Tải bản đầy đủ (.docx) (7 trang)

PHÂN-TÍCH-TRÁCH-NHIỆM-BỒI-THƯỜNG-THIỆT-HẠI-DO-NGUỒN-NGUY-HIỂM-CAO-ĐỘ-GÂY-RA-VÀ-XÁC-ĐỊNH-SỰ-KHÁC-NHAU-GIỮA-LOẠI-TRÁCH-NHIỆM-NÀY-VỚI-TRÁCH-NHIỆM-BỒI-THƯỜNG-THIỆT-HẠI-DO-HÀNH-VI-CON-NGƯỜI-GÂY-RA (1) (1)

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (257.1 KB, 7 trang )

BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

BÀI TIỂU LUẬN
MÔN: PHÁP LUẬT VỀ ĐẠI DIỆN TRONG QUAN HỆ
DÂN SỰ
Đề bài: Đánh giá điểm hạn chế của Bộ Luật
Dân Sự năm 2015 về đại diện của cá nhân. Đề
xuất kiến nghị và giải pháp hoàn thiện.

HỌ VÀ TÊN

: PHẠM BẢO YẾN

LỚP

: 25UD03

MSHV

: 25UD03081

NHÓM

:8

Hà Nội – 2018
1


I. Khái quát chung


Bộ luật dân sự 2015 một trong những đạo luật cơ bản, tác động tới mọi
khía cạnh của đời sống xã hội, có hiệu lực từ ngày 01/01/2017 đã và đang dần
hoàn thiện hóa hệ thống pháp luật Việt Nam. Các tiêu chí về mục tiêu, quan
điểm xây dựng Bộ luật là hoàn toàn phù hợp với sự phát triển của đất nước ta
hiện nay. BLDS đã có nhiều đột phá quan trọng, góp phần triển khai thi hành
các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, đặc biệt thể hiện tinh thần của
Hiến pháp năm 2013, các cam kết quốc tế của Việt Nam về tôn trọng, công
nhận, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong lĩnh vực dân
sự, xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế. Qua đó, phát huy được vị trí, vai trò của
BLDS thực sự trở thành luật chung, luật nền của hệ thống pháp luật điều chỉnh
các quan hệ xã hội được hình thành trên nguyên tắc tự do, tự nguyện, bình đẳng
và tự chịu trách nhiệm giữa các bên tham gia; bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất
trong hệ thống pháp luật của Nhà nước ta.
Bộ luật dân sự 2015 có rất nhiều điểm mới nổi bật tiêu biểu, So với Bộ luật
dân sự 1995 và 2005, Bộ luật dân sự 2015 được sửa đổi, bổ sung nhiều Điều
luật. Trong đó, có nhiều thay đổi quan trọng trong chế định đại diện.Trên đây,
tôi xin được phân tích một số điểm mới, và những bất cập, hạn chế trong chế
định đại diện của cá nhân trong Bộ luật dân sự 2015.
Chế định về đại diện theo BLDS năm 2015 có nhiều thay đổi liên quan đến
khái niệm, căn cứ xác lập quyền đại diện, đại diện theo pháp luật, đại diện theo
uỷ quyền, hậu quả pháp lý của hành vi đại diện, thời hạn đại diện…
Đại diện là một mối quan hệ pháp lý tổng hợp, hàm chứa nhiều mối quan
hệ pháp lý:
- Quan hệ giữa người đại diện và người được đại diện, là quan hệ “nội bộ”
có giá trị pháp lý ràng buộc về quyền và nghĩa vụ của họ, mà không chịu sự chi
phối, tác động hoặc ảnh hưởng của người thứ ba.
- Quan hệ giữa người đại diện và người thứ ba trong quan hệ dân sự cũng
là quan hệ “nội bộ” mang tính phụ thuộc và phái sinh từ quan hệ thứ nhất.
- Quan hệ giữa người được đại diện và người thứ ba là quan hệ chủ yếu,

phát sinh từ giao dịch dân sự do người đại diện xác lập.
2


Trong đời sống dân sự, đa số các chủ thể tự mình xác lập giao dịch dân sự.
Tuy nhiên, vì nhiều lý do (ốm đau, bệnh tật, công việc,…) cá nhân rất cần sự trợ
giúp của người khác, nên đã ủy quyền cho người được ủy quyền nhân danh
mình để xác lập và thực hiện giao dịch dân sự. Thêm vào đó, trong xã hội hiện
đại, để giải quyết những vấn đề pháp lý phức tạp rất cần vai trò của tư vấn pháp
luật có chuyên môn sâu, nên chủ thể ủy quyền cho luật sư thực hiện những công
việc ngoài tố tụng. Đại diện theo pháp luật (còn được xem là đại diện đương
nhiên) là đại diện mà theo quy định của pháp luật không cần phải có ủy quyền,
tạo ra chức danh người đại diện theo pháp luật được phép thay mặt và nhân
danh pháp nhân, thể nhân (người không có năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn
chế năng lực hành vi dân sự…) tham gia vào đời sống giao lưu dân sự, vì lợi ích
của người được đại diện. Vì vậy, ý nghĩa xã hội của chế định đại diện chính là ở
chỗ nhờ có nó mà một chủ thể có thể sử dụng tri thức, khả năng , kinh nghiệm
của người đại diện (chủ thể khác) và tiếp nhận kết quả từ hành vi pháp lý của
người đại diện đó.
Phạm vi đại diện được phép đại diện rất rộng rãi. Tuy nhiên, nếu tính chất
của giao dịch chỉ cho phép tự mỗi cá nhân tự mình thể hiện ý chí thì không
được xác lập giao dịch thông qua đại diện, đặc biệt là các giao dịch liên quan
đến quyền nhân thân, chẳng hạn như hành vi lập di chúc, ủy quyền…; việc giao
kết hợp đồng lao động của người chưa thành niên từ đủ 13 tuổi đến dưới 15 tuổi
cũng không thể chỉ thông qua người đại diện theo pháp luật mà phải có sự đồng
ý của người chưa thành niên đó. Việc kết hôn, nhận con nuôi cũng phải do các
bên tự mình thực hiện với sự công nhận của cơ quan nhà nước.
Điểm đặc thù của đại diện là giao dịch dân sự do một chủ thể (gọi là người
đại diện xác lập trong phạm vi đại diện lại làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm
dứt các quyền, nghĩa vụ dân sự của chủ thể khác (gọi là người được đại diện).

Chính điều đó là cơ sở phân biệt chế định đại diện với các chế định pháp lý
tương tự khác. Khác với người đại diện, người nhận bán hàng ký gửi, đại lý sẽ
xác lập giao dịch theo ủy thác từ người ký gửi, người giao đại lý nhưng vẫn
nhân danh mình, mà không nhân danh người ký gửi, người giao đại lý với người
mua không trực tiếp phát sinh quan hệ mua bán hàng hóa. Mọi quyền, nghĩa vụ
dân sự trong chủng loại hợp đồng này đều chỉ phát sinh giữa người nhận ký gửi,
nhận đại lý với người mua. Đối với hợp đồng vì lợi ích của người thứ ba thì các
bên cũng nhân danh mình xác lập, thực hiện hoặc hủy bỏ giao dịch, không phải
nhân danh người thứ ba. Hơn nữa, trong một số trường hợp người xác lập giao
dịch vì lợi ích của người thứ ba cũng có các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao
3


dịch đó. Khác với đại diện, người đưa tin không xác lập giao dịch mà chỉ truyền
đạt ý chí của một bên đối tác. Nếu không có hợp đồng ủy quyền, thì dịch vụ tư
vấn cho vụ việc giao kết hợp đồng không phải là đại diện. Người thực hiện dịch
vụ tư vấn chỉ hỗ trợ về mặt pháp lý để hợp đồng do các bên giao kết có hiệu lực
pháp luật và thể hiện đúng ý chí đích thực của các bên.
Tuy nhiên, BLDS năm 2015 đã bổ sung thêm quy định về điều kiện để trở
thành người đại diện phải có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự
phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập, thực hiện khi pháp luật có yêu cầu,
thì người đại diện phải đáp ứng đủ các yêu cầu đó.
Quan hệ đại diện phát sinh từ các căn cứ:
- Theo pháp luật bao gồm đại diện theo quyết định của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền hoặc theo quy định của pháp luật (còn gọi là đại diện bắt buộc
hay đại diện đương nhiên)
- Theo hợp đồng ủy quyền (đại diện tự nguyện)
Đại diện theo pháp luật là đại diện do pháp luật quy định dựa trên các tiêu
chí:
- Do quan hệ đặc biệt giữa người đại diện và người được đại diện mà phát

sinh quan hệ đại diện đương nhiên (cha mẹ và con, vợ và chồng…)
- Quan hệ đại diện phát sinh trên cơ sở một quan hệ pháp lý khác (giám hộ,
lao động, hợp tác…)
- Việc đại diện do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định khi xác lập
quan hệ đại diện là cần thiết đối với người bị hạn chế, bị mất năng lực hành vi
dân sự.
Điểm đặc thù của quan hệ đại diện theo pháp luật là bên cạnh việc thực
hiện hành vi đại diện, người đại diện còn thực hiện các chức năng khác được
pháp luật quy định nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được đại
diện.
II. Một số bất cập, hạn chế trong thực tiễn và định hướng hoàn thiện
1. Tranh chấp về chủ thể trong đại điện trong quan hệ hợp đồng
4


- Tranh chấp về hiệu lực của quan hệ đại diện khi bên giao đại diện không
có khả năng giao đại diện và bên nhận đại diện không có khả năng thực hiện
đại diện
Theo quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, chưa có quy định cụ thể về
việc ai có quyền và ai không có quyền đại diện theo ủy quyền. Pháp luật trao
quyền cho các chủ thể trong quan hệ đại diện tự quyết định. Thiết nghĩ, Pháp
luật cần đặt ra giới hạn, chỉ rõ các chủ thể “như thế nào” mới có thể trở thành
người đại diện theo ủy quyền.
- Về giao dịch đại diện ngầm định
Cần xác định yếu tố chủ quan của người đại diện hợp pháp. Đó là việc
người này có biết hoặc có buộc phải biết việc ký kết hợp đồng nói trên không?
hoặc buộc phải biết tức là đã có sự mặc nhiên thừa nhận của họ về việc ủy
quyền thì đó là điều kiện làm cho hợp đồng có hiệu lực pháp lý.
- Tranh chấp về quan hệ “ủy quyền lại”
Sửa đổi quy định về điều kiện để hành vi ủy quyền lại có hiệu lực

2. Tranh chấp về xác định thời hạn ủy quyền
- Do các bên không xác định tư cách đại diện trước khi giao kết hợp đồng
nên không thống nhất về thời hạn ủy quyền
Giả sử các bên không muốn quan hệ hợp đồng này được xác lập. Vậy có
thể áp quy định, tuyên hợp đồng vô hiệu. Nhưng nếu các bên thực sự muốn xác
lập quan hệ hợp đồng này. Giải pháp khắc phục là người đại diện theo pháp luật
(giám đốc) có thể phê chuẩn bằng một văn bản ủy quyền cho người đã ký kết
hợp đồng (ví dụ phó giám đốc) - Ủy quyền sau. Tuy nhiên, việc ủy quyền sau
này sẽ chỉ trở nên hợp pháp nếu được thực hiện trước khi phát sinh tranh chấp
đối với hợp đồng.
3. Tranh chấp về phạm vi đại diện
- Chủ thể đại diện ký kết, thực hiện hợp đồng không có thẩm quyền, vượt
quá phạm vi ủy quyền

5


Theo quy định pháp luật Việt Nam, trong trường hợp kể trên nếu không
được “sự chấp thuận sau” của bên được đại diện, bên thứ ba không biết, không
thể biết thì hoặc là bên đại diện sẽ trở thành một bên trong quan hệ hợp đồng
với bên thứ ba, hoặc là hợp đồng vô hiệu và bên đại diện phải bồi thường thiệt
hại cho bên thứ ba. Tuy nhiên, hành vi đại diện không thẩm quyền hoặc vượt
quá phạm vi ủy quyền của bên đại diện đã gây ra những thiệt hại nhất định cho
bên được đại diện. Cần bổ sung quy định pháp luật về trách nhiệm của bên đại
diện đối với bên được đại diện về hành vi ký kết, thực hiện hợp đồng không có,
vượt quá phạm vi đại diện.
4. Tranh chấp về hình thức pháp lý của quan hệ đại diện
Việt Nam đã bắt đầu có sự thừa nhận rộng rãi hơn về hình thức hợp đồng
điện tử. Tuy nhiên vẫn chưa có quy định và hướng dẫn cụ thể về vấn đề khi các
bên giao kết hợp đồng điện tử thì các vấn đề có liên quan trong đó có vấn đề đại

diện, giá trị pháp lý của chữ ký điện tử được giải quyết như thế nào. Yêu cầu đặt
ra là cần phải hoàn thiện hơn khung pháp lý xoay quanh các nội dung về hình
thức hợp đồng, hình thức thể hiện của quan hệ đại diện hợp đồng,…
III. Giải pháp hoàn thiện
- Quy định trách nhiệm của bên được ủy quyền và bên ủy quyền khi xác
lập và thực hiện hợp đồng không trung thực
- Quy định giới hạn về chủ thể có quyền đại diện theo theo ủy quyền
- Quy định mở rộng về hình thức của văn bản ủy quyền
- Quy định trách nhiệm của bên đại diện khi đại diện ký kết, thực hiện hợp
đồng không có thẩm quyền, vượt quá phạm vi ủy quyền
- Sửa đổi quy định về ủy quyền lại
- Bổ sung thêm quy định về các trường hợp mà người ủy quyền phải chịu
trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người thứ ba khi người ủy quyền có lỗi,
mặc dù người thực hiện hành vi gây thiệt hại là người đại diện.
- Bổ sung quy định về hạn chế số người được đại diện mà người đại diện
được nhận đại diện
6


- Bổ sung quy định thừa nhận “đại diện ngầm định”, “đại diện hiển nhiên”.

7



×