Tải bản đầy đủ (.docx) (30 trang)

SKKN 2018 (HAO) sua cuoi

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (562.63 KB, 30 trang )

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Giáo dục là nền tảng của xã hội, là tiền đề để quyết định sự phồn vinh của
đất nước. Giáo dục cung cấp những hiểu biết, những kho tàng về tri thức khoa
học, đời sống. Giáo dục còn góp phần hình thành, bồi dưỡng nhân cách, kĩ năng
sống tốt đẹp cho các thế hệ học sinh.
Sự phát triển kinh tế – xã hội trong bối cảnh toàn cầu hoá đặt ra những
yêu cầu mới đối với người lao động, do đó cũng đặt ra những yêu cầu mới cho
sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ và đào tạo nguồn nhân lực. Một trong những định
hướng cơ bản của việc đổi mới giáo dục là chuyển từ nền giáo dục mang tính
hàn lâm, kinh viện, xa rời thực tiễn sang một nền giáo dục chú trọng việc hình
thành năng lực hành động, phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học. Định
hướng quan trọng trong đổi mới phương pháp dạy học là phát huy tính tích cực,
tự lực và sáng tạo, phát triển năng lực hành động, năng lực cộng tác làm việc
của người học. Đó cũng là những xu hướng quốc tế trong cải cách phương pháp
dạy học ở nhà trường phổ thông. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về
đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh
mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ
động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối
truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách
nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri
thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức
hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu
khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và
học”. Để thực hiện tốt mục tiêu về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT theo
Nghị quyết số 29-NQ/TW, cần có nhận thức đúng về bản chất của đổi mới
phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học và một số
biện pháp đổi mới phương pháp dạy học theo hướng này. Vì vậy, phát triển
chương trình giáo dục phổ thông dựa trên tiếp cận năng lực là một lựa chọn tất
yếu khách quan và phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội. Theo đó, việc dạy
học không phải là “tạo ra kiến thức”, “truyền đạt kiến thức” hay “chuyển giao


kiến thức” mà phải làm cho người học học cách đáp ứng hiệu quả các đòi hỏi cơ
bản liên quan đến môn học và có khả năng vượt ra ngoài phạm vi môn học để
chủ động thích ứng với cuộc sống sau này.
Một khi mục tiêu giáo dục đã thay đổi thì toàn bộ các thành tố của quá
trình giáo dục, bao gồm cả nội dung, phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá
cũng phải chuyển đổi một cách đồng bộ, nhất quán. Bản thân tôi là từng là một
học sinh, sinh viên được đào tạo từ cách dạy học truyền thống. Khi ra trường, là
giáo viên vẫn sử dụng nhiều lối tư duy cũ, nhận thấy bản thân cần từng bước học
hỏi, thay đổi dần phương pháp dạy học để đáp ứng với nhu cầu và xu thế của
giáo dục hiện đại. Chính vì vậy tôi đã mạnh dạn sử dụng một vài kiểu dạy học
phân hoá để làm quen dần với các bước thiết kế bài dạy theo hưóng “lấy học
1/30


sinh là trung tâm của quá trình dạy học”. Tôi nhận thấy không phải bất kì một
bài giảng hóa học nào cũng lựa chọn cách thức dạy học giống nhau. Giữ nguyên
một tiêu chí là “phát huy tích tích cực hoạt động”, “khuyến khích phát triển năng
lực nhận thức của học sinh”, tùy vào đặc trưng của từng bài mà ta lựa chọn
phương pháp dạy học phù hợp.
Hóa học là một trong những ngành khoa học mũi nhọn ở thế kỉ XXI, đang
được sự quan tâm không chỉ của giới khoa học mà còn là của cả xã hội. Trong
Hóa học, đặc biệt là các lĩnh vực nghiên cứu về các chất để ứng dụng vào thực
tiễn, đã đạt được những thành tựu không chỉ có tầm quan trọng về mặt lí luận
mà còn có những giá trị thực tiễn rất lớn lao.
Chương trình Hóa học 11 tiếp tục nghiên cứu về các chất phi kim gắn liền
với thực tế giúp HS củng cố niềm tin vào khoa học hiện đại trong việc nhận thức
bản chất của các hiện tượng hóa học. HS có ý thức vận dụng các tri thức, kỹ năng
học được vào cuộc sống, lao động, học tập. Xây dựng ý thức tự giác và thói quen
bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ môi trường sống, có thái độ hành vi đúng đắn trong
cuộc sống. Tuy nhiên để thiết kế được bài giảng hay, học sinh hứng thú và tích cực

thì không phải là dễ dàng, đặc biệt là trong các bài luyện tập. Để những giờ luyện
tập không còn khô khan, nhàm chán thì chính các thầy cô giáo phải đổi mới, sử
dụng các phương pháp và kỹ thuật dạy học tạo cho học sinh hứng thú và tích cực
chủ động nhằm hình thành và phát triển năng lực học sinh. Chính vì vậy, tôi đã lựa
chọn đề tài “DẠY HỌC BÀI 19: LUYỆN TẬP TÍNH CHẤT CỦA CACBON,
SILIC VÀ CÁC HỢP CHẤT CỦA CHÚNG – HÓA HỌC 11(BCB) THEO
HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH” với mong muốn đề tài của
mình sẽ góp phần thiết thực vào việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay.
2. Mục đích nghiên cứu
Vận dụng phương pháp và kỹ thuật dạy học hiện đại trong việc tổ chức
dạy học bài 19. Luyện tập: Tính chất của cacbon, silic và các hợp chất của
chúng (tiết 1) – Hóa học 11 ban cơ bản theo hướng phát triển năng lực của học
sinh, nâng cao hiệu quả của việc dạy và học.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của phương pháp dạy học hiện đại theo hướng
phát triển năng lực.
- Phân tích nội dung kiến thức bài 19. Luyện tập: Tính chất của cacbon,
silic và các hợp chất của chúng (tiết 1) – Hóa học 11 (BCB), nhằm xác định các
nội dung có thể sử dụng phương pháp dạy học hiện đại từ đó thiết kế các giáo
án, chủ đề trong dạy học.
- Thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá hiệu quả và tính khả thi của đề tài.
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Học sinh 2 lớp 11 trường THPT Đa Phúc.
2/30


- Đối tượng nghiên cứu: Tính chất của cacbon, silic và các hợp chất của
chúng (tiết 1) – Hóa học 11 (BCB).
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Nghiên cứu các tài liệu về cơ sở lí

luận phát triển năng lực, dạy học tích cực trong Hóa học, sách giáo khoa, sách
giáo viên, chuẩn kiến thức kĩ năng, có liên quan đến dạy học theo hướng phát
triển năng lực học sinh.
+ Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức sử dụng giáo án có sử dụng
phương pháp dạy học hiện đại theo định hướng phát triển năng lực của học sinh.
+ Phương pháp thực nghiệm: Sử dụng thực nghiệm sư phạm trên hai lớp
đối chứng và thực nghiệm nhằm kiểm chứng tính đúng đắn và hiệu quả của đề tài.

3/30


NỘI DUNG
I. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
I.1. Cơ sở lí luận về dạy học hóa học theo định hướng phát triển năng
lực học sinh.
Để có thể xây dựng một bài giảng theo hướng tiếp cận năng lực học sinh,
trước hết, tôi đã đi tìm hiểu cơ sở lí luận về dạy học theo định hướng phát triển
năng lực học sinh, cụ thể là nghiên cứu về : khái niệm năng lực, phân loại năng
lực, năng lực đặc thù cần hình thành ở môn hóa học, đặc trưng cơ bản của
phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực, phương pháp dạy học
hiện đại nhằm phát triển năng lực nhận thức của học sinh.
I.1.1. Khái niệm năng lực
Phạm trù năng lực thường được hiểu theo các cách khác nhau và mỗi
cách hiểu có những thuật ngữ tương ứng:
(1) Năng lực hiểu theo nghĩa chung nhất là khả năng mà cá nhân thể
hiện khi tham gia một hoạt động nào đó ở một thời điểm nhất định. Chẳng hạn,
khả năng giải toán, khả năng nói tiếng Anh…, thường được đánh giá bằng các
trắc nghiệm trí tuệ.
(2) Năng lực là khả năng thực hiện hiệu quả một nhiệm vụ, một hành
động cụ thể, liên quan đến một lĩnh vực nhất định dựa trên cơ sở hiểu biết, kĩ

năng, kĩ xảo và sẵn sàng hành động.
Người học có năng lực hành động về một loại, lĩnh vực hoạt động nào đó
cần hội đủ các dấu hiệu cơ bản sau:
- Có kiến thức hay hiểu biết hệ thống, chuyên sâu về loại, lĩnh vực hoạt
động.
- Biết cách tiến hành hoạt động hiệu quả và đạt kết quả phù hợp với mục
đích.
- Hành động có kết quả, ứng phó linh hoạt, hiệu quả trong những điều
kiện mới, không quen thuộc.
Từ đó, có thể đưa ra một định nghĩa về năng lực hành động, đó là: “năng
lực là khả năng huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính tâm
lý cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,… để thực hiện thành công một
loại công việc trong một bối cảnh xác định”.
Năng lực của cá nhân được đánh giá qua phương thức và kết quả hoạt
động của cá nhân đó khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống. Có thể xem xét
riêng một cách tương đối phẩm chất và năng lực, nhưng hiểu theo nghĩa rộng
(năng lực nguời) bao gồm cả phẩm chất và năng lực hiểu theo nghĩa hẹp.
4/30


I.1.2. Phân loại năng lực
Khái niệm năng lực hành động và khái niệm kĩ năng không có sự tương
đồng. Kĩ năng chỉ được định nghĩa là khả năng thực hiện dễ dàng, chính xác một
hành động có tính phức hợp và khả năng thích ứng trong các điều kiện đang thay
đổi. Trong khi năng lực hành động được định nghĩa như là một khái niệm định
hướng theo chức năng, một hệ thống phức hợp hơn, toàn diện hơn, có sự kết hợp
của, nhiều thành tố như các khả năng nhận thức, kĩ năng, thái độ và chứa cả các
thành phần phi nhận thức như động cơ, xúc cảm, giá trị đạo đức,…trong một bối
cảnh có ý nghĩa.
Phân loại năng lực:

- Năng lực chung: Năng lực chung là những năng lực cơ bản, thiết yếu hoặc
cốt lõi… làm nền tảng cho mọi hoạt động của con người trong cuộc sống và lao
động nghề nghiệp. Một số năng lực cốt lõi của học sinh THPT: Năng lực tự học,
năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, năng lực tự quản lý, năng lực giao
tiếp, năng lực hợp tác, năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông,
năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực tính toán.
- Năng lực chuyên biệt: Là những năng lực được hình thành và phát triển trên
cơ sở các năng lực chung theo định hướng chuyên sâu, riêng biệt trong các loại
hình hoạt động, công việc hoặc tình huống, môi trường đặc thù, cần thiết cho
những hoạt động chuyên biệt, đáp ứng yêu cầu hạn hẹp hơn của một hoạt động
như Toán học, Âm nhạc, Mĩ thuật, Thể thao, Địa lí,…
I.1.3. Dạy học hóa học theo định hướng phát triển năng lực:
Đổi mới phương pháp dạy học đang thực hiện bước chuyển từ chương
trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là
từ chỗ quan tâm đến việc học sinh học được cái gì đến chỗ quan tâm học sinh
vận dụng được cái gì qua việc học. Để đảm bảo được điều đó, phải thực hiện
chuyển từ phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ một chiều” sang dạy cách
học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm
chất. Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên – học sinh
theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội. Bên
cạnh việc học tập những tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên
môn cần bổ sung các chủ đề học tập tích hợp liên môn nhằm phát triển năng lực
giải quyết các vấn đề phức hợp.
Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành
và phát triển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm
thông tin…), trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo
của tư duy. Có thể chọn lựa một cách linh hoạt các phương pháp chung và
phương pháp đặc thù của môn học để thực hiện. Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳ
phương pháp nào cũng phải đảm bảo được nguyên tắc “Học sinh tự mình hoàn
thành nhiệm vụ nhận thức với sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên”.

5/30


Chương trình giáo dục định hướng năng lực dạy học định hướng kết quả
đầu ra nhằm mục tiêu phát triển năng lực người học:
a - Về nội dung:
- Học nội dung chuyên môn → có năng lực chuyên môn: Có tri thức
chuyên môn để ứng dụng vận dụng trong học tập và cuộc sống.
- Học phương pháp chiến lược → có năng lực phương pháp: lập kế
hoạch học tập, làm việc có phương pháp học tập, thu thập thông tin
đánh giá.
- Học giao tiếp xã hội → có năng lực xã hội: hợp tác nhóm học cách
ứng xử, có tinh thần trách nhiệm khả năng giải quyết trong các mối
quan hệ hợp tác.
- Học tự trải nghiệm đánh giá → có năng lực nhân cách: Tự đánh giá
để hình thành các chuẩn mực giá trị đạo đức.
b - Chuẩn đầu ra:
- Phẩm chất: Yêu gia đình quê hương đất nước, nhân ái, khoan dung,
trung thực …
- Năng lực chung: năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề, năng
lực sáng tạo, …
- Năng lực chuyên biệt: Trong các môn học ở trường phổ thông,
Hóa học là môn học có điều kiện thuận lợi để triển khai đổi mới dạy
học và đánh giá theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh.
I.1.4. Năng lực đặc thù cần hình thành ở bộ môn hóa học.
Theo PGS.TS Đặng Thị Oanh - Giảng viên Trường Đại học Sư phạm Hà
Nội, trong chương trình giáo dục phổ thông, mỗi môn học đều có đặc thù riêng
và có thế mạnh để hình thành và phát triển đặc thù của môn học. Và trong môn
Hóa học bao gồm 6 năng lực đặc thù:
Năng lực sử dụng ngôn ngữ hóa học

Qua các bài học, học sinh sẽ nghe và hiểu được nội dung các thuật ngữ
hóa học, danh pháp hóa học và các biểu tượng hóa học (kí hiệu, hình vẽ, mô
hình cấu trúc các phân tử các chất, các liên kết hóa học). Các em sẽ viết và biểu
diễn đúng công thức hóa học của các hợp chất vô cơ và các hợp chất hữu cơ các
dạng công thức, đồng đẳng, đồng phân. Ngoài ra, các em còn nhận biết và rút ra
được các quy tắc đọc tên và đọc đúng tên theo các danh pháp khác nhau đối với
các hợp chất hữu cơ. Trình bày và vận dụng được các thuật ngữ hóa học, danh
pháp hóa học và hiểu được ý nghĩa của chúng.
Năng lực nghiên cứu và thực hành hóa học
6/30


Năng lực này bao gồm các năng lực tiến hành thí nghiệm, sử dụng và vận
dụng thí nghiệm; năng lực quan sát, mô tả, giải thích các hiện tượng tự nhiên.
Học sinh được yêu cầu mô tả và giải thích được các hiện tượng thí
nghiệm và rút ra những kết luận về tính chất của chất. Các bài học sẽ giúp các
em sử dụng thành thạo các đồ dùng thí nghiệm. Các em sẽ tiến hành lắp đặt các
bộ dụng cụ cần thiết cho từng thí nghiệm, hiểu được tác dụng của từng bộ phận,
biết phân tích sự đúng sai trong cách lắp. Tiếp theo, các em sẽ tiến hành độc lập
các thí nghiệm nghiên cứu, tìm kiếm và thu được những kiến thức cơ bản để
hiểu biết giới tự nhiên và kĩ thuật. Thông qua các bài học, các em sẽ mô tả rõ
ràng cách tiến hành thí nghiệm, mô tả chính xác các hiện tượng thí nghiệm, giải
thích một cách khoa học các hiện tượng thí nghiệm đã xảy ra và viết được các
phương trình hóa học và rút ra được những kết luận cần thiết.
Năng lực tính toán
Thông qua các bài tập hóa học sẽ hình thành năng lực tính toán cho học
sinh. Các em sẽ có thể vận dụng thành thạo phương pháp bảo toàn (bảo toàn
khối lượng, bảo toàn điện tích, bảo toàn electron…) trong việc tính toán giải các
bài toán hóa học.
Học sinh còn có thể sử dụng thành thạo phương pháp đại số trong toán học

và mối liên hệ với các kiến thức hóa học để giải các bài toán hóa học. Đồng thời sử
dụng hiệu quả các thuật toán để biện luận và tính toán các dạng bài toán hóa học.
Năng lực giải quyết vấn đề thông qua môn Hóa học
Qua quá trình học tập trên lớp, học sinh sẽ phân tích được tình huống,
phát hiện và nêu được tình huống có vấn đề trong học tập, trong cuộc sống.
Các em sẽ thu thập và làm rõ các thông tin có liên quan đến vấn đề. Đề
xuất và phân tích được một số giải pháp giải quyết vấn đề, lựa chọn được giải
pháp phù hợp. Ngoài ra, học sinh còn đề xuất được giả thuyết khoa học khác
nhau. Lập được kế hoạch để giải quyết vấn đề đặt ra. Thực hiện kế hoạch độc
lập sáng tạo hoặc hợp tác trên cơ sở các giả thuyết đã đề ra.
Môn hóa học sẽ giúp các em học sinh thực hiện và đánh giá giải pháp
giải quyết vấn đề, suy ngẫm về cách thức và tiến trình giải quyết vấn đề để điều
chỉnh và vận dụng trong bối cảnh mới.
Năng lực vận dụng kiến thức hóa học vào cuộc sống
Quá trình học tập sẽ giúp học sinh có năng lực hệ thống hóa kiến thức,
phân loại kiến thức hóa học, hiểu rõ đặc điểm, nội dung, thuộc tính của loại kiến
thức hóa học đó. Khi vận dụng kiến thức chính là việc lựa chọn kiến thức một
cách phù hợp với mỗi hiện tượng, tình huống cụ thể xảy ra trong cuộc sống, tự
nhiên và xã hội.
Học sinh sẽ định hướng được các kiến thức hóa học một cách tổng hợp
7/30


và khi vận dụng kiến thức hóa học phải ý thức rõ ràng về loại kiến thức hóa học
đó được ứng dụng trong các lĩnh vực gì, ngành nghề gì trong cuộc sống.
Các em sẽ phát hiện và hiểu rõ được các ứng dụng của hóa học trong các
vấn đề thực phẩm, sinh hoạt, y học, sức khỏe, khoa học thường thức, sản xuất
công nghiệp, nông nghiệp và môi trường. Đồng thời tìm mối liên hệ và giải thích
được các hiện tượng trong tự nhiên và các ứng dụng của hóa học trong cuộc
sống và trong các lĩnh vực đã nêu trên dựa vào các kiến thức hóa học và kiến

thức liên môn khác.
Thêm vào đó, các em sẽ chủ động sáng tạo lựa chọn phương pháp, cách
thức giải quyết vấn đề. Có năng lực hiểu biết và tham gia thảo luận về các vấn
đề hóa học liên quan đến cuộc sống thực tiễn và bước đầu biết tham gia nghiên
cứu khoa học để giải quyết các vấn đề đó.
Năng lực sáng tạo
Môn hóa học sẽ giúp học sinh đề xuất được câu hỏi nghiên cứu cho một
vấn đề hay chủ đề học tập cụ thể; đề xuất giả thuyết nghiên cứu phù hợp với câu
hỏi nghiên cứu một cách khoa học, sáng tạo.
Học sinh sẽ đề xuất phương án thực nghiệm tìm tòi để kiểm chứng giả
thuyết nghiên cứu, thực hiện phương án thực nghiệm. Sau đó, các em sẽ xây
dựng báo cáo kết quả nghiên cứu và trình bày kết quả nghiên cứu một cách khoa
học, sáng tạo.
I.1.5. Đặc trưng cơ bản của đổi mới phương pháp dạy học theo định
hướng phát triển năng lực học sinh.
Việc đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực
thể hiện qua bốn đặc trưng cơ bản sau:
Một, dạy học thông qua tổ chức liên tiếp các hoạt động học tập, giúp học
sinh tự khám phá những điều chưa biết chứ không thụ động tiếp thu những tri
thức được sắp đặt sẵn. Giáo viên là người tổ chức và chỉ đạo học sinh tiến hành
các hoạt động học tập phát hiện kiến thức mới, vận dụng sáng tạo kiến thức đã
biết vào các tình huống học tập hoặc tình huống thực tiễn…
Hai, chú trọng rèn luyện cho học sinh biết khai thác sách giáo khoa và
các tài liệu học tập, biết cách tự tìm lại những kiến thức đã có, suy luận để tìm
tòi và phát hiện kiến thức mới… Định hướng cho học sinh cách tư duy như phân
tích, tổng hợp, đặc biệt hoá, khái quát hoá, tương tự, quy lạ về quen… để dần
hình thành và phát triển tiềm năng sáng tạo.
Ba, tăng cường phối hợp học tập cá thể với học tập hợp tác, lớp học trở
thành môi trường giao tiếp giáo viên – học sinh và học sinh - học sinh nhằm vận
dụng sự hiểu biết và kinh nghiệm của từng cá nhân, của tập thể trong giải quyết

các nhiệm vụ học tập chung.
8/30


Bốn, chú trọng đánh giá kết quả học tập theo mục tiêu bài học trong suốt
tiến trình dạy học thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập (đánh giá lớp học). Chú
trọng phát triển kỹ năng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của học sinh với nhiều
hình thức như theo lời giải/đáp án mẫu, theo hướng dẫn, hoặc tự xác định tiêu
chí để có thể phê phán, tìm được nguyên nhân và nêu cách sửa chữa các sai sót.
I.2. Luyện tập trong quá trình dạy học hóa học ở trường phổ thông
I.2.1. Khái niệm hoàn thiện kiến thức, ôn tập và luyện tập
• Khái niệm luyện tập
- Theo Đại từ điển tiếng Việt trang 1067: “luyện tập: làm đi làm lại
nhiều lần, duy trì thường xuyên để thông thạo, nâng cao kỹ năng”.
- Trong dạy học, luyện tập là vừa củng cố, hệ thống hóa kiến thức
vừa rèn luyện khả năng vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề, các
bài toán được đặt ra sao cho khả năng giải quyết vấn đề được sử dụng
một cách thuần thục nhất.
• Khái niệm ôn tập
- Theo Đại từ điển tiếng Việt trang 1305: “ôn tập: học lại để nhớ, để
nắm chắc”.
- Trong dạy học, ôn tập là làm chính xác, củng cố và hệ thống hóa
kiến thức.
• Khái niệm hoàn thiện kiến thức:
- Hoàn thiện kiến thức là làm sáng tỏ thêm các biểu tượng
về vật thể và hiện tượng nghiên cứu bằng cách phân biệt, so sánh, đối
chiếu chúng, làm chính xác sâu sắc thêm các khái niệm bằng cách tách
riêng những dấu hiệu bản chất, thiết lập mối liên hệ giữa các khái niệm
và khái quát hóa hơn nữa các kiến thức đã thu được.
- Khi hoàn thiện kiến thức, kiến thức được ôn tập, lặp lại nhưng

hướng tập trung hơn vào việc làm chính xác hóa, đào sâu, củng cố và
vận dụng. Vì thế có thể nói vắn tắt, hoàn thiện kiến thức là ôn tập, củng
cố và vận dụng kiến thức.
I.2.2. Tình hình dạy học bài luyện tập môn hóa học ở trường THPT
Trong thực tế dạy học, nhiều giáo viên đã không phân biệt rõ mục đích
yêu cầu của kiểu bài ôn tập và luyện tập.
- Bài ôn tập: củng cố và hệ thống hóa một lượng khá lớn kiến thức
lý thuyết thuần túy như ôn tập cuối một chương, ôn tập cuối một học
kỳ, ôn tập cuối năm, …Không chú trọng nhiều đến việc rèn luyện kỹ
năng giải quyết vấn đề của học sinh.
9/30


- Bài luyện tập: vừa củng cố, hệ thống hóa kiến thức vừa rèn luyện
khả năng vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề một cách thuần
thục. Luyện tập phải được tiến hành thường xuyên.
Như vậy, yêu cầu của bài luyện tập về phạm vi kiến thức sẽ không rộng
bằng bài ôn tập nhưng yêu cầu rèn luyện kỹ năng lại được xem trọng hơn.
Ngoài ra một số giáo viên đã không bảo đảm thời gian dành cho việc
luyện tập hoặc làm việc đó một cách hình thức. Ví dụ như giáo viên chỉ nhắc lại,
thuật lại một cách tóm tắt những điều đã giảng, không biết dùng nhiều phương
pháp khác nhau để giúp học sinh tự củng cố kiến thức và rèn luyện kỹ năng. Cá
biệt có một số giáo viên còn nhầm lẫn giữa một tiết luyện tập vàmột tiết sửa bài
tập.
I.2.3. Những nhiệm vụ trí, đức dục của bài luyện tập trong
dạy học hóa học ở trường phổ thông
* Nhiệm vụ trí dục
- Về kiến thức: Trang bị cho học sinh những cơ sở khoa học của hóa
học ở mức độ cần thiết, cung cấp một hệ thống kiến thức hóa học phổ
thông, cơ bản, hiện đại, thiết thực.

- Về kĩ năng: Phát triển các kĩ năng bộ môn hóa học, kĩ năng giải
quyết vấn đề để phát triển năng lực nhận thức và năng lực hành động
cho học sinh như:
+ Biết quan sát thí nghiệm, phân tích, dự đoán, kết luận và kiểm tra
kết quả…
+ Biết làm việc với tài liệu giáo khoa và các tài liệu tham
khảo: Tóm tắt nội dung chính, phân tích và kết luận.
+ Biết thực hiện một số thí nghiệm hóa học độc lập và theo nhóm.
+ Biết cách làm việc hợp tác với các học sinh khác trong
nhóm nhỏ để hoàn thành một nhiệm vụ tìm tòi nghiên cứu.
+ Biết vận dụng để giải quyết một số vấn đề đơn giản của cuộc sống
hàng ngày có liên quan đến hóa học.
+ Biết lập kế hoạch để giải một bài tập hóa học, thực hiện một vấn
đề thực tế, một thí nghiệm, một đề tài nhỏ có liên quan đến hóa học…
* Nhiệm vụ đức dục
- Hình thành thế giới quan duy vật biện chứng thông qua việc làm
sáng tỏ một số khái niệm quan trọng của thế giới quan duy vật khoa học.
- Giáo dục đạo đức, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân: lòng
10/30


nhân ái, lòng yêu nước, yêu lao động, tinh thần quốc tế, sự tuân thủ
pháp luật, sự tôn trọng và bảo vệ thiên nhiên.
- Tiếp tục hình thành và phát triển ở học sinh thái độ tích cực như:
+ Hứng thú học tập bộ môn hóa học.
+ Có ý thức trách nhiệm đối với một vấn đề của cá nhân, tập thể,
cộng đồng có liên quan đến hóa học.
+ Nhìn nhận và giải quyết vấn đề một cách khách quan, trung thực
trên cơ sở phân tích khoa học.
+ Có ý thức vận dụng những điều đã biết về hóa học vào cuộc sống

và vận động người khác cùng thực hiện.
I.2.4. Các nguyên tắc và phương pháp dạy học khi thiết kế bài luyện tập
* Các nguyên tắc thiết kế bài luyện tập
Mục tiêu các bài luyện tập là củng cố, hệ thống hóa lại những kiến thức
học sinh đã học, đồng thời rèn một số kĩ năng để giải một số bài tập hóa học
nên khi thiết kế kiểu bài này sao cho tránh rơi vào cách học như một tiết sửa
bài tập GV phải thiết kế sao cho linh hoạt, nhẹ nhàng, lôi cuốn học sinh vào
các hoạt động, có thể áp dụng nhiều hình thức dạy học khác nhau nhằm phát
huy tối đa tính tích cực học tập của học sinh.
Khi thiết kế các bài luyện tập cần đảm bảo các nguyên tắc sau:
1. Xác định đúng mục tiêu của bài luyện tập.
2. Lựa chọn nội dung phù hợp với mục tiêu đã đề ra.
3. Đảm bảo tính chính xác khoa học.
4. Phù hợp với trình độ học sinh đảm bảo tính phân hóa theo các loại
đối tượng.
5. Lựa chọn phương pháp dạy học thích hợp nhằm phát huy tính
tích cực học tập của học sinh.
6. Sử dụng phối hợp và linh hoạt các phương pháp dạy học đã xác
định để hoạt động hóa người học.
7. Tăng cường sử dụng các phương tiện và đồ dùng dạy học một
cách hợp lí.
8. Đảm bảo tính sư phạm.
* Các phương pháp dạy học chính khi thiết kế bài luyện tập
Khi thiết kế bài luyện tập, ngoài việc xác định mục tiêu bài học, lựa
11/30


chọn nội dung phù hợp thì việc chọn phương pháp dạy học cũng quan trọng
không kém, vì phương pháp dạy học, những hình thức và cách thức hoạt động
của giáo viên và học sinh trong môi trường dạy học sẽ góp phần phát triển các

năng lực của cá nhân và đạt được mục tiêu dạy học.
Các phương pháp dạy học chính thường sử dụng khi dạy kiểu bài luyện
tập là:
- Phương pháp đàm thoại gợi mở: Đây là phương pháp hiệu quả nhất khi
giáo viên khơi gợi cho học sinh nhớ lại kiến thức cũ, hay nêu một vấn đề mới
cho học sinh giải quyết vấn đề.
- Phương pháp hoạt động nhóm: Đây là phương pháp rất hiệu quả khi giáo
viên giao công việc cho học sinh chuẩn bị trước, cả giáo viên và học sinh chủ
động về mặt thời gian trong tiết học. Ngoài ra sử dụng phương pháp này còn
tập cho học sinh có kĩ năng sinh hoạt nhóm, kĩ năng trình bày trước đám đông,
bước đầu tập nghiên cứu khoa học.
- Phương pháp dạy học bằng hoạt động: Đây là phương đòi hỏi giáo viên
phải chú ý khai thác đặc thù của bộ môn hóa học thiết kế các hoạt động đa
dạng, phong phú giúp học sinh chủ động, tự mình củng cố và hệ thống hóa
được các kiến thức đã học.
- Phương pháp trò chơi: Đây là phương pháp giúp học sinh học mà chơi,
chơi mà học, làm cho tiết học sôi nổi, học sinh hứng thú trong học tập và yêu
thích bộ môn.
- Phương pháp Grap dạy học: Đây là phương pháp giúp học sinh hệ thống
hóa kiến thức giống kiểu sơ đồ tư duy, phương pháp thường sử dụng trong các
bài phải hệ thống hóa một lượng kiến thức tương đối nhiều, ví dụ như bài luyện
tập chương.
- Sử dụng bài tập: Đây là phương pháp giúp giáo viên kiểm tra mức độ tiếp
thu bài giảng và vận dụng kiến thức như thế nào tùy thuộc từng đối tượng
học sinh, đồng thời rèn cho học sinh kĩ năng giải bài tập hóa học, khuyến
khích các cách giải sáng tạo ở học sinh.
Khi dạy bài luyện tập giáo viên cần sử dụng phối hợp các phương pháp
trên để bài giảng có kết quả cao.
I.2.5. Qui trình thiết kế bài luyện tập
Khi thiết kế giáo án các bài luyện tập chúng tôi thực hiện theo các bước sau:

- Bước 1: Nghiên cứu mục tiêu của chương.
- Bước 2: Tìm hiểu điều kiện vật chất của nhà trường và trình độ học
sinh.
- Bước 3: Thiết kế hệ thống các câu hỏi (chú ý kiến thức trọng tâm và
12/30


phù hợp với trình độ của học sinh). Câu hỏi có thể xây dựng dưới hình thức
trắc nghiệm khách quan hoặc tự luận. Câu hỏi có thể do giáo viên thiết kế
hoặc giáo viên gợi ý cho học sinh thiết kế.
- Bước 4: Thiết kế luật chơi (nếu sử dụng phương pháp trò chơi); thiết
kế các thí nghiệm ở dạng lượng nhỏ (nếu sử dụng thí nghiệm). Các thí
nghiệm này giúp học sinh vận dụng các kiến thức đã học để giải thích hiện
tượng quan sát được.
- Bước 5: Tham khảo ý kiến đồng nghiệp để chỉnh sửa.
- Bước 6: Hoàn thiện bài giảng sau thực nghiệm.

II. THIẾT KẾ BÀI LUYỆN TẬP TRONG CHƯƠNG TRÌNH HÓA 11
(BCB) THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH
Bài 19. LUYỆN TẬP:
TÍNH CHẤT CỦA CACBON - SILIC
VÀ HỢP CHẤT CỦA CHÚNG (tiết 1)

I. MỤC TIÊU CẦN ĐẠT
1. Kiến thức
- Nêu được tính chất của cacbon, silic và hợp chất của chúng.
- Hệ thống hóa được tính chất của các chất quan trọng.
- Giải thích được mối quan hệ giữa các chất với nhau.
- Hệ thống được các kiến thức trong chương về cacbon, silic và các hợp
chất của chúng.

- Vận dụng viết được các phương trình phản ứng hóa học chuyển hóa giữa
các chất.
- Làm được một số bài tập trắc nghiệm tổng hợp của chương.
2. Kĩ năng
- Viết phương trình phản ứng chuyển hóa giữa các chất với nhau.
- Quan sát thí nghiệm, nhận biết các chất.
- Vận dụng kiến thức để giải thích một số vấn đề trong thực tế đời sống.
3. Thái độ
13/30


- Tinh thần đoàn kết, hoạt động tập thể.
- Tích cực, hăng hái trong học tập.
- Yêu thích bộ môn hóa học.
- Có tình cảm gần gũi với thiên nhiên, từ đó có ý thức bảo vệ môi trường.
4. Định hướng phát triển năng lực
- Tự học.
- Năng lực hợp tác.
- Tư duy hóa học.
- Năng lực sáng tạo.
- Sử dụng ngôn ngữ hóa học.
- Làm việc nhóm, sử dụng công nghệ thông tin, nghiên cứu, nêu và giải
quyết vấn đề.
II. CHUẨN BỊ
1. Giáo viên
Giáo án; bài giảng điện tử; video thực nghiệm; trò chơi khởi động; tranh
ảnh sưu tầm; đồ dùng phục vụ tiết dạy.
2. Học sinh
Ôn tập các kiến thức về cacbon, silic và hợp chất của chúng.
III. KĨ THUẬT DẠY HỌC, PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

1. KTDH: Kĩ thuật chia nhóm, kĩ thuật giao nhiệm vụ, kĩ thuật động não.
2. PPDH: Phương pháp sơ đồ tư duy, trực quan tìm tòi, dạy học nhóm,
vấn đáp – tìm tòi.
IV. TIẾN TRÌNH DẠY HỌC
1. Ổn định tổ chức (1 phút)
- Kiểm tra sĩ số:

Vắng:

2. Hoạt động dạy học
GV: Hôm nay chúng ta sẽ hệ thống hóa và khắc sâu kiến thức của cacbon,
silic và hợp chất của chúng qua bài:
Bài 19. Luyện tập
14/30


Tính chất của cacbon, silic và hợp chất của chúng (Tiết 1)
Trước khi vào bài học ngày hôm nay, chúng ta sẽ tham gia hoạt động
khởi động: Trò chơi “Đuổi hình bắt chữ”.
A. HOẠT ĐỘNG KHỞI ĐỘNG ( 5 phút)
Mục đích:
- Tạo tâm thế học tập cho học sinh, giúp học sinh có hứng thú khi vào bài.
- Nêu được một số chất đã học trong chương 3.
Phương pháp:
Tổ chức trò chơi “Đuổi hình bắt chữ”.
Định hướng phát triển năng lực:
- Tư duy hóa học.
- Năng lực sáng tạo.
- Sử dụng ngôn ngữ hóa học.
Hoạt động của

Giáo viên (GV)

Hoạt động
của học
sinh (HS)

Nội dung cần đạt

GV tổ chức cho
học sinh chơi trò
chơi:
“Đuổi hình bắt
chữ”.
GV phổ biến luật
HS nghe GV
chơi:
phổ biến luật
Trò chơi này các chơi.
em đã được biết
trên truyền hình.
- Trên màn hình có
các hình ảnh.
+ Mỗi hình ảnh
tương ứng với một
từ khóa là một
công thức phân tử
hoặc tên gọi của
15/30



chất trong những
bài đã học của
chương này.
- Nhiệm vụ: Tìm
ra từ khóa trong
mỗi hình ảnh đưa
ra. Các em giơ tay
giành quyền trả lời
và được trả lời liên
tục trong thời gian
là 10 giây.
- Nội dung hình
ảnh:

HS tham gia
trò
chơi:
Quan
sát
hình
ảnh,
suy nghĩ, trả
lời độc lập.

Hình ảnh 1

+ Hình ảnh 1:
Than chì (Than chì
là một dạng thù
hình của C).


Đáp án: Than chì

+ Hình ảnh 2:
CO.

Hình ảnh 2

10
0
1
2
3
4
5
6
7
8
9

c
Đáp án: CO

16/30

10
0
1
2
3

4
5
6
7
8
9


Hình ảnh 3
+ Hình ảnh 3:
Cacbon đioxit.

C

MxOy

10
0
1
2
3
4
5
6
7
8
9

Đáp án: Cacbon đioxit
Hình ảnh 4

+ Hình ảnh 4:
Thạch anh (Thạch
anh có thành phần
chính là SiO2).
Đáp án: Thạch anh

10
0
1
2
3
4
5
6
7
8
9

GV lần lượt gọi
học sinh trả lời.

GV: Ghi các chất
C, CO, CO2, SiO2
lần lượt lên bảng
với mỗi từ khóa
trong phần chơi.

GV nhận xét và
dẫn dắt vào bài
mới.

17/30


GV: Qua phần
khởi động, các em
đã vừa nhắc lại 4
chất đã học trong
chương 3.
Vậy ngoài các chất
trên, trong chương
3 chúng ta còn
nghiên cứu các
chất nào nữa?

GV: Trong các
chất đó chúng ta
chủ yếu tập trung
nghiên cứu 6 chất
quan trọng này.

Nghe
GV
nhận xét và
dẫn dắt vào
bài mới.

Ghi thêm 2 chất HS trả lời:
nữa: Si, muối Si, H2CO3,
H2SiO3,
cacbonat.

muối
cacbonat,
muối silicat.
GV: Hoàn thiện sơ
đồ tư duy đơn
giản.

B. HOẠT ĐỘNG LUYỆN TẬP ( 33 phút)
Mục tiêu:
- Hệ thống hóa kiến thức của cacbon, silic và hợp chất quan trọng.
- Viết được các phương trình hóa học chuyển hóa giữa các chất.
Phương pháp: Phương pháp trực quan tìm tòi, vấn đáp – tìm tòi, hoạt
động nhóm, tổ chức trò chơi.
Định hướng phát triển năng lực:
Tự học, tư duy hóa học, sáng tạo, sử dụng ngôn ngữ hóa học, năng lực hợp
18/30


tác, làm việc nhóm, nghiên cứu, nêu và giải quyết vấn đề.
Nội dung 1: Củng cố kiến thức
cần nắm vững. (15 phút)

I. Kiến thức cần nắm vững

GV: Để làm rõ hơn tính chất của
các chất này, chúng ta chuyển sang
hoạt động số 2 với tên gọi: “Ai
nhanh hơn” (Cá nhân).
GV: - Cô có các câu hỏi liên quan
đến tính chất của các chất trên

- Sau khi cô đọc xong câu hỏi, bạn
nào giơ tay nhanh hơn sẽ được trả
lời.

GV: Chiếu từng câu hỏi lên màn
hình. Ứng với mỗi câu trả lời của
HS: Trả
HS, gv hoàn thiện sơ đồ tư duy.
lời từng
câu hỏi.
Câu 1: Nêu các số oxi hóa có thể
có của C và Si?
ĐA: -4, 0, +2, +4.

GV: Từ số oxihóa của C và Si cho
biết tính chất hóa học cơ bản của
chúng?
Câu 2: Cho phản ứng sau:

HS:
3CO + Fe2O3 → 2Fe + 3CO2 Hoàn
thiện dần
Phản ứng trên chứng minh tính sơ đồ tư
duy
chất gì của CO?
trong
ĐA: Tính khử.
phiếu
học tập
số 1.

to

19/30


Câu 3: Nêu hiện tượng xảy ra khi
sục khí CO2 vào dung dịch nước
vôi trong dư?
ĐA: Vẩn đục (kết tủa).

Câu 4: Tại sao không dùng CO2
để dập tắt các đám cháy magiê?
ĐA: Vì Mg cháy trong CO2.
o

t
2Mg + CO2 →
2MgO + C

GV: Em hãy cho biết vai trò của
CO2 trong phản ứng trên?
Câu 5: Phản ứng nào của SiO2
được ứng dụng để khắc chữ lên
thủy tinh?
ĐA: SiO2 + 4HF → SiF4 + 2H2O

Câu 6: Các em xem đoạn video
sau: (video: Thí nghiệm của HS
làm thực tế)
Dung dịch X tác dụng với các chất

và thu được hiện tượng theo bảng
sau:

Vậy, X là:
A. Na2CO3
C. NaCl

B. NaHCO3
D. NaOH
20/30


ĐA: B
GV: Với mỗi câu hỏi, GV chốt
kiến thức trên sơ đồ tư duy.

GV: Như vậy sau phần “Ai nhanh
hơn”, cô và các em đã hoàn thành
sơ đồ tư duy về các chất C, Si và
hợp chất quan trọng của chúng. Từ
đó, ta đã so sánh được điểm giống
và khác nhau giữa chúng. Ngoài ra
còn một số các chất khác các em
về nhà tiếp tục xây dựng thêm.
GV: Để khắc sâu hơn nữa về các
tính chất hóa học chúng, đặc biệt
sự chuyển hóa giữa các chất với
nhau, chúng ta chuyển sang phần
tiếp theo. (II. Bài tập)


Nội dung 2: Vận dụng viết
phương trình phản ứng. (18
phút)
GV: Tổ chức Hoạt động nhóm:
GV: Giao nhiệm vụ:
II. Bài tập

- Lớp chia thành 4 nhóm: Nhóm 1,
Nhóm 2, Nhóm 3, nhóm 4. Mỗi
nhóm sẽ cử 1 đội trưởng.
- Cả 4 nhóm hoạt động chung 1
nội dung: Viết các phương trình
hóa học chuyển hóa giữa các chất
(Phiếu học tập số 2) trong thời
gian 3 phút.
Yêu cầu: Trong mỗi phương trình:
chất tham gia phản ứng và chất
sản phẩm đều có mặt trong dãy
chất này.
21/30


- Mỗi phương trình được viết ra
mảnh dán.

Cho các chất sau:

HS:
C, CO, CO2, NaHCO3,
- Các em viết được càng nhiều Nghe lời Na2CO3, Si, SiO2, Na2SiO3.

phương trình càng tốt, vì đây sẽ là dẫn của
Viết các phương trình hóa
tư liệu cho hoạt động tiếp theo.
GV
học chuyển hóa giữa các
GV: Chiếu nội dung của hoạt động
chất trên.
này.
Cho các chất sau: C, CO, CO 2,
NaHCO3, Na2CO3, Si, SiO2,
Na2SiO3. Viết tất cả các phương
trình hóa học chuyển hóa giữa
các chất trên.

GV: Sau 3 phút, các em bắt đầu
trò chơi tiếp sức.
GV: Phổ biến luật chơi: 1 phút.
Các nhóm cử từng bạn lên viết
phương trình phản ứng lần lượt từ:
Nhóm 1 Nhóm 2  Nhóm 3
Nhóm 4
Trong thời gian tối đa 2 phút.

HS:
Hoạt
động
nhóm4
nhóm
cùng viết
các

phương
trình
chuyển
hóa
(3
phút).

Sao cho:
HS: chơi
- Phản ứng sau không trùng với
tiếp sức.
phản ứng trước.
- Mỗi nhóm chọn 2 bạn tiếp sức
dán phương trình hóa học lên
bảng.

Bài giải
o

1) C + O2

t
→

CO2

o

2) CO + CuO
CO2


- Nhóm nào có được nhiều phương
trình đúng nhất sẽ chiến thắng.

t
→

Cu +

o

t
→

GV: Trò chơi bắt đầu.

3) C + CO2

2CO

GV: Trò chơi kết thúc, GV gọi HS
chữa bài, chuẩn kiến thức.

4) CO2 + NaOH → NaHCO3
5) CO2 + 2NaOH → Na2CO3
22/30


GV: Lưu ý phản ứng chứng minh
tính axit yếu của H2SiO3 (yếu hơn

H2CO3).

+ H2 O
o

t
→

6) CO2 + 2Mg
2MgO

C+

o

t
→

7) 2NaHCO3
Na2CO3 + CO2 + H2O
8) NaHCO3 + NaOH →
Na2CO3 + H2O
9) NaHCO3 + HCl → NaCl
+ CO2 + H2O
11) Na2CO3 + 2HCl →
2NaCl + CO2 + H2O
12) SiO2 + 2NaOH n/c →
Na2SiO3 + H2O
13) CO2 + H2O + Na2SiO3 →
Na2CO3 + H2SiO3

o

14) Si + O2

t
→

SiO2

15) Si + 2NaOH + H2O →
Na2SiO3 + 2H2
C. CỦNG CỐ, DẶN DÒ (6 phút)
Mục đích: Củng cố lại tính chất của cacbon, silic và hợp chất của chúng.
Phương pháp: Dùng câu hỏi trắc nghiệm và phần mềm IRS.
1. Củng cố ( 5 phút)
- GV Chiếu câu hỏi trắc nghiệm
CÂU HỎI CỦNG CỐ:
Câu 1. X là hợp chất ở dạng keo, không tan trong nước, khi mất một phần
nước có khả năng hút ẩm. X là:
23/30


A. Na2SiO3

B. Al(OH)3

C. H2SiO3

D. SiO


Câu 2. Dung dịch đậm đặc của Na2SiO3 và K2SiO3 được gọi là:
A. Thủy tinh lỏng

B. Silicagen

C. Thạch anh

D. Cao lanh

Câu 3. Cacbon không phản ứng với chất nào sau đây?
A. NaOH

B. Al

C. O2

D. HNO3

Câu 4. CO2 và SiO2 cùng phản ứng với chất nào sau đây?
A. Dung dịch NaOH loãng

C. Tác dụng với axit HF

B. Dung dịch NaOH đặc nóng.

D. Tác dụng với Na2CO3

Câu 5. Cặp chất nào sau đây không xảy ra phản ứng hóa học?
A. CO2 và NaOH


B. CO2 và C

C. SiO2 và HCl

D. Si và NaOH

Câu 6. Cặp chất nào sau đây không tồn tại trong cùng một dung dịch?
A. Na2SiO3 và H2CO3

C. NaHCO3 và NaCl

B. Na2CO3 và KCl

D. KHCO3 và CaCl2

- HS: Trả lời bằng IRS.
2. Dặn dò ( 1 phút)
Các em về nhà ôn tập các kiến thức bài hôm nay, để tiết luyện tập tiếp
theo, chúng ta củng cố thêm các dạng bài tập khác nữa.

24/30


PHIẾU HỌC TẬP
BÀI 19: LUYỆN TẬP
TÍNH CHẤT CỦA CACBON, SILIC VÀ CÁC HỢP CHẤT CỦA CHÚNG

PHIẾU HỌC TẬP SỐ 1: Kiến thức cần nắm vững
“Ai nhanh hơn” (Hoạt động cá nhân)
Các em trả lời các câu hỏi ôn tập kiến thức để hoàn thành sơ đồ tuy

duy. (Ai giơ tay nhanh hơn sẽ được quyền trả lời)

25/30


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×