Tải bản đầy đủ (.pdf) (84 trang)

PHÁP LUẬT CHỐNG CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG LĨNH vực sở hữu CÔNG NGHIỆP ở VIỆT NAM – lý LUẬN và THỰC TIỄN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (494.89 KB, 84 trang )

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN VŨ QUỲNH LÂM

PHÁP LUẬT CHỐNG CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH TRONG
LĨNH VỰC SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM – LÝ LUẬN VÀ
THỰC TIỄN

Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 50

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS. Bùi Ngọc Cường

HÀ NỘI - 2006


LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan luận văn này là tác phẩm khoa học của cá nhân tôi,
không sao chép. Những số liệu trong luận văn là chính xác và có nguồn trích
dẫn cụ thể.

Tác giả

Nguyễn Vũ Quỳnh Lâm




MC LC
Trang
LI NểI U

1

Chương 1.

Những vấn đề lý luận về cạnh tranh không lành mạnh và
pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực
sở hữu công nghiệp

7

1.1.

Khái quát về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở
hữu công nghiệp

7

1.1.1. Khái niệm và các hành vi cạnh tranh không lành mạnh

7

1.1.2. Mối quan hệ giữa cạnh tranh không lành mạnh và sở hữu
công nghiệp


11

1.1.3. Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở
hữu công nghiệp

12

Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực
sở hữu công nghiệp

21

1.2.1. Khái niệm, đặc điểm của pháp luật chống cạnh tranh không
lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp

21

1.2.2. Nội dung cơ bản của pháp luật chống cạnh tranh không lành
mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp

23

Lược sử hình thành và phát triển của pháp luật chống cạnh
tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp

26

1.3.1. Sự hình thành và phát triển của pháp luật chống cạnh tranh
không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp trên thế
giới


26

1.3.2. Sự hình thành và phát triển của pháp luật chống cạnh tranh
không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp tại Việt
Nam

29

1.2.

1.3.

Chương 2.

Pháp luật hiện hành về chống cạnh tranh không lành mạnh
trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp ở Việt Nam

33

2.1.

Những nội dung cơ bản của pháp luật hiện hành về chống
cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công
nghiệp ở Việt Nam

33

2.1.1. Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở
hữu công nghiệp


33

2.1.2. Các biện pháp bảo hộ chống cạnh tranh không lành mạnh
trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp

44

Những ưu điểm, hạn chế của pháp luật Việt Nam hiện hành
về chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu
công nghiệp

56

2.2.


2.2.1.

Một số ưu điểm của pháp luật chống cạnh tranh không lành
mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp

56

2.2.2. Một số hạn chế của pháp luật chống cạnh tranh không lành
mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp

60

Chương 3.


Thực trạng cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở
hữu công nghiệp ở Việt Nam và một số giải pháp nhằm hoàn
thiện, thực thi có hiệu quả pháp luật chống cạnh tranh không
lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp

65

Thực trạng cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở
hữu công nghiệp ở Việt Nam

65

3.1.1. Khái quát tình hình cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh
vực sở hữu công nghiệp ở Việt Nam hiện nay

65

3.1.2. Hậu quả của tình trạng cạnh tranh không lành mạnh về sở
hữu công nghiệp hiện nay

68

3.1.3. Một số nguyên nhân của tình trạng cạnh tranh không lành
mạnh về sở hữu công nghiệp hiện nay

68

3.2.


Một số giải pháp nhằm thực thi có hiệu quả pháp luật chống
cạnh tranh không lành mạnh về sở hữu công nghiệp ở Việt
Nam

69

3.3.

Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật chống cạnh
tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp

72

3.1.

KT LUN

75

TI LIU THAM KHO

77


1

LI NểI U
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài:
Trong thời kỳ kinh tế kế hoạch hoá tập trung, cạnh tranh trong kinh
doanh thương mại gần như không tồn tại. Trong thời kỳ này, chỉ tồn tại một

chủ đầu tư duy nhất, đó là Nhà nước và về bản chất, không tồn tại bất cứ một
chủ thể kinh doanh thực sự nào. Tất cả các chủ thể tham gia sản xuất, lưu
thông hàng hoá đều được đầu tư từ một nguồn duy nhất, hoạt động theo chỉ
tiêu pháp lệnh và hướng tới mục tiêu chung của Nhà nước.
Bước sang thời kỳ đổi mới, với việc nhà nước thừa nhận, bảo hộ và
khuyến khích sự phát triển của các thành phần kinh tế, các hành vi cạnh tranh
đã xuất hiện và phát triển, trong đó có các hành vi cạnh tranh không lành
mạnh. Bên cạnh đó, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế mạnh mẽ đã góp phần
đáng kể trong việc tăng cường sức ép cạnh tranh, gia tăng các hành vi cạnh
tranh. Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong hoạt động thương mại
rất đa dạng và phức tạp, như: Gây nhầm lẫn; Lợi dụng thành quả đầu tư của
người khác; Quảng cáo so sánh; Dèm pha, bôi nhọ đối thủ cạnh tranh.
Trước khi ban hành Luật Cạnh tranh năm 2004, Việt Nam cũng đã có
một số quy định pháp luật điều chỉnh vấn đề cạnh tranh nằm rải rác trong
một số văn bản khác nhau như: Bộ luật Dân sự năm 1995, Luật Thương mại
năm 1997; Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ngày 27/4/1999...Tuy
nhiên, những quy định pháp luật trên đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập.
Các quy định này chưa tạo thành một hệ thống quy phạm pháp luật cạnh
tranh thống nhất, còn sơ sài, tản mát. Trước thực trạng này, tại Kỳ họp
thứ 6, Quốc hội khoá XI, Quốc hội đã thông qua Luật Cạnh tranh năm
2004 điều chỉnh thống nhất các vấn đề về cạnh tranh.
Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu
công nghiệp chiếm một tỷ lệ đáng kể trong số các hành vi cạnh tranh
không lành mạnh và bao gồm những dạng hành vi chủ yếu như: gây


2

nhầm lẫn, chiếm đoạt, vi phạm bí mật kinh doanh...Các văn bản pháp
luật có quy định về chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở

hữu công nghiệp bao gồm Nghị định số 63/CP ngày 24/10/1996 quy định
chi tiết về sở hữu công nghiệp; Nghị định số 12/1999/NĐ-CP ngày 06/3/1999
về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp; Nghị định
số 54/2000/NĐ-CP ngày 03/10/2000 về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối
với bí mật kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại và bảo hộ quyền chống
cạnh tranh không lành mạnh liên quan tới sở hữu công nghiệp và đặc biệt là
Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005.
Với việc ban hành Luật Cạnh tranh năm 2004, Luật Sở hữu trí tuệ năm
2005, khuôn khổ pháp lý về cạnh tranh, sở hữu trí tuệ nói chung và cạnh tranh
không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ nói riêng đã được hoàn thiện
đáng kể, được nâng lên một tầm vóc mới. Một trong những vấn đề quan trọng
được đặt ra sau khi ban hành hai Luật này là các quy định về cạnh tranh không
lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp được điều chỉnh tại từng Luật
như thế nào, mối quan hệ giữa luật khung về cạnh tranh và luật chuyên ngành
về sở hữu trí tuệ được giải quyết ra sao, cơ chế thực hiện pháp luật chống cạnh
tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp được đảm bảo đến
đâu...Vì vậy, việc triển khai nghiên cứu đề tài Pháp luật chống cạnh tranh

không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp ở việt nam lý luận và
thực tiễn là cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn.
2- Tình hình nghiên cứu đề tài:
Ghi nhận vai trò quan trọng của pháp luật về cạnh tranh và sở hữu trí
tuệ, đã có nhiều nghiên cứu được triển khai nhằm xem xét những khía cạnh,
nội dung khác nhau của các chế định pháp luật này.
Trong lĩnh vực cạnh tranh, có thể liệt kê một số công trình nghiên cứu
như sau: Cạnh tranh, chống cạnh tranh bất hợp pháp và kiểm soát độc quyền
của Đặng Vũ Huân năm 1996; Kỷ yếu Dự án VIE/94/003, Tập IV phần 1 -


3


Pháp luật về cạnh tranh của Bộ Tư pháp năm 1998 ; Tổng quan về cạnh tranh
công nghiệp ở Việt Nam của Viện Nghiên cứu chiến lược và phát triển năm
1999; Cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng chính sách cạnh tranh ở

Việt Nam của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương năm 2000; Luật về
cạnh tranh và chống độc quyền của một số nước và vùng lãnh thổ trên thế giới
của Bộ Thương mại năm 2001; Tiến tới xây dựng pháp luật về cạnh tranh

trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường ở Việt Nam của TS.
Nguyễn Như Phát, ThS. Bùi Nguyên Khánh năm 2001; Các vấn đề pháp lý và

thể chế về chính sách cạnh tranh và kiểm soát độc quyền kinh doanh của Dự
án hoàn thiện môi trường kinh doanh VIE/97/016 năm 2002; Luận án Tiến sỹ

Pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh ở
Việt Nam của TS. Đặng Vũ Huân năm 2002; Khuôn khổ pháp lý đa phương
điều chỉnh hoạt động cạnh tranh và Luật cạnh tranh của một số nước và vùng
lãnh thổ của Bộ Thương mại năm 2003; Cơ quan quản lý cạnh tranh Kinh
nghiệm của Pháp và một số nước Đề xuất một mô hình cho Việt Nam của
Viện Khoa học Pháp lý năm 2004. Ngoài ra, còn có nhiều bài viết nghiên cứu
về các nội dung khác nhau của cạnh tranh, pháp luật về cạnh tranh của các
chuyên gia pháp lý, kinh tế như TS. Lê Đăng Doanh, PGS. TS. Nguyễn Như
Phát, TS. Nguyễn Minh Mẫn, PGS.TS. Phạm Duy Nghĩa...
Trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, đã có một số nghiên cứu được thực hiện
trong thời gian vừa qua như Quy định pháp luật và hệ thống thực thi quyền sở

hữu công nghiệp tại Việt Nam của Trần Việt Hùng năm 2000; Các chế tài
pháp luật bảo đảm việc thực thi quyền sở hữu công nghiệp ở Việt Nam của TS.
Đinh Ngọc Hiện năm 2000; Các quy định về sở hữu công nghiệp trong Bộ luật


dân sự - Tình hình thực thi và khuyến nghị nhằm hoàn thiện của TS. Phạm
Đình Chướng năm 2001; Một số vấn đề về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp

đối với nhãn hiệu hàng hoá tại Việt Nam theo quy định của pháp luật dân sự
Luận văn Thạc sỹ của Vũ Thị Hải Yến năm 2001; Đề án Đổi mới tổ chức,


4

cơ chế và phương thức bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong quá trình hội nhập
kinh tế quốc tế do Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường chủ trì, phối hợp
với Bộ Văn hoá - Thông tin, Bộ Thương mại và Ban Tổ chức - Cán bộ Chính
phủ thực hiện năm 2002; Pháp luật về sở hữu công nghiệp của TS. Phạm Đình
Chướng năm 2002; Đổi mới tổ chức, cơ chế và phương thức bảo hộ quyền sở

hữu trí tuệ trong quá trình hội nhập kinh tế-quốc tế, một số quan điểm,
nguyên tắc và nội dung gợi ý ban đầu của Bộ Khoa học Công nghệ và Môi
trường năm 2002; Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam - Những vấn đề lý

luận và thực tiễn của Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp năm 2004 và các bài
viết nghiên cứu của các chuyên gia pháp lý, quản lý trên các tạp chí khoa học
như tạp chí Nhà nước và pháp luật, tạp chí Dân chủ và Pháp luật; tạp chí
Nghiên cứu lập pháp...
Các nghiên cứu nói trên tiếp cận, xem xét các nội dung của cạnh tranh
và sở hữu trí tuệ dưới góc độ kinh tế học và khoa học pháp lý. Có nhiều công
trình đã nghiên cứu một cách toàn diện pháp luật về cạnh tranh và sở hữu trí
tuệ cũng như nghiên cứu những khía cạnh, nội dung cụ thể của của các chế
định này. Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu khoa học độc lập nào xem
xét một cách tổng thể, toàn diện và chuyên sâu về pháp luật chống cạnh tranh

không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp.
3- Phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận và thực tiễn về
pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công
nghiệp.
Đề tài không nghiên cứu toàn bộ các vấn đề pháp lý về cạnh tranh hoặc
sở hữu trí tuệ mà tập trung nghiên cứu vào một trong những nội dung giao
thoa của hai lĩnh vực pháp luật này. Đó là pháp luật chống cạnh tranh không
lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp.
4- Mục đích, nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài:


5

Việc nghiên cứu đề tài nhằm làm sáng rõ các quy định pháp luật hiện
hành về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp dưới
góc độ lý luận và thực tiễn.
Với mục đích nghiên cứu như trên, việc nghiên cứu đề tài có các nhiệm
vụ cụ thể như sau:
- Phân tích làm rõ những vấn đề lý luận về cạnh tranh không lành mạnh
và cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp;
- Phân tích làm rõ những nội dung cơ bản của pháp luật chống cạnh
tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp;
- Tập hợp, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật hiện hành chống
cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp;
- Đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện và thực thi có hiệu quả pháp
luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp.
5- Phương pháp nghiên cứu của đề tài:
- Việc nghiên cứu Đề tài được tiến hành trên cơ sở phương pháp luận
Mác - Lê Nin về chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử; tư

tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật và quan điểm của Đảng, Nhà
nước ta về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì
nhân dân.
- Về mặt kỹ thuật, việc nghiên cứu Đề tài vận dụng các phương pháp
tổng hợp, phân tích, so sánh để có thể xem xét pháp luật chống cạnh tranh
không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp một cách tổng hợp, toàn
diện và sâu sắc.
6- Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn:
Luận văn mang lại một số kết quả nghiên cứu mới như sau:
- Kết quả tổng hợp, phân tích về các quy định pháp luật chống cạnh
tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp;


6

- Một số đánh giá về thực trạng pháp luật chống cạnh tranh không lành
mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp;
- Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật chống cạnh
tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp của Việt Nam hiện
hành;
- Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế, tăng cường hiệu quả thực
thi pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công
nghiệp.
7- Cơ cấu của luận văn:
Ngoài phần Lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, cơ
cấu của Luận văn cụ thể như sau:
Chương 1. Những vấn đề lý luận về cạnh tranh không lành mạnh và
pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công
nghiệp

Chương 2. Pháp luật hiện hành về chống cạnh tranh không lành mạnh
trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp ở Việt Nam
Chương 3. Thực trạng cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở
hữu công nghiệp ở Việt Nam và một số giải pháp nhằm hoàn thiện, thực thi có
hiệu quả pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu
công nghiệp


7

CHNG I
NHNG VN Lí LUN V CNH TRANH KHễNG
LNH MNH V PHP LUT CHNG CNH TRANH KHễNG
LNH MNH TRONG LNH VC S HU CễNG NGHIP
1.1. Khái quát về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu
công nghiệp

1.1.1 Khái niệm và các hành vi cạnh tranh không lành mạnh
1.1.1.1 Khái niệm cạnh tranh không lành mạnh
Cạnh tranh không lành mạnh là một khái niệm mang tính xã hội, lịch
sử. Việc định nghĩa cạnh tranh không lành mạnh phụ thuộc vào tập quán
thương mại, môi trường kinh doanh và rộng hơn nữa là các yếu tố kinh tế,
chính trị, xã hội của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn phát triển nhất định. Vì
vậy, khái niệm về hành vi cạnh tranh không lành mạnh là không giống nhau
tại các quốc gia. Tuy nhiên, cộng đồng quốc tế cũng đã tương đối thống nhất
về cách thức tiếp cận trong việc quy định về hành vi cạnh tranh không lành
mạnh. Hiện nay, cách thức tiếp cận được thừa nhận rộng rãi là đưa ra một khái
niệm chung về cạnh tranh không lành mạnh và tiếp theo là liệt kê các hành vi
không cạnh tranh không lành mạnh cụ thể.
Theo Điều 10bis(2) Công ước Paris, hành vi cạnh tranh không lành

mạnh được hiểu là bất cứ hành vi cạnh tranh nào trái với thực tiễn trung thực
trong công nghiệp và thương mại.
Các quốc gia cũng đưa ra các khái niệm tương tự, với sự khác biệt
không lớn về mặt thuật ngữ. Theo đó, hành vi cạnh tranh không lành mạnh là
hành vi trái với thực tiễn thương mại trung thực (Bỉ, Lúc-xăm-bua), nguyên
tắc ngay tình (Tây Ban Nha, Thuỵ Sỹ), sự đúng đắn của nghề nghiệp
(Italia), đạo đức tốt (Đức) hoặc đối với quốc gia không có quy định pháp
luật cụ thể thì toà án có thể viện dẫn căn cứ là các nguyên tắc trung thực và
công bằng trong cam kết, đạo đức của thị trường (Mỹ) [44, tr122].


8

Khoản 4 Điều 3 Luật Cạnh tranh năm 2004 của Việt Nam quy định:
Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp
trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức
kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước,
quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng.
Như vậy, trên cơ sở các khái niệm đã nêu trên, có thể thấy hành vi cạnh
tranh không lành mạnh có một số đặc điểm cơ bản sau đây:
- Phạm vi của hành vi cạnh tranh không lành mạnh được giới hạn trong
khuôn khổ hoạt động kinh doanh, thương mại.
- Chủ thể thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh là chủ thể kinh
doanh tham gia các quan hệ cạnh tranh.
- Khách thể bị hành vi cạnh tranh không lành mạnh xâm phạm là thực
tiễn trung thực trong hoạt động thương mại, công nghiệp, các giá trị, chuẩn
mực đạo đức phổ biến, được thừa nhận rộng rãi, các nguyên tắc đúng đắn
trong hoạt động kinh doanh, thương mại.
- Đối tượng bị tác động, gây thiệt hại là người cạnh tranh trung thực,
người tiêu dùng, thị trường và toàn bộ nền kinh tế.

Vì vậy, cạnh tranh không lành mạnh có thể được hiểu là hành vi cạnh
tranh của chủ thể kinh doanh trong hoạt động thương mại trái các chuẩn mực
đạo đức được thừa nhận chung trong kinh doanh gây thiệt hại hoặc đe doạ gây
thiệt hại cho chủ thể kinh doanh khác hoặc người tiêu dùng.

1.1.1.2. Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Với những tiêu chí khác nhau, các hành vi cạnh tranh không lành mạnh
có thể được phân loại theo nhiều cách thức khác nhau. Tuy nhiên, sự phân loại
chỉ mang tính tương đối vì một hành vi cạnh tranh không lành mạnh có thể bị
xếp vào hai hay nhiều loại khác nhau do có những tính chất, dấu hiệu, đặc
điểm tương tự, cho nên không tránh khỏi sự trùng lặp [21, tr177].
Nếu xét về lợi ích của các chủ thể bị xâm hại, người ta có thể phân loại


9

thành những hành vi xâm hại lợi ích của đối thủ cạnh tranh và hành vi xâm hại
lợi ích của khách hàng [29, tr27]. Theo cách phân loại này, các hành vi cạnh
tranh không lành mạnh bao gồm:
- Những hành vi xâm hại lợi ích của đối thủ cạnh tranh:
+ Ngăn cản sự tham gia của doanh nghiệp khác vào các quan hệ cạnh
tranh;
+ Dèm pha, bôi nhọ nhằm hạ thấp uy tín của đối thủ cạnh tranh;
+ Bội tín nhằm chiếm đoạt bí mật kinh doanh, thương mại của đối thủ
cạnh tranh;
+ Bóc lột, chiếm đoạt, khai thác trái phép thành quả đầu tư về trí tuệ, tài
chính của doanh nghiệp khác.
* Những hành vi xâm hại lợi ích của khách hàng bao gồm:
- Can thiệp vào quyền tự do quyết định của khách hàng trong việc lựa
chọn hàng hoá, dịch vụ;

- Khuyến mại không chính đáng;
- Quảng cáo sai lệch.
Tuy nhiên, như đã nêu, cách phân loại này cũng mang chỉ mang tính
tương đối. Bởi vì, gần như không có hành vi cạnh tranh không lành mạnh nào
chỉ xâm hại tới lợi ích của đối thủ cạnh tranh hoặc chỉ xâm hại tới lợi ích của
khách hàng. Đa số các hành vi cạnh tranh không lành mạnh đều có sự tác
động và xâm hại tới lợi ích của cả hai chủ thể này, tuy có sự khác nhau về
cách thức, tính chất, mức độ xâm hại.
Nếu xét về hình thức thực hiện hành vi, các hành vi cạnh tranh không
lành mạnh có thể được phân loại thành: hành vi gây nhầm lẫn, hành vi bôi nhọ
uy tín kinh doanh của doanh nghiệp khác, hành vi xâm phạm bí mật kinh
doanh, hành vi quảng cáo sai lệch, khuyến mại bất hợp pháp...Tuy nhiên, cách
thức phân loại này cũng có hạn chế là có thể dẫn tới bỏ sót hoặc quy định
thừa, trùng lắp hành vi cạnh tranh không lành mạnh.


10

Điều 10bis(3) Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp quy định
các hành vi cạnh tranh không lành mạnh bao gồm:
1. Tất cả những hành động có khả năng gây nhầm lẫn dưới bất cứ hình
thức nào đối với cơ sở, hàng hoá, hoặc hoạt động sản xuất, kinh doanh của
người cạnh tranh;
2. Những khẳng định sai lệch trong hoạt động thương mại có khả năng
gây mất uy tín đối với cơ sở, hàng hoá, hoạt động công nghiệp hoặc thương
mại của người cạnh tranh;
3. Những chỉ dẫn hoặc khẳng định mà việc sử dụng chúng trong hoạt
động thương mại có thể gây sai lệch nhận thức của công chúng về bản chất,
quá trình sản xuất, tính chất, tính thích hợp để sử dụng hoặc số lượng của hàng
hoá.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng Điều 10bis quy định về hành vi cạnh tranh
không lành mạnh trong khuôn khổ bảo hộ sở hữu công nghiệp, trên cơ sở coi
chống cạnh tranh không lành mạnh là một đối tượng bảo hộ của sở hữu công
nghiệp 1. Do vậy, các hành vi cạnh tranh không lành mạnh theo quy định tại
Công ước Paris chỉ có giao thoa, giống nhau ở một số điểm nhất định chứ
không hoàn toàn trùng khít với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong
thương mại như hiện nay. Ví dụ hành vi sử dụng các biện pháp mang tính chất
vật lý để cạnh tranh không lành mạnh như một hãng taxi đột nhập, làm gián
đoạn hệ thống thông tin, viễn thông của một hãng taxi khác là một hành vi
cạnh tranh không lành mạnh nói chung nhưng hoàn toàn không phải là một
hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp.
Chương III Luật Cạnh tranh năm 2004 của Việt Nam dành 10 điều (các
điều 39, 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48) quy định về các hành vi cạnh tranh
không lành mạnh. Theo đó, các hành vi cạnh tranh không lành mạnh bao gồm:
1

Điều 1 (2) Công ước Paris quy định: Đối tượng bảo hộ sở hữu công nghiệp bao gồm patent, mẫu hữu ích,
kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu dịch vụ, tên thương mại, chỉ dẫn nguồn gốc hoặc tên
gọi xuất xứ, và chống cạnh tranh không lành mạnh.


11

1. Chỉ dẫn gây nhầm lẫn;
2. Xâm phạm bí mật kinh doanh;
3. ép buộc trong kinh doanh;
4. Gièm pha doanh nghiệp khác;
5. Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác;
6. Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh;
7. Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh;

8. Phân biệt đối xử của hiệp hội;
9. Bán hàng đa cấp bất chính;
10. Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh khác theo tiêu chí xác định
tại khoản 4 Điều 3 của Luật Cạnh tranh do Chính phủ quy định.

1.1.2. Mối quan hệ giữa cạnh tranh không lành mạnh và sở hữu công
nghiệp
Cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực thương mại và cạnh tranh
không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp cũng có mối quan hệ chặt
chẽ, giao thoa, ảnh hưởng lẫn nhau.
- Về lịch sử hình thành, mặc dù đã tồn tại từ lâu trong lịch sử (tại Bộ
luật Dân sự 1804 của Pháp, Bộ luật Dân sự 1865, 1942 của Italia, Luật chống
cạnh tranh không lành mạnh của Đức năm 1909..) nhưng cạnh tranh không
lành mạnh lần đầu tiên được quy định tại một văn bản pháp lý quốc tế đó là
trong khuôn khổ sở hữu công nghiệp (Công ước Paris). Căn cứ khái niệm cạnh
tranh không lành mạnh của Công ước Paris, pháp luật cạnh tranh của các quốc
gia đã đưa ra định nghĩa về hành vi này trong các đạo luật của mình [23,
tr125]. Tuy nhiên, cho đến hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của thương
mại quốc tế, cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực kinh doanh, thương
mại đã trở thành một chế định độc lập, với phạm vi vượt ra ngoài các quy định
về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp.
- Về phạm vi các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, các hành vi cạnh


12

tranh không lành mạnh lĩnh vực sở hữu công nghiệp chiếm một tỷ lệ quan
trọng trong số các hành vi cạnh trạnh không lành mạnh trong lĩnh vực thương
mại (sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn, bôi nhọ, làm mất uy tín của
đối thủ cạnh tranh, quảng cáo sai lệch, quảng cáo so sánh..)

Bên cạnh đó, thực tiễn cũng cho thấy có nhiều hành vi cạnh tranh không
lành mạnh trong lĩnh vực thương mại không liên quan tới sở hữu công nghiệp,
chẳng hạn như hành vi sử dụng các biện pháp hành chính, tài chính, kỹ thuật,
công nghệ, thậm chí là các biện pháp mang tính vũ lực, xã hội đen nhằm gây
ảnh hưởng, tác động trái pháp luật hoặc cản trở, gây rối đối với hoạt động kinh
doanh cạnh tranh lành mạnh của đối thủ cạnh tranh khác.
Trong hoạt động kinh doanh, thương mại, việc phân biệt một hành vi
cạnh tranh không lành mạnh có thuộc lĩnh vực sở hữu công nghiệp hay không
là rất quan trọng, có liên quan trực tiếp tới việc áp dụng các giải pháp bảo hộ
chống cạnh tranh không lành mạnh và các chế tài xử lý vi phạm. Tuy nhiên,
không phải trong mọi trường hợp việc phân định đều được đảm bảo một cách
tuyệt đối trên cơ sở có tiêu chí rõ ràng. Điều này dẫn tới thiếu thống nhất,
hoặc là chồng chéo hoặc là có khoảng trống, trong áp dụng pháp luật khi lựa
chọn giữa pháp luật cạnh tranh và pháp luật về sở hữu công nghiệp. Để giải
quyết vấn đề này ở mức tương đối hợp lý, chúng ta có thể áp dụng nguyên tắc
ưu tiên lựa chọn pháp luật chuyên ngành. Theo đó, hành vi cạnh tranh không
lành mạnh có đối tượng tác động là đối tượng bảo hộ sở hữu công nghiệp
(nhãn hiệu hàng hoá, dịch vụ, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp), hoặc có
liên quan tới sở hữu công nghiệp, thì được coi là hành vi cạnh tranh không
lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp và trong trường hợp này pháp
luật về sở hữu công nghiệp được ưu tiên áp dụng trước.

1.1.3. Các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu
công nghiệp
Trên cơ sở khái niệm về cạnh tranh không lành mạnh, chúng ta có thể


13

xây dựng khái niệm về cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu

công nghiệp như sau: cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu công
nghiệp là hành vi cạnh tranh của chủ thể kinh doanh trong hoạt động thương
mại có liên quan tới các đối tượng sở hữu công nghiệp trái với các chuẩn mực
đạo đức được thừa nhận chung trong kinh doanh gây thiệt hại hoặc đe doạ gây
thiệt hại cho chủ thể kinh doanh khác hoặc người tiêu dùng.
Về các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, khoản 3 Điều 10bis Công
ước Paris liệt kê 3 loại hành vi cạnh tranh không lành mạnh kinh điển trong
lĩnh vực sở hữu công nghiệp đó là (i) hành vi gây nhầm lẫn đối với cơ sở, hàng
hoá, hoặc hoạt động sản xuất, kinh doanh của người cạnh tranh; (ii) hành vi
gây mất uy tín đối với cơ sở, hàng hoá, hoạt động công nghiệp hoặc thương
mại của người cạnh tranh; (iii) hành vi làm sai lệch về nhận thức của công
chúng về bản chất, quá trình sản xuất, tính chất, tính thích hợp để sử dụng
hoặc số lượng của hàng hoá. Ngoài ra, do sự phát triển mạnh mẽ, đa dạng của
công nghiệp và thương mại, đã có nhiều hành vi cạnh tranh không lành mạnh
trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp mới nảy sinh trong thực tiễn. Và nhiều
trong số các hành vi mới nảy sinh này đã được các toà án, các cơ quan lập
pháp của các quốc gia thừa nhận và thể hiện tại các bản án, quyết định của toà
án hoặc các văn bản quy phạm pháp luật quốc gia và quốc tế, ví dụ như hành
vi xâm phạm bí mật thương mại, quảng cáo so sánh, chiếm đoạt hoặc sử dụng
trái phép thành quả đầu tư của người khác...

1.1.3.1 Hành vi gây nhầm lẫn (confusion)
Hành vi gây nhầm lẫn là hành vi mà ở đó người thực hiện hành vi sử
dụng nhãn hiệu, dấu hiệu hàng hoá, khẩu hiệu kinh doanh, kiểu dáng, màu sắc
của bao bì, hàng hoá hoặc các chỉ dẫn thương mại khác nhằm mục đích gây
nhầm lẫn cho người tiêu dùng về các vấn đề liên quan tới cơ sở, hàng hoá,
dịch vụ hoặc hoạt động sản xuất, kinh doanh của đối thủ cạnh tranh. Các yếu
tố để xác định mức độ gây nhầm lẫn bao gồm: tính chất đặc biệt của hàng hoá,



14

dịch vụ bị gây nhầm lẫn, quy mô và danh tiếng của chủ sở hữu hàng hoá, dịch
vụ bị gây nhầm lẫn, số lượng người tiêu dùng bị gây nhầm lẫn và mức độ
tương tự giữa hàng hoá, dịch vụ bị gây nhầm lẫn và hàng hoá, dịch vụ mà chủ
sở hữu của nó có sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn. Tuy nhiên, nếu
như việc sử dụng chỉ dẫn thương mại giống nhau hoặc tương tự nhau về những
hàng hoá, dịch vụ hoàn toàn khác biệt và không có bất cứ mối liên hệ gì với
nhau thì thường không bị coi là hành vi gây nhầm lẫn nhằm cạnh tranh không
lành mạnh.
Thực tế cho thấy có rất nhiều loại hành vi gây nhầm lẫn khác nhau. Căn
cứ mục đích gây nhầm lẫn, có thể phân chia các hành vi gây nhầm lẫn thành
các loại như sau:
- Nhầm lẫn về các nội dung liên quan tới bản thân hàng hoá, dịch vụ.
Hành vi này khiến cho người tiêu dùng nhầm lẫn rằng hàng hoá, dịch vụ đó là
một loại hàng hoá, dịch vụ cụ thể nào đó hoặc nhầm lẫn về tính năng, số
lượng, chất lượng, chủng loại của hàng hoá, dịch vụ. Bên cạnh đó, hành vi này
còn có thể gây nhầm lẫn về điều kiện cung cấp hàng hoá, dịch vụ, các điều
kiện hậu mãi...
- Nhầm lẫn về chủ sở hữu của của hàng hóa hoặc dịch vụ. Hành vi này
làm cho người tiêu dùng tưởng rằng hàng hoá, dịch vụ của người có hành vi
gây nhầm lẫn có cùng nguồn gốc, chủ sở hữu với một hàng hóa, dịch vụ cụ thể
khác hoặc hai loại hàng hoá, dịch vụ có chỉ dẫn thương mại giống nhau hoặc
tương tự nhau là do các chủ sở hữu có mối liên kết, quan hệ hợp tác nhất định.
- Nhầm lẫn về cách thức, quy trình sản xuất hàng hoá, cung cấp dịch vụ.
Hành vi này nhằm khiến cho người tiêu dùng nghĩ rằng hàng hoá, dịch vụ
được sản xuất, cung cấp theo cùng một cách thức, quy trình với một hàng hoá,
dịch vụ cùng loại hoặc tương tự của một chủ thể kinh doanh khác mà việc áp
dụng quy trình đó được thực hiện trên cơ sở sự chuyển giao hợp pháp, đầy đủ
giữa các chủ sở hữu.



15

1.1.3.2. Hành vi làm mất uy tín (discrediting)
Căn cứ Điều 10bis(3)2 Công ước Paris, có thể hiểu hành vi làm mất uy
tín là: những khẳng định sai trái trong hoạt động thương mại có khả năng gây
mất uy tín đối với cơ sở, hàng hoá, hoạt động công nghiệp hoặc thương mại
của người cạnh tranh.
Hành vi làm mất uy tín được biểu hiện dưới dạng các khẳng định sai
trái liên quan tới đối thủ cạnh tranh nhằm xâm hại đến uy tín của đối thủ cạnh
tranh đó. Dạng hành vi này có một số điểm tương đồng và khác biệt đối với
hành vi làm sai lệch (misleading sẽ được đề cập ở phần c dưới đây). Theo
đó, chủ thể của hành vi làm mất uy tín và hành vi làm sai lệch đều có thể đưa
ra các thông tin không đúng sự thật. Tuy nhiên, trong khi thông tin của chủ
thể hành vi làm mất uy tín là về đối thủ cạnh tranh, hàng hoá hoặc dịch vụ của
đối thủ cạnh tranh thì thông tin của người thực hiện hành vi làm sai lệch lại về
bản thân hàng hoá, dịch vụ của mình.
Hành vi làm mất uy tín trực tiếp tác động, xâm hại tới lợi ích của một
hoặc một nhóm chủ thể kinh doanh là đối thủ cạnh tranh của chủ thể hành vi.
Ngoài ra, với mục đích cố tình đưa đến các thông tin sai trái, hành vi này cũng
khiến người tiêu dùng phải gánh chịu những hậu quả nhất định.
Hành vi làm mất uy tín có thể được thực hiện theo cách đề cập trực tiếp
đến tên cơ sở, hàng hoá hay tên của chủ thể kinh doanh hoặc đề cập tới những
đặc điểm dễ nhận biết của cơ sở, hàng hoá hay chủ thể kinh doanh. Công ước
Paris và pháp luật của nhiều quốc gia đều quy định trong trường hợp này giữa
hai bên chủ thể phải có mối quan hệ cạnh tranh nhất định. Tuy nhiên, có một
số quốc gia không quy định yêu cầu này. Vì vậy, phạm vi chủ thể của hành vi
làm mất uy tín là tương đối rộng, có thể bao gồm cả hiệp hội tiêu dùng, báo
chí.

Về nội dung thông tin của hành vi, hành vi làm mất uy tín chuyển đến
người tiêu dùng các thông tin về cơ sở, hàng hoá, hoạt động công nghiệp,


16

thương mại của người cạnh tranh. Tuy nhiên, theo pháp luật của một số quốc
gia thì phạm vi nội dung thông tin mà hành vi làm mất uy tín đề cập đến có
thể rộng hơn rất nhiều. Theo đó, việc đưa ra bất kỳ thông điệp nào có thể làm
mất uy tín của một chủ thể kinh doanh thì cũng bị coi là hành vi làm mất uy
tín.
Về các hình thức của hành vi làm mất uy tín, có thể phân chia dạng
hành vi này thành hai hình thức như sau:
- Làm mất uy tín về các vấn đề liên quan tới kinh doanh, thương mại
của chủ thể kinh doanh, như chất lượng, giá cả của hàng hoá, dịch vụ, vấn đề
tài chính, lao động...;
- Làm mất uy tín về các vấn đề liên quan tới đời tư của cá nhân là chủ
sở hữu, người lãnh đạo, điều hành doanh nghiệp, ví dụ về chủng tộc, tôn giáo,
quốc tịch, địa vị chính trị, xã hội và vấn đề riêng tư khác...
Về tính chất của thông tin, Công ước Paris và pháp luật của nhiều quốc
gia yêu cầu thông tin phải sai sự thật (false). Tuy nhiên, trong một số trường
hợp, thông tin được đề cập là đúng vẫn có thể bị coi là hành vi làm mất uy tín,
ví dụ như hành vi lặp đi lặp lại việc đưa thông tin, sử dụng ngôn ngữ mang
tính chì chiết, mỉa mai về những khuyết điểm, hạn chế, lỗi lầm của đối thủ
cạnh tranh.

1.1.3.3. Hành vi làm sai lệch (misleading)
Hành vi làm sai lệch là hành vi đưa ra các thông tin nhằm mục đích làm
sai lệch nhận thức của người tiêu dùng về các vấn đề nhất định liên quan tới
chủ thể thực hiện hành vi. Theo Điều 10bis(3)3 Công ước Paris, có thể hiểu

hành vi làm sai lệch là những chỉ dẫn hoặc khẳng định mà việc sử dụng
chúng trong hoạt động thương mại có thể làm sai lệch nhận thức của công
chúng về bản chất, quá trình sản xuất, tính chất, tính thích hợp để sử dụng
hoặc số lượng của hàng hoá. Về mặt khái niệm, cần phân biệt hành vi làm sai
lệch với hành vi gây nhầm lẫn đề cập ở phần a ở trên. Theo đó, chủ thể kinh


17

doanh thực hiện hành vi gây nhầm lẫn (confusion) nhằm mục đích làm cho
người tiêu dùng nhầm lẫn cơ sở, hàng hoá, dịch vụ, hoạt động sản xuất, kinh
doanh của mình với đối tượng tương ứng của đối thủ cạnh tranh khác. Còn
mục đích của chủ thể thực hiện hành vi làm sai lệch (misleading) là khiến cho
người tiêu dùng hiểu sai về hàng hoá, dịch vụ của bản thân mình, không trong
mối liên hệ với chủ thể khác.
Về nội dung, thông tin làm sai lệch có thể đề cập tới mọi đối tượng, mọi
khía cạnh của thương mại. Công ước Paris chỉ đề cập tới một nhóm đối tượng,
bao gồm: bản chất, quá trình sản xuất, tính chất, tính thích hợp để sử dụng
hoặc số lượng của hàng hoá. Thực tế còn cho thấy có một số đối tượng khác
mà thông tin làm sai lệch có thể hướng tới như dịch vụ, chỉ dẫn địa lý, đặc
điểm nhận dạng của chủ thể kinh doanh..
Về tính chất của thông tin, thực tế có nhiều trường hợp thông tin được
đưa ra là đúng đắn nhưng vẫn có thể bị coi là thông tin làm sai lệch. Ví dụ:
thông thường trong bánh mỳ không được phép có chất hoá học, nhưng nếu
quảng cáo đây là bánh mỳ không có chứa chất hoá học thì sẽ gây ấn tượng
sai lệch đối với người tiêu dùng rằng loại bánh mỳ được quảng cáo là một sản
phẩm đặc biệt và do đó, hành vi này bị coi là hành vi làm sai lệch. Ngoài ra,
thông tin làm sai lệch có thể không nhất thiết ở dạng khẳng định đầy đủ mà
trong một số trường hợp một thông tin có thể bị coi là làm sai lệch khi thiếu
các yếu tố cần thiết phải có. Chẳng hạn như phần chống chỉ định của tân dược

phải có đủ 5 nội dung mà chỉ đề cập tới 4 thì cũng có thể bị coi là hành vi làm
sai lệch. Bên cạnh đó, hàng hoá có liên quan tới hành vi làm sai lệch không
nhất thiết phải có chất lượng thấp hơn so với quảng cáo, khẳng định hoặc chỉ
dẫn. Ví dụ, xuất phát từ tâm lý ưu hàng ngoại của người tiêu dùng, doanh
nghiệp sử dụng chỉ dẫn thương mại thể hiện rằng hàng hoá của mình là hàng
ngoại nhập hoặc có yếu tố nước ngoài mặc dù trên thực tế đó là hàng nội hoàn
toàn, đây rõ ràng là hành vi làm sai lệch, kể cả khi chất lượng hàng nội cao


18

hơn hàng ngoại nhập cùng loại.
Về hình thức thể hiện thông tin, theo Công ước Paris và theo pháp luật
của nhiều quốc gia thì hình thức của hành vi làm sai lệch là các chỉ dẫn hoặc
khẳng định trong thương mại, bao gồm: nhãn hiệu hàng hoá, tờ rơi, xuất bản
phẩm, poster..., được cấu thành bởi lời nói, chữ viết, biểu tượng. Một số quốc
gia khác quy định rộng hơn, theo đó, chỉ cần nội dung chứa trong thông điệp
mà chủ thể kinh doanh chuyển tới người tiêu dùng có tác động làm sai lệch thì
có thể coi là hành vi làm sai lệch, bất kể hình thức của thông điệp đó là gì.

1.1.3.4 Hành vi xâm phạm bí mật thương mại
Mặc dù Công ước Paris không đề cập tới bí mật thương mại nhưng trên
cơ sở Điều 10bis (yêu cầu bảo hộ chống bất kỳ hành vi nào trái với thực tiễn
trung thực trong công nghiệp và thương mại), nhu cầu bảo hộ chống hành vi
tiết lộ trái phép bí mật thương mại đã ngày càng được thừa nhận rộng rãi [44,
tr136]. Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở
hữu trí tuệ (TRIPS) quy định: Để bảo đảm chống cạnh tranh không lành
mạnh một cách hữu hiệu theo quy định tại Điều 10bis Công ước Paris (1967),
các Thành viên phải bảo hộ thông tin bí mật theo quy định tại khoản 2 sau đây
và bảo hộ các dữ liệu được trình nộp cho các Chính phủ hoặc các cơ quan

Chính phủ theo quy định tại khoản 3 sau đây (khoản 1 Điều 39). Các quốc
gia cũng đã có các văn bản pháp luật khác nhau để bảo hộ chống hành vi xâm
phạm bí mật thương mại; một số quốc gia ban hành pháp luật riêng về bí mật
thương mại; một số quốc gia khác quy định bí mật thương mại là một đối
tượng bảo hộ của pháp luật chống cạnh tranh lành mạnh. Ngoài ra, bí mật
thương mại còn được điều chỉnh bởi pháp luật chung về bồi thường thiệt hại
ngoài hợp đồng, pháp luật dân sự, thương mại, hành chính, hình sự.
Bí mật thương mại có thể được hiểu là bất kỳ thông tin bí mật nào mang
lại lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp. Thông tin được coi là bí mật thương
mại khi đáp ứng được bao yêu cầu cơ bản: (i) thông tin phải bí mật (không


19

được biết đến rộng rãi hoặc không thể dễ dàng tiếp cận đối với những người
thường xuyên liên quan đến thông tin đó); (ii) thông tin có giá trị thương mại
vì tính bí mật; (iii) người nắm giữ thông tin bí mật phải có những biện pháp
hợp lý để giữ bí mật thông tin đó.
Bí mật thương mại bao gồm:
- Thông tin về kỹ thuật, công nghệ;
- Thông tin về thương mại.
Pháp luật bảo hộ chống lại các hành vi chiếm đoạt, bộc lộ hoặc sử dụng
bí mật thương mại do các chủ thể sau tiến hành: (i) những người tự động bị
ràng buộc trách nhiệm giữ bí mật, ví dụ người có quan hệ hợp đồng lao động
với chủ sở hữu bí mật thương mại hoặc người đại diện, tư vấn pháp lý cho chủ
sở hữu bí mật thương mại; (ii) những người có thoả thuận, hoặc ký hợp đồng
không tiết lộ bí mật; (iii) những người có được bí mật thương mại một cách
trái phép (đánh cắp, hối lộ, mua chuộc); (iv) những người cố ý thu thập bí mật
thương mại từ những người không có quyền bộc lộ thông tin đó. Tuy nhiên, có
một số hành vi sử dụng thông tin là bí mật thương mại không bị coi là xâm

phạm bí mật thương mại, chẳng hạn như đạt được, bộc lộ bí mật thương mại
một cách độc lập, không sử dụng biện pháp bất hợp pháp, không vi phạm hợp
đồng. Ví dụ: nghiên cứu độc lập, sử dụng phân tích ngược..

1.1.3.5. Hành vi lợi dụng thành quả đầu tư của người khác
Hành vi lợi dụng thành quả đầu tư của người khác là hành vi của người
cạnh tranh nhằm mục đích trực tiếp lợi dụng thành quả đầu tư về công nghiệp
hoặc thương mại của người khác vì lợi ích thương mại của bản thân mình mà
trong quá trình đó đã không có một nỗ lực nào nhằm cải biến một cách hợp lý
thành quả đầu tư này so với nguyên gốc.
Thành quả đầu tư có thể là một chỉ dẫn, một sản phẩm hoặc thậm chí là
một đặc điểm kỹ thuật và phải có nét độc đáo, riêng biệt nhất định. Phạm vi
bảo hộ căn cứ một phần vào mức độ độc đáo, riêng biệt này. Vì vậy, đối với


20

những trường hợp mà sự độc đáo, khác biệt của chỉ dẫn, sản phẩm không rõ
ràng, sự mô phỏng, bắt chước hoặc lợi dụng ở mức thấp thì có thể không bị coi
là hành vi lợi dụng thành quả đầu tư của người khác.
Thành quả đầu tư là cũng có thể là đối tượng bảo hộ của các chế định
pháp luật cụ thể về bảo hộ sở hữu công nghiệp như sáng chế, kiểu dáng công
nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá. Thông thường, trong trường hợp pháp luật về bảo
hộ sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu không bao quát hết thì pháp
luật về chống cạnh tranh không lành mạnh, mà cụ thể ở đây là chống hành vi
lợi dụng thành quả đầu tư của người khác, sẽ được áp dụng để điều chỉnh. Về
cơ bản, một số hành vi sau đã được thừa nhận chung là lợi dụng thành quả đầu
tư của người khác:
- Hành vi sao chép, mô phỏng toàn bộ hoặc phần lớn chỉ dẫn thương
mại: chủ thể thực hiện hành vi đã áp dụng một cách trực tiếp và toàn bộ hoặc

phần lớn thành quả đầu tư của chủ thể kinh doanh khác vào sản phẩm của
mình.
- Hành vi khai thác danh tiếng của người khác: chủ thể thực hiện hành
vi sử dụng thông tin, hình ảnh có liên quan tới chỉ dẫn thương mại của người
khác trong hoạt động quảng cáo, tiếp thị của mình nhằm lợi dụng danh tiếng
của người đó để nâng cao sự thu hút đối với người tiêu dùng.
- Hành vi lợi dụng tính độc đáo hoặc giá trị quảng cáo của nhãn hiệu:
thông thường, nhãn hiệu được bảo hộ bởi pháp luật về nhãn hiệu hàng hoá,
dịch vụ hoặc pháp luật về chống hành vi gây nhầm lẫn. Ngoài ra, đối với nhãn
hiệu độc đáo, nổi tiếng đã được người tiêu dùng biết đến và có nhiều nguy cơ
bị chủ thể kinh doanh khác lợi dụng, pháp luật còn bảo hộ bổ sung với các quy
định về bảo hộ chống hành vi lợi dụng tính độc đáo hoặc giá trị quảng cáo của
nhãn hiệu.

1.1.3.6. Hành vi quảng cáo so sánh
Đây là hành vi mà chủ thể thực hiện hành vi đã so sánh cơ sở, hàng hoá,


21

dịch vụ của mình với cơ sở, hàng hoá, dịch vụ của người cạnh tranh trong khi
tiến hành quảng cáo về sản phẩm của mình. Hành vi quảng cáo so sánh
thường có 2 dạng: thứ nhất, đưa ra thông tin theo dạng khẳng định, cho rằng
sản phẩm của mình có chất lượng ngang bằng với sản phẩm đã có uy tín trên
thị trường; thứ hai, đưa ra thông tin dưới dạng phủ định, cho rằng sản phẩm
của mình có chất lượng tốt hơn, vượt trội hoặc thậm chí là tốt nhất. Thông tin
được đưa ra để so sánh là rất đa dạng, có thể trực tiếp nêu tên, so sánh chất
lượng hàng hoá, dịch vụ hoặc cũng có thể chỉ nêu những chỉ dẫn nhất định về
hàng hoá, dịch vụ hoặc các đặc điểm cơ bản của hàng hoá, dịch vụ hoặc thậm
chí là ám chỉ về sản phẩm đó. Quảng cáo so sánh có thể nhằm mục đích làm

sai lệch nhận thức của người tiêu dùng về hàng hoá, dịch vụ hoặc cũng có thể
làm mất uy tín của người cạnh tranh. Trong các trường hợp này, hành vi quảng
cáo so sánh có thể bị coi là cấu thành các hành vi cạnh tranh không lành mạnh
tương ứng như đã nêu ở trên. Tuy nhiên, trong những trường hợp quảng cáo so
sánh mà pháp luật về bảo hộ chống các hành vi cạnh tranh không lành mạnh
đã phân tích ở trên không bao quát và điều chỉnh hết thì pháp luật về bảo hộ
chống hành vi quảng cáo so sánh có thể được áp dụng.
1.2. Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh trong lĩnh vực sở hữu
công nghiệp

1.2.1. Khái niệm, đặc điểm của pháp luật chống cạnh tranh không lành
mạnh trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành và bảo
đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là nhân tố
điều chỉnh các quan hệ xã hội [20, tr66]. Là một bộ phận của hệ thống pháp
luật, pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh về sở hữu công nghiệp
mang đầy đủ các đặc điểm của pháp luật nói chung. Bên cạnh đó, pháp luật
chống cạnh tranh không lành mạnh về sở hữu công nghiệp còn có những đặc
điểm riêng biệt như sau:


×