
thành công bước đầu. Đây là những tiền đề vô cùng quan trọng để chúng ta tiến tới
việc việc dạy học và kiểm tra, đánh giá theo theo định hướng phát triển năng lực
của người học. Tuy nhiên, từ thực tế giảng dạy của bản thân cũng như việc đi dự
giờ đồng nghiệp tại trường tôi thấy rằng sự sáng tạo trong việc đổi mới phương
pháp dạy học, phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh… chưa nhiều. Dạy học
21


vẫn nặng về truyền thụ kiến thức. Việc rèn luyện kỹ năng chưa được quan tâm.
Hoạt động kiểm tra, đánh giá còn nhiều hạn chế, chú trọng đánh giá cuối kì chưa
chú trọng đánh giá cả quá trình học tập. Tất cả những điều đó dẫn tới học sinh học
thụ động, lúng túng khi giải quyết các tình huống trong thực tiễn.
Năng lực được quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức
kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân… nhằm đáp ứng
hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định. Năng lực

thể hiện sự vận dụng tổng hợp nhiều yếu tố (phẩm chất của người lao động, kiến
thức và kỹ năng) được thể hiện thông qua các hoạt động của cá nhân nhằm thực
hiện một loại công việc nào đó.
Năng lực của người học là khả năng làm chủ hệ thống tri thức, kĩ năng, thái
độ... và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lý vào thực hiện thành công nhiệm
vụ học tập, giải quyết hiệu quả những vấn đề đặt ra cho họ trong cuộc sống.
*. Dạy học theo tiếp cận trang bị kiến thức và dạy học theo định hướng phát
triển năng lực.
Dạy học theo tiếp cận trang bị kiến thức và dạy học theo định hướng phát
triển năng lực: Năng lực trong dự thảo chương trình giáo dục phổ thông. Các năng
lực chung: Năng lực tự chủ; Năng lực hợp tác; Năng lực sáng tạo. Các năng lực
đặc thù: Năng lực giao tiếp; Năng lực tính toán; Năng lực Tin học; Năng lực thẩm
mỹ; Năng lực thể chất.
*. Mô hình giảng dạy theo định hướng phát triển năng lực học sinh gồm có:
- Phương pháp giảng dạy thuyết kiến tạo.
- Dạy học phân hóa
- Dạy học tích hợp
- Phương pháp bàn tay nặn bột
- Dạy học theo trạm
- Dạy học theo dự án
- Học tập trải nghiệm
Vấn đề dạy học gắn với phát triển năng lực học sinh đã được đề cập nhiều và
đã được áp dụng ở nhiều trường học, nhiều cơ sở giáo dục. Tại đơn vị tôi đang
công tác vấn đề này cũng hết sức được quan tâm và có những thuận lợi sau:
+ Các hoạt động chuyên môn của nhà trường luôn nhận được sự quan tâm
chỉ đạo sát sao từ phía lãnh đạo Phòng giáo dục và đào tạo.
+ Việc đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá được lãnh
22



đạo nhà trường quan tâm chỉ đạo thực hiện một cách tích cực, có hệ thống,
bám sát chủ trương đổi mới nền giáo dục của Đảng và nhà nước.
+ Đội ngũ giáo viên trẻ và có trình độ chuyên môn vững, được đào tạo
trên chuẩn và đã được tham gia các lớp tập huấn về chuyên môn do Phòng
giáo dục và đào tạo tổ chức hàng năm.
+ Các tổ chuyên môn tích cực trao đổi, thảo luận và soạn giảng, dự giờ rút
kinh nghiệm cho đồng nghiệp.
+ Bản thân mỗi giáo viên luôn tích cực học tập, tìm hiểu và áp dụng các
phương pháp kĩ thuật dạy học mới để áp dụng trong quá trình dạy học.
Tuy nhiên trong thực tế giảng dạy của bản thân và việc dự giờ đồng nghiệp,
tôi thấy việc vận dụng các phương pháp dạy học tích cực để phát huy năng lực học
sinh còn gặp phải nhiều khó khăn:
+ Về phía giáo viên: Việc vận dụng các phương pháp và kỹ thuật dạy học
tích cực còn chưa mang lại hiệu quả cao. Phương pháp thảo luận nhóm được tổ
chức nhưng chủ yếu vẫn dựa vào một vài cá nhân học sinh tích cực tham gia, các
thành viên còn lại còn dựa dẫm, ỉ lại chưa thực sự chủ động. Mục đích của thảo
luận nhóm chưa đạt được tính dân chủ, mọi cá nhân được tự do bày tỏ quan điểm,
thói quen bình đẳng, biết đón nhận quan điểm bất đồng để hình thành quan điểm cá
nhân.Việc đổi mới phương pháp dạy học cũng không được thực hiện một cách triệt
để, vẫn còn nặng về phương pháp truyền thống truyền thụ một chiều. Để thực hiện
phương pháp dạy học này người giáo viên cần mất nhiều thời gian hơn để chuẩn bị
cho một tiết học nên việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh
cũng gặp khó khăn.
+ Về phía học sinh: Học sinh chủ yếu là học sinh vùng nông thôn nên việc
tiếp cận và tìm tòi những thông tin thời sự phục vụ cho bài học còn hạn chế. Một
số học sinh chưa có phương pháp học tập phù hợp, chưa tích cực trong việc tìm tòi
nghiên cứu bài học. Do đặc thù học sinh ở trường đa phần là học sinh người dân
tộc Mông, Thái, Khơ Mú nên việc giao tiếp và khả năng nhận thức còn hạn chế,
giao tiếp các em còn e dè, chưa tự tin, khả năng sử dụng vốn từ còn ít nên khi thảo
luận nhóm các em còn chưa mạnh dạn… Một số học sinh chưa chăm học, thời gian

dành cho việc học còn ít. Một số phụ huynh cũng chưa thực sự quan tâm đến việc
học của con cái. Họ còn có suy nghĩ phó mặc cho nhà trường, “tất cả nhờ thầy”.
Nhiều nơi trong huyện chưa có điện, mạng, máy tính nên việc học sinh khai
thác nguồn thông tin trên mạng để phục vụ cho bài học còn hạn chế.
23


- Cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động dạy học chưa đáp ứng tốt cho nhu
cầu đổi mới phương pháp dạy học.
Từ chuyên đề: “Dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh” tôi
đã được bồi dưỡng thêm các kiến thức về các phương pháp dạy học tích cực để sử
dụng thành thục, nhuần nhuyễn trong quá trình dạy học như các phương pháp dạy
học nhóm, dạy học theo trạm, bàn tay nặn bột, các kĩ thuật dạy học tích cực… dạy
học theo trải nghiệm sáng tạo, dạy học tích hợp, liên môn….. các phương pháp này
sẽ kích thích được mọi học sinh tích cực làm việc đặc biệt là những học sinh yếu
bởi chính những học sinh này sẽ được giáo viên và các bạn cùng nhóm để ý đến
nhiều hơn. Khi phát triển được các năng lực trong quá trình học tập tức là học sinh
thấy rõ vai trò vị trí của mình, từ đó sẽ biết nỗ lực để hoàn thành nhiệm vụ, biết
hành động vì người khác và đó chính là một cách để hoàn thiện nhân cách người
học sinh.
Để dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh có hiệu quả thì mỗi
giáo viên phải tự học tự rèn luyện và phải học hỏi các đồng nghiệp khi tham gia dự
giờ, trao đổi rút kinh nghiệm, tham gia các lớp bồi dưỡng, tập huấn. Để khắc phục
dần những khó khăn khi thực hiện việc dạy học theo định hướng năng lực học sinh
theo em cần làm một số việc sau:
Việc dạy học theo định hướng phát triển năng lực bắt buộc cả giáo viên và
học sinh phải có sự chuẩn bị hết sức chu đáo, học sinh phải chủ động và tích cực
hợp tác trong mọi hoạt động.
Yêu cầu giáo viên phải có sự thay đổi về quan điểm, về cách tiếp cận trong
việc lựa chọn phương pháp dạy học, hình thức tổ chức lớp học cũng như thay đổi

cách đánh giá học sinh – dạy học gắn với phát triển năng lực. Muốn làm được điều
đó trước hết người giáo viên phải có sự thay đổi trong cách tiếp cận, phải giúp cho
học sinh làm chủ quá trình học tập.
Kết hợp tốt các phương pháp dạy học truyền thống với các phương pháp dạy
học tích cực. Xác định các phương pháp dạy học theo đặc thù bộ môn bên canh
những phương pháp dạy học truyền thống cần chú ý các phương pháp dạy học tích
cực như: phương pháp trực quan, phương pháp làm việc theo nhóm, phương pháp
đóng vai…
Tăng cường sử dụng phương tiện dạy học và CNTT hợp lý hỗ trợ dạy học.
Để ngày càng nâng cao chất lượng, hiệu quả của hoạt động dạy và học theo
định hướng phát triển năng lực học sinh, tôi có một số đề xuất, kiến nghị sau:
24


- Sở Giáo dục và Đào tạo, lãnh đạo nhà trường tiếp tục tạo điều kiện thuận
lợi để giáo viên được tham gia các lớp tập huấn, bồi dưỡng thường xuyên về
chuyên môn, nghiệp vụ.
- Phòng giáo dục, nhà trường đầu tư, trang bị tốt hơn về cơ sở vật chất,
phương tiện, thiết bị dạy học hiện đại tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng các
phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực.
Như vậy qua khóa bồi dưỡng chức danh nghề nghiệp giáo viên THCS hạng
II tôi thấy đây là một khóa học bổ ích cho mỗi cán bộ giáo viên tham gia học tập.
Mỗi cán bộ giáo viên đều được học tập và tích lũy cho mình những kiến thức quý
báu từ các chuyên đề và áp dụng trong quản lý nhà trường và trong công tác dạy
học để ngày càng nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo cho địa phương.

25



×