Tải bản đầy đủ (.pdf) (73 trang)

NHỮNG vấn đề PHÁP lý về CHUYỂN DOANH NGHIỆP có vốn đầu tƣ nƣớc NGOÀI THÀNH CÔNG TY cổ PHẦN

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (678.23 KB, 73 trang )

BỘ TƢ P HÁP

BỘ G IÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN ĐÌNH KHUYẾN

NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ
VỀ CHUYỂN DOANH NGHIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƢ
NƢỚC NGOÀI THÀNH CÔNG TY CỔ PHẦN

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ:

60.38.50

LUẬN VĂN TH ẠC SỸ LUẬT HỌC

NGƢỜI HƢỚNG DẪN: PGS. TS TRẦN NGỌC DŨNG

HÀ NỘI NĂM 2006


DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT

FDI: Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài
ĐTNN: Đầu tƣ nƣớc ngoài
W TO: Tổ chức thƣơng mại quốc tế
GDP: Tổng sản phẩm quốc nội
USD: Đô la Mỹ


VNĐ: Việt Nam đồng


MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU

1

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

1

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

2

3. Phƣơng pháp nghiên cứu đề tài

2

4. Phạm vi nghiên cứu luận văn

2

5. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

2

5.1. M ục đích của việc nghiên cứu đề tài


2

5.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

3

6. Kết cấu của luận văn

3
CHƢƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA VIỆC CHUY ỂN DO ANH NGHIỆP CÓ

4

VỐN ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI TH ÀNH CÔNG TY CỔ PHẦN

1.1. Khái niệm doanh nghiệp có vốn ĐTNN và cổ phần hóa doanh
nghiệp có vốn ĐTNN
1.1.1. Khái niệm doanh nghiệp có vốn ĐTNN

4
4

1.1.2. Vai trò của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong
nền kinh tế Việt Nam
1.1.3. Khái niệm cổ phần hóa doanh nghiệp có vốn ĐTNN

10

11

1.2.Tính tất yếu của việc chuyển doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc
ngoài sang công ty cổ phần

14

1.2.1. Ưu điểm của công ty cổ phần so với các loại hình công ty
14
khác
1.2.2. Tính cấp thiết của việc chuyển đổi doanh nghiệp có vốn
ĐTNN thành công ty cổ phần

17

1.3 Những yếu tố tác động đến quá trình chuyển doanh nghiệp có
vốn ĐTNN thành công ty cổ phần

18


1.3.1 Những yếu tố thuận lợi cho quá trình chuyển doanh nghiệp
có vốn ĐTNN thành công ty cổ phần

18

1.3.2. Những khó khăn đối với quá trình chuyển doanh nghiệp có
vốn ĐTNN thành công ty cổ phần

21


CHƢƠNG 2
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THÍ ĐIỂM VỀ CHUYỂN
DOANH NG HIỆP CÓ VỐN ĐẦU TƢ NƢỚC NGOÀI THÀNH CÔN G TY

25

CỔ PHẦN

2.1. M ục tiêu của việc chuyển đổi doanh ngh iệp có vốn ĐTNN
thành công ty cổ phần

25

2.2. Điều kiện của doanh nghiệp có vốn ĐTNN đƣợc thí điểm
chuyển đổi thành công ty cổ phần

29

2.3. Hình thức chuyển đổi doanh nghiệp có vốn ĐTNN thành công
ty cổ phần

33

2.4. Phƣơng thức xác định giá trị doanh ng hiệp có vốn ĐTNN khi
chuyển đổi thành công ty cổ phần

36

2.5. M ệnh giá cổ phiếu, phƣơng thức, thủ tục bán cổ phiếu khi

chuyển đổi doanh nghiệp có vốn ĐTNN

38

2.5.1 Mệnh giá cổ phiếu

38

2.5.2 Phương thức, thủ tục bán cổ phiếu

41

2.6. Đối tƣợng đƣợc mu a cổ phần, tỷ lệ bán cổ phần và quy trình
chuyển đổi doanh nghiệp có vốn ĐTNN thành công ty cổ phần

42

2.6.1 Đối tượng mua cổ phần

42

2.6.2 Tỷ lệ bán cổ phiếu

43

2.6.3 Trình tự, thủ tục chuyển doanh nghiệp có vốn ĐTNN thành
công ty cổ phần

44


2.7. Quy định về chuyển doanh nghiệp trong Luật Doanh nghiệp
năm 2005
2.8. Thực tiễn thí điểm chuyển doanh nghiệp có vốn ĐTNN thành

46
48


công ty cổ phần tại Việt Nam
2.8.1. Những con số thống kê về việc chuyển doanh nghiệp có vốn
49

ĐTNN thành công ty cổ phần
2.8.2. Những thành công của việc chuyển doanh nghiệp có vốn

53

ĐTNN thành công ty cổ phần
2.8.3. Những hạn chế khi chuyển doanh nghiệp có vốn ĐTNN

55

thành công ty cổ phần
CHƢƠNG 3
PHƢƠNG HƢỚNG V À GIẢI PHÁP HOÀ N THIỆN PH ÁP LUẬT V Ề
CHUYỂN DO ANH NG HIỆP C Ó VỐN ĐẦ U TƢ NƢỚC NGOÀI THÀN H

57

CÔNG TY CỔ PHẦN


3.1. Phƣơng hƣớng hoàn thiện pháp luật về chuyển doanh nghiệp
có vốn ĐTNN thành công ty cổ phần

57

3.2. Những giải pháp hoàn thiện pháp luật về chuyển doanh nghiệp
có vốn ĐTNN thành công ty cổ phần
KẾT LUẬN
DANH M ỤC TÀI LIỆ U THAM KHẢO

58
63
66


LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Tính đến hết năm 2005, cả nƣớc đã có 6030 dự án đầu tƣ nƣớc ngoài còn
hiệu lực với tổng vốn đầu tƣ đăng ký hơn 51,07 tỷ USD và hơn 70 nƣớc, vũng
lãnh thổ đã đầu tƣ vào Việt Nam. Thành phần kinh tế có vốn ĐTNN ngày
càng khẳng định vai trò quan trọng của mình đối với nền kinh tế Việt Nam.
Cho đến ngày 1 tháng 7 năm 2006 khi Luật Doanh nghiệp 2005 và Luật
Đầu tƣ 2005 có hiệu lực, mô hình các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài
vẫn còn đơn điệu. Các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài chỉ mới đƣợc đầu tƣ thành lập
doanh nghiệp 100% vốn nƣớc ngoài hoặc doanh nghiệp liên doanh có vốn đầu
tƣ nƣớc ngoài. Các doanh nghiệp này là các pháp nhân Việt Nam và có địa vị
pháp lý của công ty trách nhiệm hữu hạn . Với mô hình này, khả năng huy
động vốn trong xã hội của các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài rất hạn
chế. Các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài cũng không có cơ chế chia sẻ, phân tán rủi ro

trong trƣờng hợp dự án đầu tƣ không thành công.
Trên thế giới, các nhà đầu tƣ có nhiều mô hình doanh nghiệp để lựa chọn
phù hợp với khả năng của họ. Ở Việt Nam, việc cổ phần hóa doanh nghiệp có
vốn đầu tƣ nƣớc ngoài nhằm đa dạng hóa hình thức đầu tƣ, cải thiện môi
trƣờng đầu tƣ, đổi mới phƣơng thức quản lý, thu hút thêm nhiều vốn đầu tƣ
nƣớc ngoài phục vục cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc. M ặt
khác, việc cổ phần hóa doanh nghiệp doanh nghiệp có vốn đầu tƣ n ƣớc ngoài
còn tạo ra “hàng hóa” cho thị trƣờng chứng khoán - M ột công cụ quan trọng
để vận hành có hiệu quả nền kinh tế thị trƣờng.
Lý luận và thực tiễn đã cho thấy rằng cổ phần hóa d oanh nghiệp có vốn
đầu tƣ nƣớc ngoài là một chủ trƣơng đúng đắn của Nhà nƣớc ta để nâng cao
hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp có vốn đ ầu tƣ nƣớc ngoài. Tuy
nhiên, quá trình này ở nƣớc ta đƣợc thực hiện khá chậm. Cho tới nay mới chỉ
có vài doanh nghiệp đƣợc thí điểm cổ phần hóa.

1


Thực trạng trên cho thấy cần phải có những công trình nghiên cứu về lý
luận và thực tiễn việc chuyển doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài thành
công ty cổ phần để khẳng định quá trình này và đề xuất những phƣơng hƣớng,
giải pháp hoàn thiện pháp luật điều chỉnh quá trình chuyển đổi này. Vì lý do
đó, học viên đã mạnh dạn chọn vấn đề “Những vấn đề pháp lý về chuyển
doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài thành công ty cổ phần” làm đề tài
luận văn tốt nghiệp cao học Luật của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài.
Cho tới nay, khoa học pháp lý ở Việt Nam hầu nhƣ chƣa có công trình
nghiên cứu nào, kể cả các luận văn thạc sĩ và luận án tiến sĩ đề cập và nghiên
cứu vấn đề pháp lý về chuyển doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài thành
công ty cổ phần.

3. Phƣơng pháp nghiên cứu đề tài.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, tác giả luận văn sử dụng phƣơng
pháp luận biện chứng duy vật của Chủ nghĩa M ác-Lênin và những phƣơng
pháp nghiên cứu cụ thể nhƣ: Phƣơng pháp phân tích, phƣơng pháp tổng hợp,
phƣơng pháp so sánh, phƣơng pháp mô hình hóa…
4. Phạm vi nghiên cứu luận văn
Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về việc
chuyển đổi các doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài sang công ty cổ phần
ở Việt Nam.
5. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn.
5.1 . Mục đích của việc nghiên cứu đề tài.
Việc nghiên cứu đề tài nhằm những mục đích nhƣ sau:
Làm rõ tính cấp thiết của việc chuyển đ ổi doanh nghiệp có vốn đầu tƣ
nƣớc ngoài thành công ty cổ phần tại Việt Nam;
Làm rõ các chính sách, cơ sở pháp lý, các vấn đề pháp lý của việc
chuyển đổi doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài thành công ty cổ phần;

2


Nhận định, đánh giá các ƣu điểm và thành công cũng nhƣ các nhƣợc
điểm, bất cập của chính sách, pháp luật về việc chuyển đổi doanh nghi ệp có
vốn đầu tƣ nƣớc ngoài thành công ty cổ phần.
5.2 . Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn giải quyết những nhiệm vụ sau:
a) Nghiên cứu hệ thống các văn bản pháp lý về chuyển đổi doanh nghiệp
có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài thành công ty cổ phần;
b) Nghiên cứu một số vấn đề pháp lý về chuyển doanh nghiệp có vốn đầu
tƣ nƣớc ngoài thành công ty cổ phần và khẳng định những ƣu điểm, thành
công cũng nhƣ nhƣợc điểm, bất cập của quá trình này;

c) Đề xuất phƣơng hƣớng và giải pháp hoàn thiện hệ thống văn bản pháp
luật về chuyển doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài sang công ty cổ phần.
6. Kết cấu của luận văn
Luận văn có lời nói đầu, ba chƣơng, ph ần kết luận và danh mục tài liệu
tham khảo.
Ba chƣơng của luận văn là:
Chƣơng 1.Tính tất yếu của việc chuyển doanh nghiệp có vốn đầu tƣ
nƣớc ngoài thành công ty cổ phần.
Chƣơng 2. Cách thức chuyển đổi doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài
thành công ty cổ phần.
Chƣơng 3. Thực tiễn và giải pháp hoàn thiện quá trình chuyển doanh
nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài thành công ty cổ phần.

3


CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA VIỆC CHUYỂ N DO ANH NGHIỆP
CÓ VỐ N ĐẦU TƢ NƢỚC NGO ÀI THÀNH CÔ NG TY CỔ PHẦN
1.1. Khái niệm doanh nghiệp có vốn ĐTNN và cổ phần hóa doanh
nghiệp có vốn ĐTNN.
1.1.1. Khái niệm doanh nghiệp có vốn ĐTNN.
Khái niệm doanh nghiệp có vốn ĐTNN liên quan đến khái niệm đầu tƣ
trực tiếp nƣớc ngoài (FDI). Trong quá trình toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới,
FDI là một hình thức đầu tƣ mang lại hiệu quả cao . FDI là nguồn vốn quan
trọng đối với nhiều quốc gia trên thế giới. Nó là yếu tố quan trọng tạo nên tốc
độ tăng trƣởng kinh tế của các nƣớc. Ở các nƣớc đang phát triển nhu cầu về
FDI là rất lớn.
FDI đã tồn tại từ rất lâu. “Từ thời tiền tư bản các công ty như Mobil, Oil,
BP, Royal Deutch Shell của các nước như Anh, Hà Lan, Tây Ban Nha, Bồ

Đào Nha đã đi đầu trong lĩnh vực FDI vào Châu Á để khai thác đồn điền
nhằm cung cấp nguồn nguyên liệu cho chính quốc. Sau chiến tr anh thế giới
thứ II, FDI đã có sự thay đổi rõ rệt và được sử dụng rộng rãi, thường xuyên
hơn. Tuy vậy, các nước khá c nhau hiểu FDI theo khuynh hướng, phạm vi
rộng, hẹp khác nhau”[17,tr.2]. Từ những năm 60 của thế kỷ 20, các nhà kinh
tế học quốc tế đã cố gắng xây dựng mô hình lý luận nhằm giải thích nguồn
gốc, đặc điểm và tác động của FDI tới quá trình phát triển kinh tế. Hiện tại, lý
thuyết về FDI rất đa dạng. Mỗi lý thuyết chỉ phản ánh một vài khía cạnh nhất
định của FDI. Ví dụ, lý thuyết về danh mục đầu tƣ quốc tế nghiên cứu FDI
với tƣ cách là sự chuyển lƣu dòng vốn quốc tế trong điều kiện cạnh tranh
hoàn hảo; lý thuyết lợi thế độc quyền của FDI đƣợc xây dựng trên cơ sở cạnh
tranh độc quyền; lý thuyết về chu kỳ vòng đời sản phẩm đƣợc sử dụng để giải
thích xuất khẩu và FDI trong các ngành công nghiệp với sản phẩm đƣợc đa
dạng hóa. Tuy nhiên, nó không giải thích đƣợc hiện tƣợng đầu tƣ lẫn nhau.

4


Thông thƣờng, FDI đƣợc hiểu là sự vận động của một số loại vốn nhất
định của một nƣớc này sang nƣớc khác nhằm thực h iện hoạt động đầu tƣ. FDI
không chỉ là vốn mà còn bao gồm cả kỹ thuật, công nghệ, bí quyết kỹ thuật,
sản xuất kinh doanh, năng lực marketing. Về bản chất, FDI là một quá trình di
chuyển công nghệ và vốn từ nƣớc nọ đến nƣớc kia trên phạm vi toàn cầu. FDI
gắn kết với quá trình dịch chuyển cơ cấu và công nghiệp hóa đất nƣớc, trên cơ
sở đó tiến tới hội nhập khu vực và quốc tế.
Ở Việt Nam, từ khái niệm FDI trong Điều lệ đầu tƣ năm 1977 (b an hành
kèm theo Nghị định 115 -CP ngày 18 tháng 4 năm 1977) đến khái niệm FDI
trong Luật Đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam năm 1996, Luật Sửa đổi bổ sung
Luật Đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam năm 2000 là một bƣớc tiến rõ rệt v ề mặt
lý luận. Theo Điều lệ Đầu tƣ 1977 “FDI được hiểu không phải bất kỳ loại vốn

nào được đầu tư từ nước ngoà i vào Việt Nam, mà vốn đó phải có mục đích
xây dựng cở sở mới hoặc đổi mới trang thiết bị, kỹ thuật các cở sở hiện
có”[8,tr.2]. Đến Luật Đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam năm 1996 và Luật Sửa
đổi bổ sung Luật Đầu tƣ nƣớc ngoài năm 2000 tại Việt Nam quy định “Đầu tư
trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam v ốn
bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy
định của luật này”[2,tr.1]. Đến Luật Đầu tƣ của Việt Nam năm 2005 một lần
nữa khẳng định khái niệm đ ầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài nhƣ Luật Đầu tƣ nƣớc
ngoài tại Việt Nam năm 1996. Điều 3, khoản 12 Luật Đầu tƣ năm 2005 quy
định “Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam
vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu
tư”[4,tr.2].
Theo định nghĩa này, vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào của nhà đầu
tƣ nƣớc ngoài phải gắn với hoạt động đầu tƣ nhất định. Do vậy, quan điểm về
FDI theo Luật Đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam năm 1996 , Luật Sửa đổi, bổ
sung Luật Đầu tƣ nƣớc ngoài năm 2000 tại Việt Nam , Luật Đầu tƣ năm 2005

5


thì FDI gắn liền với sự vận động của nguồn vốn hoặc tài sản của nhà đầu tƣ
nƣớc ngoài sang nƣớc khác với mục đích kinh doanh sinh lợi nhuận.
* Các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài thực hiện hoạt động đầu tƣ thô ng qua các
hình thức đầu tƣ khác nhau: Hoặc thành lập nên một pháp nhân mới hoặc tiến
hành đầu tƣ trên cở sở hợp đồng hợp tác kinh doanh mà không thành lập nên
pháp nhân mới. Các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài có thể độc lập hoặc liên kết với
nhau để trở thành bên nƣ ớc ngoài trong quan hệ hợp tác đầu tƣ với bên hoặc
các bên của nƣớc đƣợc đầu tƣ dƣới hình thức doanh nghiệp liên doanh ; cũng
có thể tự mình đầu tƣ vào nƣớc đƣợc đầu tƣ dƣới hình thức doanh nghiệp
100% vốn nƣớc ngoài.

Doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài
là những hình thức đầu tƣ thông qua việc thành lập một pháp nhân mới. Chính
pháp nhân mới này là chủ thể thực hiện các hoạt động kinh doanh trên lãnh
thổ của nƣớc đƣợc đầu tƣ.
“Nhà đầu tư nước ngoài có thể liên kết với chủ thể đầu tư Việt Nam trên
cở sở được sự đồng ý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam để
thành lập doanh nghiệp liên doanh, các bên cùng góp vốn, cùng kinh doanh,
cùng chia lãi và chịu lỗ. Nhà đầu tư nước ngoài cũng có thể xin phép Nhà
nước Việt Nam để thành lập doanh nghiệp 100% vốn của mình tại Việt
Nam”[22,tr.241].
Doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nƣớc ngoài là các
pháp nhân Việt Nam, hoạt động theo pháp luật Việt Nam . Những doanh
nghiệp này có những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, tài sản của các doanh nghiệp có vốn ĐTNN có thể thuộc sở
hữu một phần hoặc toàn bộ của chủ thể nƣớc ngoài.
Thứ hai, trong các doanh nghiệp có vốn ĐTNN luôn luôn xuất hiện vai
trò của chủ đầu tƣ là nhà đầu tƣ nƣớc ngoài.

6


Thứ ba, chủ đầu tƣ doanh nghiệp chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong
kinh doanh, tức là chịu trách nhiệm trong phạm vi phần vốn góp vào kinh
doanh.
“Doanh nghiệp liên doanh là doanh nghiệp do hai bên hoặc nhiều bên
hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cở sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định
giữa Chính phủ Việt Nam với Chính phủ nước ngoài, hoặc là doanh nghiệp
mới do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hợp tác với doanh nghiệp Việt
Nam hoặc do doanh nghiệp liên doanh hợp tác nhà đầu tư nước ngoài thành
lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh” [2,tr.1].

Cơ sở pháp lý để thành lập doanh nghiệp liên doan h có thể là hợp đồng
liên doanh, cũng có thể là hiệp định đƣợc ký kết giữa Chính phủ Việt Nam
với Chính phủ nƣớc ngoài. Cơ sở pháp lý phổ biến nhất là hợp đồng liên
doanh.
Hợp đồng liên doanh là văn bản đƣợc ký giữa hai bên hoặc nhiều bên về
việc thành lập doanh nghiệp liên doanh, hoặc là văn bản ký kết giữa các
doanh nghiệp liên doanh với nhau , hoặc với nhà đầu tƣ nƣớc ngoài hoặc với
doanh nghiệp Việt Nam để thành lập nên doanh nghiệp liê n doanh mới ở Việt
Nam.
Hình thức đầu tƣ thông qua việc thành lập doanh nghiệp liên doanh có
điểm giống với hình thức đầu tƣ thông qua hợp tác kinh doanh ở chỗ đều là
việc đầu tƣ thông qua hợp đồng, đều thể hiện nội dung quan hệ kinh tế song
phƣơng hoặc đa phƣơng, các bên cùng bỏ vốn, cùng quản lý, cùng chia lãi.
Nhƣng hai hình thức này k hác

nhau về tổ chức kinh doanh và về mặt pháp

lý. Trong việc hợp doanh, các bên cùng tiến hành nội dung hợp doanh , các
bên thỏa thuận trách nhiệm và phân bố kết quả kinh doanh tùy theo khả năng
của mỗi bên; mỗi bên làm nghĩa vụ tài chính đối với nhà nƣớc Việt Nam theo
những quy định riêng cho mỗi bên mà không có sự rà ng buộc lẫn nhau trong
tƣ cách pháp nhân chung. Khác với hợp doanh, thông qua việc liên doanh , các

7


bên thành lập ra một pháp nhân mới (doanh nghiệp liên doanh) và rà ng buộc
nhau bởi sự tồn tại và hoạt động của pháp nhân này. Khi doanh nghiệp liên
doanh đƣợc thành lập, nó hoạt động độc lập với các bên liên doanh và tự chịu
trách nhiệm về hoạt động của mình , mục đích của các bên liên doanh do

doanh nghiệp liên doanh thực hiện.
Theo Luật Đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam năm 1996, Luật Sửa đổi bổ
sung Luật Đầu tƣ nƣớc ngoài năm 2000 thì doanh nghiệp liên doanh đƣợc
thành lập dƣới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạ n. Mỗi bên tham gia
doanh nghiệp liên doanh chỉ chịu trách nhiệm với các bên kia, với doanh
nghiệp liên doanh và bên thứ ba trong phạm vi phần vốn góp của mình vào
vốn pháp định của doanh nghiệp. Phần vốn góp của bên hoặc các bên nƣớc
ngoài vào vốn pháp định của doanh nghiệp liên doanh không bị hạn chế về
mức cao nhất, theo sự thỏa thuận các bên nhƣng không dƣới 30% vốn pháp
định của doanh nghiệp liên doanh. Trong một số trƣờng hợp, căn cứ vào lĩnh
vực kinh doanh, công nghệ, thị trƣờng, hiệu quả kinh doanh và các lợi thế
kinh tế xã hội khác của dự án, luật cho phép cơ quan cấp phép đầu tƣ có thể
xem xét cho bên nƣớc ngoài tham gia liên doanh có tỷ lệ góp vốn pháp định
thấp đến 20%. Giá trị phần vốn góp của các bên đựợc xác định trên cơ sở giá
thị trƣờng quốc tế. Các bên có thể góp vốn b ằng các hình thức quy định tại
Điều 7 Luật Đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam.
Vốn pháp định của doanh nghiệp liên doanh có thể đƣợc góp trọn một
lần khi thành lập doanh nghiệp, nhƣng cũng có thể góp thành nhiều lần theo
thời gian hợp lý do các bên liên doanh thỏa thuận trong hợp đồng liên doanh.
Doanh nghiệp liên doanh có tƣ cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam.
Nó là chủ thể kinh tế độc lập, bình đẳng với các doanh nghiệp thuộc mọi
thành phần kinh tế khác. Doanh nghiệp liên d oanh hoạt động theo nguyên tắc
hạch toán độc lập, phù hợp với hợp đồng liên doanh, điều lệ doanh nghiệp
liên doanh và phù hợp với pháp luật Việt Nam. Doanh nghiệp liên doanh tự

8


bảo đảm các nhu cầu về vốn, tự trang trải các chi phí sản xuất, kinh doanh và
phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với nhà nƣớc. Nhà nƣớc không chịu trách

nhiệm về các cam kết của doanh nghiệp liên doanh với bạn hàng.
“Doanh nghiệp 100% vốn ĐTNN là doanh nghiệp do nhà đầu tư nước
ngoài đầu tư 100% vốn tại Việt Nam ”[2,tr.1]
Doanh nghiệp 100% vốn nƣớc ngoài là đơn vị kinh doanh hoàn toàn
thuộc quyền sở hữu của tổ chức, cá nhân nƣớc ngoài, do họ thành lập, tự quản
lý và hoàn toàn chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh. Pháp luật Việt Nam
quy định doanh nghiệp 100% vốn nƣớc ngoài tồn tại d ƣới hình thức công ty
trách nhiệm hữu hạn và là một pháp nhân Việt Nam, chịu sự điều chỉnh của
pháp luật Việt Nam.
Toàn bộ tài sản của doanh nghiệp 100% vốn nƣớc ngoài thuộc sở hữu
của chủ đầu tƣ nƣớc ngoài. Chủ đầu tƣ nƣớc ngoài có thể là một hoặc nhiều t ổ
chức, cá nhân nƣớc ngoài, có thể ở một nƣớc hoặc nhiều nƣớc khác nhau.
Doanh nghiệp 100% vốn nƣớc ngoài đƣợc thành lập dƣới hình thức côn g
ty trách nhiệm hữu hạn. Chế độ trách nhiệm hữu hạn đảm bảo cho các nhà
đầu tƣ nƣớc ngoài yên tâm bỏ vốn đầu tƣ dƣới hình thức doanh nghiệp 100%
vốn nƣớc ngoài. Kể cả trƣờng hợp, chỉ có một cá nhân đầu tƣ nƣớc ngoài
thành lập doanh nghiệp 100% vốn nƣớc ngoài bằng một phần tài sản của
mình, thì doanh nghiệp này vẫn chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn.
Cơ sở pháp lý để thành lập doanh nghiệp 100% vốn ĐTNN là giấy phép
đầu tƣ đƣợc cơ quan có thẩm quyền cấp cho nhà ĐTNN và điều lệ doanh
nghiệp đƣợc cơ quan có thẩm quyền chuẩn y. Doanh nghiệp 100% vốn nƣớc
ngoài phải hoạt động phù hợp với giấy phép đầu tƣ, điều lệ của doanh nghiệ p
đƣợc chuẩn y, đồng thời chịu sự giám sát của cơ quan cáp phép đầu tƣ và các
cơ quan quản lý nhà nƣớc chuyên ngành của Việt Nam.

9


Doanh nghiệp 100% vốn nƣớc ngoài và doanh nghiệp liên doanh là hai
hình thức đầu tƣ khác nhau nhƣng cũng có nhiều điểm giống nhau. Doanh

nghiệp 100% vốn ĐTNN có thể chuyển hóa thành doanh nghiệp liên doanh .
Doanh nghiệp liên doanh cũng có thể chuyển hóa thành doanh nghiệp 100%
vốn nƣớc ngoài trong những điều kiện nhất định.
“Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2005, doanh nghiệp 100% vốn nước
ngoài có 4504 dự án với tổng vốn đăng ký 26,04 tỷ USD, chiếm 74,6% về
tổng số dự án và 51,07% về vốn ĐTNN ; Doanh nghiệp liên doanh có 1327 dự
án và 19,18 tỷ USD vốn đăng ký, chiếm 22,1% về tổng số dự án và 37,6% về
vốn ĐTNN”[16,tr.1].
1.1.2. Vai trò của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong nền
kinh tế Việt Nam.
Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 đã chuyển nền kinh tế tập trung, bao
cấp sang nền kinh tế thị trƣờng có sự điều tiết của Nhà nƣớc và dần dần tạo ra
môi trƣờng pháp lý bình đẳng cho các thành phần kinh tế. Đó là cơ sở quan
trọng khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển, trong đó có thành phần
kinh tế có yếu tố nƣớc ngoài. Từ đó, thành phần kinh tế có yếu tố nƣớc ngoài
giữ vai trò vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam. Nó chiếm gần
30% vốn đầu tƣ xã hội, 35% giá trị sản xuất công nghiệp, tạo ra việc làm cho
hơn 50 vạn lao động trực tiếp và hàng chục vạn lao động gián tiếp. Nguồn
vốn ĐTNN vào Việt Nam tăng liên tục trong những năm gần đ ây. Năm 2005,
khu vực kinh tế có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài tiếp tục sản xuất kinh doanh hiệu
quả, với tổng doanh thu không kể dầu thô đạt 21 tỷ USD, xuất khẩu 10,3 tỷ
USD tăng 26,6% so với năm 2004, nộp ngân sách 1,29 tỷ USD tăng 39% và
chiếm 12% tổng thu ngân sách nhà nƣớc. Trên các lĩnh vực xu ất khẩu, công
nghiệp, tỷ trọng đóng góp của khu vực đầu tƣ nƣớc ngoài ngày càng tăng. Dự
kiến tốc độ thu hút đầu tƣ vẫn sẽ tiếp tục gia tăng, có thể vƣợt mức 6 tỷ USD
trong năm 2006.

10



Theo đánh giá của Thứ trƣởng Bộ Kế h oạch và Đầu tƣ Nguyễn Bích
Đạt: “Điều đáng chú ý là năm 2005, rất nhiều các tập đoàn lớn đã đầu tư các
dự án quan trọng vào những lĩnh vực mà lâu nay Việt Nam vẫn mong muốn.
Đáng chú ý như dự án nhà máy sản xuất thép không gỉ 700 triệu USD, dự án
phát triển mạng di động CDMA gần 600 triệu US D... Bên cạnh đó, một số tập
đoàn lớn tại Việt Nam đã mở rộng sản xuất và chọn Việt Nam làm địa bàn
đầu tư lâu dài như: Canon, Matsushita...” [15,tr.1].
1.1.3. Khái niệm cổ phần hóa doanh nghiệp có vốn ĐTNN.
Đổi mới hệ thống doanh nghiệp có vốn ĐTNN là khâu cơ bản quan trọng
trong việc thu hút nguồn đầu tƣ nƣớc ngoài vào Việt Nam trong giai đoạn nền
kinh tế đang trên đà hội nhập quốc tế. Nhận thức đúng đắn vấn đề này, Nhà
nƣớc ta đã ban hành những văn bản cụ thể để tiến hành chuyển đổi doanh
nghiệp có vốn ĐTNN thành công ty cổ phần. Đó là Nghị định số
38/2003/NĐ-CP ngày 15 tháng 4 năm 2003 về việc chuyển đổi một số doanh
nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài sang hoạt động theo hình thức công ty cổ
phần (gọi tắt là Nghị định 38/2003/NĐ -CP); Thông tƣ liên tịch số
08/2003/TTLT-BKH-BTC ngày 29 tháng 12 năm 2003 của Bộ Kế hoạch và
Đầu tƣ và Bộ Tài chính về việc hƣớng dẫn một số quy định tại Nghị định số
38/2003/NĐ-CP ngày 15 tháng 4 năm 2005 về việc chuyển đổi một số doanh
nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài sang hoạt độn g theo hình thức công ty cổ
phần (gọi tắt là Thông tƣ liên tịch số 08/TTLT -BKH-BTC). Quyết định của
Thủ tƣớng Chính phủ số 238/2005/QĐ -TTg ngày 29 tháng 9 năm 2005 về tỷ
lệ tham gia của bên nƣớc ngoài vào thị trƣờng chứng khoán Việt Nam.
Theo các văn bản này, cổ phần hóa doanh nghiệp có vốn ĐTNN đƣợc
hiểu là một biện pháp chuyển doanh nghiệp có vốn ĐTNN hoạt động theo
hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn sang hoạt động theo hình thức công ty
cổ phần.

11



Theo đó, cổ phần hóa doanh nghiệp có vốn ĐTNN ở nƣớc ta có những
đặc điểm sau:
M ột là, cổ phần hóa là quá trình chuyển đổi doanh nghiệp có vốn ĐTNN
hoạt động theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn sang hoạt động theo
hình thức công ty cổ phần. Hay nói cách khác, doanh nghiệp có vốn ĐTNN
sau khi chuyển đổi sẽ trở thành công ty cổ phần có vốn ĐTNN có địa vị pháp
lý của công ty cổ phần theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Theo quy định của Luật Đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam năm 1996, Luật
Sửa đổi bổ sung Luật Đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam năm 2000, Luật D oanh
nghiệp 1997 thì các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài, khi đầu tƣ vào Việt Nam , thành
lập doanh nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn ĐTNN theo hình
thức công ty trách nhiệm hữu hạn. Theo quy định về chuyển doanh nghiệp có
vốn ĐTNN thành công ty cổ phần , sau khi hoàn tất quy trình cổ phần hóa,
doanh nghiệp sẽ không tồn tại dƣới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn
nữa, mà sẽ tồn tại dƣới hình thức công ty cổ phần.
Khi đã chuyển đổi hình thức hoạt động sang công ty cổ phần thì địa vị
pháp lý của doanh nghiệp đó hoàn toàn tuân thủ theo quy định của pháp luật
về công ty cổ phần. Tức là toàn bộ các vấn đề liên quan đến hoạt động của
doanh nghiệp, từ bản chất pháp lý, quyền và nghĩa vụ, cơ chế quản lý đến cơ
chế pháp lý thành lập giải thể, phá sản đều phải chịu sự điều chỉnh của Luật
doanh nghiệp năm 2005 và Luật Đầu tƣ năm 2005 . Công ty cổ phần có vốn
ĐTNN có nhiều ƣu thế hơn so với công ty trách nhiệm hữu hạn trong việc
huy động vốn, trong quản lý, điều hành doanh nghiệp...
Hai là, cổ phần hóa là biện pháp chuyển doanh nghiệp từ sở hữu của một
hoặc một số chủ thể nhất định sang hình thức sở hữu đa dạng hơn.
Trƣớc khi cổ phần hóa, toàn bộ tài sản của doanh nghiệp thuộc sở hữu
của một hoặc nhiều nhà đầu tƣ nƣớc ngoài trong doanh nghiệp 100% vốn
nƣớc ngoài, hoặc thuộc sở hữu của các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài và các nhà đầu


12


tƣ Việt Nam trong doanh nghiệp liên doanh. Trong doanh nghiệp này số
lƣợng các nhà đầu tƣ thành lập doanh nghiệp ít hơn rất nhiều so với số lƣợng
thành viên công ty sau khi đã đƣợc chuyển đổi sang hoạt động theo hình thức
công ty cổ phần. Khi cổ phần hóa, sau khi xác định giá trị doanh nghiệp, xác
định số lƣợng cổ phần phát hành, các nhà đầu tƣ bán cổ ph iếu cho các tổ chức
các nhân thuộc mọi thành phần kinh tế. Những ngƣời mua cổ ph iếu sẽ trở
thành thành viên công ty cổ phần, có quyền sở hữu một phần tài sản của công
ty đồng thời phải chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ của công ty tƣơng
ứng với số cổ phiếu đã mua của công ty. M ọi cá nhân, tổ chức thuộc các
thành phần kinh tế khi có đủ điều kiện đều có quyền mua cổ phiếu của doanh
nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài chuyển đổi thành công ty cổ phần và trở
thành cổ đông của công ty.
Ngoài ra, khi công ty cổ phần có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài niêm yết chứng
khoán (cổ phiếu, trái phiếu, kỳ phiếu… ) trên thị trƣờng chứng khoán, thì các
nhà đầu tƣ trong và ngoài nƣớc có thể mua cổ phiếu, trái phái của công ty và
trở thành cổ đông của công ty. Với mô hình công ty cổ phần thì việc phát
hành chứng khoán ra công chúng sẽ là kênh huy động vốn rất lớn, với số
lƣợng lớn các nhà đầu tƣ tham gia.
Cổ phần hoá doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn
ĐTNN đƣợc tiến hành theo các quy định về cổ phần hoá doanh nghiệp có vốn
ĐTNN. Tuy nhiên, do các doanh nghiệp có những đặc điểm khác nhau nên
trong quá trình cổ phần hoá hai loại doanh nghiệp này có những điểm khác
nhau, xuất hiện những loại giấy tờ, thủ tục khác nhau… Chẳng hạn, đối với
doanh nghiệp 100% vốn nƣớc ngoài thuộc sở hữu của một hoặc hai chủ sở
hữu thì cần phải bảo đảm đủ số thành viên tối thiểu theo yêu cầu củ a công ty
cổ phần…
Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nƣớc và cổ phần hoá doanh nghiệp có

vốn ĐTNN có cùng bản chất là chuyển đổi các doanh nghiệp sang hoạt động

13


theo hình thức công ty cổ phần, sau khi đƣợc chuyển đổi các doanh nghiệp
này chịu sự điều chỉnh của pháp luật về công ty cổ phần.
Tuy nhiên, cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nƣớc và cổ phần hoá doanh
nghiệp có vốn ĐTNN có những điểm khác nhau cơ bản sau đây:
Một là, cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nƣớc thì chuyển doanh nghiệp
nhà nƣớc thuộc sở hữu nhà nƣớc san g các hình thức sở hữu khác (đa sở hữu).
Còn cổ phần hoá doanh nghiệp có vốn ĐTNN thì chuyển doanh nghiệp có
vốn ĐTNN từ sở hữu của một hoặc một số chủ thể nhất định sang hình thức
sở hữu đa dạng hơn.
Hai là, cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nƣớc với mục tiêu chủ yếu là
thúc đẩy doanh nghiệp này hoạt động có hiệu quả, xoá bỏ sự bao cấp của nhà
nƣớc đối với loại hình doanh nghiệp này. Còn cổ phần hoá doanh nghiệp có
vốn ĐTNN với mục đích chủ yếu là huy động vốn ĐTNN.
1.2.Tính tất yếu của việc chuyển doanh ngh iệp có vốn đầu tƣ nƣớc
ngoài sang công ty cổ phần.
1.2.1. Ưu điểm của công ty cổ phần so với các loại hình công ty khác.
Công ty cổ phần xuất hiện ngay từ đầu thế kỷ 17, nhƣng phải đến nửa
cuối thế kỷ 19, nó mới đƣợc phát triển rộng rãi và trở thành phổ biến trong
các nƣớc tƣ bản nhờ sự phát triển của nền đại công nghiệp cơ khí và sự phát
triển rộng rãi của chế độ tín dụng. Công ty cổ phần là loại hình đặc trƣn g của
công ty đối vốn. Vốn của công ty cổ phần đƣợc chia làm nhiều phần bằng
nhau gọi là cổ phần. Ngƣời sở hữu cổ phần gọi là cổ đông, cổ đông chỉ chịu
trách nhiệm về các khoản nợ của công ty cho đến hết giá trị cổ phần mà họ sở
hữu. Công ty cổ phần là chủ thể kinh tế độc lập khi tham gia vào các hoạt
động kinh doanh, thƣơng mại cũng nhƣ tham gia các h oạt động tố tụng. Trong

nền kinh tế hiện đại, công ty cổ phần phát triển mạnh mẽ, đựợc các nhà đầu tƣ
ƣa chuộng vì nó có những ƣu thế thích ứng với đòi hỏi của nền kinh tế thị
trƣờng.

14


* Ưu thế đối với người đầu tư vào công ty cổ phần.
Theo thông lệ quốc tế và thực tế ở các nƣớc, pháp luật thƣờng quy định
số thành viên tối thiểu của công ty cổ phần, còn số lƣợng thành viên tối đa
không hạn chế. Công ty cổ phần là đặc trƣng của loại hình công ty đối vốn,
cho nên có sự liên kết của nhiều thành viên. Trong công ty cổ phần, các cổ
đông (ngƣời góp vốn vào công ty) chỉ chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ
của công ty trong giới hạn số tiền mà họ góp dƣới dạng mua cổ phần của công
ty, nghĩa là các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty
tƣơng ứng với phần vốn góp. Trong trƣờng hợp công ty bị phá sản, họ cũng
chỉ mất số tiền đầu tƣ vào công ty mà thôi, không phải bỏ thêm tài sản riêng
để trả nợ cho công ty. Đó là một bảo đảm an toàn pháp lý cho các nhà đầu tƣ.
* Ưu thế của công ty cổ phần trong việc huy động vốn.
Ƣu điểm lớn nhất của côn g ty cổ phần so với các loại hình công ty khác
là khả năng huy động vốn lớn, từ rất nhiều nguồn khác nhau trong nền kinh
tế. Vốn điều lệ của công ty cổ phần đƣợc chia thành nhiều phần bằng nhau gọi
là cổ phần. Giá trị của mỗi cổ phiếu gọi là mệnh giá cổ phiếu và đƣợc phản
ánh trong cổ phiếu. M ột cổ phiếu có thể phán ánh mệnh giá của một hoặc
nhiều cổ phần. Việc chia vốn của công ty cổ phần thành nhiều phần nhỏ bằng
nhau tạo điều kiện cho những ngƣời có ít vốn, những n gƣời lao động cũng có
thể đầu tƣ vào công ty cổ phần và trở thành cổ đông của công ty. Nó thu hút
đƣợc nguồn vốn đầu tƣ từ nhiều ngƣời thuộc nhiều thành phần xã hội khác
nhau tham gia.
Trong quá trình hoạt động , công ty cổ phần đƣợc phát hành cổ phiếu, trái

phiếu… để huy động vốn. Đặc điểm này giúp cho công ty cổ phần có khả năng
huy động vốn lớn. Xét về mặt huy động vốn, công ty cổ phần có nhiều lợi thế
so với các loại hình doanh nghiệp khác. Do đƣợc phép phát hành chứng khoán
(cổ phiếu, trái phiếu) nên quy mô sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần dễ

15


dàng đƣợc mở rộng, kỹ thuật và công nghệ đƣợc đổi mới nhanh chóng vì có
khả năng tập trung vốn của các tầng lớp dân cƣ trong xã hội.
Các cổ đông thực hiện góp vốn vào công ty bằng cách mua cổ ph iếu,
mỗi cổ đông có thể mua nhiều cổ ph iếu. Pháp luật không hạn chế mỗi thành
viên đƣợc mua tối đa bao nhiêu ph ần trăm vốn điều lệ, nhƣng các thành viên
có thể thỏa thuận trong điều lệ giới hạn tối đa số cổ ph iếu mà một thành viên
có thể mua, để chống lại việc một thành viên nào đó kiểm soát công ty. Vốn
góp của các thành viên đƣợc thể hiện dƣới hình thức cổ phần. Các chứng
khoán do công ty cổ phần phát hành là một loại hàng hóa. Ngƣời có chứng
khoán có thể tự do chuyển nhƣợng theo quy định của pháp luật. Khi đầu tƣ
vào công ty cổ phần, các cổ đông và ngƣời mua trái phiếu của công ty có thể
rút lại vốn của mình để đầu tƣ vào cuộc kinh doanh khác một cá ch dễ dàng
bằng cách bán cổ phiếu , trái phiếu mình có và mua các cổ phiếu, trái phiếu ở
các công ty mà mình muốn. Vì thế, b ất kể cổ phần chuyển chủ bao nhiêu lần,
cuộc sống của doanh nghiệp vẫn tiếp tục bình thƣờng mà không bị ảnh
hƣởng. M ặt khác, cơ chế này còn tạo nên sự di chuyển linh hoạt các nguồn
vốn theo các nhu cầu và cơ hội đầu tƣ đa dạng của các cá nhân, tổ chức.
* Ưu thế của công ty trong việc quản lý, điều hành công ty.
Tổ chức quản lý trong nội bộ công ty cổ phần thƣờng bao gồm: Đại hội
cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát công ty. M ô hình tổ chức quản lý
nhƣ vậy đã tách biệt quyền sở hữu đối với tài sản của công ty với chức năng
quản lý kinh doanh trong công ty. S ự tách biệt này không những phân định rõ

quyền hạn và trách nhiệm của ngƣời sở hữu và ngƣời sử dụng tài sản của
công ty để kinh doanh, mà còn tạo điều kiện để thực hiệ n sự kiểm tra, giám
sát chặt chẽ hoạt động kinh doanh của công ty.
Khi tổ chức quản lý theo mô hình công ty cổ phần, công việc quản lý
kinh doanh của công ty đƣợc tách ra và giao cho những nhà chuyên nghiệp,
có trình độ quản lý giỏi, kết hợp đƣợc trí tuệ và kỹ năng quản lý của nhiều

16


ngƣời, lựa chọn đƣợc chuyên gia tài năng để kéo họ tham gia quản lý, điều
hành công ty. Vì thế, công ty có khả năng đạt hiệu quả kinh doanh cao. Có thể
nói, mô hình tổ chức công ty cổ phần đạt trình độ xã hội hóa cao nhất.
Do các ƣu điểm của công ty cổ phần v à để thu hút nguồn vốn ĐTNN
nên phải có quy định về chuyển đổi doanh nghiệp có vốn ĐTNN thành công
ty cổ phần.
1.2.2. Tính cấp thiết của việc chuyển đổi doanh nghiệp có vốn ĐTNN
thành công ty cổ phần.
Luật Đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam năm 1996, Luật Sửa đổi bổ sung
Luật Đầu tƣ nƣớc ngoài năm 2000 và các Nghị định, T hông tƣ hƣớng dẫn thi
hành, điều chỉnh hoạt động đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam là những cơ sở
pháp lý quan trọng để thu hút cũng nhƣ thực hiện hoạt động đầu tƣ nƣớc
ngoài tại Việt Nam.
Năm 2005, có gần 200 doanh nghiệp có vốn ĐTNN chính thức đi vào
hoạt động sản xuất kinh doanh. Doanh thu của khu vực này đạt trên 21 tỷ
USD, tăng 16,7% so với năm trƣớc.
Trong khi đó, các nƣớc trong khu vực nhƣ Trung Quốc, Thái Lan,
Singapore… môi trƣờng đầu tƣ, nhất là môi trƣờng pháp lý cho hoạt động thu
hút đầu nƣớc ngoài rất thông thoáng. Ở Trung Quốc, Thái Lan, Singapore…
nhà đầu tƣ nƣớc ngoài đƣợc hƣởng rất nhiều đặc quyền. Nhà đầu tƣ nƣớc

ngoài có nhiều hình thức doanh nghiệp để lựa chọn đầu tƣ. Hoặc nhà đầu tƣ
nƣớc ngoài lựa chọn hình thức công ty cổ phần, hoặc lựa chọn hình th ức công
ty trách nhiệm hữu hạn. Nhà đầu tƣ nƣớc ngoài có thể hoạt động trên nhiều
lĩnh vực mà không bị hạn chế kinh doanh nhƣ lĩnh vực ngân hàng, tiền
tệ… Họ còn đƣợc hƣởng các ƣu đãi đ ầu tƣ nhƣ chính sách giảm tiền thuê đất,
miễn thuế… Nền kinh tế Việt Nam có nhu cầu rất lớn về vốn. “Để nền kinh tế
đáp ứng được yêu cầu của tiến độ hội nhập, phát triển nhanh, ổn định và đạt
tốc độ tăng trưởng GDP 8%, ĐTNN năm 2006 cần phải đạt được 3,5 tỷ USD

17


vốn thực hiện và 6,5 tỷ USD vốn cấp mới (trong đó vốn của các dự án cấp
mới khoảng 4,4 tỷ USD, và tăng vốn khoảng 2,1 tỷ USD)”.[15,tr.1].Trƣớc tình
hình cạnh tranh diễn ra gay gắt trong thu hút vốn ĐTNN giữa các nƣớc trong
khu vực cộng với nhu cầu về vốn rất lớn của nền kinh tế thì các quy định của
pháp luật về ĐTNN còn có những tồn tại, hạn chế.
Trƣớc khi Luật Doanh nghiệp năm 2005, Luật Đầu tƣ năm 2005 có hiệu
lực thì nhà đầu tƣ nƣớc ngoài đầu tƣ tại Việt Nam dƣới phƣơng thức thành lập
ra một pháp nhân mới. Pháp nhân mới này là các doanh nghiệp liên doanh và
các doanh nghiệp 100% vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. Doanh nghiệp liên doanh và
doanh nghiệp 100% vốn ĐTNN đƣợc chỉ đƣợc tổ chức dƣới hình thức công ty
trách nhiệm hữu hạn. Quy định này làm cho hình thứ c đầu tƣ đối với nhà đầu
tƣ nƣớc ngoài quá đơn điệu. Hình thức đầu tƣ duy nhất là hình thức công ty
trách nhiệm hữu hạn. Loại hình doanh nghiệp này không đƣợc các nhà đầu tƣ
ƣa thích nhƣ loại hình công ty cổ phần trong nền kinh tế hiện đại. Chính quy
định về hình thức đầu tƣ làm giảm sức thu hút các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài
tham gia đầu tƣ tại Việt Nam trong thời gian qua.
Do vậy, việc chuyển đổi doanh nghiệp có vốn ĐTNN thành công ty cổ
phần là một đòi hỏi tất yếu để thu hút vốn trong giai đoạn hiện nay.

1.3 Những yếu tố tác động đến quá trình chuyển doanh nghiệp có
vốn ĐTNN thành công ty cổ phần.
1.3.1 Những yếu tố thuận lợi cho quá trình chuyển doanh nghiệp có
vốn ĐTNN thành công ty cổ phần.
Việc chuyển đổi doanh nghiệp có vốn ĐTNN thành công ty cổ phần tr ên
thực tế bị tác động bởi rất nhiều yếu tố khác nhau. Sự tác động này theo
những chiều hƣớng khác nhau hoặc là thúc đẩy quá trình này diễn ra nhanh
hơn hoặc cản trở làm cho quá trình này diễn ra chậm, mờ nhạt và tác động
tiêu cực đến tâm lý các nhà đầu tƣ.

18


Thực tiễn thực hiện thí điểm chuyển doanh nghiệp có vốn ĐTNN thành
công ty cổ phần đã xác định đƣợc các yếu tố thuận lợi sau:
M ột là, điều kiện và môi trƣờng pháp lý về cơ bản đã đƣợc xác lập. Tất
cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đƣợc tạo điều kiện phải
hoạt động theo cơ chế thị trƣờng, có quyền tự do kinh doanh và bình đẳng
trƣớc pháp luật. Các quyền cơ bản đó của do anh nghiệp đƣợc quy định trong
Hiến pháp, trong các đạo luật đƣợc Quốc hội thông qua nhƣ: Luật Doanh
nghiệp năm 2005, Luật Đầu tƣ năm 2005… Việc “thƣơng mại hóa” các hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong nền kinh tế là tiền đề cơ
bản cần thiết để chuyển doanh nghiệp có vốn ĐTNN thành công ty cổ phần.
Hai là, Chính phủ đã nhận thức đƣợc tầm quan trọng và tính tất yếu của
việc chuyển doanh nghiệp có vốn ĐTNN thành công ty cổ phần và quyết tâm
thực hiện. Điều này thể hiện thô ng qua việc Chính phủ ban hành N ghị định số
38/2003/NĐ-CP về chuyển một số doanh nghiệp có vốn ĐTNN sang hoạt
động theo hình thức công ty cổ phần và việc ban hành Thông tƣ liên tịch số
08/TTLT-BKH-BTC hƣớng dẫn thi hành Nghị định số 38/2003/NĐ -CP.
Chƣơng VIII Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định tổ chức lại doanh

nghiệp. Những văn bản này xác định rõ quan điểm và phƣơng hƣớng chỉ đạo
thống nhất của Chính phủ đối với việc chuyển doanh nghiệp có vốn ĐTNN
thành công ty cổ phần.
Ba là, tình hình kinh tế đất nƣớc có có những chuyển biến theo hƣớng
tích cực. Từ khi đổi mới, nền kinh tế liên tục tăng trƣởng. Đặc biệt, trong
những năm gần đây, GDP tăn g liên tục và đạt mức tăng trƣởng cao. Giá cả thị
trƣờng đƣợc đƣợc duy trì tƣơng đối ổn định, mức lạm phát đƣợc kiềm chế,
đồng tiền Việt Nam giữ đƣợc giá trị...những vấn đề này tạo niềm tin cho các
nhà đầu tƣ trong và ngoài nƣớc muốn đầu tƣ thông qua hình thức mua cổ phần
trong doanh nghiệp có vốn ĐTNN đƣợc chuyển đổi thành công ty cổ phần.

19


Bốn là, chính sách phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần tạo cho
thu nhập của dân cƣ đƣợc nâng cao. Căn cứ kết quả chính thức Điều tra mức
sống hộ gia đình Việt Nam 20 02 và kết quả sơ bộ Khảo sát mức sống hộ gia
đình Việt Nam năm 2004, Tổng cục Thống kê tính toán tỷ lệ (%) hộ nghèo
cho năm 2002 và 2004 theo chuẩn nghèo đƣợc Thủ tƣớng Chính phủ ban
hành áp dụng cho giai đoạn 2006 - 2010 (200.000 đồng/ngƣời/tháng cho khu
vực nông thôn, 260.000 đồng/ngƣời/tháng cho khu vực thành thị) nhƣ sau:
“Tỷ lệ hộ nghèo cả nước năm 2004 là 18.1% giảm 4,9% so với năm 2002 là
22%. Trong đó khu vực thành thị hộ nghèo là 10,6% năm 2002 giảm xuống
còn 8,6% năm 2004, khu vực nông thôn 26,9% năm 2002 giảm xuống còn
21,2% năm 2004. (kết quả trên đây được tính toán dựa vào số liệu thu nhập
bình quân đầu người của hộ gia đình và chỉ số giá tiêu dùng của từng khu vực
thành thị/nông thôn qua các năm để loại từ yếu tố biến động giá )”. [13,tr.1].
Theo số liệu thống kê thì tỷ lệ hộ nghèo giảm dần, điều đó chứng tỏ rằng mức
sống của dân cƣ tăng lên, số hộ giàu nhiều lên. Và sự giàu lên của khu vực
dân cƣ còn đƣợc thể hiện thông qua việc Chính phủ quyết định nâng mức

chuẩn

nghèo.

“Mức

chuẩn

nghèo

đã

được

nâng

lên

350.000

đồng/người/tháng trong quy định về chuẩn nghèo mới so với 260.000
đồng/người/tháng trong quy định về chuẩn nghèo cũ đối với khu vực thành
thị; nâng lên 270.000 đồng /người/tháng theo quy định mới so với 200.000
đồng/người/tháng theo chuẩn nghèo cũ đối với khu vực nông thôn ”[14,tr.1].
Với số ngƣời khá giả ở khu vực thành thị và nông thôn ngày càng nhiều. Đây
là lƣợng cầu tiềm năng có thể đáp ứng cho các chứng khoán phát hành ở
những doanh nghiệp đƣợc chuyển đổi thành công ty cổ phần.
Năm là, Luật Đầu tƣ nƣớc ngoài năm 1996, Luật Sửa đổi, bổ sung Luật
Đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam năm 2000 là cơ sở pháp lý cho hoạt động đầu
tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam. Sự ra đời của Luật Đầu tƣ, Luật Doanh nghiệp

năm 2005 và chính sách cho phép thành lập ngân hàng nƣớc ngoài tại Việt

20


×